Đề tài Hoàn thiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đông Sơn

Trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại đang từng bước phát triển và hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, các công ty phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp như sự biến động liên tục của nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty, các doanh nghiệp trong và ngoài nước Vì vậy, đòi hỏi bản thân mỗi công ty, mỗi doanh nghiệp phải xác định được phương hướng, mục tiêu trong hoạt động cũng như phát huy tối đa hiệu quả của những nguồn lực sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, cũng cần hoàn thiện phân tích tình hình tài chính để có cái nhìn toàn diện, khách quan về tình hình tài chính của doanh nghiệp, xác định một cách đúng đắn những tồn tại trong hoạt động kinh doanh để từ đó đưa ra những giải pháp kịp thời và dự đoán được những hệ quả tài chính từ hoạt động của mình. Mặt khác, kết quả của phân tích tài chính cũng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư, chủ nợ của doanh nghiệp vì những thông tin này ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư của họ.

pdf83 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 08/08/2017 | Lượt xem: 862 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Hoàn thiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đông Sơn, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g vốn. Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời Thang Long University Library 47 Điều mà bất kì ai quan tâm đến công ty, doanh nghiệp đều là khả năng tạo ra lợi nhuận của công ty, doanh nghiệp đó. Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đánh giá năng lực quản lý tại công ty. - Tỷ suất sinh lời trên doanh thu Bảng 2.9. Bảng phân tích tỷ suất sinh lời trên doanh thu STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 1 Doanh thu thuần Đồng 45.214.937.318 56.003.607.635 72.740.602.282 2 Lợi nhuận sau thuế Đồng 382.474.699 286.765.799 568.819.658 3 ROS % 0,85 0,51 0,78 (Nguồn: Số liệu tính được từ BCTC 2010-2012) Biểu đồ 2.2.Phân tích tỷ suất sinh lời trên doanh thu Qua bảng phân tích số liệu 2.9 ta thấy, tỷ suất sinh lời trên doanh thu ROS không ổn định và có xu hướng tăng. Năm 2011 tỷ suất sinh lời trên doanh thu của công ty là 0,51% đồng nghĩa với trong 100 đồng doanh thu bỏ ra thì tạo được 0,51 đồng lợi nhuận. So với năm 2010, tỷ suất sinh lời trên doanh thu năm 2011 giảm 0,34 đồng. Trong năm, doanh thu thuần 45.214.937.318 56.003.607.635 72.740.602.282 382.474.699 286.765.799 568.819.658 0,85 0,51 0,78 0 0,1 0,2 0,3 0,4 0,5 0,6 0,7 0,8 0,9 0 10.000.000.000 20.000.000.000 30.000.000.000 40.000.000.000 50.000.000.000 60.000.000.000 70.000.000.000 80.000.000.000 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 % Đ ồ n g Doanh thu thuần Lợi nhuận sau thuế ROS 48 tăng số tương đối: 10.788.670.317 đồng, số tương đối tăng: 23,86% trong khi đó, lợi nhuận sau thuế lại giảm 95.708.900 đồng tương đương với 25,02% so với năm 2010. Chính nguyên nhân này đã dẫn đến sự sụt giảm của tỷ suất sinh lời. Năm 2012, doanh thu thuần tăng lên đến 72.740.602.282 đồng, tăng 29,89% so với năm 2011, lợi nhuận sau thuế cũng tăng lên đến 568.819.658 đồng tương ứng với mức tăng 98,36%. Sự gia tăng của lợi nhuận sau thuế với tốc độ cao hơn so với tốc độ tăng của doanh thu thuần đã làm cho tỷ suất sinh lời trên doanh thu tăng 52,94% so với năm 2011và đạt con số là 0,78%. Điều đó có nghĩa là cứ 100 đồng doanh thu thuần bỏ ra thì thu về được 0.78 đồng lợi nhuận. Đây là một kết quả khá tốt, chính vì thế công ty cần tiếp tục duy trì và phát huy trong những giai đoạn tiếp theo. - Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản Bảng 2.10. Bảng phân tích tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 1 Doanh thu thuần Đồng 45.214.937.318 56.003.607.635 72.740.602.282 2 Tổng tài sản Đồng 22.775.039.014 42.141.742.294 57.620.236.367 3 ROA % 1,68 0,68 0,99 (Nguồn: Số liệu tính được từ BCTC 2010-2012) Biểu đồ 2.3. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản Từ biểu đồ 2.3 và bảng phân tích số liệu 2.10 cho thấy, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản cũng có xu hướng biến động không không ổn định. Năm 2010, chỉ tiêu ROA đạt 1,68% có nghĩa là trong 100 đồng tổng tài sản bỏ ra thì thu về được 1,68 đồng lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên sang đến năm 2011, công ty không thể duy trì ở con số này mà tụt xuống chỉ còn là 0,68% có nghĩa là 100 đồng tài sản bỏ ta chỉ thu về được 0,68 45.214.937 56.003.608 72.740.602 22.775.039 42141742,29 57620236,37 1,68 0,68 0,99 0 0,2 0,4 0,6 0,8 1 1,2 1,4 1,6 1,8 0 10.000.000 20.000.000 30.000.000 40.000.000 50.000.000 60.000.000 70.000.000 80.000.000 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 % Đ ồ n g Doanh thu thuần Tổng tài sản ROA Thang Long University Library 49 đồng lợi nhuận sau thuế. Điều này được giải thích là do trong năm 2011, tổng tài sản đạt 42.141.742.294 đồng tương đương với mức tăng 85,03%, gần gấp đôi so với năm 2010 trong khi lợi nhuận sau thuế lại giảm đi 25,02%. Năm 2012, chỉ tiêu này lại tăng lên 0,99%, nghĩa là để thu về được 0,99 đồng lợi nhuận sau thuế thì cần phải sử dụng 100 đồng tổng tài sản. Sự tăng lên của chỉ tiêu ROA năm 2012 được giải thích là do tốc độ tăng của tổng tài sản là 36,73% chậm hơn so với tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế là 98,36%. Tuy nhiên chỉ tiêu này vẫn thấp hơn so với năm 2010 là 41,07%. Điều đó chứng tỏ công ty sử dụng chưa hiệu quả tổng tài sản để góp phần làm tăng lợi nhuận sau thuế. - Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Bảng 2.11. Bảng phân tích tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 1 Lợi nhuận sau thuế Đồng 382.474.699 286.765.799 568.819.658 2 Tổng VCSH Đồng 7.965.617.635 13.198.722.207 13.754.325.106 3 ROE % 4,80 2,17 4,14 (Nguồn: Số liệu tính được từ BCTC 2010-2012) Biểu đồ 2.4. