Đề tài Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín - Công nghiệp Long An

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG 1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG: 1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong thời hạn nhất định với chi phí nhất định, phản ánh quan hệ kinh tế giữa người sở hữu với người sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế trên cơ sở hoàn trả vốn và lợi tức khi đến hạn. Tín dụng ngân hàng là hoạt động tín dụng của ngân hàng với các chủ thể trong nền kinh tế với tư cách người được cấp tín dụng lẫn được cấp tín dụng. Song người ta thường đề cập đến ngân hàng với tư cách người cấp tín dụng. 1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của tín dụng trong nền kinh tế: Trong nền kinh tế thị trường tín dụng có hai chức năng và nhiệm vụ sau đây: - Thứ nhất: phân phối lại tài nguyên. - Thứ hai: thúc đẩy lưu thông hàng hóa và phát triển sản xuất. - Phân phối lại tài nguyên: Tín dụng là sự vận động của vốn chủ thế này sang chủ thể khác, hay nói một cách cụ thể hơn, là sự vận động từ những xí nghiệp, cá nhân có vốn tạm thời chưa dùng đến sang những xí nghiệp, cá nhân cần vốn bổ sung nhằm phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng. Nghĩa là, nhờ sự vận động của tín dụng mà các chủ thể vay vốn nhận được một phần tài nguyên của xã hội phục vụ cho sản xuất hoặc tiêu dùng. Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, phân phối lại tín dụng có liên quan không chỉ thu nhập quốc dân mà cả tổng sản phẩm xã hội. Trong nền kinh tế hiện đại phân phối vốn tín dụng qua các ngân hàng chiếm vị trí quan trọng nhất. Một mặt ngân hàng tập trung vốn tiền tệ của các xí nghiệp và cá nhân để làm nguồn vốn cho vay; mặt khác ngân hàng phân phối nguồn vốn đó dưới hình thức cấp tín dụng cho các nhà doanh nghiệp, cá nhân và một phần cho Kho bạc Nhà nước. - Thúc đẩy lưu thông hàng hóa và phát triển sản xuất: Trong thời kỳ đầu, tiền tệ lưu thông là hóa tệ, nhưng khi các quan hệ tín dụng phát triển, các giấy tờ đã thay thế cho một bộ phận tiền trong lưu thông. Lợi dụng đặc điểm này các ngân hàng đã phát hành tiền giấy vào lưu thông. Lúc đầu tiền giấy phát hành chỉ là thực hiện việc thay thế hóa tệ kim loại trong lưu thông, tức là phát hành trên cơ sở có trữ kim, nhưng dần dần tiền giấy phát hành vào lưu thông tách rời với dự trữ vàng của ngân hàng. Ngày nay, ngân hàng cung cấp tiền cho lưu thông chủ yếu được thực hiện thông qua con đường tín dụng. Đây là cơ sở đảm bảo cho lưu thông tiền thêm ổn định, đồng thời đảm bảo đủ phương tiện phục vụ cho lưu thông. Như vậy nhờ có hoạt động của tín dụng, mà ngân hàng tạo ra tiền phục vụ cho sản xuất và lưu thông hàng hóa. Tiền do con người tạo ra qua con đường tín dụng bao gồm bút tệ và tín tệ.

