Đề tài Môi trường đầu tư quốc tế ở Việt Nam 2001- 2010 Thực trạng và giải pháp

Đây là những bài tiểu luận xuất sắc của lớp mình môn Đầu Tư Quốc Tế đã được cô Võ Thanh Thu - giảng viên ĐHKT TPHCM chấm Nhóm đề tài 1: Môi trường đầu tư quốc tế Việt Nam 2001-2010. Thực trạng và giải pháp (Gồm 5 bài tiểu luận xuất sắc nhất- file word). Đây là nội dung đại diện một bài bạn tham khảo thử: Mục lục Lời mở đầu . 1 Chương một: NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ . 2 1.1 Khái niệm về đầu tư quốc tế 2 1.2 Kết cấu môi trường đầu tư quốc tế 4 1.2.1 Môi trường kinh tế 4 1.2.2 Môi trường chính trị, pháp lý 5 1.2.3 Môi trường văn hoá xã hội 5 1.2.4 Môi trường cơ sở hạ tầng . 6 1.2.5 Môi trường công nghệ 6 1.2.6 Môi trường tự nhiên . 6 1.3 Vai trò của nghiên cứu môi trường đầu tư quốc tế . 7 1.3.1 Vai trò của đầu tư quốc tế tới các bên liên quan 7 1.3.2 Vai trò của nghiên cứu môi trường đầu tư quốc tế đối với lãnh đạo ở cấp vĩ mô 11 1.4Các tiêu chí đánh giá môi trường đầu tư quốc tế 12 1.4.1 Các yếu tố Kinh tế 12 1.4.2 Các yếu tố Thể chế- Luật pháp 12 1.4.3 Các yếu tố văn hóa xã hội . 13 1.4.4 Yếu tố công nghệ 14 1.4.5 Yếu tố hội nhập 14 1.4.6 Tiêu chí đánh giá môi trường đầu tư đầu tư quốc theo Word Bank 14 1.5 Kinh nghiệm hoàn thiện môi trường đầu tư của các nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 16 1.5.1 Kinh nghiệm hoàn thiện môi trường đầu tư của Trung Quốc 16 1.5.2 Kinh nghiệm hoàn thiện môi trường đầu tư của Singapore 23 1.5.3 Kinh nghiệm hoàn thiện môi trường đầu tư của Thái Lan 26 Chương hai: THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM . 31 2.1 Thực trạng thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam . 31 2.1.1 Thực trạng thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam những năm trước đây . 31 2.1.2 Thực trạng thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam 9 tháng đầu năm 2010. 37 2.2 Vị trí của Việt Nam trong các bảng xếp hạng về môi trường đầu tư quốc tế. 39 2.2.1 Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank) . 39 2.2.2 Theo diễn đàn kinh tế thế giới WEF . 42 2.2.3 Theo tạp chí Forbes 45 2.3 Các nhân tố ành hưởng đến môi trường đầu tư quốc tế tại Việt Nam 47 2.3.1 Môi trường kinh tế 47 2.3.2 Môi trường chính trị, pháp lý 50 2.3.3 Môi trường văn hoá xã hội 53 2.3.4 Môi trường cơ sở hạn tầng . 55 2.3.5 Môi trường công nghệ 56 2.3.6Môi trường tự nhiên 57 2.4 Kết luận về môi trường đầu tư của Việt Nam . 58 2.4.1 Những thành tựu . 58 2.4.2 Những hạn chế 59 Chương ba: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 62 3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp lý 62 3.2 Cải cách thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước đối với đầu tư nước ngoài 63 3.3 Thực hiện nhất quán các chính sách đầu tư nước ngoài 65 3.4 Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật phù hợp . 67 3.5 Tăng cường tự do hoá và bảo hộ kinh tế đầu tư nước ngoài phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 68 3.6 Phát triển nguồn lực . 69 3.7 Cần phải có chính sách chuyển giao công nghệ . 72 3.8 Xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư . 72 Kết luận . 75 Tài liệu tham khảo . 76 Lời mở đầu &*& Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của tất cả các nước trên thế giới nói chung và sự phát triển kinh tế của Việt Nam nói riêng. Nhận thức được tầm quan trọng nguồn vốn này hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều mở cửa thu hút nguồn vốn FDI, vốn ODA Tuy nhiên, nó còn phụ thuộc vào chính sách phát triển của mỗi nước và còn phụ thuộc vào khả năng phát triển của từng nước. Đối với Việt Nam chúng ta cũng vậy, để hoàn thành sự nghiệp Công Nghiệp Hóa - Hiện Đại Hóa Đảng và nhà nước ta chủ trương mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài với nhiều hình thức. Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Thu hút đầu tư nước ngoài là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, phát triển đất nước. Để có thể bắt kịp với quá trình hội nhập, phát triển kinh tế nhằm cải thiện môi trường đầu tư cho Việt Nam, thu hút đầu tư nước ngoài. Nhóm đã nghiên cứu đề tài: “Môi trường đầu tư quốc tế ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” kết cấu đề tài gồm: Lời mở đầu Chương I: Những hiểu biết về môi trường đầu tư Chương II: Thực trạng môi trường đầu tư quốc tế tại Việt Nam Chương III: Các giải pháp đề xuất để hoàn thiện môi trường đâù tư nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Kết luận Trong quá trình nghiên cứu đề tài mặc dù đã cố gắng xong không thể tránh khỏi thiếu xót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn! Chương một: NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ . Chương hai: THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 2.1 Thực trạng thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: 2.1.1 Thực trạng thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam những năm trước đây: Với tình hình chính trị - xã hội ổn định, kinh tế tăng trưởng cao và lực lượng lao động trẻ, chăm chỉ, Việt Nam được coi là thị trường đầy tiềm năng đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Môi trường đầu tư hấp dẫn của Việt Nam, đặc biệt là giá nhân công và tình hình chính trị ổn định, đang thuyết phục các công ty nước ngoài chọn nơi đây làm cơ sở đầu tư cho cả khu vực. Tuy nhiên bên cạch đó cũng còn rất nhiều vấn đề còn tồn tại. Trong hơn 25 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng ở mức khá cao, khoảng trên 7%. Các nhà đầu tư khắp thế giới đã quan tâm đến thị trường Việt Nam, đặc biệt nhiều tập đoàn lớn của Hoa Kỳ trong 2 năm gần đây đã gia tăng đầu tư vào Việt Nam. Hoa Kỳ đã đứng ở nhóm đầu trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Theo số liệu từ GSO & Vietstock dự báo, ta thấy được tổng vốn FDI và ODA vào Việt Nam qua các năm qua như sau: Nhận xét: § Vốn FDI đăng kí vào Việt Nam không ngừng tăng qua các năm: năm 2007 đạt 21,3tỉ USD, đóng góp 16,3% GDP cả nước; năm 2008 con số này lên tới 72 tỉ USD, ghi nhận một kỉ luật không dễ phá. Tuy nhiên dưới ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế làm cho FDI đăng kí vào Việt Nam giảm hẳn chỉ đạt 21.5 tỉ USD vào năm 2009, chỉ đạt 29,86% so với năm 2008. Dù vậy, vượt qua khủng hoảng FDI có thể đạt đến 35 tỉ USD trong năm 2010. § Trong khi đó, nguồn vốn ODA cam kết cũng tăng không ngừng với tốc độ khá ổn định qua các năm: từ 3,75 tỉ USD trong năm 2007 tăng liên tục, tới năm 2010 đạt đến 8,1 tỉ USD. Nhìn chung, qua những con số và qua đánh giá của các nhà đầu tư thì Việt Nam đang là một điểm đến hấp dẫn. Tỉ lệ đóng góp vào tổng GDP của khu vực đầu tư nước ngoài vào Việt Nam không ngừng tăng qua các năm. Như chúng ta đã biết từ 1996 đến nay, đầu tư có xu hướng tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng, các ngành đòi hỏi nhiều lao động, sản xuất hàng hóa xuất khẩu và sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu. Hiện tại chiếm hơn 50% tổng số vốn đăng kí. Mặc dù các dự án đầu tư nước ngoài có mặt tại hầu khắp các tỉnh và thành phố của Việt Nam, tỉ lệ đầu tư lớn nhất vẫn dành cho các vùng kinh tế trọng điểm ở phía Nam bao gồm thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu; và ở phía Bắc gồm Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng và Quảng Ninh. Tập trung nhiều nhất vẫn là ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh bởi hai thành phố này có cơ sở hạ tầng phát triển hơn, sức mua cao hơn và lực lượng lao động lành nghề hơn. Trong những năm gần đây, số lượng dự án 100% vốn nước ngoài cũng bắt đầu tăng lên. Hiện nay các dự án nước ngoài được cấp phép ngày càng nhiều, trên 50%, các dự án liên doanh giảm số lượng. Đặc biệt là các dự án nước ngoài đầu tư vào Việt Nam dưới dạng BOT được cấp phép cũng đáng kể. Khu vực đầu tư nước ngoài đã có sự phát triển vượt bậc, dần dần khẳng định vị thế của mình là một bộ phận năng động của nền kinh tế, đóng góp quan trọng vào việc tăng cường năng lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong những năm gần đây, khu vực đầu tư nước ngoài chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư của cả nước cũng như kim nghạch xuất khẩu. Tỉ trọng cảu khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp vào GDP ngày càng tăng cao. Mình tính đưa lên vài bảng số liệu cho các bạn tham khảo nhưng cái này bảng biểu lên không dc, mọi người thông cảm đọc tham khảo nhé. Chúc bạn có đươc nhiều kiến thức bổ ích từ tài liệu này. [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/THANH_%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image002.jpg[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/THANH_%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image002.jpg[/IMG]