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của vốn, trong 100 đồng vốn bỏ ra thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Qua bảng 2.11 và biểu đồ 2.4 ở trên cũng có thể nhận thấy, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của công ty cũng không ổn định trong giai đoạn 2010- 2012. Cụ thể: 382.474.699 286.765.799 568.819.658 7.965.617.635 13.198.722.207 13.754.325.106 4,80 2,17 4,14 0,00 1,00 2,00 3,00 4,00 5,00 6,00 0 2.000.000.000 4.000.000.000 6.000.000.000 8.000.000.000 10.000.000.000 12.000.000.000 14.000.000.000 16.000.000.000 Năm 2010 Năm2011 Năm2012 % Đ ồ n g Lợi nhuận sau thuế Tổng VCSH ROE 50 Năm 2011, cứ 100 đồng VCSH bỏ ra thì thu về được 2,17 đồng lợi nhuận, giảm gần một nửa so với năm 2010. Nguyên nhân chủ yếu là do sự sụt giảm của lợi nhuận sau thuế từ 382.474.699 đồng năm 2011 xuống còn 286.765.799 đồng trong khi đó vốn chủ sở hữu lại tăng từ 7.965.617.635 đồng lên 13.198.722.207 đồng. Sang đến năm 2012, chỉ tiêu này lại tăng lên thành 4,14% do sự tăng lên cả về vốn chủ sở hữu cũng như lợi nhuận sau thuế. Sự biến động đột ngột của ROE qua các năm cho thấy rằng công ty chưa khai thác tối đa nguồn vốn mình đang có. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu thấp sẽ khó có thể thu hút được các nhà đầu tư bỏ vốn để mở rộng sản xuất. Công ty cần tìm kiếm giải pháp thích hợp để thu hút đầu tư, khẳng định khả năng tự chủ tài chính của mình, cũng như sức cạnh tranh của công ty trên thị trường hiện nay. Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý tài sản - Hệ số thu nợ Bảng 2.12. Bảng phân tích hệ số thu nợ STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 1 Doanh thu thuần Đồng 45.214.937.318 56.003.607.635 72.740.602.282 2 Phải thu khách hàng Đồng 6.364.884.636 14.195.460.562 11.730.647.013 3 Hệ số thu nợ Vòng 7,10 3,95 6,20 4 Thời gian thu nợ trung bình Ngày 51,38 92,52 58,86 (Nguồn: số liệu tính toán từ BCTC 2010- 2012) 7,1 3,95 6,2 51,38 92,52 58,86 0 1 2 3 4 5 6 7 8 0,00 10,00 20,00 30,00 40,00 50,00 60,00 70,00 80,00 90,00 100,00 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Vòng N g à y Hệ số thu nợ Thời gian thu nợ trung bình Biểu đồ 2.5. Phân tích hệ số thu nợ Thang Long University Library 51 Hệ số thu nợ cho biết số vòng quay các khoản phải thu khách hàng trong 1 năm. Kết hợp dữ liệu từ bảng 2.12 và biểu đồ 2.5 ta dễ dàng nhận thấy xu hướng biến động của hệ số thu nợ là không đồng đều. Cụ thể: Năm 2011 hệ số thu nợ là 3,95 vòng, thời gian trung bình mỗi vòng là 92,52 ngày. So với năm 2010 thì số vòng giảm 3,15 vòng và số ngày mỗi vòng tăng lên 41,14 ngày. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của phải thu khách hàng năm 2011 (123,03%) cao hơn so với tốc độ tăng của doanh thu thuần (23,86%). Hệ số thu nợ giảm là không tốt, thể hiện khả năng thu hồi vốn chậm hơn, vốn của công ty bị ứ đọng nơi khách hàng. Nhưng sang đến năm 2012, tình hình có vẻ khả quan hơn khi khoản phải thu khách hàng giảm 17,36% so với năm 2011. Rút ngắn thời gian cho khách hàng chiếm dụng vốn đồng nghĩa với việc hệ số thu nợ tăng lên là 6,2 vòng trên 1 năm và số ngày của một vòng giảm chỉ còn 58,06 ngày. - Phân tích chỉ tiêu quản lý hàng tồn kho Bảng 2.13. Bảng phân tích chỉ tiêu quản lý hàng tồn kho STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 1 Giá vốn hàng bán Đồng 44.423.704.597 54.689.198.339 70.923.971.583 2 Giá trị hàng tồn kho Đồng 3.031.671.665 14.184.932.635 25.602.981.028 3 Vòng quay hàng tồn kho Lần 14,65 3,86 2,77 4 Thời gian luân chuyển kho trung bình Ngày 24,91 94,67 131,76 (Nguồn: số liệu tính toán từ BCTC 2010- 2012) 52 Biểu đồ 2.6. Phân tích chỉ tiêu quản lý hàng tồn kho Như chúng ta đã biết, dự trữ là khâu quan trọng nhằm đảm bảo cho hoạt động của công ty. Nếu dự trữ ở mức hợp lý sẽ góp phần đem lại hiệu quả sử dụng vốn, giảm được chi phí dự trữ hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là chỉ tiêu kinh doanh khá quan trọng bởi nó cho thấy được tốc độ hàng luân chuyển trong một kỳ. Qua bảng số liệu 2.13 ta thấy, số vòng quay hàng tồn kho liên tục giảm trong giai đoạn 2010- 2012. Trong đó: Năm 2010, trung bình hàng tồn kho luân chuyển được 14,65 vòng và số ngày mỗi vòng là 24,57 ngày. Sang đến năm 2011số vòng luân chuyển trung bình của hàng tồn kho giảm mạnh chỉ còn 3,86 vòng làm cho số ngày trung bình của mỗi vòng tăng lên là 94,67 vòng. Nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm mạnh mẽ của số vòng quay hàng tồn kho là do năm 2011 lượng hàng tồn kho tăng 367,89% trong khi giá vốn hàng bán chỉ tăng 23,11% . Đây là tín hiệu không tốt vì cho thấy hàng hóa bị tồn đọng trong kho lâu hơn, điều này làm tăng chi phí quản lý kho và gây tích tụ vốn gây mất cơ hội đầu tư và mở rộng hoạt động của công ty. Sang đến năm 2012, vòng quay hàng tồn kho tiếp tục giảm. Nếu như năm 2011 một đồng hàng tồn kho tạo được 3,86 đồng giá vốn giá vốn hàng bán thì đến năm 2012 giảm còn 2,77 đồng. Điều này đồng nghĩa với việc số ngày trung bình của một vòng quay cũng dài hơn và năm 2012 là 131,76 ngày. Đây là biểu hiện không tốt cho thấy khả năng chuyển đổi thành tiền của hàng tồn kho đã giảm chủ yếu vẫn là do tốc độ 14,65 3,86 2,77 24,91 94,67 131,76 0 2 4 6 8 10 12 14 16 0 20 40 60 80 100 120 140 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Lần Ngày Vòng quay hàng tồn kho Thời gian luân chuyển kho trung bình Thang Long University Library 53 tăng của giá vốn hàng bán vẫn chậm hơn tốc độ tăng của hàng tồn kho. Chính vì thế, công ty cần đẩy nhanh tiến độ tiêu thụ lượng hàng dự trữ trong kho để có thể đảm bảo tính thanh khoản. - Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản cố định Bảng 2.14. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 1 Doanh thu thuần Đồng 45.214.937.318 56.003.607.635 72.740.602.282 2 Tổng TSCĐ Đồng 5.295.028.580 6.758.741.968 5.728.760.622 3 Hiệu suất sử dụng TSCĐ Lần 8,54 8,29 12,70 (Nguồn: số liệu tính toán từ BCTC 2010- 2012) Biểu đồ 2.7. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định Biểu đồ 2.7 cho thấy hiệu suất sử dụng tài sản cố định của công ty là không ổn định trong khoảng thời gian 2010- 2012. Cụ thể: Hiệu suất sử dụng TSCĐ năm 2010 là 8,54 có nghĩa là 1 đồng TSCĐ thì tạo được 8,54 đồng doanh thu thuần. Sang đến năm 2011 thì hệ số này có sự giảm nhẹ xuống còn 8,29 đồng là do trong năm 2011 công ty có đầu tư thêm một số máy móc làm cho tốc độ tăng của TSCĐ là 27,64% trong khi tốc độ tăng của doanh thu thuần là 23,86%. Tuy nhiên, đến năm 2012 hệ số này lại tăng lên là 12,70 có nghĩa là 1 đồng TSCĐ tạo ra 12,70 đồng doanh thu. Đây được coi là tín hiệu tốt vì việc sử dụng TSCĐ đã góp phần làm tăng doanh thu cho công ty. 45.214.937.318 56.003.607.635 72.740.602.282 5.295.028.580 6.758.741.968 5.728.760.622 8,54 8,29 12,7 0 2 4 6 8 10 12 14 0 10.000.000.000 20.000.000.000 30.000.000.000 40.000.000.000 50.000.000.000 60.000.000.000 70.000.000.000 80.000.000.000 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Lần