doc56 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 07/05/2013 | Lượt xem: 894 | Lượt tải: 6download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín - Công nghiệp Long An, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
vay ngắn hạn. Tỷ lệ dư nợ cho vay ngắn hạn luôn chiếm phần lớn (62,75% -55,38%). Thứ hai: Có thể nói SACOMBANK Long An đã thành công trong việc mở rộng tín dụng, Cụ thể dư nợ tăng mạnh vào năm 2010. 2.2.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI SACOMBANK CN.LONG AN: 2.2.1. Quy trình cấp tín dụng tại SACOMBANK: Bước 5: Quản lý thu hồi nợi. Bước 1: Tiếp thị, tiếp nhận nhu cầu của khách hàng. Bước 2: Xác minh, Thẩm định Bước 4: Hoàn chỉnh hồ sơ và triển khai phán quyết Bước 3: Phê duyệt. Bước 6: Tất toán. Bước 7: Lưu hồ sơ. Bước 1: Tiếp thị, tiếp nhận nhu cầu của khách hàng: Theo mô hình bán hàng chuyên nghiệp tại Sacombank đối với nghiệp vụ cấp tín dụng, ở bước này chuyên viên khách hàng thực hiện công tác tìm kiếm, tiếp thị khách hàng, tiếp nhận nhu cầu cấp tín dụng, sau khi tiếp thị KH thành công: * Đối với Sở giao dịch thành phố Hồ Chí Minh, Chi nhánh trong nước: - CV.KH hướng dẫn KH hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định. - Nhập thông tin KH vào bảng theo dõi hồ sơ khách hàng, đồng thời báo cáo lại Trưởng phòng trực tiếp quản lý về hồ sơ khách hàng mà mình đã tiếp nhận đễ theo dõi, hỗ trợ. * Đối với Chi nhánh nước ngoài: Đối với KH cá nhân: CV.KH hướng dẫn KH hoàn tất hồ sơ thủ tục theo quy định: Tại phòng giao dịch (PGD): - Hồ sơ thuộc mức phán quyết của PGD: CV.KH lập tờ trình tín dụng thực hiện thẩm định và trình Trưởng phòng PGD phê duyệt cấp tín dụng. - Hồ sơ vượt mức phán quyết PGD và có tổng mức cấp tín dụng <= 500 triệu đồng (quy đổi ra VND): CV.KH lập tờ trình cấp tín dụng, thực hiện thẩm định và trình Trưởng phòng PGD có ý kiến trước khi trình cấp phán quyết tín dụng. - Hồ sơ vượt hạn mức phán quyết PGD và có tổng mức cấp tín dụng > 500 triệu đồng (quy đổi ra VND): CV.KH lập tờ trình cấp tín dụng (phần dành cho CV.KH), trình Trưởng phòng PGD có ý kiến trước khi chuyển Bộ phận thẩm định(Bp.TĐ) thẩm định và trình cấp phán quyết cấp tín dụng. Tại Chi nhánh: - Hồ sơ có tổng mức cấp tín dụng <= 500 triệu đồng (quy đổi ra VND) CV.KH lập tờ trình cấp tín dụng, thực hiện thẩm định và trình Trưởng phòng Dịch vụ khách hàng(TP.DVKH) có ý kiến trước khi trình cấp phán quyết tín dụng. - Hồ sơ có tổng mức cấp tín dụng > 500 triệu đồng ( quy đổi ra VND) CV.KH lập tờ trình cấp tín dụng (phần dành cho CV.KH), trình TP.DVKH có ý kiến trước khi chuyển Bp.TĐ thẩm định và trình cấp phán quyết tín dụng. Đối với KH doanh nghiệp: CV.KH hướng dẫn KH hoàn tất hồ sơ theo quy định: Tại phòng giao dịch (PGD): - Hồ sơ thuộc hạn mức của PGD: CV.KH lập tờ trình cấp tín dụng, thực hiện thẩm định và trình TP.PGD duyệt cấp tín dụng. - Hồ sơ vượt hạn mức PGD: CV.KH lập tờ trình cấp tín dụng (phần dành cho CV.KH), trình TP. PGD có ý kiến trước khinh chuyển về Bp.TĐ thẩm định và trình cấp phán quyết cấp tín dụng. Tại Chi nhánh: - CV.KH lập tờ trình cấp tín dụng (phần dành cho CV.KH), trình TP.DVKH có ý kiến trước khi chuyển đến Bp.TĐ thẩm định