doc165 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 16/05/2013 | Lượt xem: 3105 | Lượt tải: 19download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Môi trường đầu tư quốc tế ở Việt Nam 2001- 2010 Thực trạng và giải pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi Việt Nam dưới 12 tháng (%) Giai đoạn thắt chặt tiền tệ 01/02/2008 8.75 7.5 6.0 11.0 17/03/2008 Buộc NHTM mua 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc với l.i suất cố định 7,8%, kỳ hạn 1 năm (l.i suất tín phiếu được điều chỉnh tăng lên 13% kể từ 1/7/2008). 19/05/2008 12.0 13.0 11.0 11/06/2008 14.0 15.0 13.0 Giai đoạn nới lỏng tiền tệ 21/10/2008 13.0 14.0 12.0 NHNN cho thanh toán trước hạn 20.300 tỉ đồng tín phiếu bắt buộc phát hành kể từ ngày 17.3.2008 theo nhu cầu rút trước hạn của các TCTD 05/11/2008 12.0 13.0 11.0 10.0 21/11/2008 11.0 12.0 10.0 8.0 05/12/2008 10.0 11.0 10.0 6.0 22/12/2008 8.5 9.5 7.5 5.0 Nguồn: NHNN Việt Nam Thứ tư, việc nguồn vốn ồ ạt đi vào, cũng như đi ra đã tác động không nhỏ đến thay đổi của tỷ giá trong năm 2008. Trong quý đầu tiên của năm 2008, do ảnh hưởng nhất định của dòng vốn ngoài đổ xô vào Việt Nam, VND tăng giá làm tỷ giá bình quân liên ngân hàng giảm mạnh từ 16.112 xuống còn 15.960. Bước sang quý 2, khi nền kinh tế có dấu hiệu lạm phát cao và thâm hụt thương mại, lo sợ VND mất giá dẫn đến nhu cầu nắm giữ USD tăng cao, đồng thời nhu cầu rút vốn USD của N ĐTNN do những lo ngại về kinh tế đã dẫn đến sự trượt giá của VND. Cụ thể trong tháng 6, tỷ giá bình quân liên ngân hàng đã lên đến mức kỷ lục 19.400 và cao hơn 2.600 Đ so với tỷ giá trần quy định. Ngày 27/06, NHNN đã quyết định tăng biên độ giao động của tỷ giá lên +/- 2% (trong tháng 1, biên độ giao động chỉ vào khoảng +/- 0,75 - 1%). Đến nữa cuối năm 2008, VND tiếp tục đà trượt giá mạnh, bên cạnh những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, thì NĐT nước ngoài cũng liên tục bán tháo trên thị trường trái phiếu (khoảng 26.000 tỷ VND) và cổ phiếu (khoảng 1.800 tỷ VND). Ngày 7/11, NHNN đã tăng biên độ giao động của tỷ giá lên +/- 3%. Năm 2008 được đánh giá là năm giảm giá rất mạnh của VND, khoảng 10%. Trong khi mức độ điều chỉnh trong vòng 6 năm trước đó chỉ khoảng 1%. Việc NHNN liên tục thay đổi biên độ giao động tỷ giá chứng tỏ sự linh hoạt hơn của chính phủ trong việc hạn chế sự giảm giá của VND tùy theo diễn biến thị trường, đồng thời không còn giữ chủ trương ổn định tỷ giá xoay quanh dãy băng điều chỉnh hẹp như những năm trước (xoay quanh mức 16.500). Thứ năm, sự sụt giảm mạnh của lãi suất như đã nói ở trên, cùng với đà bán tháo mạnh của NĐT nước ngoài kể từ cuối tháng 10 là cơ hội tốt cho các NHTMVN mua vào trái phiếu ở mức giá thấp (lãi suất 20-30%) và bán ra ở mức cao (lãi suất khoảng dưới 10%). Ngoài ra, sự biến động mạnh của tỷ giá vào đầu năm 2008 cũng là cơ hội cho các NHTM có nhiều ngoại tệ tạo lợi nhuận. Như vậy có thể nói, năm 2008 là năm “ảm đạm” đối với FPI, nhưng lại tạo một cơ hội lớn cho các NHTM trong nước tìm kiếm những khoản lợi nhuận khổng lồ. Giai đoạn 2009 (phục hồi sau khủng hoàng): Tổng quan nguồn vốn FPI đổ vào Việt Nam năm 2009: Năm 2009, mặc dù những tháng đầu năm, chứng khoán Việt Nam giảm sút đáng kể, thậm chí chạm đáy, nhưng năm 2009 vẫn được xem là năm tăng trưởng bất ngờ và đầy ấn tượng của TTCK, ảnh hưởng đến tâm lý của các NĐT. Thị trường hình thành hai đợt sóng tăng lớn là từ đầu tháng 3 đến đầu tháng 6 và từ đầu tháng 8 đến cuối tháng 10. Sóng giảm là từ đầu năm đến cuối tháng 2, trong tháng 7 và từ tháng 10 đến cuối tháng 12. Diễn biến VN-Index trong năm 2009 Diễn biến HNX-Index trong năm 2009 Giai đoạn 1 (từ cuối tháng 2 đến giữa tháng 6): đây là quá trình thị trường Việt Nam tăng trưởng mạnh, lấy lại niềm tin từ các nhà đầu tư sau quá trình sụt giảm nhanh chóng hồi đầu năm. Ba tháng đầu năm, nền kinh tế chịu nhiều tác động của cuộc khủng hoảng, thị trường chứng khoán non trẻ của Việt Nam chao đảo, tụt dốc không phanh. VN-Index bắt đầu rơi điểm sâu và đạt mức 235 vào cuối tháng 2, mức điểm thấp nhất trong 4 năm của chỉ số này, HNX-Index cũng lùi dưới mức 100 điểm khi xuống mức thấp nhất trong lịch sử là 78,06 điểm. Thời điểm này, thị trường có chỉ số P/E thấp (xấp xỉ bằng 8), với không ít mã chứng khoán có giá trị dưới giá trị sổ sách. Thị trường được định giá thấp, gây hoang mang cho các NĐTNN. Các NĐT lúc này đẩy mạnh việc thoái vốn ra khỏi Việt Nam. Trên tổng quy mô vốn 8 tỷ USD, số vốn FPI chảy ra khỏi thị trường vào khoảng 500 triệu USD, chủ yếu là từ hoạt động đầu tư trái phiếu. Từ cuối quý I, thị trường bị định giá thấp, nhưng ẩn chứa sức bật tiềm năng. Khủng hoảng tài chính ảnh hưởng nặng nề đến các thành phần kinh tế, GDP giảm mạnh, tốc độ phát triển chậm. Trước tình hình đó, Chính phủ đã mạnh tay thực hiện các biện pháp tiền tệ (ban hành gói kích cầu trị giá 8 tỷ USD, nới lỏng chính sách tiền tệ thông qua điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản…), nỗ lực phục hồi kinh tế của Việt Nam. Kết quả là sau một thời gian ngắn, kinh tế trong nước dần đi vào ổn định, thu được những thành quả nhất định, đặc biệt thị trường chứng khoán đã tăng trưởng trở lại. Giai đoạn này VN-Index tăng 117,6%. giao dịch thị trường tăng lên đáng kể về khối lượng và giá trị so với thời gian trước. Quan sát giao dịch của NĐTNN từ đầu tháng 4 nhận thấy động thái mua và bán của họ theo khá sát với VN-Index và HNX-Index. Nửa đầu tháng 4, xu thế chính của họ vẫn là bán ròng. Tuy nhiên sau đó, khi những dấu hiệu phục hồi của thị trường đã rõ nét thì họ chuyển sang mua ròng và mua rất mạnh đặc biệt trong những tuần đầu tháng 5. Lượng vốn đầu tư nước ngoài ước tính khoảng 120 triệu USD. Ở nhiều nước, NĐT vẫn có xu hướng rút vốn ra khỏi thị trường vào thời điểm này, thay vì đổ vốn vào đầu tư. Song đối với thị trường Việt Nam, nhiều nhà đầu tư đánh giá cao. Do đó, dù huy động vốn vẫn rất khó, nhưng nhà đầu tư đã bắt đầu tư trở lại, tạo cơ hội phát triển tốt cho các doanh nghiệp. Nhiều chuyên gia nhận định nguồn vốn FPI sẽ gia tăng vào hai quý cuối năm. Tuy nhiên nguồn vốn này vào Việt Nam sẽ không lớn, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn còn. Giai đoạn 2 (từ 09/06/2009-20/07/2009): Đây là giai đoạn điều chỉnh của TTCK Việt Nam. Đến cuối quý II, thị trường tăng trưởng nóng, biểu hiện phản ứng thái quá của quá trình thực tế phục hồi nền kinh tế. Tuy nhiên, đà quán tính đẩy thị trường tăng vượt mốc 500 điểm đã phản tác dụng. Thị trường điều chỉnh, tìm về giá