Đ ồ n g Doanh thu thuần Tổng TSCĐ Hiệu suất sử dụng TSCĐ 54 - Hiệu suất sử dụng tài sản lƣu động Bảng 2.15. Hiệu suất sử dụng tài sản lƣu động STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 1 Doanh thu thuần Đồng 45.214.937.318 56.003.607.635 72.740.602.282 2 Tổng TSLĐ Đồng 17.480.010.434 35.009.067.068 44.438.254.405 3 Hiệu suất sử dụng tổng TSLĐ Lần 2,59 1,60 1,64 (Nguồn: Số liệu tính toán từ BCTC năm 2010- 2012) Biểu đồ 2.8. Hiệu suất sử dụng tài sản lƣu động Từ bảng số liệu 2.15 và biểu đồ 2.8 có thể nhận thấy hiêu suất sử dụng TSLĐ của công ty có xu hướng giảm nhưng không ổn định. Cụ thể: Năm 2010, chỉ tiêu này là 2,59 có nghĩa là cứ 1 đồng TSLĐ sẽ tạo ra được 2,59 đồng doanh thu thuần nhưng sang đến năm 2011 thì một đồng TSLĐ chỉ còn tạo được 1,6 đồng doanh thu. Có sự sụt giảm trên là do tốc độ tăng của tổng TSLĐ là 100,28% lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu thuần là 22,94%. Tuy sang đến năm 2012 chỉ tiêu này tăng nhẹ 2,5% và một đồng TSLĐ tạo ra 1,64 đồng doanh thu thuần nhưng cũng không đạt được đến con số như năm 2010. Điều này cho thấy việc tận dụng TSLĐ vào việc góp phần tạo nên doanh thu của công ty là chưa thực sự hiệu quả. Công ty cần tăng cường đẩy mạnh nhanh tiến độ giảm hàng tồn kho cũng như thu hồi các khoản phải thu để đưa vốn vào hoạt động giúp tăng hiệu suất sử dụng tài sản lưu động. 45.214.937.318 56.003.607.635 72.740.602.282 17.480.010.434 35.009.067.068 44.438.254.405 2,59 1,6 1,64 0 0,5 1 1,5 2 2,5 3 0 10.000.000.000 20.000.000.000 30.000.000.000 40.000.000.000 50.000.000.000 60.000.000.000 70.000.000.000 80.000.000.000 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Lần Đ ồ n g Doanh thu thuần Tổng TSLĐ Hiệu suất sử dụng TSLĐ Thang Long University Library 55 Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý nợ - Phân tích tỷ số nợ Bảng 2.16. Phân tích tỷ số nợ STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 1 Tổng nợ Đồng 14.809.421.379 28.943.020.087 43.865.911.261 2 Tổng TS Đồng 22.775.039.014 42.141.742.294 57.620.236.367 3 Tỷ số nợ % 65,02 68,68 76,13 (Nguồn: số liệu tính toán từ BCTC 2010- 2012) Tỷ số nợ cho biết tỷ trọng nguồn vốn nợ trong tổng nguồn vốn của công ty. Số liệu từ bảng .16 cho thấy, tỷ số nợ liên tục tăng qua các năm, năm 2010 thì nguồn vốn nợ chiếm 65,02%, năm 2011 là 68,68% và năm 2012 là 76,13%. Tỷ số nợ tăng cao là do trong năm 2011 và 2012, tốc độ tăng của tổng nợ lần lượt là 95,44% và 51,56% cao hơn so với tốc độ tăng của tổng tài sản lần lượt là 85,03% và 36,73%. Tổng nợ tăng là do sự gia tăng của những khoản nợ ngắn hạn từ việc nhận tiền ứng trước của người mua. Đây là điều tốt với công ty vì công ty có thể sử dụng nguồn vốn vay để tăng lợi nhuận, tuy nhiên nếu duy trì ở mức quá cao sẽ dễ dẫn đến rơi vào trạng thái mất kiểm soát và không trả được nợ. - Số lần thu nhập hoạt động trên lãi vay Bảng 2.17. Phân tích số lần thu nhập hoạt động trên lãi vay STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 1 Lợi nhuận trước thuế Đồng 509.966.266 382.354.399 689.478.374 2 Lãi vay Đồng 3.902.101 3 EBIT Đồng 509.966.266 382.354.399 693.380.475 4 Số lần thu nhập hoạt động trên lãi vay Lần - - 177,69 (Nguồn: số liệu tính toán từ BCTC 2010- 2012) Lãi vay chỉ phát sinh vào năm 2012, tỷ số này là 177,69 lần chứng tỏ công ty hoàn toàn có khả năng kiểm soát khoản vay của mình và đảm bảo khả năng trả nợ cho chủ nợ. 56 2.3. Đánh giá thực trạng công tác phân tích tài chính tại công ty TNHH MTV Đông Sơn 2.3.1. Kết quả đạt được Tuy hoạt động phân tích tài chính tại công ty còn khá mới mẻ nhưng dưới sự chỉ đạo tận tình của giám đốc cùng với sự nỗ lực không ngừng của toàn thể công ty đã giúp cho công tác phân tích tài chính ngày càng hoàn thiện và thu được những kết quả đáng ghi nhận: Giúp cho giám đốc, nhà đầu tư, các ngân hàng và những người quan tâm có cái nhìn chi tiết hơn về công t, giúp họ đưa ra các quyết định dễ dàng và chính xác hơn. - Về tổ chức hoạt động phân tích Hoạt động kinh doanh của công ty được đánh giá định kỳ hàng năm giúp cho giám đốc phát hiện ra những nguy cơ và thách thức mà công ty có thể gặp phải, để từ đó có hướng khắc phục và quản lý điều hành hoạt động kinh doanh, lập kế hoạch phát triển cho công ty trong ngắn hạn và dài hạn. Bên cạnh đó, để hoạt động kinh doanh của công ty ngày càng hiệu quả thì cần phải có những giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế những tiêu cực đang còn tồn tại trong công ty. - Về thông tin sử dụng trong phân tích Các BCTC là nguồn cung cấp thông tin quan trọng đê các nhà quản trị có cái nhìn toàn diện và sâu sắc tình hình tài chính của công ty. Thông tin phân tích chủ yếu được lấy từ BCĐKT và BCKQHĐKD của công ty. Thông tin trên các báo cáo này về cơ bản đảm bảo tuân thủ theo các chuẩn mực kế toán Việt Nam. Hai báo cáo này cung cấp một bức tranh khái quát về cơ cấu tài sản cũng như hoạt động kinh doanh của công ty trong một thời kỳ nhất định. - Cán bộ phân tích Công tác phân tích tài chính do phòng kế toán đảm nhiệm, người thực hiện chính là kế toán trưởng. Công ty đã xây dựng được bộ máy kế toán hợp lý với tính chuyên môn hóa cao giúp cho nhân viên kế toán có khả năng phát huy hết khả năng của bản thân. Tuy quy mô của công ty không quá lớn nhưng cũng trang bị cho mình bộ phận kế toán với những nhân viên có trình độ, nắm vững về chuyên ngành cũng như chế độ kế toán hiện hành. - Nội dung phân tích Nội dung phân tích tài chính tại công ty khá đầy đủ, đảm bảo phản ánh được những nét cơ bản tình hình tài chính của công ty. Các cán bộ phân tích đã thực hiện phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn trên BCĐKT, phân tích BCKQHĐKD. Tiếp đó họ đã tập trung sâu vào việc phân tích các chỉ tiêu tài chính đặc trưng. Các chỉ số tài Thang Long University Library 57 chính cũng được tính toán rõ ràng, chính xác qua từng năm để nhận thấy sự thay đổi của từng chỉ tiêu. Từ các nhận xét, đánh giá của các cán bộ phân tích, ban giám đốc có thể đưa ra các quyết định phù hợp, hữu ích. - Phương pháp phân tích Sử dụng nhuần nhuyễn hai phương pháp phân tích là phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh, trong đó phương pháp phân tích tỷ số được đội ngũ phân tích sử dụng để tính toán hầu hết các chỉ tiêu phân tích, phản ánh các nội dung cơ bản về tình hình tài chính của công ty. Phương pháp so sánh đã được sử dụng để so sánh các giá trị của các chỉ tiêu tài chính của năm thực hiện so với năm liền kề trước để tìm ra xu hướng biến động của các chỉ tiêu đó trong các năm phân tích. Bên cạnh những kết quả đạt được đã trình bày ở trên, công tác phân tích tài chính tại công ty vẫn còn những tồn tại cần phải xem xét để tìm ra nguyên nhân và có giải pháp khắc phục. 2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân 2.3.2.1. Tồn tại - Về tổ chức hoạt động phân tích Hoạt động phân tích của công ty chỉ được tiến hành vào cuối mỗi năm tài chính sau khi thu thập đầy đủ thông tin và hoàn chỉnh các BCTC. Thông thường như hiện nay thì các BCTC phải đến quý I sang năm mới hoàn tất trong khi mục tiêu của phân tích tài chính là để đánh giá thực trạng của kỳ này để đưa ra chiến lược trong tương lai. Chính vì thế đã làm giảm đi ý nghĩa thực tiễn của hoạt động phân tích tài chính và những chiến lược, mục tiêu đưa ra không theo kịp với quá trình hoạt động của công ty. Đây là thực tế không chỉ ở riêng công ty Đông Sơn mà đa phần các công ty và doanh nghiệp khác cũng như vậy. Bên cạnh đó, công ty cũng chưa xây dựng được một quy trình phân tích nên gây khó khăn cho công việc phân tích tài chính. - Về thông tin sử dụng trong phân tích Hiện nay, công ty chỉ chủ yếu sử dụng thông tin lấy từ hai báo cáo chính quan trọng nhất là BCĐKT và BCKQHĐKD để tiến hành phân tích, chưa sử dụng đến dữ liệu của báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC. Thuyết minh BCTC là nguồn cung cấp thông tin bổ sung cần thiết cho quá trình đánh giá tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của công ty nhưng công ty lập thuyết minh còn sơ sài, không rõ ràng nên gây khó khăn trong việc lấy số liệu để phân tích. Hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành chưa được sử dụng trong quá trình phân tích khiến cho kết quả cũng như chất lượng phân tích tài chính của công ty bị ảnh hưởng. 58 Thêm vào đó, việc không so sánh được với các doanh nghiệp khác cùng ngành cũng gây bất lợi cho công ty vì đây là nhân tố quan trọng trong nền kinh tế thị trường như hiện nay. - Về nội dung phân tích Nội dung phân tích là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính. Nội dung càng cụ thể bao nhiêu thì kết quả phân tích càng rõ ràng bấy nhiêu. Mặc dù công ty đã phân tích được một số các chỉ tiêu cơ bản nhưng chỉ dừng lại ở việc đưa ra các con số tăng giảm mang tính khái quát chứ chưa đi sâu giải thích nguyên nhân của sự tăng giảm đó chính vì thế kết quả phân tích chỉ mang tính khái quát, thiếu trọng điểm, chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động phân tích tài chính cũng như thực tiễn hoạt động của công ty. - Về phương pháp phân tích Hiện nay công ty đang áp dụng hai phương pháp phân tích phổ biến đó là phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tỷ lệ. Tuy nhiên, việc sử dụng hai phương pháp này mang tính đơn điệu và cứng nhắc, chủ yếu mới chỉ là tính toán các chỉ số, so sánh để thấy được sự tăng, giảm chứ chưa nêu bật được điểm mạnh, điểm yếu gây khó khăn cho việc ra quyết định và dự báo tình hình tài chính. - Về bộ phận phân tích tài chính Công ty vẫn chưa có bộ phận riêng để thực hiện công việc phân tích mà công việc phân tích vẫn do phòng kế toán đảm nhiệm, việc này gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng phân tích. Thực tế ở Việt Nam vẫn còn rất nhiều công ty, doanh nghiệp chưa tách bạch giữa bộ phận phân tích tài chính và bộ phận kế toán, chủ yếu vẫn thực hiện công tác kế toán là chính còn về nghiệp vụ phân tích tài chính vẫn chưa được coi trọng. Cán bộ phân tích chủ yếu là kế toán trưởng và các kế toán viên chưa được đào tạo chuyên nghiệp về phân tích tài chính. Chính vì thế, dẫn đến việc phân tích tài chính tại công ty còn nhiều bất cập, và kết quả phân tích nhiều khi không đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng. 2.3.2.2. Nguyên nhân Nguyên nhân chủ quan - Thông tin sử dụng trong phân tích Việc phân tích phải đòi hỏi thu thập được nguồn thông tin đa dạng và chính xác kể cả bên trong lẫn bên ngoài công ty. Việc công ty chỉ sử dụng nguồn thông tin nội bộ mà không sử dụng thông tin bên ngoài sẽ làm cho kết quả phân tích không chuẩn xác, bị thiếu hụt vì thông tin bên ngoaì cũng là một nguồn thông tin vô cùng quan trọng và giúp ích cho việc phân tích rất nhiều. Thang Long University Library 59 - Đội ngũ cán bộ phân tích Trình độ nghiệp vụ của các cán bộ phân tích còn yếu kém, chuyên môn chính thường là kế toán, hiểu biết về tài chính chưa nhiều, chưa nắm rõ được hết vai trò quan trọng của hoạt động phân tích. Việc đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ chưa được công ty chú trọng, chủ yếu những người phân tích được cử tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn. Hơn thế nữa, đội ngũ cán bộ thực hiện công tác phân tích tài chính vẫn mang hình thức kiêm nhiệm và chưa có một chế độ ưu đãi nào khác ngoài lương thưởng như các nhân viên kế toán bình thường khác, do vậy không khuyến khích được tinh thần lao động của đội ngũ phân tích tài chính. - Ban lãnh đạo công ty chưa thực sự quan tâm đến hoạt động phân tích Mặc dù nhận thức được ý nghĩa quan trọng của hoạt động này nhưng chưa có được sự quan tâm đúng mực. Hơn nữa các nhà lãnh đạo chỉ coi đây là một công việc mang tính hình thức chứ chưa sử dụng nó như là một công cụ phục vụ cho công tác quản trị tài chính của công ty. Nguyên nhân khách quan Tại Việt Nam, hoạt động phân tích chưa thực sự hiệu quả và mang tính hình thức chưa có sự kiểm tra giám sát nghiêm ngặt của đội ngũ cán bộ chuyên trách. Báo cáo tài chính của các công ty thường ít được công khai chính vì thế không so sánh được các chỉ tiêu tương tự ở các doanh nghiệp khác cùng ngành. Hơn nữa, hệ thống chỉ tiêu trung bình chưa hoàn thiện để có thể so sánh và đối chiếu. Bên cạnh đó, các văn bản pháp lý quy định về hoạt động tài chính, kế toán ở nước ta còn chưa hoàn thiện, thường xuyên thay đổi qua các năm gây không ít khó khăn cho hoạt động phân tích cũng như dự báo tình hình tài chính. 