Đề tài Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Có thể nói, sự phát triển của hoạt động của thanh toán không dùng tiền mặt luôn song hành chung với sự phát triển chung của toàn xã hội. Phương thức và trình độ nghiệp vụ thanh toán phản ánh trình độ phát triển kinh tế – xã hội, trình độ dân trí của mỗi quốc gia. Nền kinh tế càng phát triển thì khối lượng giao dịch mua bán trao đổi hàng hóa dịch vụ ngày càng tăng và nhu cầu thanh toán an toàn nhanh chóng và chính xác trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Từ những tiện ích mà thanh toán không dùng tiền mặt mang lại, có thể khẳng định phát triển hình thức thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những định hướng lớn, có tầm quan trọng rất lớn đối với nền kinh tế nước ta. Đổi mới mạnh mẽ công nghệ Ngân hàng theo hướng quốc tế hoá và hiện đại hoá, giảm tỉ trọng tiền mặt trong dân cư là một trong những xu thế tất yếu của thời đại. Hi vọng qua đề tài này, tôi có thể phản ánh phần nào thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam và có thể đóng góp một vài giải pháp nhỏ nhằm phát triển và hoàn thiện hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.

doc46 trang | Chia sẻ: tienthan23 | Ngày: 05/12/2015 | Lượt xem: 5310 | Lượt tải: 30download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
phải trả phí cho ngân hàng, thậm chí còn bị tính giá cao hơn (đối với một số đơn vị chấp nhận thẻ), không được chào đón tại các quầy thanh toán... - Kinh tế không chính thức phát triển: nước ta có một nền kinh tế xuất phát từ đặc điểm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo quy mô nhỏ, lẻ, với loại hình này thì khả năng tiếp nhận phương tiện TTKDTM là rất khó khăn. Ngoài ra, một bộ phận rất lớn của nền kinh tế không chính thức là kinh tế ngầm liên quan tới hoạt động buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại, tham nhũng..., luồng luân chuyển tiền tệ phục vụ các hoạt động này có thể rất lớn. Đối với những người tham gia các giao dịch này, cho dù phương tiện TTKDTM có thuận tiện thì đó vẫn không phải là phương tiện thanh toán được lựa chọn, xuất phát từ nhu cầu che dấu nguồn gốc giao dịch và danh tính của đối tượng tham gia.  - Hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán chưa hoàn thiện, mặc dù trong thời gian vừa qua hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán đã cải thiện nhiều, song vẫn được đánh giá là chưa đầy đủ và đồng bộ, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến thanh toán điện tử và thương mại điện tử. Ví dụ như đối với giao dịch điện tử, chưa đủ cơ sở để các ngân hàng tổ chức triển khai các kênh giao dịch điện tử vì chưa tạo được một cơ chế tổng hợp điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử trong ngành ngân hàng, chưa có sự chấp nhận đồng bộ giao dịch điện tử, chứng từ điện tử giữa các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan (như Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan,). Ngày 19 tháng 11 năm 2005 vừa qua Luật Giao dịch điện tử đã được Quốc hội thông qua, đây là một bước tiến mới mang tính đột phá của Việt Nam trong ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển kinh tế xã hội. Nó tạo nên một nền tảng hành lang pháp lý cho các nghiệp vụ, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tạo điều kiện cho ngân hàng tham gia sâu rộng vào các hoạt động thương mại điện tử, cung cấp các dịch vụ thanh toán cho các chủ thể tham gia kinh doanh trực tuyến trên mạng trong phạm vi toàn xã hội. Tuy nhiên, để luật này đi vào cuộc sống là cả một quá trình phấn đấu không chỉ của riêng ngành ngân hàng mà của toàn xã hội. Hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến lĩnh vực thanh toán vẫn còn những điểm cần phải tiếp tục được chỉnh sửa, thay thế để có thể phù hợp với thông lệ quốc tế và nhu cầu của người sử dụng. Một số văn bản còn thể hiện nhiều bất cập và chưa phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, với tốc độ phát triển mạnh mẽ về công nghệ thông tin và sự ra đời của hàng loạt các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, nền tảng pháp lý cần được hoàn chỉnh gấp để bao hàm cả các loại hình tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán không phải là ngân hàng, các tổ chức công nghệ thông tin cung ứng những sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ cho các ngân hàng, các tổ chức làm dịch vụ thanh toán, chẳng hạn như những công ty cung cấp giải pháp công nghệ qua mạng Internet, các công ty kinh doanh dịch vụ thẻ, các tổ chức chuyên làm dịch vụ thanh toán bù trừ... - Thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành hữu quan, chính quyền địa phương các cấp trong việc tạo ra môi trường kinh tế, xã hội thuận lợi cho việc phát triển TTKDTM. -ngan hang Vốn đầu tư vừa thiếu, vừa được sử dụng kém hiệu quả: từ giác độ các ngân hàng thương mại, vấn đề lớn nhất trong phát triển hoạt động thanh toán là những hạn chế về vốn đầu tư. Vốn đầu tư đòi hỏi phải rất lớn và thời gian thu hồi vốn dài hạn. Vì vậy, chỉ có những ngân hàng lớn, có tiềm lực mạnh về tài chính, chủ yếu là các ngân hàng thương mại Nhà nước hiện nay mới có khả năng tập trung đầu tư lớn về trang thiết bị phục vụ cho hoạt động thanh toán. Các ngân hàng nhỏ chủ yếu chọn cách chia sẻ mạng lưới với các ngân hàng lớn. Tuy nhiên, khả năng chia sẻ mạng lưới và hạ tầng kỹ thuật khác giữa các ngân hàng còn hạn chế, do các ngân hàng chưa tìm được tiếng nói chung để đi đến thoả thuận kết nối thống nhất nhằm chia sẻ hạ tầng kỹ thuật. - Cơ cấu tính phí dịch vụ thanh toán còn bất hợp lý, thể hiện ngay cả các giao dịch thanh toán qua ngân hàng nhà nước, cũng như trong nội bộ tổ chức tín dụng. - Trình độ cán bộ phục vụ cho hoạt động thanh toán rất bất cập, chủ yếu do công tác đào tạo cơ bản cũng như chuyên sâu trong lĩnh vực thanh toán chưa đáp ứng được yêu cầu. Thực tế này không chỉ phổ biến ở các ngân hàng thương mại, mà ngay cả ở Ngân hàng Nhà nước là cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý Nhà nước trong thanh toán; - Thông tin tuyên truyền chưa được định hướng đúng đắn: công tác thông tin tuyên truyền chưa được quan tâm, chú trọng. Những mục tiêu chiến lược, định hướng và các chính sách lớn để phát triển hoạt động thanh toán chưa được công bố đầy đủ cho công chúng. Vì vậy, không chỉ người dân mà thậm chí nhiều doanh nghiệp còn rất ít hiểu biết hoặc hiểu biết mơ hồ về các dịch vụ thanh toán và phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Ngoài ra, các phương tiện thông tin đại chúng đôi khi còn phản ánh thiên lệch, khai thác những yếu điểm, lỗi kỹ thuật hoặc những yếu tố tiêu cực mang tính cá biệt để