trị thực để củng cố, xác lập giá trị mới. Kết quả là quá trình điều chỉnh đã khiến VN-Index mất gần 100 điểm trong một tháng sau đó. Mất gần 100 điểm nhưng thị trường không có những biểu hiện thường thấy như bán tháo cổ phiếu, mất thanh khoản giao dịch…Trái lại, VN-Index được nâng đỡ bởi lực cầu khi đi vào vùng hỗ trợ 430 điểm-460 điểm. Đến cuối tháng 7, chỉ số VN-Idenx vẫn tăng điểm so với mức đóng cửa cuối tháng 6. Điều đó chứng tỏ niềm tin của các nhà đầu tư vào thị trường đã được khẳng định và phía trước vẫn còn nhiều dấu hiệu phục hồi. Theo nguồn tin của Ủy ban Chứng khoán nhà nước cho biết trong tháng 7/2009, nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam đạt hơn 150% so với mức bình quân của quý II/2009 và dự báo tiếp tục tăng trong những tháng cuối năm. Giai đoạn 3 (từ 20/07-22/10/2009): Quá trình tăng trưởng lần 2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cho thấy có lãi nhiều, cùng với mức điểm thị trường đã ở mức hấp dẫn sau điều chỉnh, đã thổi bùng một xu thế tăng trưởng mới với sự tăng trưởng nhanh đến từ nhóm Xây dựng-Bất động sản. Tại sàn chứng khoán TP.HCM, giá trị mua ròng của khối ngoại trong tháng 8 đạt gần 423 tỷ đồng, nâng tổng giá trị mua ròng kể từ ngày 25/6 (thời điểm khối ngoại bắt đầu chu kì mua ròng) lên gần 2.776 tỷ đồng. Dù không chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch toàn thị trường nhưng hoạt động mua ròng của khối ngoại cũng tác động khá tích cực đến tâm lý nhà đầu tư nội. Tính đến thời điểm này, vốn đầu tư gián tiếp nước nước ngoài đã giải ngân vào thị trường chứng khoán Việt Nam trị giá 5 tỷ USD, tuy nhiên nguồn vốn hầu hết đổ vào thị trường Việt Nam lúc này không phải là từ các quỹ đang hoạt động trong nước, vì các quỹ lúc này đang gặp khó khăn về huy động vốn. Theo Hiệp hội các nhà phân tích đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) phân tích có khoảng 60-70% giao dịch hàng ngày của khối ngoại lúc này là hoạt động đầu tư của các định chế tài chính toàn cầu (ủy thác) và các tổ chức tài chính, chứng khoán không đặt văn phòng tại Việt Nam nhưng có mở tài khoản chứng khoán. Tính bình quân khối lượng mua vào của khối ngoại đạt khoảng 8 tỷ triệu/ngày, nguồn vốn lưu chuyển mỗi ngày vào khoảng 150 tỷ đồng, tín hiệu tích cực trong bối cảnh thị trường chứng khoán thế giới còn nhiều khó khăn. Theo một số chuyên gia, hiện dòng vốn FPI đầu tư ủy thác tại thị trường chứng khoán Việt Nam chủ yếu là giao dịch lướt sóng, có vào nhiều những cũng ra nhanh nếu lợi nhuận không đạt kỳ vọng của nhà đầu tư. Giai đoạn 4 (từ cuối 22/10/2009 đến hết năm 2009): đợt sóng giảm lần thứ hai trong năm. Nguyên nhân bởi áp lực giải chấp (do sử dụng đòn bẩy tài chính) khi thị trường rơi qua mức 600 điểm. Cùng lúc đó, Chính phủ đưa ra các chính sách điều chỉnh kinh tế vĩ mô như chính sách tỷ giá, lãi suất đã khiến cho quá trình điều chỉnh thị trường rơi vào chiều sâu làm đảo chiều thị trường. Vốn đầu tư gián tiếp rút khỏi Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2009 lên tới 500 triệu USD và đạt khoảng 600 triệu USD năm 2009. Tính đến cuối năm 2009, số lượng các nhà đầu tư tăng hơn 50% so với năm 2008; giá trị danh mục của NĐTNN trên thị trường chứng khoán tính đến tháng 12/2009 đạt gần 6,6 tỷ USD, tăng gần 1,5 tỷ USD. Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đổ vào Việt Nam chủ yếu tồn tại dưới các loại quỹ, các tổ chức tài chính, công ty quản lý quỹ nước ngoài như Dragon Capital, VinaCapital, Mekong Capital…Đối mặt với khủng hoảng kinh tế, các quỹ này rơi vào tình trạng khó khăn là lỗ lớn, thiếu tiền mặt, gọi vốn hay lập quỹ mới vào thời điểm này là rất khó khăn. Theo thống kê, các quỹ đầu tư vào chứng khoán Việt Nam có mức tăng trưởng giá trị tài sản ròng (NAV) xấp xỉ 40%, thấp hơn mức tăng 48,4% của VN-Index. Tăng trưởng của các quỹ trong năm 2009 không theo kịp đà tăng của VN-Index do các nhà quản lý quỹ đã quá thận trọng, ít đầu tư vào cổ phiếu có rủi ro cao, thay vào đó là mua trái phiếu và giữ tiền mặt. Tuy nhiên các quỹ có quy mô trung bình lại có mức tăng trưởng nhanh hơn như Vietnam Lotus Fund (VLF), Vietnam Emerging Equity Fund (VEEF), PXP Vietnam Fund. Trong đó, cao nhất là quỹ VEEF, tính đến ngày 9/11/2009 có mức tăng NAV là 98,3%. Nguyên nhân là do các quỹ này tập trung vào thị trường chứng khoán, trong khi các quỹ quy mô lớn do khó khăn trong việc gọi vốn đã dẫn đến việc bán ra cổ phiếu để cơ cấu lại danh mục đầu tư, thận trọng trong việc giải ngân ngay cả khi VN-Index giảm mạnh và chạm đáy vào tháng 2/2009. Tác động của dòng vốn vào Việt Nam: Nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên quan trọng đối với Việt Nam. Nếu như nguồn FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất thì FPI có tác động kích thích thị trường phát triển, có thể giúp vốn cho các doanh nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy vậy, nguồn vốn FPI vẫn có tác động hai mặt đến đời sống kinh tế Việt Nam. Tác động tích cực: - Góp phần làm tăng tổng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp toàn xã hội. Dễ dàng nhận thấy khi nguồn vốn FPI đổ vào Việt Nam tăng dẫn đến tổng nguồn vốn đầu tư gián tiếp tăng. Tổng nguồn vốn gián tiếp tăng, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển trong tương lai, tạo đà cho các nhà đầu tư khác mạnh dạn đầu tư trực tiếp vào, làm tăng nguồn vốn của xã hội cả trực tiếp và gián tiếp, từ các nhà đầu tư trong nước lẫn nước ngoài. - Góp phần thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính nội địa, hoàn thiện các cơ chế và thể chế thị trường nói chung. Việc gia tăng đầu tư gián tiếp nước ngoài làm thị trường tài chính, đặc biệt là TTCK trở nên sôi động, cân đối, khắc phục tình trạng thâm hụt, kém hấp dẫn, trì trệ kéo dài của thị trường này. Kết quả của sự gia tăng dòng vốn này là sự xuất hiện của các định chế, dịch vụ tài chính-chứng khoán, như các quỹ đầu tư, các công ty tài chính, các dịch vụ đi kèm như dịch vụ tư vấn, hỗ trợ tư pháp, xác định hệ số tính nhiệm…Điều đó càng làm tăng hiệu quả của nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam. - Góp phần tăng cường cơ hội và đa dạng hóa phương thức đầu tư, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và thu nhập của đông đảo người dân. Việc phát triển thị trường vốn đầu tư gián tiếp tạo ra nhiều cơ hội, đa dạng hóa phương thức đầu tư cho các nhà đầu tư, đặc biệt là các cá nhân, nhà đầu tư nhỏ lẻ. Họ có thể tự mình hoặc thông qua các định chế tài chính trung gian để mua bán các giấy tờ có giá trên thị trường tài chính và thu được lợi từ việc kinh doanh chênh lệch giá, làm nâng cao mức sống của các nhà đầu tư nhỏ, lẻ. Ngoài ra thị trường còn tạo điều kiện cho các nhà đầu tư được dịp cọ xát, rèn luyện, bồi dưỡng thêm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, nâng cao trình độ bản thân nói riêng và chất lượng nguồn nhân lực nói chung, phù hợp với yêu cầu và điều kiện kinh doanh thị trường hiện đại. - Góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy cải cách thể chế và nâng cao kỷ luật đối với các chính sách của Chính phủ theo các nguyên tắc, yêu cầu kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế. Việc phát triển thị trường vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đòi hỏi việc quản lý thị trường nghiêm túc hơn, hiệu quả hơn về báo cáo tài chính doanh nghiệp. Nhà nước ban hành luật pháp, các quy định liên quan, tạo thuận lợi nâng cao năng lực hoạt động của thị trường vốn này, cam kết hội nhập quốc tế. Trên cơ sở đó, năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, thị trường tài chính nói riêng sẽ được cải thiện hơn. Tác động tiêu cực: - Làm tăng mức độ nhạy cảm và bất ổn kinh tế có nhân tố nước ngoài. Vốn FPI có đặc điểm là di chuyển (vào và ra) rất nhanh, nên nó sẽ khiến cho hệ thống tài chính trong nước dễ rơi bị tổn thương và rơi vào khủng hoảng tài chính một khi vấp “phải cú sốc” từ bên trong cũng như bên ngoài nền kinh tế. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể dễ dàng và nhanh chóng mở rộng hoặc thu hẹp, thậm chí đột ngột rút vốn của mình về nước, hay chuyển sang đầu tư ở dạng khác, ở địa phương khác. Đó là nguyên nhân chính gây nên sự khuếch đại độ nhạy cảm của nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt trong trường hợp các nhà đầu tư đua nhau thoát vốn ra khỏi thị trường với số lượng lớn và phạm vi rộng. Trong trường hợp như vậy, một cuộc khủng hoảng đầu tư tài chính tiền tệ hoàn toàn có thể xảy ra đối với nước tiếp nhận đầu tư nếu không có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. - Làm gia tăng nguy cơ mua lại, sát nhập, khống chế và lũng đoạn tài chính đối với doanh nghiệp và tổ chức phát hành chứng khoán. Sự gia tăng tỷ lệ nắm giữ các chứng khoán, nhất là các cổ phiếu, cổ phần sáng lập, đến một mức nào đó sẽ cho phép các nhà đầu tư chi phối, tham gia vào quá trình quản lý, hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến phương hướng hoạt động của các doanh nghiệp. Nhà đầu tư gián tiếp sẽ trở thành nhà đầu tư trực tiếp. Nếu ảnh hưởng của nhà đầu tư càng mạnh thì đến một lúc nào đó có thể làm chuyển đổi quyền sở hữu và tính chất kinh tế ban đầu cuả doanh nghiệp và quốc gia. - Nguồn vốn đầu tư gián tiếp có thể làm giảm tính độc lập của chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái. Lượng vốn FPI đổ vào quốc gia nhanh có thể làm cho đồng nội tệ tăng giá nếu như cung tiền của ngân hàng trung ương không kịp thời và hợp lý. Nội tệ tăng giá làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam trên trường quốc tế, xuất khẩu giảm, nhập khẩu có xu hướng tăng, từ đó làm cho tài khoản vãng lai của quốc gia rơi vào tình trạng thâm hụt. - Ngoài ra còn làm tăng quy mô, tính chất của tội phạm kinh tế quốc tế qua các hoạt động đầu cơ, lừa đảo, hoạt động rửa tiền, kinh doanh phi pháp cùng các loại tội phạm đe dọa an ninh quốc gia khác. Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài là khái niệm mới mẻ đối với Việt Nam trong thời gian trở lại đây. Tuy vậy nguồn vốn này có ảnh hưởng đáng kể, tác động tích cực đến đời sống kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là thị trường chứng khoán. Vì vậy, trách nhiệm đặt ra cho Việt Nam hiện nay là cải cách thể chế, đổi mới và sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý kinh tế để thu hút nguồn vốn này nhiều hơn, đồng thời không làm ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế Việt Nam. III.Giải pháp nhằm hoàn thiên môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn nước ngoài. Cấp vĩ mô Nhóm giải pháp giữ vững ổn định chính trị - xã hội: Đối với nước ta, từ khi thực hiện đổi mới, tình hình chính trị luôn luôn được bảo đảm.Tuy nhiên, đứng trước nguy cơ diễn biến hoà bình và sự phá hoại của các thế lực phản động trong nước cũng như quốc tế thì chúng ta luôn luôn cảnh giác, đồng thời tiếp tục duy trì và tăng cường sự ổn định hơn nữa. Để giữ vững và tăng cường ổn định chính trị, chúng tá cần phải tiếp tục thực hiện đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cả về kinh tế - chính trị - văn hoá – tư tưởng, đổi mới hệ thống chính trị, thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia. Yếu tố quyết định sự thành công đó là tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lí của Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, thực hiện mục tiêu “dân giàu nước mạnh xã hội văn minh”, kịp thời ngăn chặn mọi âm mưu của các thế lực phản động, bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền quốc gia. Cùng với sự ổn định chính trị chúng ta còn thực thi chính sách ngoại giao mềm dẻo, đảm bảo nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệ đối ngoại với phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”. Việc làm đó giúp mở rộng quan hệ ngoại giao và là tiền đề cho việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại trong đó có hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nhóm giải pháp về luật pháp, chính sách. Môi trường pháp lí về đầu tư mà cụ thể là luật đầu tư nước ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đây là cơ sở pháp lí điều chỉnh trực tiếp đến hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài nên nó có thể thúc đẩy hoặc cản trở các nhà đầu tư nước ngoài. Một môi trường pháp lí thông thoáng chặt chẽ có tác dụng lôi cuốn các nhà đầu tư nước ngoài hơn là một môi trường pháp lí rắc rối, chồng chéo nhiều bất hợp lí. Theo đánh gía thì luật đầu tư nước ngoài hiện nay mặc dù có thông thoáng hơn các nước trong khu vực nhưng vẩn còn nhiều bất cập. Vì vậy, để tạo ra một môi trường pháp lí thông thoáng, hấp dẩn hơn thì trong thời gian tới ta cần tiến hành theo các hướng sau. - Trong quá trình soạn thảo cần quy định rõ rang cụ thể các điều khoản thực thi để tránh trường hợp luật mới ra đời nhưng vẩn không thể thực thi vì còn chờ nghị định hướng dẩn thực hiện, quy dịnh rõ ràng các khung pháp lí thay choviệc sử dụng những từ ngữ chung chung gây khó khă hiểu lầm trong thực thi. - Cùng với việc hoàn thiện bổ sung luật đầu tư nước ngoài thì chúng ta cần rà soát, loại bỏ các văn bản có tác dụng chồng chéo triệt tiêu nhau trong việc điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài, điều chỉnh và bổ sung một số ưu đãi để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài như: thuế sử dụng đất, thuế lợi tức .... - Tiếp tục rà soát pháp luật, chính sách về đầu tư, kinh doanh để sửa đổi các nội dung không đồng bộ, thiếu nhất quán và loại bỏ các ưu đãi về đầu tư không phù hợp với cam kết của Việt Nam với WTO. Trong thời gian tới, chúng ta cần sát nhập luật đầu tư trong nước và luật đầu tư nước ngoài thành một bộ luật thống nhất nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh ,xoá bỏ đi những ưu đãi bất hợp lí giữa các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước - Đẩy nhanh việc thực hiện lộ trình giảm chi phí đầu tư và tiến tới chế độ một giá áp dụng thống nhất cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Trước mắt, thống nhất áp dụng phí đăng kiểm phương tiện cơ giới, phí cảng biển, phí quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Rà soát có hệ thống các loại phí, lệ phí đang áp dụng liên quan đến quá trình hoạt động của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, bãi bỏ các loại phí không cần thiết. Giảm các chi phí đầu vào (điện, viễn thông, dịch vụ cảng ...) bằng hoặc thấp hơn các nước trong khu vực để giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu. Kiến nghị sửa đổi những bất hợp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân liên quan đến đầu tư nước ngoài. - Tiếp tục cải cách hệ thống thuế phù hợp với tình hình phát triển KT-XH của đất nước và cam kết quốc tế theo hướng đơn giản hóa các sắc thuế, từng bước áp dụng hệ thống thuế chung cho cả đầu tư trong nước và đầu tư. Xây dựng chính sách thuế khuyến khích đầu tư sản xuất phụ tùng, linh kiện, nâng cao tỷ lệ nội địa hoá sản phâm cho phép các dự án sản xuất nguyên liệu phụ trợ hàng XK được hưởng ưu đãi tương tự như các dự án đầu tư sản xuất hàng XK. - Sửa đổi các qui định không rõ ràng còn bất cập liên quan đến thủ tục đầu tư và kinh doanh. - Mở rộng thêm các lĩnh vực cho phép các loại hình đầu tư khác hoạt đông, mà trước vẩn chỉ quy định cho loại hình doanh