60 CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MTV ĐÔNG SƠN 3.1. Định hƣớng hoạt động kinh doanh của công ty Định hướng phát triển lâu dài của công ty là hướng đến mở rộng công ty về cả quy mô cũng như phạm vi hoạt động, không chỉ tập trung vào khu vực Tây Nguyên mà còn mở rộng ra các địa bàn khác trên cả nước. Để thực hiện được điều đó, công ty đã không ngừng đầu tư, đổi mới công nghệ, thay thế các máy móc thiết bị lạc hậu bằng các thiết bị tiên tiến hiện đại. Với phương châm lấy chất lượng các công trình và năng suất lao động làm trọng yếu, công ty đã gây dựng được uy tín và lòng tin trên thị trường cũng như nâng cao mức độ tín nhiệm với khách hàng. Để xây dựng và phát huy đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật chỉ huy công trình có năng lực đã được đào tạo qua các trường đại học, cao đẳng, có kinh nghiệm thi công các hạng mục công trình giao thông, thủy lợi trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, đội ngũ thi công có tay nghề cao và ý thức trách nhiệm trong công việc, công ty đưa ra những chính sách mới về lương, thưởng, chế độ đãi ngộ đồng thời liên tục rà soát, sàng lọc vào đào tạo lại đội ngũ cán bộ để nâng cao cả về chất lượng chuyên môn cũng như ý thức trách nhiệm và tổ chức kỷ luật. Để thực hiện định hướng trên, năm 2013, công ty đưa ra các mục tiêu phấn đấu như sau: - Doanh thu phấn đấu đạt 85.000.000.000 đồng. - Lợi nhuận sau thuế tối thiểu đạt 750.000.000 đồng. - Xem xét quản lý các chi phí phát sinh, phân bổ chi phí hợp lý nhằm giảm thiểu tối đa các chi phí không cần thiết hoặc quá lãng phí đối với công ty. - Nâng cao uy tín, mở rộng phạm vi hoạt động của công ty. Củng cố và phát triển các công trình xây dựng truyền thống như cầu đường, đập thủy điện, Có kế hoạch phát triển các mặt hàng mới về xây dựng như hầm đường bộ, dự án nhà ở, khu dân cư, khu đô thị, - Hoàn thiện quy trình và nội dung phân tích tình hình tài chính tại công ty để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính toàn doanh nghiệp. Thang Long University Library 61 3.2. Một số giải nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công ty TNHH MTV Đông Sơn 3.2.1. Một số giải pháp 3.2.1.1. Hoàn thiện về tổ chức hoạt động phân tích Để phân tích tài chính trở thành công cụ hiệu quả trong việc ra quyết định thì hoạt động phân tích tài chính cần phải được tổ chức một cách khoa học, phù hợp với đặc điểm của công ty cũng như đáp ứng được sự quan tâm của từng đối tượng. Muốn hoàn thiện tổ chức hoạt động phân tích tài chính cũng như có thể tăng tần suất phân tích trong một năm thì trước hết cần phải xây dựng một quy trình tổ chức phân tích hợp lý, rõ ràng, minh bạch và thực hiện phân tích theo quy trình đã định, quy trình tổ chức phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm các bước sau: - Bước 1: Lập kế hoạch phân tích Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định phương hướng cũng như hiệu quả của quá trình phân tích. Trước hết cần xác định được mục tiêu phân tích của mình để từ đó nhận định chính xác, đi sâu vào vấn đề chính, tránh lãng phí thời gian, tiết kiệm chi phí. Hoạt động phân tích tài chính tại công ty nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng tài chính của công ty trong thời gian qua đồng thời xây dựng kế hoạch tài chính cho thời gian tới. Bên cạnh đó, xây dựng dựng được hệ thống BCTC để trình lên lãnh đạo cũng như các cơ quan Nhà nước theo quy định. Như vậy ngoài việc giải trình số liệu về tài chính, các kết quả phân tích còn phải thể hiện được tình hình tài chính của công ty trên từng khía cạnh cụ thể và tìm ra điểm mạnh yếu của tình hình tài chính hiện tại của công ty, tìm ra nguyên nhân gây ra sự suy giảm hay tăng trưởng của khả năng sinh lời cũng như tác động của nó đến kết quả hoạt động của công ty để từ đó dự báo và lập kế hoạch tài chính và làm căn cứ cho việc xây dựng biện pháp khắc phục nhược điểm, chiến lược cũng như phương hướng phát triển cho tương lai. Sau khi đã xác định được mục tiêu, ta cần lập kế hoạch phân tích bao gồm nội dung phân tích, nguồn nhân lực cho phân tích và thời gian tiến hành phân tích. Nội dung phân tích cần nêu khái quát tình hình tài chính của công ty cũng như phân tích cơ cấu tài chính, phân tích các chỉ tiêu tài chính. Xác định số lượng nhân sự phục vụ cho phân tích, có kế hoạch phân công chi tiết và thông báo đến từng bộ phận, cá nhân theo kế hoạch. Thời gian tiến hành phân tích nên quy định ngay sau khi các BCTC được lập xong và độ dài thời gian cũng cần được xác định rõ ràng. - Bước 2: Thu thập và xử lý thông tin 62 Chất lượng phân tích tài chính phụ thuộc rất nhiều vào thông tin sử dụng. Thông tin dùng để phân tích cần phải chính xác, đầy đủ, kịp thời và có tính so sánh. Sau khi đã có đầy đủ số liệu trong tay các nhà phân tích tiến hành xử lý số liệu, tính toán các chỉ tiêu phân tích. Từ đó, xác định nguyên nhân và tính toán mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích. - Bước 3: Tiến hành phân tích Tiến hành phân tích đầy đủ các nội dung theo mục tiêu đã định. Phân tích khái quát tình hình sản xuất kinh doanh, cơ cấu tài chính cũng như các chỉ tiêu tài chính. - Bước 4: Dự đoán và quyết định Sau khi đã có được kết quả từ xử lý thông tin, các nhà phân tích sẽ xác định và dự đoán những nhân tố tác động và ảnh hưởng đến tình hình tài chính của công ty mình. Để từ đó, tổng hợp kết quả, rút ra kết nhận xét, kết luận, nhận xét về tình hình tài chính của công ty, đồng thời đưa ra một số biện pháp để phát huy những thành công hiện có cũng như khắc phục những hạn chế còn tồn tại, đưa ra các quyết định, dự báo và lập kế hoạch tài chính cho tương lai. 3.2.1.2. Hoàn thiện về hệ thống thông tin phục vụ cho phân tích tài chính Thông tin sử dụng cho phân tích tài chính rất đa dạng, được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, được chia làm hai loại chính là thông tin bên trong và thông tin bên ngoài. - Thông tin bên trong là thông tin được thu thập vào tổng hợp từ hệ thống BCTC của công ty, số liệu từ các BCTC phải phản ánh đầy đủ, trung thực và chính xác tình hình hoạt động kinh doanh của công ty. Ngoài ra, cũng cần phải lấy từ tài liệu kế toán trong nội bộ công ty để theo dõi sự biến động tình hình sản xuất kinh doanh cũng như toàn bộ hoạt động của công ty trong ngày, trong tháng để phát hiện và giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh. - Thông tin bên ngoài: Sự phát triển của công ty chịu tác động của nhiều yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài công ty. Phân tích tài chính có mục tiêu đưa ra những dự báo tài chính giúp cho việc ra các quyết định về tài chính trong tương lai của công ty. Chính vì thế, thông tin sử dụng không chỉ gói gọn trong những thông tin tài chính hiện tại và quá khứ của công ty mà còn phải mở rộng ra bên ngoài. Đó là những thông tin chung về kinh tế, chính trị, luật pháp, thông tin về ngành, + Các thông tin chung về kinh tế: Các