đưa lên công luận, khiến cho thông tin đến với những người tiêu dùng thường một chiều, thậm chí sai lạc, gây mất lòng tin vào một công cụ thanh toán nào đó ngay từ khi mới bắt đầu phát triển cac don vi chap nhan the con han che do phai ke khai tinh trang tai chinh cua doanh nghiep, su lien ket giua cac ngan hang chua duoc nang cao trong viec Thực trạng của từng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt Tình hình thanh toán bằng Séc Ngày 9/5/1996, Chính phủ đã ban hành nghị định 30 về phát hành và sử dụng Séc. Ngày 27/12/1996 Ngân hàng nhà nước đã ban hành thông tư 07 hướng dẫn thi hành nghị định trên của chính phủ. Những văn bản pháp quy về phát hành và sử dụng Séc có hiệu lực hơn 5 năm nay. Nhưng Séc vẫn chưa đi vào cuộc sống. Ta có thể thấy rõ điều này qua các con số thống kê về TTKDTM tại thành phố Hồ Chí Minh Thành phố HCM là một thành phố lớn có tốc độ phát triển và thu nhập bình quân đầu người cao nhất cả nước. Nhưng các hình thức TTKDTM cũng phát triển rất ì ạch. Thanh toán bằng ủy nhiệm chi được ưa chuộng nhất trong khâu thanh toán do thủ tục đơn giản, hiện đang chiếm vị trí tuyệt đối trong khâu thanh toán giữa các thể nhân và pháp nhân khác nhau trong nền kinh tế. Tính hết 6 tháng đầu năm nay, thể thức này chiếm tỷ trọng 90,97% tổng doanh số TTKDTM. Trong khi đó, tỷ trọng thanh toán bằng Séc qua ngân hàng còn rất khiêm tốn, tỷ trọng này chỉ là 0,31% trong tổng doanh số TTKDTM tại Tp. HCM tính đến 6 tháng đầu năm nay. Còn ủy nhiệm thu, tỷ trọng thanh toán cũng rất thấp, chỉ bằng 2,07% tổng doanh số không dùng tiền mặt. Vậy vì sao các công cụ TTKDTM ở một đô thị lớn như thành phố HCM lại phát triển chậm và lệch lạc như vây? dẫu rằng không phải chúng ta không thấy được tác động tích cực của nó. Thanh toán bằng séc thuận lợi và nhanh chóng trong giao dịch mua bán. Nhưng, ra đời đã lâu mà séc vẫn chưa phát triển được như mong đợi ở Việt Nam. Ở các ngân hàng thương mại, hình thức thanh toán bằng séc chiếm tỷ lệ rất thấp (khoảng 2%) trong tổng thanh toán phi tiền mặt; trong đó chủ yếu là thanh toán giữa các doanh nghiệp với nhau, còn thanh toán giữa doanh nghiệp với cá nhân, giữa cá nhân với cá nhân rất ít. - Những khó khăn khi thực hiện thanh toán bằng Séc Việc thanh toán séc gặp không ít phiền phức. Hiện nay, khách mua và khách bán hàng có tài khoản ở cùng một ngân hàng thì khi khách bán đến ngân hàng để nộp séc, ngân hàng sẽ ghi có trên tài khoản khách bán và ghi nợ trên tài khoản khách mua. Nhưng khi khách mua và khách bán không có tài khoản ở cùng một ngân hàng, các ngân hàng thương mại phải thông qua hệ thống thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước. Mỗi ngày chỉ có 2 phiên thanh toán bù trừ (vào lúc 10 giờ sáng và 15 giờ) và việc kiểm tra séc ở Ngân hàng Nhà nước vẫn chủ yếu là thủ công. Nếu các ngân hàng phát hành vài chục nghìn tờ séc mỗi ngày thì việc thanh toán bù trừ trong ngày gặp rất nhiều khó khăn. Thêm vào đó, tâm lý của người bán nhận séc thường lo ngại trên tài khoản của người mua không còn tiền, séc giả, dễ dẫn đến rủi ro trong giao dịch nên hay từ chối việc thanh toán séc. Hiện nay, số khách hàng sử dụng séc không tốt, séc giả tăng lên rất nhiều. Công nghệ khoa học càng hiện đại thì hình thức và cách thức sử dụng séc giả càng tinh vi hơn, thủ thuật hơn. Đây là một bất lợi cho thị trường séc vì nó không chỉ ảnh hưởng đến doanh số mà còn ảnh hưởng đến cả lòng tin của khách hàng vào hình thức thanh toán vẫn còn chưa phổ biến này. Nhiều khi nó còn ảnh hưởng đến cả uy tín của ngân hàng phục vụ người trả tiền cũng như uy tín của ngân hàng phục vụ người thụ hưởng. Đây là mối hiểm hoạ lớn nhất cho thị trường séc. Thanh toán bằng thẻ thanh toán Một số thành tựu nổi bật trong thanh toán bằng thẻ thanh toán tại Việt Nam thời gian qua - Mục tiêu đưa ra trong đề án phát triển TTKDTM đến năm 2010 là: phát hành 15 triệu thẻ trên cả nước, 70% các trung tâm thương mại, siêu thị, nhà hàng, khách sạn... có thiết bi chấp nhận thanh toán thẻ. Đạt mức 20 triệu tài khoản cá nhân, 70% cán bộ hưởng lương ngân sách và 50% người lao động trong doanh nghiệp tư nhân nhận lương qua tài khoản. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong những năm gần đây, thị trường thẻ ngân hàng tại Việt Nam đã có bước phát triển rất mạnh mẽ. Và có thể nói rằng thanh toán thẻ của chúng ta đã về đích sớm so với mục tiêu mà đề án đưa ra. Chúng ta có thể thấy rõ được điều này thông qua một số các số liệu được thu thập trong thời gian gần đây. Tính đến tháng 12/2007 đã có 29 tổ chức phát hành thẻ, trong đó có 5 NHTM nhà nước; 19 NHTM cổ phần; 4 ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 1 tổ chức phát hành thẻ phi ngân hàng. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động thẻ  không ngừng lớn mạnh, với 4280 máy ATM; 22.959 thiết bị ngoại vi (POS, EDC). Số lượng thẻ phát hành là 8.282.783 thẻ (tăng gần 4 triệu thẻ so với năm 2006), trong đó có 7.771.494 thẻ ghi nợ nội địa (94%); 25.637 thẻ tín dụng nội địa (0.3%); 302.046 thẻ ghi nợ quốc tế (3.65%) và 183.616 thẻ tín dụng quốc tế (2.2%). Chủng loại thẻ hết sức đa dạng với 120 thương hiệu thẻ, trong đó phân theo phạm vi thì thẻ nội địa 71 loại (chiếm 59%), thẻ quốc tế 49 loại (41%); phân theo nguồn tài chính, thẻ ghi nợ 73 loại (chiếm 61%), thẻ tín dụng 44 loại (chiếm 37%) và sự xuất hiện của loại thẻ trả trước 3 loại (2%). Năm 2008, tổng số thẻ phát hành đã lên tới con số 10 triệu thẻ với 6000 máy ATM Hiện nay, hệ thống thanh toán thẻ hiện nay có được sự phát triển vượt bậc về mạng lưới, hệ thống kỹ thuật cũng như sự tăng trưởng về tổng lượng giao dịch, thanh toán qua thẻ. Chỉ tính đến hết tháng 3/2010 mới đây, tổng lượng thanh toán không dùng tiền mặt đã chiếm tới 85% tổng doanh số thanh toán qua NH với lượng thanh toán bằng điện tử chiếm trên 60%. Lượng thẻ mà 47 tổ chức cung ứng dịch vụ thẻ thanh toán phát hành hiện lên đến 22 triệu thẻ (vượt mục tiêu đưa ra là 15 triệu thẻ) với trên 9.000 ATM và hơn 35.000 thiết bị chấp nhận thẻ trên cả nước. Những con số trên phần nào thể hiện được thị trường thẻ Việt Nam đã và đang “phát triển nóng” như thế nào. Đây là một tín hiệu tích cực cho nền kinh tế, nhất là trong định hướng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam. - Cùng với sự phát  triển không ngừng về mặt khoa học kỹ thuật và công nghệ, nhu cầu đòi hỏi của khách hàng ngày càng tăng. Nắm bắt được xu thế đó, để thu hút được khách hàng về phía mình trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, các ngân hàng trong nước ngày càng chú trọng nhiều hơn đến việc phát triển mảng dịch vụ, đặc biệt các dịch vụ tiện ích đi kèm với thẻ. Giờ đây, thẻ không chỉ đơn thuần là một phương tiện rút tiền mặt mà đã trở thành phương tiện đa mục đích, giúp người sử dụng có thể tiếp cận được nhiều dịch vụ giao dịch thông qua thẻ ngân hàng. Các dịch vụ tiện ích cơ bản của thẻ cung cấp cho khách hàng như: thanh toán hàng hóa; rút tiền mặt; chuyển khoản; thanh toán hóa đơn; mua sắm hàng hóa trực tuyến cho đến  nhiều dịch vụ mới khác cũng đang được các ngân hàng chú trọng phát triển như: yêu cầu phát hành sổ séc; yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản tiết kiệm có kỳ hạn; chi lương qua tài khoản; gửi tiền trực tiếp tại ATM; nhận tiền kiều hối; bảo hiểm Ngoài việc thiết lập nhiều tiện ích cho khách hàng, các ngân hàng còn tạo sự riêng biệt bằng các chương trình và sản phẩm thẻ mang thương hiệu của mình như: Ngân hàng Sài Gòn Thương tín với thẻ Sacom VISA Debit chú trọng vào lớp trẻ năng động; VCB ngoài việc giữ một số lượng lớn thẻ các đơn vị nhờ dịch vụ trả lương, còn một loại thẻ đưa logo của kênh ca nhạc MTV vào chiếc thẻ, được giới trẻ đón nhận như thể hiện một phong cách; thẻ của Techcombank lại khuyến khích bằng cách liên kết với các đối tác thương mại khác như trung tâm mua bán, siêu thị, với hãng Pacific Ariline giảm giá mua hàng, giá vé máy bay; hay thẻ của ACB được phát hành rộng rãi ở các khu vực người nước ngoài tập trung đông, thiên về thanh toán hơn là rút tiền vv... - Trả lương qua tài khoản cũng là một ứng dụng nổi bật của TTKDTM. Kể từ khi có Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg ngày 24/8/2007 của Ngân hàng nhà nước, dịch vụ thẻ lại ngày càng đóng vai trò quan trọng để thực hiện những mục tiêu kinh tế-xã hội đã được đặt ra, và là cơ hội cũng như thách thức đối với các NHTM Việt Nam. Số liệu mới nhất đến đầu tháng 7.2009 cho thấy, số đơn vị thực hiện trả lương qua tài khoản đạt trên 26.600 đơn vị với số người nhận lương đạt gần 1,32 triệu người, tương đương mức tăng hơn 2 lần so nửa đầu năm 2008. - Một sự kiện nổi bật nhất trong thời gian gần đây trong lĩnh vực thanh toán thẻ là việc kết nối thành công hệ thống thanh toán thẻ Banknetvn và Smartlink vào tháng 5/2008. Trên thị trường hiện nay tồn tại 4 hệ thống thẻ. Trong đó, hệ thống  thẻ của Smartlink chiếm 25% thị phần với 29 ngân hàng  thành viên, hệ thống của Banknetvn gồm 7 ngân hàng  thương mại, trong đó có 3 ngân hàng  lớn như Agribank, BIDV, Incombank và 4 ngân hàng  thương mại  cổ phần  khác, chiếm xấp xỉ 70% thị phần, 5% thị phần còn lại là của vài hệ thống  khác. Thống kê đến tháng 03/2008, tổng số máy ATM của 2 hệ thống (5 ngân hàng thành viên) là 3.614 máy, chiếm khoảng 64% tổng số máy ATM tại thị trường Việt Nam. Số lượng thẻ thanh toán phát hành của 5 ngân hàng này là 8,6 triệu thẻ, chiếm 80% thị phần thẻ thanh toán trong cả nước. Sau hơn 05 tháng tích cực phối hợp triển khai với các ngân hàng thành viên, dưới sự chỉ đạo sát sao của Ngân hàng Nhà nước, Banknetvn và Smartlink chính thức hoàn thành giai đoạn kết nối kỹ thuật liên thông giữa 2 hệ thống, bao gồm 5 ngân hàng thành viên của Banknetvn và Smartlink: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VietcomBank), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Công thương Việt nam (Vietinbank) và Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam (Techcombank). Như vậy, sau thời gian thử nghiệm, tất cả các chủ thẻ của 5 ngân hàng thành viên nói trên có thể giao dịch với bất kỳ máy ATM nào của cả 5 ngân hàng. Sự liên kết này sẽ tạo nên một sức mạnh mới, thúc đẩy các dịch vụ  thanh toán không dùng tiền mặt phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện tiền đề để hình thành một hệ thống thanh toán thẻ lớn mạnh có khả năng kết nối toàn quốc, giữa tất cả các ngân hàng  phát hành thẻ sau này, đồng thời duy trì được sự độc lập tương đối của các bên tham gia nhằm đảm bảo động lực cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, cũng như an toàn về hệ thống khi hệ thống của hai bên có thể làm dự phòng lẫn nhau trong trường hợp có sự cố. Tuy nhiên, việc triển khai cung cấp dịch vụ và đem tiện ích của việc kết nối tới đông đảo bộ phận dân cư và doanh nghiệp đòi hỏi nỗ lực của từng ngân hàng thành viên trong việc đảm bảo chất lượng dịch vụ và phát triển mạng lưới chấp nhận thẻ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng dịch vụ thẻ ngân hàng. Một số hạn chế trong thanh toán bằng thẻ thanh toán Bên cạnh những tín hiệu khả quan nêu trên, việc phát triển thị trường thẻ ở Việt Nam còn một số hạn chế. Điều này được thể hiện ở những mặt sau: - Doanh số hoạt động chủ yếu vẫn tập trung chủ yếu vào hai ngân hàng lớn là Vietcombank VCB và Ngân hàng Á Châu ACB. Thị phần thẻ của VCB được giữ vững, chất lượng được nâng cao qua việc cung ứng dịch vụ gia tăng thẻ. Năm 2009, VCB phát hành thêm được trên 36.340 thẻ tín dụng quốc tế (TDQT) - bao gồm cả số lượng chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip. Doanh số sử dụng thẻ TDQT do Vietcombank phát hành đạt trên 1.900 tỷ đồng; Doanh số thanh toán thẻ TDQT là 567 triệu USD. Thẻ ghi nợ, phát hành được 156.490 thẻ đạt trên 105,5% so với kế hoạch. Thanh toán đạt 90.654 tỷ đồng, đạt trên 137% kế hoạch. Những kết quả đạt được này trong một năm đầy những biến động vì khủng hoảng thực sự là thành công rất lớn của Vietcombank, xứng danh là một trong những Ngân hàng hàng đầu của Việt Nam. - Trong thời gian gần đây chúng ta cũng thấy tình trạng sử dụng và thanh toán thẻ giả mạo có chiều hướng gia tăng và đã gây ra những tổn thất về tài chính đối với nền kinh tế, đặc biệt là về tài chính đối với các ngân hàng - Tính cạnh tranh trên thị trường dịch vụ thanh toán vẫn ở mức thô sơ và phát triển dưới mức tiềm năng. Chưa phổ biến cạnh tranh bằng thương hiệu, chất lượng dịch vụ. Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, thay vì sáng tạo ra sản phẩm mới hoặc tạo ra giá trị gia tăng trên sản phẩm cùng loại trên thị trường (đó là gia tăng các tiện ích đi kèm dịch vụ, phương tiện thanh toán hiện đại, dần thay thế dịch vụ đơn mục đích bằng những dịch vụ đa mục đích như: sử dụng thẻ cho nhiều mục đích như thanh toán, chi trả hóa đơn định kỳ, vấn tin, rút tiền mặtthay cho việc sử dụng thẻ chỉ để rút tiền mặt) thì lại chỉ tập trung vào yếu tố giá cả (phí) nhằm đánh bại đối thủ cạnh tranh. Điều này không chỉ làm tổn hại tới chính lợi nhuận của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trong hoạt động thẻ, mà còn tổn hại tới sự gắn kết giữa chính bản thân ngân hàng và khách hàng, khi mà khách hàng không nhận thấy sự khác biệt giữa các sản phẩm của những ngân hàng khác nhau, vì vậy mà họ dễ dàng từ bỏ một sản phẩm dịch vụ mang thương hiệu này để đến với một sản phẩm có thương hiệu khác. Thanh toán bằng các hình thức khác Thư tín dụng là một phương thức được sử dụng rất phổ biến trong thanh toán quốc tế. Theo số liệu thống kê năm 2009 thì có khoảng 11-15% giao dịch thương mại quốc tế sử dụng phương thức tín dụng chứng từ, với tổng trị giá là một nghìn tỷ đô la Mỹ. Tuy nhiên khi thanh toán bằng L/C, các bên tham gia thanh toán có thể gặp một số khó khăn và rủi ro, cụ thể là: - Rủi ro đối với nhà nhập khẩu: Việc thanh toán của NH cho nhà xuất khẩu chỉ căn cứ vào bộ chứng từ xuất trình mà không căn cứ vào việc kiểm tra thực tế hàng hoá. NH chỉ kiểm tra tính hợp lệ bề ngoài của chứng từ. Nếu nhà xuất khẩu chủ tâm gian lận có thể xuất trình chứng từ giả mạo cho NH chỉ định để thanh toán. Như vậy, sẽ không có sự bảo đảm nào cho nhà nhập khẩu rằng hàng hoá sẽ đúng như hợp đồng về số lượng, chủng loại và không bị hư hỏng gì. Trong trường hợp này nhà nhập khẩu vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền đã thanh toán cho NH phát hành. - Rủi ro đối với nhà xuất khẩu: Khi nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi khoản thanh toán (chấp nhận) đều có thể bị từ chối và nhà xuất khẩu sẽ phải tự giải quyết bằng cách dỡ hàng, lưu kho, bán đấu giá...cho đến khi vấn đề được giải quyết hoặc phải chở hàng quay về nước. Nhà xuất khẩu phải trả các khoản chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho, mua bảo hiểm hàng hoá trong khi không biết nhà nhập khẩu có đồng ý nhận hàng hay từ chối nhận hàng vì lý do bộ chứng từ có sai sót. Nếu NH phát hành hoặc NH xác nhận mất khả năng thanh toán thì mặc dù bộ chứng từ xuất trình có hoàn hảo cũng không được thanh toán. Cũng tương tự như vậy, nếu NH chấp nhận hối phiếu kỳ hạn bị phá sản trước khi hối phiếu đến hạn thì hối phiếu cũng không được trả tiền. Trừ khi L/C được xác nhận bởi một NH hạng nhất trong nước, còn lại nhà xuất khẩu sẽ phải chịu rủi ro về hệ số tín nhiệm của NH phát hành cũng như rủi ro chính trị hay rủi ro do cơ chế chính sách của nhà nước thay đổi. - Rủi ro đối với NH phát hành (NH mở L/C- issuing bank): NH phát hành là NH đại diện cho người nhập khẩu, nó cung cấp tín dụng cho người nhập khẩu. NH này thường được hai bên nhập khẩu và xuất khẩu thoả thuận lựa chọn và được quy định trong hợp đồng, nếu chưa có sự quy định trước, người nhập khẩu có quyền lựa chọn. Rủi ro đối với NH phát hành là ở chỗ NH phát hành phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo quy định của L/C trong trường hợp nhà nhập khẩu chủ tâm không thanh toán hay không có khả năng thanh toán. Vì thế, trước khi chấp nhận phát hành L/C, NH cần thẩm định một cách chặt chẽ giống như việc cấp một khoản tín dụng cho khách hàng. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc áp dụng thanh toán bằng L/C - Chưa hiểu rõ về phương thức tín dụng chứng từ Theo kết quả khảo sát của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) và Ngân hàng Quốc Tế (VIB Bank), hiện có khoảng 80% bộ chứng từ xuất trình lần đầu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu (XNK) Việt Nam bị từ chối vì sự sai biệt.Sở dĩ có tới 80% bộ chứng từ của các doanh nghiệp xuất trình lần đầu bị “đối tác” từ chối là bởi trong giao dịch thanh toán bằng tín dụng chứng từ, việc thanh toán chủ yếu thực hiện trên cơ sở sự hoàn hảo của bộ chứng từ do người bán xuất trình, mà thực tế để lập được một bộ chứng từ hoàn hảo là rất khó.Mà những từ ngữ thuộc về thông lệ được quy định tại bộ quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ trong xuất nhập khẩu (gọi tắt là UCP) do ICC ban hành, nói chung hơi khó hiểu với những người làm kinh doanh thực tế, nhất là đối với những doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn chưa có nhiều kinh nghiệm, và chưa am hiểu nhiều. Việc khó hiểu đó dẫn đến những sai lệch - Rủi ro do đối tác không cung cấp hàng hoá Rủi ro này xuất hiện khi doanh nghiệp không tìm hiểu rõ bạn hàng. Chẳng hạn cuộc mua bán chỉ thông qua những trao đổi, thông tin trên Internet mà doanh nhiệp đã vội vàng đặt hàng mà chưa đề cập kỹ đến nội dung của L/C rồi chuyển tiền qua ngân hàng do đối tác chỉ định. Doanh nghiệp sẽ gặp rắc rối khi đối tác chỉ là doanh nghiệp ảo, đồng nghĩa với việc hàng hóa không được chuyển về cho doanh nghiệp. - Rủi ro thanh toán do chứng từ giả, chứng từ không trung thực, mâu thuẫn giữa hàng hoá và chứng từ: Nếu đối tác không tin cậy hay đối tác có chủ ý “lừa đảo”, rất có thể bạn sẽ gặp rắc rốI bởi những lọai giấy tờ giả. Ngoài ra, vấn đề mâu thuẫn giữa hàng và chứng từ cũnglà yếu tố cần để ý, bởi rất có thể hàng hoá khi nhập khẩu sẽ bị hải quan tịch thu do không có sự trùng khớp với giấy tờ. - Các rủi ro khác như lựa chọn hãng tàu không tin cậy, hư hỏng hàng hoá do xếp hàng không đúng quy định. Ví dụ như tàu chở hàng hóa bị hải quan bắt vì vận chuyển hàng cấm, những thiệt hại không đáng có do hàng hóa bị vỡ, ẩm, giảm chất lượng Trong thời gian tới, hoạt động thanh toán trong nền kinh tế tiếp tục diễn biến tích cực, sôi động với những nỗ lực từ phía các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và các tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ thanh toán trong việc đem đến cho khách hàng dịch vụ thanh toán tốt nhất. Dịch vụ mở tài khoản cá nhân đang trong xu thế phát triển nhanh chóng và vượt bậc, với sự tham gia ngày một gia tăng lượng khách hàng vào thị trường chứng khoán và việc triển khai thực hiện Chỉ thị 20/2007CT-TTg. Và đây là điều kiện để Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán cung cấp đến người sử dụng nhiều dịch vụ thanh toán tiện ích, hiện đại. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI VIỆT NAM Định hướng phát triển hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam - Phát triển dịch vụ thanh toán trong dân cư là một mục tiêu chiến lược nhằm mở rộng thị trường nâng cao hiệu quả và năng lực của ngành ngân hàng Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ đó sẽ thúc đẩy mạnh mẽ quá trình gửi tiền tiết kiệm vào đầu tư, nâng cao tỷ trọng đầu tư của dân chúng lên. Phát triển TTKDTM phải phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế, hạ tầng kỹ thuật công nghệ và hệ thống thanh toán. Các giải pháp xây dựng trong các đề án phát triển TTKDTM không mang tính hành chính, áp đặt, gây tác động tiêu cực kìm hãm sự phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội. Ngoài ra, việc phát triển TTKTM phải đặt trong mối quan hệ cân bằng giữa lợi ích chung của cộng đồng và lợi ích của người sử dụng dịch vụ thanh toán, của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Những biện pháp hỗ trợ của Nhà nước chỉ mang tính chất ngắn hạn, nhằm tạo ra bước đột phá ban