và trình cấp phán quyết tín dụng. CV.KH luôn là đầu mối thông tin giữa Sacombank và KH trong quá trình phối hợp với các phòng nghiệp vụ liên quan tại Chi nhánh cung cấp sản phẩm dịch vụ cấp tín dụng cho KH. Sau khi có ý kiến phê duyệt của cấp phán quyết CV.KH tiếp nhận kết quả, lập thông báo, trình Ban Giám đốc Sở giao dịch, Chi nhánh/ TP.PGD ký và phát hành thông báo về việc cấp/ không cấp tín dụng đến KH. Bước 2: Xác minh, thẩm định: Đối với Sở giao dịch TP.HCM, Chi nhánh trong nước: Ở bước này CV.KH thực hiện công tác xác minh và thẩm định hồ sơ của KH làm cơ sở tham mưu cho cấp có thẩm quyền phê duyệt, ghi ý kiến và tờ trình cấp tín dụng. Việc xác minh thực tế và thẩm định hồ sơ tín dụng (HSTD) được hướng dẫn chi tiết tại Quy trình thẩm định. Đối với Chi nhánh nước ngoài: Ở bước này CV.TĐ (hoặc CV.KH) chịu trách nhiệm xác minh và thẩm định hồ sơ của KH làm cơ sở tham mưu cho cấp có thẩm quyền phê duyệt, ghi ý kiến và tờ trình cấp tín dụng (phần dành cho CV.TĐ). Việc xác minh thực tế và thẩm định HSTD được hướng dẫn chi tiết tại Quy trình thẩm định. Bước 3: Phê duyệt: Cấp có thẩm quyền phê duyệt hồ sơ theo hạn mức phán quyết cấp tín dụng quy định tại Quy chế phán quyết cấp tín dụng hiện hành, chi tiết thực hiện theo Quy trình phán quyết cấp tín dụng. Lưu ý: Ý kiến phán quyết phải ghi rõ số tiền, thời hạn cho từng hình thức và khoản mục cấp tín dụng; trường hợp không đồng ý cấp tín dụng phải ghi rõ lý do. Ý kiến phán quyết được thể hiện bằng các hình thức sau: TP.PGD, Giám đốc Chi nhánh (GĐCN): ghi ý kiến phán quyết và Biên bản phán quyết cấp tín dụng. Ban Tín dụng cá nhân (TDCN): ghi ý kiến phán quyết và Biên bản phán quyết cấp tín dụng. GĐ SGD: ghi ý kiến phán quyết vào Báo cáo tái thẩm định của Phòng thẩm định Sở giao dịch. GĐ KV: ghi ý kiến phán quyết vào Báo cáo tái thẩm định của Tổ thẩm định khu vực. PTGĐ.TD/GĐTD: ghi ý kiến phán quyết vào Báo cao tái thẩm định của Phòng thẩm định Hội sở. UBTD/HĐTD: ghi ý kiến phán quyết vào Báo cáo tái thẩm định của Phòng thẩm định Hội sở (trường hợp họp qua điện thoại) hoặc Biên bản phán quyết cấp tín dụng (trường hợp trực tiếp). Bước 4: Hoàn chỉnh hồ sơ và triển khai phán quyết: Ở bước này hướng dẫn và quy định rõ trách nhiệm của từng chuyên viên/nhân viên thuộc Bp.Quản lý tín dụng phối hợp với các chuyên viên/nhân viên thuộc Phòng/Bộ phận khác tại Chi nhánh thực hiện các thủ tục cần thiết trong quá trình hoàn chỉnh hồ sơ và triển khai phán quyết sau khi đề xuất cấp tín dụng được phê duyệt. Chi tiết thực hiện theo Quy trình hoàn chỉnh hồ sơ và triển khai phán quyết và các sản phẩm tín dụng hiện hành của Sacombank. Các công việc chính gồm: Kiểm soát viên TD kiểm tra tính đầy đủ và hợp lệ của HSTD, các điều kiện cấp tín dụng (nếu có); lập hợp đồng tín dụng/ hợp động bảo lãnh, hợp động bảo đảm tiền vay; lập thủ tục giải ngân/ phát hành chứng thư bảo lãnh. NV.Hỗ trợ thực hiện công chứng/ chứng thực, đăng ký giao dịch đảm bảo, nhận hồ sơ tài sản đảm bảo (TSĐB) bản gốc từ KH. GDV.TD thực hiện các thủ tục giải ngân trên hệ thống/ phối hợp với các bộ phận liên quan phát hành thư bảo lãnh, thu phí và theo dõi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh (nếu có). BP.TTQT/TTV.TTQT phối hợp với các Bộ phận có liên quan thực hiện các thủ tục có liên quan (chiết khấu bộ chứng từ (BCT), giải ngân cho khách hàng, nhận BCT, theo dõi báo có từ nước ngoài…) Thủ quỹ/ Phụ quỹ thực hiện giải ngân. Bước 5: Quản lý và thu hồi nợ: Sau khi đã cấp tín dụng cho KH, Bp.Quản lý tín dụng phối hợp với các phòng/ bộ phận nghiệp vụ có liên quan khác tại Chi nhánh thực hiện công tác quản lý và thu hồi nợ theo quy định hiện hành của Sacombank về quản lý và thu hồi nợ. Các công việc chính bao gồm: CV.QLN theo dõi danh mục dư nợ phát sinh; lập danh sách KH đáo hạn vốn, lãi trong 10 ngày tới và KH đã trễ hạn, quá hạn vốn, lãi gửi CV.KH đôn đốc thu nợ. CV.KH tiến hành kiểm tra sau khi cấp tín dụng kể cả khi KH có phát sinh nợ xấu. Đối với CN nước ngoài, khi có phát sinh nợ xấu (nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5) thì CV.KH cần phối hợp với CV.TĐ để kiểm tra. Bước 6: Tất toán: Sau khi KH hoàn tất nghĩa vụ thanh toán các khoản dư nợ (bao gồm vốn gốc, lãi và phí phát sinh) CV.KH, KSVTD, GDV, NV.QLHS TSĐB tiến hành tất toán HSTD của KH theo Quy trình tất toán hồ sơ cấp tín dụng. Bước 7: Lưu hồ sơ: Các bộ phận liên quan lưu hồ sơ phát sinh và kết thúc tại công đoạn của mình. Việc quản lý và hoàn trả hồ sơ TSĐB của KH thực hiện theo Quy trình quản lý hồ sơ TSĐB hiện hành. Bp.QLTD lưu hồ sơ tất toán tại Chi nhánh trong một năm, sau đó chuyển về kho lưu trữ theo thứ tự quy định tại phần VI của Quy trình này. 2.2.2. Điều kiện chung đối với khách hàng Doanh nghiệp/Cá nhân: 2.2.2.1. Điều kiện chung cho khách hàng Doanh nghiệp/ Cá nhân. Điều kiện vay: Có năng lực pháp luật dân sự, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Đối với khách hàng là tổ chức. Tổ chức phải có năng lực pháp luật dân sự. Chủ doanh nghiệp tư nhân thành viên công ty hợp danh, đại diện hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Mục đích sử dụng vốn hợp pháp. Có khả năng tài chính bảo đảm trả nợ trong thời gian cam kết. Có dự án đầu tư, phương án kinh doanh khả thi phù hợp với quy định Pháp luật. Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Một số điều kiện tuỳ theo loại cho vay được quy định cụ thể. 2.2.2.2. Hồ sơ vay: Doanh nghiệp: Hồ sơ pháp lý: Điều lệ hoạt động công ty. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/ giấy phép đầu tư. Chứng minh nhân dân, hộ khẩu người được uỷ quyền. Quyết định bổ nhiệm giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng. Giấy đăng ký mã số thuế Giấy đăng ký mã số Sài Gòn Thương Tín. Hồ sơ khác (nếu có). Báo các tài chính: Bảng cân đối kế toán. Bảng kết quả hoạt động kinh doanh. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Thuyết minh báo cáo tài chính. Cá nhân: Hồ sơ pháp lý: Sổ hộ khẩu. Chứng minh nhân dân. Giấy đăng ký kết hôn (nếu độc thân thì phải có giấy chứng nhận độc thân). Năng lực tài chính: Chưng minh mức thu nhập. Bảng lương. 