thông tin phản ánh chung về tình hình kinh tế, sự tăng trưởng hay suy thoái của một nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát thất nghiệp là bao nhiêu, triển vọng tăng trưởng trong tương lai như thế nào và những nhân tố ấy sẽ đưa đến ảnh hưởng như thế nào với công ty để có những hướng đi phù hợp. Thang Long University Library 63 + Thông tin về chính trị, luật pháp: Sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của công ty nói riêng cũng như các doanh nghiệp khác cùng ngành nói chung là như thế nào ví dụ như những biện pháp giúp đỡ tài chính, chính sách thuế, tỷ giá, chính sách ưu đãi Ngoài ra, công ty cũng nên chủ động tiếp cận với các Bộ, Sở cũng như các cơ quan ban ngành có liên quan tại địa phương để nắm được những thay đổi về hành lang pháp lý, những điều tiết đối với hoạt động kinh doanh để có những điều chỉnh phù hợp với công ty của mình. + Các thông tin theo ngành: Đây cũng là một nội dung đáng quan tâm của các nhà phân tích, những thông tin chung về ngành mà công ty đang tham gia ví dụ như tốc độ phát triển chung của ngành, hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành, số lượng các công ty, doanh nghiệp hoạt động trong ngành cũng như tình hình hoạt động kinh doanh của họ Qua đó, giúp công ty đánh gía được tiềm năng phát triển của ngành trong tương lai cũng như vị thế của công ty, năng lực hoạt động của công ty so với mức chỉ tiêu trung bình ngành. + Ngoài ra còn có thông tin khác như thông tin về bản thân công ty: Đặc điểm hoạt động của công ty về quy mô, hình thức sở hữu vốn..., về cơ cấu tổ chức trong công ty, mục tiêu hoạt động Các thông tin này nên được tổng hợp định kỳ hàng tháng và chuyển về cho cán bộ phân tích. Đồng thời, công ty cũng cần kiểm tra thường xuyên và nghiêm túc để có thể phát hiện và xử lý kịp thời những sai phạm và nhầm lẫn trong khâu kế toán. Công ty cũng cần hoàn thiện báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính để sử dụng vào việc phân tích nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích cũng như đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin và mang đến cái nhìn cụ thể hơn về công ty cho những đối tượng quan tâm. 3.2.1.3. Hoàn thiện về nội dung phân tích tài chính Nội dung phân tích được xem là cốt yếu bởi lẽ nó quyết định chất lượng phân tích. Về cơ bản, nội dung phân tích tại công ty TNHH MTV Đông Sơn đã nêu được các chỉ tiêu quan trọng, tuy nhiên để có được kết quả phân tích tốt hơn cần bổ sung một số chỉ tiêu sau: - Hệ số khả năng thanh toán tức thì 64 Bảng 3.1. Phân tích khả năng thanh toán tức thì STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 1 Tiền và các khoản tương đương tiền Đồng 6,930,620,571 5,863,891,921 5,292,289,510 2 Tổng nợ ngắn hạn Đồng 14.809.421.379 13.343.020.087 28.265.911.261 3 Khả năng thanh toán tức thì Lần 0,47 0,44 0,19 (Nguồn: Số liệu tính toán từ BCTC năm 2010- 2012) Theo bảng 3.1 ta thấy khả năng thanh toán tức thì giảm dần qua các năm. Năm 2011 đạt 0,44 lần, giảm 0,03 lần so với năm 2010. Điều đó có nghĩa là trong năm 2011 cứ 1 đồng nợ ngắn hạn thì có 0,44 đồng vốn bằng tiền và các khoản tương đương tiền đảm bảo. Năm 2012 khả năng thanh toán tức thì của công ty tiếp tục giảm còn 0,19 lần. Khả năng thanh toán tức thì thể hiện việc sử dụng tiền và các khoản tương đương tiền để thanh toán ngay cho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần chuyển đổi các TSNH khác sang các tài sản có tính lỏng cao như tiền. Tuy nhiên chỉ số này trong 2 năm 2010 và 2011 là rất thấp. Nguyên nhân là do tiền và cá khoản tương đương tiền năm 2011 giảm 1.066.728.750 VNĐ tương ứng giảm 15,39% so với năm 2010, năm 2012 giảm 9,75% do đó làm giảm tính thanh khoản cuả công ty, công ty dễ gặp khó khăn trong việc phản ứng với những rủi ro, bất thường trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như nền kinh tế. Chính vì thế, cần có chính sách quản lý thu chi tiền hợp lý để làm giảm rủi ro thanh toán. - Phân tích chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tổng tài sản Bảng 3.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tổng tài sản STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 1 Doanh thu thuần Đồng 45.214.937.318 56.003.607.635 72.740.602.282 2 Tổng TS Đồng 22.775.039.014 42.141.742.294 57.620.236.367 3 Hiệu suất sử dụng tổng TS Lần 1,99 1,33 1,26 (Nguồn: Số liệu tính toán từ BCTC năm 2010- 2012) Dựa vào bảng 3.2 có thể thấy được hiệu suất sử dụng tổng tài sản đang có xu hướng giảm qua các năm. Bên cạnh đó thì doanh thu thuần và tổng tài sản cũng đang Thang Long University Library 65 có chiều hướng biến động không ít. Điều này cho thấy rằng việc sử dụng tài sản của công ty vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Cụ thể như sau: Năm 2010-2011: Năm 2010 hiệu suất sử dụng của tổng tài sản là 1,99 lần, sang năm 2011 là 1,33 lần, giảm 0,66 lần. Ở đây có thể hiểu rằng một đồng tài sản đưa vào hoạt động kinh doanh thì thu được 1,33 đồng doanh thu thuần. Chỉ số này giảm do tốc độ tăng của doanh thu thuần (22.94%) thấp hơn tốc độ tăng của bình quân tài sản (85,03%). Tuy việc đầu tư của tài sản vào doanh thu thuần giảm nhưng tỷ lệ này vẫn đạt ở mức cao. Năm 2011-2012: Việc tiếp tục đầu tư vào tài sản tăng 36,73% nhưng lại chưa đảm bảo doanh thu tăng tướng ứng nên hiệu suất sử dụng tài sản giảm xuống chỉ còn 1,26 lần. Trong năm 2012, công ty vẫn tiếp tục mở rộng hoạt động và doanh thu vẫn tăng nhưng tốc độ tăng của doanh thu thuần vẫn chậm hơn tốc độ tăng của tổng tài sản. Thêm vào đó, sự gia tăng mạnh mẽ của hàng tồn kho khiến cho tổng tài sản tăng lên. Điều này chính là nguyên nhân làm giảm hiệu suất sử dụng tổng tài sản trong năm. Vì vậy, công ty cần có những chính sách sử dụng tài sản một cách hợp lý hơn, để mức tăng doanh thu thuần tương ứng với tăng tổng tài sản của công ty. 3.2.1.4. Hoàn thiện về phương pháp phân tích tài chính Hoàn thiện phương pháp phân tích sẽ giúp cho công ty có một cái nhìn toàn diện và đúng mức hơn về hiện trạng tài chính cũng như tình hình hoạt động kinh doanh của mình. Hiện nay công ty TNHH MTV Đông Sơn mới chỉ áp dụng hai phương pháp phân tích truyền thống là phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tỷ lệ. Việc sử dụng hai phương pháp này chỉ dừng lại ở việc tính toán các chỉ tiêu cơ bản chứ chưa cho thấy được mối quan hệ giữa các chỉ tiêu cũng như mức độ ảnh hường của các nhân tố khác đến các chỉ tiêu cần phân tích. Chính vì thế, để nâng cao