đầu cho sự phát triển TTKDTM. - Tổ chức dịch vụ tiền tệ dân cư thuận tiện, an toàn, đưa lại lợi ích cho khách hàng sử dụng, xây dựng thành tập quán sử dụng séc, thẻ thanh toán, uỷ nhiệm thanh toán định kỳ để thay thế tập quán sử dụng tiền mặt, giảm tỷ trọng khối tiền mặt trên diện rộng M2 xuống dưới 10% vào nửa đầu thế kỷ. - Tăng mạnh khối lượng và phạm vi cung ứng dịch vụ ngân hàng trong dân cư đưa doanh số thanh toán không dùng tiền mặt ngân hàng đến năm 2020 gấp khoảng 15 – 16 lần năm 2001. Bằng mở rộng dịch vụ tiền tệ dân cư để điều chỉnh cơ cấu lao động; giảm mạnh lao động trong lĩnh vực liên quan, đặc biệt là trong khâu tiền mặt của ngân hàng nhà nước, của các tổ chức tín dụng và giảm lao động kho quĩ ở các doanh nghiệp, công sở, hộ kinh doanh cá thể. - Sớm triển khai và hoàn thiện chương trình hiện đại hoá trên toàn hệ thống ngân hàng. Một số tổ chức tín dụng cần triển khai mạnh mẽ hơn nữa phương án thành lập công ty cổ phần tin học ngân hàng; trong đó ngân hàng Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi về mặt thủ tục để mô hình công ty này sớm đi vào hoạt động. - Thu hẹp tối đa thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế nhằm hạn chế tệ nạn tham nhũng công quĩ, tôn trọng pháp luật, bảo đảm công khai, công bằng và văn minh xã hội. Từ đó tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế của ngành ngân hàng theo quyết định số 683/QĐ-NHNN ngày 26/06/2003 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam Giải pháp phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Áp dụng chung cho các phương thức - Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thanh toán của nền kinh tế Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bao gồm các luật, quy định liên quan đến các chủ thể tham gia thanh toán nói chung trong nền kinh tế cũng như hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng. Định hướng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý bao gồm: phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các bên tham gia hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, trên cơ sở đó kiểm soát rủi ro pháp lý thích hợp, bảo đảm phù hợp với các chuẩn mực thông lệ quốc tế được các định chế tài chính, tiền tệ quốc tế khuyến nghị hoặc được áp dụng chung ở nhiều quốc gia khác; tạo lập một môi trường cạnh tranh công bằng, bảo đảm khả năng tiếp cận thị trường và tiếp cận dịch vụ đối với các chủ thể có chức năng tương tự như nhau; hình thành cơ chế bảo vệ khách hàng hữu hiệu và bảo đảm quy trình giải quyết tranh chấp hiệu quả và khách quan; hạn chế thanh toán bằng tiền mặt đối với những đối tượng có sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm tăng khả năng kiểm soát việc sử dụng nguồn ngân sách. Sở giao dịch 1 Ngân hàng Công thương Việt Nam kiến nghị: “Chính phủ nên sớm ban hành Luật séc phù hợp thông lệ quốc tế và cải tiến qui trình thanh toán séc, Ngân hàng Nhà nước cũng sớm cho ra đời qui định thanh toán không dùng tiền mặt mới trong đó các phương tiện thanh toán phải bao trùm hết mọi đối tượng thanh toán và phải tiện lợi và sớm có các quy định về các dịch vụ ngân hàng điện tử” Hiện nay, một vấn đề còn gây nhiều tranh cãi là việc thu phí dịch vụ thanh toán qua tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Chính vì vậy, Nhà nước nên sớm có các quy định rõ ràng phí dịch vụ thanh toán, bao gồm cả biểu phí và các mức thu phí cụ thể. Một số NHTM có ý kiến đề nghị Ngân hàng Nhà nước nên điều chỉnh biểu phí giảm xuống, để các NHTM có thể giảm phí để khuyến khích khách hàng sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt. - Đào tạo đội ngũ cán bộ Con người luôn là yếu tố quyết định đến sự thành công trong sự nghiệp phát triển của đất nước cũng như của hoạt động kinh doanh ngân hàng. Để trở thành một ngân hàng luôn đổi mới nghiệp vụ kinh doanh một cách có hiệu quả, cán bộ và nhân viên ngân hàng, nhất là người đứng đầu các bộ phận phải có trách nhiệm cao, làm việc với động cơ vì uy tín và sự thành đạt của ngân hàng. Những người này còn phải có trình độ nghiệp vụ cao, hiểu biết và có khả năng xử lý nhiều loại giao dịch phức tạp, đồng thời phải có khả năng giao tiếp tốt và thành thạo ngoại ngữ. Muốn làm được điều này, các ngân hàng phải có chế độ làm việc, khuyến khích tặng thưởng, đề bạt nhân sự phù hợp. Ngân hàng nên nghiên cứu, sớm áp dụng các biện pháp khuyến khích vật chất cũng như tinh thần cho cán bộ, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, động viên toàn cán bộ phát huy hết khả năng góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, quan trọng hơn tất cả là hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho các cán bộ của ngân hàng. Việc đào tạo chuyên môn của toàn ngân hàng nói chung và của phòng thanh toán quốc tế nói riêng sẽ là bước đầu cho việc áp dụng các hình thức giao dịch thanh toán mới. Việc đào tạo cần quan tâm đến kiến thức mới của kinh tế thị trường như: Marketing ngân hàng, phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng, phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng, dự đoán rủi ro có cơ sở khoa học, môi trường vi mô và môi trường vĩ mô trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho chính khách hàng mà còn củng cố thêm vị trí của sở trong thời gian tới. Sau đây là một số giải pháp cụ thể: Đào tạo và đào tạo lại, nâng cao trình độ cán bộ cũ, đào tạo bổ sung kiến thức cho nhân viên mới tuyển dụng. Đa dạng hoá loại hình đào tạo, thường xuyên tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, cử cán bộ đi học nâng cao. Tổ chức các buổi dự thảo nhằm truyền đạt kinh nghiệm trong xử lý tình huống. Tổ chức các kỳ thi sát hạch kiểm tra và tuyển chọn cán bộ có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm. - Phát triển các hình thức thanh toán hiện đại Hiện nay trên thế giới đã xuất hiện rất nhiều hình thức thanh toán hiện đại. Chúng cũng được sử dụng rộng rãi trong mọi hoạt động thanh toán của dân chúng cũng như của các tổ chức tài chính và xã hội. Ở Việt Nam cũng đã có nhiều hình thức thanh toán mới như thanh toán qua mạng điện thoại di động (Ebanking), thanh toán qua mạng Internet (Internetbanking)Ebanking là một kênh giao dịch mang lại rất nhiều tiện lợi cho khách hàng, ví dụ như ở nhà vẫn có thể chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, mua hàng qua mạng hay mua thẻ cào điện thoại. Khách hàng sẽ không cần phải chờ đợi, gặp phiền phức với các giao dịch viên, mà chỉ cần click chuột là mọi yêu cầu đều được đáp ứng ngay tức khắc. Internetbanking, dịch vụ này cho phép khách hàng truy vấn thông tin tài khoản, thực hiện giao dịch với ngân hàng thông qua qua Internet. Tuy nhiên