nghiệp liên doanh. Quy đinh rõ ràng tỉ lệ góp vốn của các bên và có thêm quy định về việc chuyển đổi từ doanh nghiệp liên doanh sang doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực cụ thể. - Theo dõi, giám sát việc thực thi pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp để kịp thời phát hiện và xử lý các vướng mắc phát sinh. Nhanh chóng ban hàng các văn bản hướng dẫn các luật mới, nhất là các luật mới được Quốc hội thông qua trong năm 2006 có liên quan tới đầu tư, kinh doanh. - Ban hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư đối với các dự án xây dựng các công trình phúc lợi (nhà ở, bệnh viện, trường học, văn hoá, thể thao) cho người lao động làm việc trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế. - Thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân, không cấp phép cho các dự án công nghệ lạc hậu, dự án tác động xấu đến môi trường... - Đổi mới và hoàn thiện chính sách tiền tệ phù hợp với yêu cầu kinh doanh của nhiều công ty có vốn đầu tư nước ngoài có nhu cầu chuyển tiền ra nước ngoài cũng như đưa vốn vào Việt nam kinh doanh. Vì vậy việc kết hối ngoại tệ sẽ gây sự hạn chế cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Do đó việc tiếp tục giảm dần, tiến tới xoá bỏ kết hối ngoại tệ khi có đủ điều kiện là việc cần thiết. Đồng thời sử dụng linh hoạt, có hiệu quả các công cụ, chính sách tiền tệ như tỷ giá, lãi suất theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. - Cuối cùng, trong các hoạt động giải quyết tranh chấp thì chúng ta cần dành công bằng cho các nhà đầu tư nước ngoài, coi họ là một bộ phận của chúng ta, xét xửtheo đúng pháp luật đã quy định không thiên vị dù là bên Việt Nam. Nhóm giải pháp về hành chính Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực vừa đi qua,các nhà đầu tư nước ngoài sau những khó khăn to lớn thì bây giờ đang dần khôi phục. Nước ta chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng ít hơn các nước trong khu vực nên trong thời gian tới, để thu hút và sử dụng có hiêu quả nguồn vốn đàu tư nước ngoài, chúng ta cần tiến hanh theo các hướng sau: - Trước hết, cần tiếp thu cao độ công tác quản lí, điều hành tháo gở khó khăn, hỗ trợ các dự án đang hoạt động. Cách làm này có tính thuyết phục cao vừa khuyến khích các dự án đang hoạt động vừa cá tác dụng thu hút, lối cuốn các nhà đầu tư mới các dự án mới. - Đối với với các dự án đang trong quá trình làm thủ tục hanh chính hoặc xây dựng cơ bản cần bải bỏ các thủ tục giấu tờ không cần thiết, công bố rõ quy trình, trách nhiệm và thời gian xử lí các thủ tục quy định. Cố gắng tập trung đầu mối tránh phân quyền cho quá nhiều cơ quan làm phức tạp quá trình xử lí và gây khó khăn phiền hà. Chỉ đạo thực hiện nhanh chóng việc đền bù giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đã được cấp giấy phép, nghiên cứu khả năng đền bù vào giá tiền thuê đất đảm bảo tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực về giá cho thuê đất. Hoãn hoặc miển tiền thuê đất đối với những dự án xin dừng, hoãn tiến độ triển khaihoặc những dự án khó khăn về tài chính do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, tiếp tục thực hiện việc giảm chi phí đầu tư, bổ sung các chính sách ưu đãi thiết thực, khuyến khích đầu tư các dư án sản xuất và chế biến nông lâm thuỷ sản. Nhà nước cần xem xét và đưa ra một số ưu đãi cho các dự án như: thời gian, mức giảm thuế lợi tức, giá thuê đất mới, thuế đầu tư ... đối với những dự án thực sự đang kinh doanh thua lỗ. Hỗ trợ bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp đang thực sự khó khăn. cho phép tăng tỉ lệ nội tiêu đối với các dự án đầu tư nước ngoài đang sản xuất sản phẩm để xuất khẩu. Giảm thuế thu nhập các nhân đối với các dự án qúa khó khăn về tài chính trong một vài năm. - Áp dụng nguyên tắc không hối tố đối với các dự án đã được cấp giấy phép đầu tư mà luật mới của ta có những quy định gây khó khăn và làm đảo lộn lớn trong phương án kinh doanh của các dự án này. - Nghiên cứu và xem xét kĩ, lựa chọn và chuyển một số doanh nghiệp liên doanh đang thua lỗ mà phía Việt Nam không có khả năng gánh chịu thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. - Hạn chế việc cấp giấy phép xây dựng mới và dãn tiến độ xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất để tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động và vận động đàu tư lấp đầy các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện có. Tách giá thuê đất với gía thuê cơ sở hạ tầng, ửu đãi cao nhất đối với các dự án phát triển hạ tầng xã hội đồng bộ với khu công nghiệp, khu chế xuất, đảm bảo hạ tầng ngoài khu vực đó. Rà soát lại các chính sách hiện có, loại bỏ các văn bản pháp lí chồng chéo hoặc loại trừ lẩn nhau. - Đối với các dự án trong một số lĩnh vực cụ thể như: bưu điện, xây dựng cơ sở hạ tầng thì có thể xem xét và xử lí linh hoạt về hình thức đầu tư, tỷ lệ vốn góp và các đối tác nước ngoài cho một số dự án có tính khả thi, lành mạnh mà không ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của nước ta. - Cuối cùng, chúng ta cần cải cách thủ tục hành chính phiền hà, phức tạp hiện nay theo hướng đơn giản gọn nhẹ. Gấp rút nâng cao năng lực điều hành của các cơ quan quản lí Nhà nước. Nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng: - Tiến hành tổng rà soát, điểu chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Tăng cường công tác quy hoạch, thực thi các quy hoạch cũng như thu hút đầu tư vào các công trình giao thông, năng lượng. - Tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; ưu tiên các lĩnh vực cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường (xử lý chất thải rắn, nước thải.v.v.), hệ thống đường bộ cao tốc, trước hết là tuyến Bắc-Nam, hai hành lang kinh tế Việt Nam-Trung Quốc, nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt, trước hết là đường sắt cao tốc Bắc-Nam, đường sắt hai hành lang kinh tế Việt Nam-Trung Quốc, đường sắt nối các cụm cảng biển lớn, các mỏ khoáng sản lớn với hệ thống đường sắt quốc gia, đường sắt nội đô thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.v.v. - Trước mắt tập trung chỉ đạo, giải quyết tốt việc cung cấp điện, trong mọi trường hợp không để xảy ra tình trạng thiếu điện đối với các cơ sở sản xuất. Tăng cường nghiên cứu xây dựng chính sách và giải pháp khuyến khích sản xuất và sử dụng điện từ và các loại năng lượng mới như sức gió, thủy triều, nhiệt năng từ mặt trời. - Khẩn trương xây dựng và ban hành cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài nhà nước tham gia phát triển các công trình kết cấu hạ tầng trong đó có các công trình giao thông, cảng biển, các nhà máy điện độc lập. - Mở rộng hình thức cho thuê cảng biển, mở rộng đối tượng cho phép đầu tư dịch vụ cảng biển, đặc biệt dịch vụ hậu cần (logistic) để tăng cường năng lực cạnh tranh của hệ thống cảng biển Việt Nam; kêu gọi vốn đầu tư các cảng lớn của các khu vực kinh tế như hệ thống cảng Hiệp Phước-Thị Vải, Lạch Huyện.v.v. - Tập trung thu hút vốn đầu tư vào một số dự án thuộc lĩnh vực bưu chính-viễn thông và công nghệ thông tin để phát triển các dịch vụ mới và phát triển hạ tầng mạng. Thực hiện việc giảm giá điện, cước phí điện thoại, các loại phí khác có thể có với các dự án đầu tư nước ngoài. Theo đánh gía hiện nay thì các chi phí đầu vào này ở Việt Nam rất cao như gía điện thoại gấp 2 - 3 lần các nước trong khu vực - Đẩy mạnh đầu tư vào các lĩnh vực (văn hóa-y tế-giáo dục, bưu chính-viễn thông, hàng hải, hàng không) đã cam kết khi gia nhập WTO. Xem xét việc ban hành một số giải pháp mở cửa sớm hơn mức độ cam kết đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà nước ta có nhu cầu. Nhóm giải pháp về phân cấp, cải cách hành chính. Qua thực tế thực hiện việc phân cấp trong hơn 2 năm qua đã bộc lộ một số vấn đề bất cập, không phù hợp, ảnh hưởng đến quy hoạch phát triển kinh tế xã hội chung. Cần nghiên cứu để xem xét lại chủ trương phân cấp toàn diện như qui định hiện nay, có các biện pháp để tăng cường sự phối hợp giữa Trung ương và địa phương trong việc cấp phép và quản lý các dự án đầu tư nước ngoài. - Thực hiện tốt việc phân cấp quản lý nhà nước đối với ĐTNN, đặc biệt trong việc phê duyệt, cấp Giấy chứng nhận đầu tư, quản lý tốt các dự án ĐTNN, gắn với việc tăng cường hợp tác, hỗ trợ, phối hợp hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư. - Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại Luật Đầu tư và quy định mới về phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài. - Đơn giản hóa và công khai quy trình, thủ tục hành chính đối với đầu tư nước ngoài, thực hiện cơ chế "một cửa" trong việc giải quyết thủ tục đầu tư. Đảm bảo sự thống nhất, các quy trình, thủ tục tại các địa phương, đồng thời, phù hợp với điều kiện cụ thể. - Xử lý dứt điểm, kịp thời các vấn đề vướng mắc trong quá trình cấp phép, điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư . - Tăng cường cơ chế phối hợp quản lý đầu tư nước ngoài giữa Trung ương và địa phương và giữa các Bộ, ngành liên quan. Nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư Hoạt động xúc tiến đầu tư ở Việt Nam hiện nay rát kém, thiếu về thiết bị, yếu về trình độ năng lực. Phần lớn họ chỉ mới đảm nhận được chức năng tư vấn môi giới còn chức năng tư vấn tác nghiệp thì rất ít. Hê thống xúc tiến tổ chức manh mún, thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất.Trước thực trạng đó, để thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, theo em thấy cần phải đẩy mạnh hoạt động tư vấn đầu tư theo các hướng sau: - Trước hết, chúng ta cần nhận thức đúng và nhất quán đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, coi hoạt động này là một bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, coi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận của cộng đồng các doanh nghiệp Việt Nam. - Nghiên cứu đề xuất chính sách vận động, thu hút đầu tư đối với các tập đoàn đa quốc gia cũng như có chính sách riêng đối với từng tập đoàn và các đối tác trọng điểm như các quốc gia thành viên EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản... - Nhanh chóng hoàn thành việc xây dựng thông tin chi tiết về dự án đối với danh mục đầu tư quốc gia kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn 2010 – 2020 để làm cơ sở cho việc kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài vào dự án này. - Các Bộ, ngành tiếp tục rà soát, cập nhật bổ sung danh mục kêu gọi đầu tư phù hợp với nhu cầu đầu tư và quy hoạch phát triển địa phương, ngành, lĩnh vực, sản  phẩm. - Chúng ta cần hoạch định một chiến lược xúc tiến đầu tư cụ thể nhằm đápứng nhu cầu của mục tiê ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Cũng cố bộ phận xúc tiến đầu tư đủ mạnh về đội ngũ, trình độ, năng lực theo hướng tập trung hóa cao độ. Tăng cường và có kế hoạch đưa các bộ, viện, trường và các cơ quan làm tốt công tác đối ngoại tham gia vào các hoạt động xúc tiến đầu tư, phối hợp với các chương trình nghiên cứu nhằm tạo thế chủ động trong giao tiếp và xử lí các quan hệ với bên ngoài. Thiết lập quan hệ với các cơ quan quản lí Nhà nước về đầu tư của một số nước để trao đổi thông tin và kinh nghiệm. Đẩy mạnh quan hệ với các công ty tư vấn pháp luật, dịch vụ đầu tư quốc tế để có nguồn thông tin và sự trợ giúp từ trong công tác xây dựng luật,vận động đầu tư. Tổ chức mạng lưới xúc tiến đầu tư ở một số nước, khu vựctrọng yếu, trânh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế như: UNDP, UNIDO... và Việt kiều ở nước ngoài để giới thiệu môi trường đầu tư của Việt Nam. - Xem xét lại sự hoạt động của các công ty tư nhân đang làm chức năng tư vấn trong lĩnh vực đầu tư, kiên quyết thu hồi giấy phép nếu các công ty hoạt động không có hiệu quả.Song song với hoạt động xúc tiến đầu tư thì chúng ta cần có sự lựa chọn đối tác trong đầu tư. Không phải bất kì đối tác nào cũng được hoan nghênh mặc dù thực tế nước ta hiện nay rất cần nguồn vốn đầu tư này. Việc làm này nhằm mục đích tạo ra sự ổn định và lành mạnh trong môi trường đầu tư của nước ta. Để làm được điều đó, theo em, chúng ta chỉ đặt quan hệ với các đối tác có thện chí kinh doanh lâu dài ở Việt Nam, các đối tác có năng lực cần thiết về tài chính, kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, sẵn sang chuyển giao công nghệ cần thiết vào Việt Nam. - Tăng cường công tác bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư nói riêng và quản lý đầu tư nói chung. Vận động và phối hợp với các tổ chức quốc tế hỗ trợ mở cửa các lớp đào tạo về xúc tiến đầu tư và quản lý ĐTNN. Phối hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến đầu tư – thương mại – du lịch, khânt trương triển khai việc thành lập các bộ phận xúc tiến đầu tư tại các địa bàn trọng điểm theo kế hoạch. - Phát hiện và loại trừ các đối tác có những tư tưởng kinh doanh khôngchính đáng như : manh mún, chộp giật, lừa đảo..., chỉ đạo các cơ quan chứcnăng như : công an, hải quan... phát hiện và xử lí nghiêm minh các đối tác vàoViệt Nam với mục tiêu phi kinh tế. Cấp vi mô Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển của mổi quốc gia nói chung cũng như sự hoạt động của các dự án nói riêng. Nếu chỉ có vốn mà không có con người thì nguồn vốn đó cũng trở nên vô ích. Ở Việt Nam hiện nay, nguồn nhân lực còn rất nhiều bất cập: Trình độ kỉ thuật lao động thấp, trình độ cán bộ khoa học, quản lí yếu, cơ cấu đào tạo bất hợp lí, phân bổ không đồng đều tập trung ở vùng đồng bằng và thưa thớt ở vùng miền núi và trung du. Chính vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài, theo em, chúng ta cần giải quyết các tồn tại theo hướng sau. - Trước hết, công tác giáo dục và đào tạo, Nhà nước cần đề ra kế hoạch, chính sách giáo cục và đào tạo để tạo ra sự hợp lí trong cơ cấu sản phẩm đào tạo, chú trọng vào việc đào tạo đội ngũ công nhân kỉ thuật, những người trực tiếp tham gia sản xuất, nhằm khắc phục tình trạng "thừa thầy thiếu thợ" hiện nay. Thực tế hiện nay cho thấy, để tuyển dụng một công nhân kỉ thuật dưới tuổi tay nghề bậc năm còn khó hơn là tuyển dụng một sinh viên tốt nghiệp đại học. Tiến hành đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lí, công nhân kỉ thuật bằng các khoá huấn luyện ngắn hoặc dài ngày tại các trường, trung tâm đào tạo hay tại chính các doanh nghiệp. Nhà nước cũng cần tăng cường công tác đào tạo ở các địa phương nhằm giảm bớt gánh nặng cho các trường ở trung ương cũng như thoả mản nhu cầu học tập của những người dân địa phương đó. Muốn vậy, Nhà nước cần có biện pháp hổ trợ về vốn, cán bộ giảng dạy cho những địa phương này. Gắn công tác đào tạo với nhu cầu thị trường, kết hợp giáo dục phổ thông với giáo dục dạy nghề, kết hợp lí thuyết với thực hành, trang bị các thiết bị máy móc cần thiết, xây dựng cấc trung tâm thí nghiệm có đủ năng lực. Tiến hành xã hội hoá giáo dục nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu khoa học - công nghệ hiện đại, trình độ quản lí tiên tiến của nước ngoài cũng như tạo tác phong công nghiệp trong lao động sản xuất. Sản phẩm của hệ thống giáo dục - đào tạo là một đội ngủ trí thức, lao động kỉ thuật nên phải đặt vấn đề chất lượng lên hàng đầu. Hiệu quả của công tác giáo dục và đào tạo phải được đo bằng năng lực trí tuệ, bằng trình độ chuyên mộn vững vàng, khả năng tư duy sáng tạo, chứ không