hiệu quả phân tích tài chính, công ty nên áp dụng phương pháp Dupont. Đây là phương pháp phân tích khoa học, cho thấy được mối quan hệ giữa các chỉ tiêu thành phần với các chỉ tiêu tổng hợp, từ đó có thể tìm ra nguyên nhân dẫn đế những kết quả tích cực cũng như tiêu cực của tình hình tài chính, để từ đó lựa chọn hướng đi phù hợp, đúng đắn hơn. Ví dụ áp dụng phương pháp Dupont để phân tích các nhân tố tác động lên ROE của Công ty TNHH MTV Đông Sơn giai đoạn 2010- 2012: Hay: ⁄ 66 Như vậy ROE chịu ảnh hưởng của 3 nhân tố. Do các nhận tố có mối quan hệ tích số với nhau nên có thể xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu ROE, từ đó cho phép nhà phân tích tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của công ty để có chiến lược kinh doanh phù hợp. Bảng 3.3. Phân tích ROE theo phƣơng pháp phân tích Dupont STT Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 1 ROS (%) 0,85 0,51 0,78 2 Hiệu suất sử dụng tổng TS (Lần) 1,99 1,33 1,26 3 Tổng TS/ Tổng VCSH (Lần) 2,86 3,19 4,19 4 ROE (%) 4,84 2,16 4,11 (Nguồn: Số liệu tính toán từ BCTC năm 2010- 2012) Dựa vào bảng 3.3 có thể thấy chỉ tiêuROE không ổn định. ta có thể rút ra một số nhận xét như sau: Nếu năm 2010, từ100 đồng VCSH tạo được 4,84 đồng lợi nhuận sau thuế thì sang đến năm 2011, với 100 đồng VCSH chỉ còn tạo được 2,16 đồng lợi nhuận sau thuế, giảm 2,68 đồng do ảnh hưởng của các nhân tố sau: - Do nhân tố ROS giảm từ 0,85% xuống còn 0,51% làm cho khả năng tạo lợi nhuận của VCSH giảm: Điều này cho thấy hiệu quả quản lý chi phí của công ty là chưa được tốt so với năm 2010. - Do nhân tố hiệu suất sử dụng tổng tài sản giảm 0,66 lần (từ 1,99 xuống 1,33) làm giảm khả năng tạo lợi nhuận từ VCSH: Điều này phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản của năm 2011 là kém hơn so với năm 2010 là do tốc độ tăng của doanh thu chậm hơn tốc độ tăng của tổng tài sản. - Do nhân tố tổng TS/Tổng VCSH tăng làm cho khả năng tạo lợi nhuận từ VSCH tăng: Nguyên nhân là do cả tổng TS và VCSH đều tăng nhưng tốc độ tăng của tài sản là 85,03% lớn hơn tốc độ tăng của VCSH là 65,7%. Tổng cộng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố: Thang Long University Library 67 Kết quả cho thấy tổng các nhân tố ảnh hưởng đúng bằng mức giảm của ROE. Năm 2012, ROE lại tăng về số tương đối tăng là 90,28% đạt 4,11%. Có nghĩa là 100 đồng VCSH năm 2012 tạo ra được 4,11 đồng lợi nhuận sau thuế. Sự tăng lên của ROE là do ảnh hưởng của các nhân tố sau: - ROS tăng từ 0,51% lên 0,78%, làm cho ROE tăng: - Hiệu suất sử dụng tổng TS giảm từ 1,33 lần xuống 1,26 lần làm ROE giảm: - Tổng TS/ Tổng VCSH tăng từ 3,19 lần lên 4,19 lần làm cho ROE tăng: Tổng cộng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố: Nhờ việc quản lý tốt chi phí, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu đã tăng về mặt số tuyệt đối là 1,95% , bằng tổng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố. Đây là thành tích đáng kể của công ty trong năm 2012. Từ những phân tích trên, có thể thấy chỉ tiêu ROE chịu sự chi phối mạnh mẽ của các chỉ tiêu thành phần cấu tạo nên nó. Do vậy, công ty cần có những biện pháp hợp lý trong việc quản lý chi phí, doanh thu và tăng hiệu suất sử dụng của tài sản nhằm làm gia tăng khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp từ những yếu tố đầu vào sẵn có. 3.2.1.5. Đào tạo, nâng cao đội ngũ cán bộ thực hiện phân tích tài chính Con người là nhân tố quan trọng trong mọi họat động đối với công ty nói chung và trong việc phân tích tài chính nói riêng. Trình độ cán bộ thực hiện công việc phân tích là một trong những nhân tố quyết định có ảnh hưởng lớn đến chất lượng phân tích tài chính của công ty. Tại công ty hiện nay chưa có đội ngũ nhân viên chuyên về phân tích tài chính mà chủ yếu là cán bộ và nhân viên của phòng kế toán. Mặc dù các nhân viên kế toán có kiến thức rất chắc về kế toán nhưng lại khá lúng túng trong vấn đề phân tích tài chính tại công làm cho kết quả phân tích không được như ý muốn. Chính vì thế, công ty cần có kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cán bộ kế toán bằng cách mời các chuyên gia có kinh nghiệm đến giảng dạy hoặc cử cán bộ đi học. Ngày nay, các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng quản lý. Chính vì thế, đòi hỏi bản thân doanh nghiệp phải có một đội ngũ 68 phân tích giỏi về chuyên môn cũng như hiểu biết sâu rộng về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, kinh tế vĩ mô, chính sách pháp luật của Nhà nước cũng như xu hướng biến động của nền kinh tế. Vậy nên công ty có thể tiến hành tuyển dụng chuyên viên phân tích tài chính. Việc tuyển dụng này sẽ giúp công ty tiết kiệm được chi phí đào tạo cũng như có ngay được một đội ngũ nhân viên chuyên trách. Hàng năm công ty có thể cử những nhân viên này tiếp tục đi đào tạo thêm để nâng cao trình độ chuyên môn. Nhờ đó, công ty vừa có cán bộ để sử dụng, vừa có thể từng bước nâng cao tay nghề của họ cho phù hợp với sự phát triển của công ty cũng như sự phát triển của nền kinh tế. 3.2.2. Một số kiến nghị Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp và quản lý tài chính nói riêng. Do đó, tầm quan trọng của việc hoàn thiện phân tích tài chính ngày càng được nâng lên, đòi hỏi các công ty, các doanh nghiệp phải tiến hành các biện pháp để hoàn thiện nội dung phân tích của mình và nâng cao hiệu quả của hoạt động tài chính. Bên cạnh đó, cũng không thể thiếu được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước và các Bộ, Ngành có liên quan. 3.2.2.1. Đối với Nhà nước Trước hết, để tạo tiền đề cho việc cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác, Nhà nước cần hoàn thiện về hệ thống kế toán, kiểm toán. Thứ nhất, Nhà nước và Bộ tài chính cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi và hoàn thiện chế độ kế toán hiện hành của Việt Nam theo hướng phù hợp với nền kinh tế thị trường, phù hợp với đặc điểm của mọi thành phần kinh tế đồng thời hòa nhập với chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Thứ hai, cần có sự ổn định trong việc ban hành chế độ quản lý tài chính và hạch toán trong kinh doanh, tránh tình trạng chính sách thường xuyên thay đổi gây lúng túng cho các công ty, doanh nghiệp trong quá trình quản lý hoạt động của mình. Bên cạnh đó, cần tránh không để tình trạng nhiều cơ quan, tổ chức trong cùng một lĩnh vực có những quy định khác nhau. Thường xuyên kiểm tra, điều chỉnh những quy định còn bất hợp lý và bổ sung thêm những quy định