thực tế hiện nay các hình thức này chưa được sử dụng một cách rộng rãi, chỉ mới trong giai đoạn thử nghiệm và cung cấp cho một số ít khách hàng. Một trong những biện pháp nhằm đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt là phát triển các hình thức thanh toán hiện đại này. Một điều dễ nhận thấy là để phát triển các hình thức thanh toán hiện đại này cần phải có một hệ thống máy móc tối tân với lượng vốn lớn, nền móng khoa học công nghệ cao, các chuyên gia về máy móc cũng như nhân viên thanh toán phải có trình độ và bề dày kinh nghiệm. Tuy nhiên, phải đánh giá một cách khách quan là hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam mới chỉ vừa “tỉnh giấc” sau một thời gian dài của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Vì vậy, cách giải quyết tốt nhất là Việt Nam phải “đi tắt đón đầu” tiếp thu công nghệ của các nước phát triển, nhập máy móc thiết bị của họ một cách có chọn lọc, mua lại phần mềm hướng dẫn cách sử dụng các phương thức thanh toán hiện đại và cải tiến để phù hợp với nhu cầu thanh toán và tình hình thực tế của Việt Nam. - Mở rộng các loại hình dịch vụ ngân hàng Trong một nền kinh tế toàn cầu, đòi hỏi các ngân hàng phải có đủ năng lực tài trợ, đáp ứng nhu cầu quản trị rủi ro cho các công ty, bất kể lớn hay nhỏ, ở khắp nơi trên thế giới. Họ cũng cần có khả năng luân chuyển vốn xuyên biên giới và chuyển dịch nguồn vốn kịp thời đến các khu vực đang phát triển nhanh cũng như các loại hình kinh doanh có lợi. Chìa khóa để đạt được thành công là đòi hỏi các ngân hàng thương mại nói chung phải có hoạt động truyền thống về tiếp nhận cho vay, uỷ thác, chuyển tiền sang một nghiệp vụ mới thích hợp và độc đáo hơn. Những sáng kiến đổi mới một cách linh hoạt và phát huy nhiều kỹ năng sáng tạo hữu hiệu sẽ giúp các ngân hàng có lợi thế trong kinh doanh tiền tệ và chứng khoán, trong hoạt động thiết kế và phân bố sản phẩm mới. Những loại hình dịch vụ mới của ngân hàng trong thanh toán không dùng tiền mặt có thể là: Dịch vụ tư vấn thông tin, dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ tư vấn pháp luật; mở rộng loại hình dịch vụ ngân hàng tại nhà; dịch vụ thuê mua, dịch vụ mua bán chứng khoánNhững loại hình dịch vụ mới này đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhiều yếu tố, không thể thực hiện được một sớm một chiều, cần phải có sự hỗ trợ chung của toàn hệ thống cũng như sự phối hợp của các ngân hàng bạn, nó cũng đòi hỏi cán bộ lãnh đạo phải có hướng đi đúng đắn cho Sở giao dịch của mình. - Giải pháp thu hút dân cư mở tài khoản cá nhân và thanh toán qua ngân hàng Phương thức thanh toán trong dân cư hiện nay chủ yếu là phương thức thanh toán tiền mặt trao tay. Tỷ lệ người dân mở tài khoản cá nhân còn ít, lượng giao dịch thanh toán qua ngân hàng chưa nhiều. Ngân hàng cần có biện pháp kích thích dân cư mở tài khoản cá nhân và tuyên truyền quảng cáo để họ biết được lợi ích của việc mở tài khoản cá nhân. Các biện pháp khuyến khích có thể là: Giảm chi phí hoặc không thu phí dịch vụ thanh toán qua ngân hàng của dân cư; tăng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn của dân cư cao hơn mức lãi suất cho các doanh nghiệp vay; trường hợp một số khách hàng hội đủ điều kiện, ngân hàng có thể ưu đãi lãi suất cho vay và thời gian thẩm định khi khách hàng có nhu cầu vay. Thêm nữa, ngân hàng cần phát triển qui mô mạng lưới cung cấp giữa các ngân hàng nhằm giảm chi phí. Từ đó, ngân hàng sẽ đưa và phát triển một số dịch vụ nhằm khuyến khích dân cư thanh toán qua tài khoản mở tại ngân hàng của mình: Thứ nhất, ngân hàng nên đưa và phát triển dịch vụ chi trả tiền lương cho cán bộ công nhân viên qua ngân hàng. Xuất hiện dịch vụ này là do hiện nay xuất hiện nhu cầu của các cơ quan nhờ ngân hàng trích từ tài khoản tiền gửi trả lương cho cán bộ công nhân viên theo danh sách, công nhân viên có nhu cầu dành một phần tiền lương gửi ở tài khoản cá nhân; công nhân viên có nhu cầu thanh toán một số khoản chi phí như chi phí điện nước, bảo hiểm theo định kỳ. Chính vì vậy, các ngân hàng nên tiếp cận các doanh nghiệp để các doanh nghiệp thực hiện nghiệp vụ này, tạo thói quen thanh toán qua tài khoản cá nhân. Thứ hai, ngân hàng nên phát triển nghiệp vụ cho vay đời sống, tổ chức thu nợ hàng tháng từ tài khoản cá nhân. Bởi vì, sau khi Chính phủ có chủ trương kích cầu tiêu dùng, ngành ngân hàng đã triển khai mạnh nghiệp vụ cho vay và đã thu được những kết quả khá khả quan góp phần “xã hội hoá” công tác ngân hàng. Tuy nhiên, cần gắn kết các nghiệp vụ cho vay hơn nữa phục vụ đời sống cán bộ công nhân viên. Ngoài ra, để thực hiện thu nợ tốt hơn đối với những khách hàng đã có tài khoản cá nhân, ngân hàng nên thu nợ hàng tháng bằng cách rút tiền từ tài khoản của họ. Thứ ba, ngân hàng nên thúc đẩy việc thực hiện các nghiệp vụ môi giới, trung gian thanh toán, hỗ trợ vốn trong giao dịch mua bán bất động sản và mua bán các tài sản có giá trị lớn qua tài khoản tiền gửi tại ngân hàng. Bằng cách này, ngân hàng vừa nâng cao sức cạnh tranh của mình với các ngân hàng khác, vừa tăng doanh số; vừa thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Áp dụng cho từng phương thức Mỗi phương thức TTKDTM lại có những đặc điểm riêng, muốn phát triển phải đòi hỏi những điều kiện khác nhau. Vì vậy, bên cạnh các biện pháp nhằm phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt , tôi xin đề xuất một số biện pháp áp dụng cho từng phương thức như sau. Thanh toán bằng Séc Séc là một lĩnh vực không còn mới ở Việt Nam song tính phổ dụng còn thấp và chưa có một sự đầu tư đáng kể nào, vì vậy séc chưa được hình thành thành một thị trường thống nhất. Hiện nay trên thế giới đã hình thành hai mô hình để xây dựng trung tâm xử lý séc: Mô hình cũ (xử lý séc truyền thống) và mô hình mới (mô hình có sự can thiệp của công nghệ hiện đại). Ở Việt Nam nên đi theo con đường thứ hai. Việt Nam là một nước đi sau, vì vậy rút ngắn thời gian là một việc làm cần thiết. Việt Nam có thể xây dựng thị trường séc bằng các biện pháp sau: - Ngân hàng có thể thành lập trung tâm xử lý séc ở ba miền như: Hà Nội - Đà Nẵng - Thành phố Hồ Chí Minh. Sự lựa chọn này là có cơ sở, bởi vì 3 thành phố này chiếm tới 80 % số lượng séc trong toàn quốc. Bên cạnh đó, ngân hàng nên cho phép sử dụng rộng rãi séc ở ngoài phạm vi các thành phố, tỉnh cùng tham gia vào trung tâm này. Các chi nhánh ngân hàng sẽ gửi tờ séc và các thông tin về séc đến ngân hàng nhà nước để kiểm tra, kiểm soát chúng và thanh toán bù trừ, sau đó phân loại và gửi các séc đến ngân hàng phát hành. Ngoài việc thanh toán qua trung tâm bù trừ, các ngân hàng trên cùng địa bàn có thể mở tại nhau các tài khoản song biên clearing. Tài