phải bằng số lượng được đào tạo. chúng ta cần quán trriệt quan điểm "cần chất lượng hơn số lượng". Để có được điều đó Nhà nước cần thống nhất quan lí công tác giáo dục - đào tạo, ban hành một hệ thống thống nhất các văn bản chứng chỉ, quy chế thi cử, tiêu chuẩn cấp bằng, hệ thống học hàm học vị, nội dung chương trình giảng dạy, hoàn thiện luật giáo dục. Tất cả những điều đó nhằm tạo uy tín cho hệ thống giáo dục của Việt Nam trên thế giới. Nhà nước cần dành một khoản đầu tư thích đáng từ ngân sách cho công tác giáo dục - đào tạo, có các quy định về việc góp quỹ đào tạo của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước cũng như nâng cao tinh thần trách nhiệm, hành vi ứng xử của các nhà đầu tư nước ngoài trong việc sử dụng lao động Việt Nam. - Nghiên cứu điều chỉnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. - Nhà nước cần phân bố lại nguồn nhân lựcgiửa các vùng, các miền nhằm giải toả bớt ách tắc đầu ra của công tác giáo dục - đào tạo, mặt khác góp phần tạo điều kiện thuận lợi về lao động các vùng miền núi trung du. - Thực hiện các giải pháp nhằm đưa Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động vào thực tế cuộc sống để ngăn ngừa tình trạng đình công bất hợp pháp, lành mạnh hoá quan hệ lao động theo tinh thần của Bộ lao động, bao gồm: Tiếp tục hoàn thiện pháp luật, chính sách vè lao động, tiền lương phù hợp, chế độ lao động, điều kiện lao động ... của lao động Việt Nam trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tình hình mới nhằm, tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc chấp hành pháp luật về lao động đối với người sử dụng lao đông nhằm đảm bảo điều kiện làm việc và đời sống cho người lao động. Chúng ta cần thành lập các tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, để một mặt đại diện cho công nhân Việt Nam đàm phán với các nhà đầu tư nước ngoài để bảo vệ lợi ích của người lao động Việt Nam, mặt khác tiếp thu những ý kiến chính đáng từ các nhà đầu tư nước ngoài để phản ánh tới các cơ quan hửu trách. Việc làm này sẻ tạo ra sự tin cậy, hiểu biết, hoà hợp giửa những người lao động Việt Nam với nhà đầu tư nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của dự án Nâng cao hiểu biết pháp luật về lao động thông qua phổ biến, tuyên truyền giáo dục cho người lao động, người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để đảm bảo chính sách, pháp luật về lao động và tiền lương được thực hiện đầy đủ nghiêm túc. - Bố trí những cán bộ cóa năng lực vào làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, giáo dục và nâng cao ý thức cộng đồng, tinh thần dân tộc của họ đối với lợi ích của bên Việt Nam cũng như đối với các nhà đầu tư nước ngoài, tạo tiền đề cho mối quan hệ hợp tác lâu dài trên nguyên tắc "đôi bên cùng có lợi". Nhóm giải pháp về bảo vệ và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên quốc gia : Các chuyên gia nghiên cứu về hoạt động khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên quốc gia nhận định rằng: “Nhà nước cần đầu tư ngân sách để thực hiện hoạt động điều tra, thăm dò tỉ mỉ tài nguyên khoáng sản và coi đây là khoản đầu tư ban đầu để sau đó thu lại bằng cách tính vào giá mỏ đối với các cuộc đấu thầu”. - Trong Hội thảo “Tài nguyên khoáng sản và phát triển bền vững ở Việt Nam” tổ chức cách đây không lâu ở Hà Nội, những kiến nghị mà nhiều chuyên gia đưa ra, tựu chung lại là các vấn đề liên quan tới quản lý Nhà nước đối với hoạt động khai thác TNKS, đẩy mạnh công tác điều tra, thăm dò tỉ mỉ trữ lượng khoáng sản, đưa ra các qui hoạch, chiến lược cụ thể, khả thi về quản lý, sử dụng TNKS, hạn chế việc cấp phép tràn lan (đặc biệt tại các tỉnh) và đưa ra các chủ trương, chính sách thúc đẩy đổi mới công nghệ, đầu tư công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực khai khoáng đối với doanh nghiệp. - “Thực hiện công khai, minh bạch” trong các hoạt động khai thác, chế biến và xuất khẩu khoáng sản cũng được nhiều chuyên gia trong nhắc tới và coi là mục tiêu quan trọng để việc có thể quản lý và sử dụng TNKS một cách bền vững ở Việt Nam. - Việt Nam là nước đi sau,vì thế nguồn tài nguyên các loại và khoáng sản dồi dào của nước ta chỉ có thể thực sự phát huy được lợi thế khi đất nước có nguồn nhân lực và khả năng quản lý quốc gia đạt trình độ cao. Vì lẽ này, trong hiện tại và trong nhiều thập kỷ tới, ưu tiên hàng đầu của nước ta phải là phát triển nguồn nhân lực, phát triển thể chế quốc gia và kết cấu hạ tầng, tận dụng mọi điều kiện cho phép để “làm giàu” trên đất đai chứ không phải đi “bóc” đất đai. Giải pháp tài chính Thị trường tài chính là nền tảng của hạ tầng kinh tế , tuy nhiên hiện nay thị trường tài chính nước ta vẫn còn khá nhìu tồn tại như đã nêu trên, vì thế chúng tôi xin đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao tính hiệu quả của thị trường này như sau: - Cấu trúc của thị trường tài chính cũng phải đổi mới cho phù hợp với cấu trúc của nền kinh tế. Chẳng hạn, phải phát triển hệ thống tài chính vi mô để phục vụ cho nhu cầu vốn của vùng sâu, vùng xa, nhằm tạo sự thông suốt cho thị trường vốn. - Khai thác và động viên cao độ đi đôi với phân phối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính để đầu tư và phát triển kinh tế xã hội. Tạo môi trường kinh tế ổn định, hấp dẫn thúc đẩy các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tham gia đầu tư phát triển kinh tế xã hội - Xây dựng chính sách tài chính doanh nghiệp bình đẳng, ổn định, minh bạch, tăng quyền tự chủ kinh doanh, tự chủ tài chính và tự chủ trách nhiệm của doanh nghiệp trong đầu tư và huy động vốn - Đổi mới chính sách tiền tệ, nâng cao năng lực của hệ thống ngân hàng. Phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, đảm bảo an toàn tài chính và sự ổn định của kinh tế vĩ mô. - Mở rộng hệ thống ngân hàng, cả về số lượng lẫn chất lượng tạo điều kiện thúc đẩy và là nhân tố quan trọng của lưu thông tiền tệ, làm cho thị trường tài chính lưu động hơn, tạo tính thanh khoản cao - Đồng bộ hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các thủ tục hành chính về tài chính. Hoàn thiện chức năng , nhiệm vụ, củng cố và kiện toàn bộ máy quản lý tài chính- ngân sách, xây dựng đội ngũ công chức tài chính đầy đủ về số lượng và về chất lượng. Áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật để để nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý trước hết là lĩnh vực thuế, hải quan, kho bạc, tiến tới thực hiện thống nhất các quy trình nghiệp vụ quản lý, điều hành công tác tài chính theo tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế Thị trường chứng khoán với tư cách là phương thức khơi thông dòng vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh thị trường chứng khoán có vai trò cực kỳ quan trọng trong thị trường tài chính cũng như trong nền kinh tế. Để có thể xây dựng và phát triển thị trường này một cách bền vững, chúng em xin đề xuất những giải pháp như sau: - UBCKNN cần phải quản lý chặt chẽ hơn công bố thông tin, việc phát hành CP của các công ty niêm yết. - cần sớm có quy chế và đưa vào giao dịch các loại hợp đồng tương lai, quyền chọn mua/bán, giao dịch ký quỹ, được mở nhiều tài khoản giao dịch… Cần đẩy mạnh việc phát triển các công ty chứng khoán theo hướng chuyên sâu, chú trọng chất lượng, hạn chế phát triển theo số lượng. Điều này sẽ giảm thiểu được nguy cơ đổ vỡ thị trường do cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các công ty chứng khoán. Cùng với đó, cần khuyến khích và tạo hành lang pháp lý cho các DN bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ tiết kiệm, ngân hàng tham gia rót vốn hoặc trực tiếp đầu tư vào TTCK. - Để