phù hợp để điều chỉnh hoạt động theo yêu cầu của từng thời kỳ phát triển kinh tế. Thứ ba, các cơ quan kiểm toán Nhà nước cần thực hiện tốt nhiệm vụ của mình đảm bảo tính khác quan của công tác kiểm toán, tăng cường sự kiểm tra đánh giá của Nhà nước. Bảo đảm cho công tác kiểm toán tiến hành tại các doanh nghiệp được thực hiện đúng tiến độ với đầy đủ các nội dung và nghiệp vụ theo yêu cầu. Báo cáo kịp thời Thang Long University Library 69 lên Bộ tài chính những bất hợp lý và sai phạm trong công tác hạch toán kế toán của doanh nghiệp để góp phần nâng cao hiệu quả của phân tích tài chính. Thứ tư, Nhà nước cần có những chính sách để xây dựng thị trường tài chính, thị trường vốn ổn định phát triển thị trường chứng khoán để ra nhiều kênh huy động vốn cho doanh nghiệp thông qua các trung gian tài chính như: ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư để hoà nhập thị trường vốn trong nước và ngoài nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể tự huy động vốn thông qua các hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu,vốn góp liên doanh Ngoài ra, cũng cần hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp cũng là yếu tố cần thiết. Thứ năm, Nhà nước cần có sự ưu ái và hỗ trợ thiết thực đối với các nhà thầu trong nước về vốn như đơn giản hóa các thủ tục về xin vay vốn, bảo lãnh, thế chấp Có chính sách hỗ trợ lãi suất, tạo điều kiện thanh toán vốn xây dựng cơ bản cho các doanh nghiệp thực hiện các công trình trọng điểm, công trình kinh tế ở vùng khó khăn nhằm tháo gỡ khó khăn về vốn cho doanh nghiệp. 3.2.2.2. Đối với Bộ, Ngành có liên quan Thứ nhất, Bộ tài chính nên có những quy định rõ ràng về việc thực hiện công khai các BCTC để làm sở cho việc quản lý cũng như phân tích các BCTC được dễ dàng, thuận lợi hơn. Thứ hai, cần sớm có kế hoạch hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu trung bình trong ngành xây dựng. Đây là cơ sở tham chiếu để các nhà phân tích có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá, kết luận về tình hình tài chính của doanh nghiệp mình một cách chính xác trong tương quan so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành, với đà phát triển chung của kinh tế. Tuy nhiên, thực tế hiện nay phần lớn các ngành nghề trong đó có ngành xây dựng đều có chỉ tiêu nhưng chưa đầy đủ và chính xác chính vì thế, hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành chưa thực sự phát huy được hiệu quả trong phân tích tài chính, gây ra nhiều khó khăn, lúng túng cho các nhà phân tích trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Chính vì thế, cần có sự phối hợp giữa các Bộ, Ngành liên quan để sớm đưa ra những văn bản hướng dẫn cụ thể và xây dựng hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành thống nhất, chuẩn mực. Có như thế, hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành mới góp phần làm cho công tác phân tích tài chính phát huy được hết hiệu quả. Thứ ba, Bộ tài chính cần có sự phối hợp với Bộ, Sở kế hoạch đầu tư và các cơ quan có liên quan để có những hướng dẫn cụ thể về phân tích tài chính. Phối hợp, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, công ty trong việc đào tạo cán bộ phân tích 70 cũng như kỹ thuật phân tích để tiến tới mục tiêu là các công ty, doanh nghiệp phải tự thực hiện phân tích tài chính của mình, tự đánh giá hoạt động để đề ra những phương hướng phát triển và báo cáo lên cơ quan cấp trên. Thang Long University Library 71 KẾT LUẬN Trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại đang từng bước phát triển và hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, các công ty phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp như sự biến động liên tục của nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty, các doanh nghiệp trong và ngoài nước Vì vậy, đòi hỏi bản thân mỗi công ty, mỗi doanh nghiệp phải xác định được phương hướng, mục tiêu trong hoạt động cũng như phát huy tối đa hiệu quả của những nguồn lực sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, cũng cần hoàn thiện phân tích tình hình tài chính để có cái nhìn toàn diện, khách quan về tình hình tài chính của doanh nghiệp, xác định một cách đúng đắn những tồn tại trong hoạt động kinh doanh để từ đó đưa ra những giải pháp kịp thời và dự đoán được những hệ quả tài chính từ hoạt động của mình. Mặt khác, kết quả của phân tích tài chính cũng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư, chủ nợ của doanh nghiệp vì những thông tin này ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư của họ. Qua quá trình phân tích tài chính tại công ty TNHH MTV Đông Sơn, bên cạnh một số điểm tồn tại trong hoạt động phân tích tài chính thì nhìn chung công ty hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Do đó, để khắc phục những tồn tại đòi hỏi bản thân công ty cần chú trọng hơn nữa đến việc hoàn thiện phân tích tài chính để không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Tuy nhiên, do chưa có nhiều thông tin khi phân tích cũng như hạn chế về mặt trình độ, kinh nghiệm thực tế nên những đánh giá trong khóa luận này chưa được sát thực còn mang tính chủ quan, các giải pháp đưa ra chưa chắc đã tối ưu. Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung từ phía quý thầy cô để bài khóa luận được hoàn thiện hơn và giúp ích cho công việc của em sau này. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo đặc biệt là cô giáo TS. Phạm Thị Hoa đã tận tình hướng dẫn để giúp em hoàn thành khóa luận này. Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2013 Sinh viên thực hiện Tạ Thị Ngọc Ánh 72 PHỤ LỤC 1. Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2011 của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đông Sơn. 2. Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2012 của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đông Sơn. Thang Long University Library 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO - Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp- TS. Lê Thị Xuân, nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân (8- 2011) - Giáo trình tài chính doanh nghiệp- PGS.TS. Nguyễn Đình Kiệm, nhà xuất bản Tài chính (2010) - Tài chính doanh nghiệp- PGS.TS. Lưu Thị Hương, nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân (2009) - Tài chính doanh nghiệp hiện đại – PGS.TS. Trần Thị Ngọc Thơ, nhà xuất bản Thống kê (2005)

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfa18180_0705.pdf
Luận văn liên quan