khoản này hoạt động trên nguyên tắc phục vụ lẫn nhau việc thu hộ, chi hộ trong những phạm vi thanh toán đã được thoả thuận trước giữa các ngân hàng với nhau trong đó có séc cá nhân. Đến kỳ các ngân hàng đối chiếu song biên với nhau để quyết toán số tiền đã thu hộ, chi hộ và thanh toán với nhau các khoản phải thu, phải chi. Các ngân hàng không nên tính lãi những tài khoản này, không bắt buộc duy trì số dư ký quĩ khi làm thủ tục mở và trong suốt quá trình hoạt động. Tài khoản song biên này sẽ giúp cho quá trình thanh toán séc được nhanh chóng hơn và khi có sự cố sẽ rút ngắn thời gian xử lý. - Ngân hàng nên phát hành thẻ séc dùng song song với séc cá nhân. Mục đích của việc ra đời thẻ này là tạo tâm lý an tâm khi sử dụng và hạn chế khả năng sử dụng thẻ bất hợp pháp. Trên thẻ séc ghi đầy đủ các yếu tố để đảm bảo cho thanh toán như: Họ tên chủ tài khoản, địa chỉ, số chứng minh nhân dân, số hiệu, tên ngân hàng giao dịch, số của thẻ séc.Khi người thụ hưởng có tài khoản ở một ngân hàng và muốn phát hành séc, ngân hàng sẽ cấp cho chủ tài khoản một thẻ séc kèm theo số séc đã nhượng, có nghĩa là ngân hàng nhượng séc đảm bảo khả năng chi trả cho người thụ hưởng, có thể gọi đây là chứng chỉ thanh toán do ngân hàng nơi mở phát hành cho người sử dụng séc, một loại dùng trongphát hành séc không thể chuyển nhượng. Có thể khi cần thiết ngân hàng nên nghiên cứu thủ tục uỷ quyền sử dụng thẻ séc giống như người được uỷ quyền phát hành séc hiện nay. - Ngân hàng cũng nên quan tâm đến séc cá nhân có đảm bảo khả năng chi trả của ngân hàng thương mại. Từ một bộ phận dân cư có sử dụng séc thanh toán (Có bảo chi cả sổ séc lẫn mức khống chế không quá một số tiền nhất định khi mỗi tờ séc trao tay)cótác dụng kích thích nhu cầu thanh toán. Tuỳ theo từng giai đoạn, ngân hàng có thể qui định séc không được chuyển nhượng và séc được chuyển nhượng. Đối với những khách hàng có uy tín hoặc có những đảm bảo phù hợp, ngân hàng có thể cấp tín dụng bằng cách áp dụng hình thức thấu chi (Tính lãi tiền vay khi vượt quá số dư trong một thời hạn nhất định). Với doanh nghiệp khi bán hàng cho dân cư sử dụng séc thanh toán thì doanh số bán hàng bằng các hình thức thanh toán qua ngân hàng nên được miễn hoặc giảm thuế trong những thời kỳ nhất định Thanh toán bằng thẻ thanh toán - Mở rộng đối tượng sử dụng thẻ: Thực tế hiện nay thì thẻ tín dụng thường chỉ được một số đối tượng có thu nhập cao sử dụng. Thời gian tới, bên cạnh đối tượng khách hàng truyền thống này, các NHTM nên mở rộng việc sử dụng thẻ tới những bộ phận dân cư như: những người sống ở thành thị, những người làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp có thu nhập cao như các công ty liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước có thu nhập cao, ổn định (dầu khí, bưu điện, hàng không). Và trong tương lai xa hơn, NHTM nên quan tâm đến đối tượng là những người có thu nhập trung bình, ổn định trong xã hội, đây là đối tượng chiếm đa số ở Việt Nam. - Đa dạng hoá sản phẩm, tạo ra những sản phẩm thẻ tín dụng mới phù hợp với điều kiện VN. Tiến hành tạo ra các sản phẩm thẻ liên kết với các doanh nghiệp lớn có uy tín hoạt động trong lĩnh vực sản xuất vật chất cũng như các ngành, dịch vụ như: siêu thị, khách sạn, cửa hàng bán xăng dầu, đại lý bán vé máy bay, đại lý bảo hiểm - Một vấn đề hiện nay nhiều người sử dụng thẻ thanh toán quan tâm là việc thu phí thanh toán. Nhiều ngân hàng hiện nay đã và đang thực hiện thu phí đối với các giao dịch rút tiền, chuyển khoản, xem số dư và in sao kê tại các máy ATM của các NH khác trong liên minh Smartlink và Banknet. Mức phí thu cụ thể được thực hiện đúng quy định của Smartlink và Banknet. Trong một số trường hợp việc thu phí này là rất không công bằng và không hợp lý với khách hàng. Vì vậy, để người dân có thể an tâm hơn trong các giao dịch thanh toán của mình thì các ngân hàng nên thận trọng với từng mức phí đưa ra. Khách hàng chỉ sẵn sàng chấp nhận một mức phí nào đó nếu họ cảm thấy thực sự hài lòng với chất lượng dịch vụ mà các ngân hàng mang lại. - Ngày 24/8/2007, thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ban hành Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg thực hiện trả lương qua tài khoản đối với những đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Dịch vụ thẻ từ đó đã đóng vai trò quan trọng để thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội. Tuy nhiên, tình hình hịên nay cho thấy còn có nhiều vướng mắc xung quanh vấn đề này. Việc thiếu hụt nghiêm trọng hệ thống ATM, ở những vùng nông thôn không có ATM, người dân phải ra thị trấn hoặc thành phố mới rút được. Thêm vào đó tình trạng công nhân ở các khu công nghiệp, khu chế xuất phải xếp hàng dài đợi hàng giờ mới rút được tiền không phải là chuyện hiếm. Tình hình này đòi hỏi các NHTM cần rà soát toàn bộ cơ sở hạ tầng cung ứng dịch vụ trả lương qua tài khoản (số lượng và phân bổ máy ATM trên địa bàn; tình trạng an toàn về điện, chất lượng đường truyền, các dịch vụ tiếp quỹ, chăm sóc khách hàng, xử lý trục trặc kỹ thuật, thắc mắc, khiếu nại.) theo hướng mở rộng, tăng cường lắp đặt máy ATM trên địa bàn. Thanh toán bằng thư tín dụng - Trước hết cần tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu phát triển. Qua nghiên cứu lý luận ở trên, trước hết chúng ta thấy rõ vai trò của ngân hàng trong quá trình thực hiện quá trình thanh toán quốc tế: vừa làm trung gian thu hộ tiền, vừa thực hiện chi trả tiền hàng theo lệnh, vừa làm đảm bảo cam kết sẽ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng, đó là nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng muốn tăng lợi nhuận thì phải cải tiến mở rộng các sản phẩm dịch vụ đáp ứng được yêu cầu đa dạng hoá của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thông qua đó mà góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu phát triển. - Áp dụng nhiều biện pháp để phòng ngừa và ngăn chặn rủi ro cho các doanh nghiệp trong thực hiện giao dịch bằng L/C. Cụ thể các doanh nghiệp khi tham gia LC cần tìm hiểu bạn hàng kỹ lưỡng, tham khảo ý kiến ngân hàng về quá trình kinh doanh của đối tác, nghiên cứu kỹ quy định về điều khoản phạt trong hợp đồng (Penalty), yêu cầu cả hai bên ký quỹ tại một ngân hàng để đảm bảo thực hiện hợp đồng , yêu cầu phải đưa ra những công cụ đảm bảo an ninh thanh toán của ngân hàng như Standby L/C, Bank Guarantee, Performance Bond.. (chỉ áp dụng đối với những hợp đồng lớn và khách hàng không quen biết nhau) để đảm bảo quyền lợi của nhà nhập khẩu Nhìn chung, trong các cuộc giao thương quốc tế ngày nay, thanh toán theo L/C luôn là phương thức thanh toán quan trọng nhất giữa những đối tác kinh doanh bởi L/C