tăng tính thanh khoản và giá trị giao dịch cho thị trường, cần sớm cho phép mua bán chứng khoán trong ngày. Việc này sẽ giúp các nhà đầu tư trở nên chuyên nghiệp hơn, tăng hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời cũng là công cụ bảo hiểm và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư. -muốn thu hút nhiều hơn nữa luồng vốn đầu tư của các nhà đầu tư ngoại, ần tháo gỡ quy định về mở tài khoản và nâng cao việc bảo mật thông tin giao dịch. Với nhiều nhà đầu tư ngoại, danh mục vốn hàng trăm triệu USD là bình thường, việc chỉ được mở tài khoản tại một công ty chứng khoán chứa đựng nhiều rủi ro. Và họ cũng không muốn người khác thấy được dòng tiền của họ, biết họ mua bán gì. -Có 4 yếu tố cần phải được đáp ứng, đó là: Kiến thức NĐT, quy mô thị trường, cơ sở pháp luật và hệ thống, năng lực giám sát của cơ quan quản lý. Do đó, chúng tôi xin được phép kiến nghị UBCK cần thực hiện những nhiệm vụ như sau tăng cường hơn nữa công tác quản lý, giám sát hoạt động thị trường, thông qua giám sát, thanh tra, xử lý một số thành viên thị trường và các cá nhân vi phạm quy định. Hoàn thiện khung pháp lý, chính sách cho thị trường, phát triển các thị trường giao dịch chứng khoán… - Sử dụng các biện pháp tổng hợp, bao gồm cả các biện pháp kinh tế và phi kinh tế nhằm bảo đảm an ninh tài chính trên thị trường chứng khoán, chống lạm phát, tăng cường thực hiện chức năng giám đốc bằng đồng tiền của các cơ quan tài chính, ngân hàng đối với các hoạt động của các công ty chứng khoán, các nhà đầu tư, sàn giao dịch và các hoạt động khác của thị trường chứng khoán, thị trường vàng, đá quý và thị trường bất động sản. - Thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và các ngân hàng thương mại nhằm tạo thêm sự đa dạng cho hàng hóa trên thị trường chứng khoán, tạo thêm động lực cho sự phát triển của thị trường chứng khoán việt Nam hiện nay. Một số giải pháp khác. - Tiếp tục nâng cao hiệu quả việc chống tham nhũng, tiêu cực và tình trạng nhũng nhiễu đối với nhà đầu tư. Đề cao tinh thần trách nhiệm cá nhân trong xử lý công việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở các cơ quan quản lý nhà nước. - Tăng cường phối hợp với các bộ ngành, địa phương xử lý vấn đề môi trường, vấn đề đình công trái pháp luật của các doanh nghiệp FDI. - Triển khai tốt việc xây dựng hệ thống quản lý thông tin ĐTNN theo quyết định 43/2008/QĐ-TTg ngày 24/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ, đảm bảo thông tin phục vụ công tác quản lý, điều hành. Các kiến nghị cần cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh Để xác định những lĩnh vực cần cải thiện hơn nữa các doanh nghiệp tham gia điều tra được yêu cầu lựa chọn 3 biện pháp quan trọng nhất mà chính phủ cần làm để cải thiện môi trường kinh doanh. Biểu đồ dưới đây cho thấy thứ tự ưu tiên cải cách để cải thiện môi trường kinh doanh Việt Nam. Năm nay “Cải thiện soạn thảo luật lệ“ là lĩnh vực được phần lớn doanh nghiệp đề xuất (46%) phản ánh mối quan ngại ngày càng tăng về sự không rõ ràng và thiếu thực tiễn của luật lệ, tạo điều kiện cho việc diễn giải pháp luật tuỳ tiện và các hoạt động trục lợi. Doanh nghiệp vì vậy muốn nâng cao tính rõ ràng, minh bạch của môi trường pháp lý. Khi xây dựng các văn bản pháp luật cần tham vấn doanh nghiệp một cách toàn diện để đảm bảo các luật lệ khi được ban hành, phản ánh đầy đủ những ý kiến đóng góp từ thực tiễn doanh nghiệp, ngăn ngừa việc diễn giải luật chủ quan, thiếu nhất quán gay phức tạp trong quá trình thực hiện sau này. Năm nay các doanh nghiệp cũng đưa ra yêu cầu mạnh mẽ về cải cách nhằm “Bãi bỏ các giấy phép không cần thiết“ và “Ngăn chặn kiểm soát tham nhũng“ bằng những biện pháp nâng cao tính minh bạch và những giải trình của chính phủ ở các cấp trung ương và địa phương nhằm giảm thiểu tệ quan liêu, nhũng nhiễu doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất. Tuy nhiên điều tra lần này cũng cho thấy có sự khác biệt trong việc lựa chọn ưu tiên chính sách giữa doanh nghiệp nước ngoài và trong nước. Trong khi “Cải thiện việc soạn thảo luật lệ“ được doanh nghiệp trong nước lựa chọn là ưu tiên hàng đầu, thì các doanh nghiệp nước ngoài lại coi việc “Cải thiện cơ sở hạ tầng“ là hoạt động quan trọng nhất. Lý giải cho điều này có lẽ là do doanh nghiệp nước ngoài thường có qui mô hoạt động lớn hơn va tham gia vào các hoạt động xuất nhập khẩu nhiều hơn, do vậy chất lượng cơ sở hạ tầng yếu kém như thiếu hụt điện năng, tắc nghẽn cảng biển gây hậu quả nặng nề hơn cho các doanh nghiệp nước ngoài so với doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên cả hai nhóm doanh nghiệp đều nhất trí cho rằng “Ngăn chăn và kiểm soát tệ tham nhũng“ là một trong những lĩnh vực cần được ưu tiên xư lý hàng đầu, cho thấy đây là một vấn đề có tác động  tiêu cực mạnh mẽ tới hoạt động của cả doanh nghiệp trong và ngoài nước. Diễn đàn thương mại và phát triển liên hợp quốc (UNCTAD) đang xây dựng một báo cáo về “Chính sách đầu tư của Việt Nam“. Tại báo cáo này UNCTAD đã đánh giá: “Việt Nam đã thành công trong việc thu hút một số lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong hai thập kỉ vừa qua mặc dù vẫn còn một số hạn chế trong tiếp nhận đầu tư và “gánh nặng“ hành chính làm cản trở các nhà đầu tư. Việc Nam cũng đã thành công trong việc thu được những lợi ích quan trọng từ sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào phát triển kinh tế“. Theo UNCTAD việc gia nhập WTO là dấu mốc trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam. Điều này sẽ khiến Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài và làm tăng lợi ích tiềm năng phát triển của các dòng FDI đang ngày một tăng lên.. KẾT LUẬN Qua hơn mười năm, hoạt động đầu tư từ nước ngoài đã mang lại cho nền kinh tế - xã hội nhiều đóng góp to lớn, đặc biệt là bổ sung một lượng không nhỏ lượng vốn đầu tư cho sự phát triển kinh tế của nước ta. Hoạt động đầu tư nước ngoài đang từng ngày từng giờ góp phần thay đổi bộ mặt của nước ta, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá đang dần dần trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Tuy nhiên một vài năm gần đây, do ảnh hưởng của các nhân tố khách quan và chủ quan, đặc biệt là từ sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ, lượng vốn đầu tư nước ngoài thu hút vào nước ta có dấu hiệu giảm sút. Nếu xét một cách tổng quát, trong tương lai gần thì hoạt động đầu tư nước ngoài vào nước ta rất khởi sắc. Với mục tiêu đưa Việt Nam tới năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp thì bên cạnh việc phát huy nội lực, việc thu hút đầu tư nước ngoài để phục vụ cho mục tiêu này cũng là một nguồn lực quan trọng.Vấn đề thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài trong những năm tới có ý nghĩa rất to lớn đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Trong điều kiện đó, bằng các giải pháp đồng bộ khoa học, nhà nước ta phải hoàn thiện việc tổ chức,môi trường đầu tư, từng bước cải thiện, nâng cao mức độ hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ta nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả hơn nưã nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đáp ứng nhu cầu sử dụng có hiệu qủa vốn đầu tư nước ngoài theo đúng chủ trương quan trọng của Đảng và nhà nước ta là xem nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng; kết hợp nội lực và ngoại lực thành sức mạnh tổng hợp trong xây dựng đất nước.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • dochoàn chỉnh de tai.doc
  • doc-æߦºu t¦¦ quß+æc tߦ+.doc
  • docmucluc.doc
  • docĐẦU TƯ QT - FULL.doc
  • docMôi Trường ĐTQT.doc
  • docĐề tài 1.doc