tạo ra sự an tâm và thuận lợi tối đa cho các công ty. Nhưng dù an toàn và tiện lợi đến mấy thì thanh toán qua L/C vẫn không thể tránh khỏi các rủi ro và tranh chấp phát sinh. Doanh nghiệp cần sớm chuẩn bị cho mình những kiến thức về L/C đồng thời lường trước được những rủi ro trong quá trình thanh toán L/C. Có thế việc mua bán hàng hoá mới diễn ra nhanh gọn và L/C sẽ thực sự trở nên hiệu quả. Một số kiến nghị nhằm mở rộng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt Kiến nghị đối với Nhà nước - Hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước Trong thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường như: Bộ luật Dân sự, bộ luật Thương mại, luật Ngân hàng Nhà nước, luật Các tổ chức tín dụngTuy nhiên vẫn còn quá chung chung, sau khi văn bản luật có hiệu lực cũng không có văn bản hướng dẫn cụ thể, nhiều lĩnh vực chưa được sửa đổi, có văn bản phải sửa đổi và bổ sung nhiều lần, không có tính ổn định nên việc thực thi và áp dụng là rất khó. Thực tế là các văn bản luật liên quan đến hoạt động của hệ thống ngân hàng nói chung và hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng, đặc biệt là hoạt động nhờ thu và chuyển tiền còn nhiều vướng mắcChính vì vậy, dù luật được ban hành nhưng phần qui định về thanh toán không dùng tiền mặt, thể thức thanh toán phổ biến, chiếm đa số trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, tổ chức tín dụng vẫn dậm chân tại chỗ, gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động tài chính. Để tạo điều kiện và môi trường pháp lý cho các ngân hàng hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực trong đó có hoạt động thanh toán thanh toán không dùng tiền mặt, Nhà nước cần: Xử lý các văn bản pháp lý, các đạo luật đồng bộ. Bên cạnh, hoàn thiện những chính sách hiện hành, nghiên cứu cho ra đời những văn bản mới về lĩnh vực ngân hàng, thị trường chứng khoán - Cần có các biện pháp xử lý mạnh đối với những hành vi vi phạm pháp Về vấn đề an toàn, bảo mật, hiện nay rất nhiều người còn e dè chưa giám sử dụng các hình thứ TTKDTM vì vấn đề an toàn và bảo mật thông tin. Nhà nước nên coi các hành vi trộm cắp các thông tin về tài khoản, mã số là hành vi vi phạm pháp luật và có khung hình phạt thích đáng. Đồng thời các ngân hàng phải phối hợp tìm giải pháp bảo mật thông tin cho khách hàng. Phải để khách hàng thấy rằng gửi tiền vào ngân hàng là an toàn và kinh tế hơn là cất trong két sắt. Điều đó còn có lợi cho ngân hàng trong việc huy động vốn phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. - Hoàn thịên và phát triển thị trường tiền tệ liên ngân hàng Cần tập trung phát triển hệ thống thanh toán liên ngân hàng (TTLNH) vì đây là hệ thống thanh toán xương sống của nền kinh tế. Việc thiết kế mở rộng hệ thống đáp ứng nhu cầu cho các thành viên phải phù hợp với các chuẩn quốc tế áp dụng chung cho các hệ thống thanh toán và quyết toán. Các giải pháp phần mềm hệ thống cần đảm bảo độc lập giữa xử lý số liệu và truyền dữ liệu, đảm bảo tính bảo mật hệ thống, tích hợp dữ liệu và tính liên tục trong hoạt động Kiến nghị đối với ngân hàng Nhà nước NHNN cần sớm ban hành những văn bản pháp qui qui định quyền hạn, trách nhiệm của NH cũng như của doanh nghiệp trong các giao dịch liên quan đến ngoại hối. Ngoài việc thắt chặt quản lý ngoại hối, ngân hàng Nhà nước cần có qui định rõ ràng hơn đối với doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu để giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn trong việc xin mua ngoại tệ để thực hiện các nghĩa vụ thanh toán quốc tế. Cần phối hợp chặt chẽ giữa ban thanh tra của ngân hàng Nhà nước với bộ máy kiểm tra giám sát của các ngân hàng thương mại để nhanh chóng phát hiện những vướng mắc, những sai lầm, vi phạm để kịp thời xử lý. Đối với khách hàng Thanh toán không dùng tiền mặt là một hoạt động chứa nhiều rủi ro. Sự rủi ro không đơn giản ở sự tách biệt về vị trí địa lý giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu mà nhiều khi rủi ro xuất phát từ chính những khách hàng yêu cầu ngân hàng thực hiện thanh toán. Để hạn chế điều này, các khách hàng phải không ngừng hoàn thiện mình nhất là trong điều kiện phát triển của các công cụ thanh toán như hiện nay. Trong giao dịch của mình, khách hàng nên thực hiện một cách nhanh nhất và tốt nhất những nghĩa vụ của mình đối với ngân hàng. Trong trường hợp có những thông tin thiếu chính xác khách hàng nên cẩn trọng xem xét và phản hồi lại cho ngân hàng để ban lãnh đạo có biện pháp xử lý kịp thời. Khách hàng nên thận trọng lựa chọn đối tác. Bởi vì, dù thanh toán theo phương thức nào thì việc trả tiền cũng phụ thuộc vào thiện chí của người mua, uy tín cũng như mối quan hệ giữa hai bên. KẾT LUẬN Có thể nói, sự phát triển của hoạt động của thanh toán không dùng tiền mặt luôn song hành chung với sự phát triển chung của toàn xã hội. Phương thức và trình độ nghiệp vụ thanh toán phản ánh trình độ phát triển kinh tế – xã hội, trình độ dân trí của mỗi quốc gia. Nền kinh tế càng phát triển thì khối lượng giao dịch mua bán trao đổi hàng hóa dịch vụ ngày càng tăng và nhu cầu thanh toán an toàn nhanh chóng và chính xác trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Từ những tiện ích mà thanh toán không dùng tiền mặt mang lại, có thể khẳng định phát triển hình thức thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những định hướng lớn, có tầm quan trọng rất lớn đối với nền kinh tế nước ta. Đổi mới mạnh mẽ công nghệ Ngân hàng theo hướng quốc tế hoá và hiện đại hoá, giảm tỉ trọng tiền mặt trong dân cư là một trong những xu thế tất yếu của thời đại. Hi vọng qua đề tài này, tôi có thể phản ánh phần nào thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam và có thể đóng góp một vài giải pháp nhỏ nhằm phát triển và hoàn thiện hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO (1) Báo điện tử : vnexpress.net, dantri.com.vn, vietbao.com, laodong.com.vn (2) Một số bài viết trên các trang Web : (3) Một số tạp chí chuyên ngành : -Tạp chí Ngân hàng, Thời báo ngân hàng -Tạp chí Tài chính `-Tạp chí Thị trường tiền tệ (4) Giáo trình : - Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính (Frederic S. Mishkin) - Lý thuyết Tài chính- tiền tệ (Đại học tài chính-kế toán) - Quản trị Ngân hàng thương mại - Gs.Ts Lê Văn Tư (Nhà xuất bản tài chính - 2005) - Thẻ thanh toán quốc tế và việc ứng dụng thẻ tại Việt Nam, Lê Văn Tề & Trương Thị Hồng (Nhà xuất bản trẻ) (5) Luận án tiến sĩ “Những vấn đề nhằm hoàn thiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế”, Lại Ngọc Quý. MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docnganhang_28_wrme3hwrhn_20131115091122_65671_2675.doc
Luận văn liên quan