2.2.3. Thực trạng hoạt động cấp tín dụng tại SACOMBANK Long An trong thời gian vừa qua. Ở phần kết quả kinh doanh của ngân hàng, chúng ta đã biết khái quát về tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh của ngân hàng Sài Gòn Thương Tín Long An. Nhìn chung, hoạt động tín dụng đạt kết quả khá tốt. Nhưng để đánh giá chính xác hơn về hoạt động tín dụng, chúng ta cần tìm hiểu những vấn đề liên quan đến các chỉ tiêu định lượng đánh giá chất lượng tín dụng. 2.2.3.1 Theo loại hình tổ chức: Bảng 3: Dư nợ cho vay theo loại hình tổ chức: Đvt: tỷđồng Năm 2009 Năm 2010 So sánh 2010 với 2009 (%) Số tiền Tỷ trọng % Số tiền Tỷ trọng % Doanh nghiệp 450 56.26 880 67.69 +95.56 Cá nhân 350 43.75 420 32.31 +20 Tổng dư nợ 800 100 1,300 100 +62.50 ( Số liệu do phòng tín dụng ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – Long An cung cấp) Biểu đồ 2: Dư nợ cho vay cá nhân và doanh nghiệp. Nhận xét: Từ biểu đồ cho thấy tình hình sử dụng vốn của ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Long An ngày càng tăng cụ thể: + Năm 2009 cho vay cá nhân 350 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 43.75% trong tổng dư nợ cho vay. Trong số đó cho vay với doanh nghiệp 450 tỷ đồng chiếm 56.25% trong tổng dư nợ cho vay. + Năm 2010 cho vay cá nhân là 420 tỷ đồng chiếm 32.31% trong tổng dư nợ cho vay năm 2010, tăng 70 tỷ đồng tương đương tăng 20% so với năm 2009, cho vay với doanh nghiệp là 880 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 67.69% trong tổng dư nợ cho vay, tăng 430 tỷ đồng tương đương tăng 95.56% so với năm 2009. Nguyên nhân làm cho dư nợ cho vay cá nhân và doanh nghiệp chênh lệch về tỷ trọng là do quy mô sản xuất cũng như nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp lớn hơn nhu cầu của cá nhân. Cùng với huy động vốn, ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Long An chủ yếu huy động từ Doanh nghiệp là chính và cho vay với khối lượng lớn là cho doanh nghiệp, tận dụng chênh lệch lãi suất huy động và lãi suất cho vay để tăng lợi nhuận trong quá trình kinh doanh. Năm 2009 - 2010 là khoảng thời gian Long An có nhiều dự án đầu tư, khu công nghiệp khởi công xây dựng nên đã thu hút một số lượng lớn vốn đầu tư trong và ngoài nước, kéo theo đó là nhu cầu vay vốn ngày càng tăng làm cho dư nợ cho vay của SACOMBANK – Long An tăng lên cao. 2.2.3.2 Theo loại tiền vay: Bảng 4: Dư nợ cho vay theo loại tiền vay. Đvt: tỷđồng Dư nợ Năm 2009 Năm 2010 So sánh 2010 với 2009(%) Số tiền Tỷ trọng % Số tiền Tỷ trọng % VND 750 93.75 1,100 84.62 +46.67 Vàng và ngoại tệ 50 6.25 200 15.38 + 300 Tổng dư nợ 800 100 1,300 100 +62.50 ( Số liệu do phòng tín dụng ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – Long An cung cấp) Biểu đồ 3: Dư nợ cho vay theo loại tiền vay. Nhận xét: Từ biểu đồ cho ta thấy dư nợ theo tiền tệ bẳng VND chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay (93.75 – 84.62%). Về tỷ trọng dư nợ cho vay theo VND giảm theo số tương đối (-9.13%) nhưng về số tuyệt đối là tăng mạnh (+350 tỷđồng). Tỷ trọng về dư nợ bằng vàng và ngoại tệ năm 2009 chiếm 6.25% tổng dư nợ là do phần lớn các doanh nghiệp đều bị tác động bởi khủng hoản kinh tế toàn cầu nhưng đến cuối 2010 tỷ trọng về dư nợ bằng vàng và ngoại tệ chiếm 15.38% tổng dư nợ. Tăng 150 tỷđồng so với 2009. Đó là do trong năm 2010, chi nhánh đã thực hiện cho vay USD để thu mua và làm tăng hàng xuất khẩu với lãi suất ưu đãi nhằm hổ trợ hoạt động xuất khẩu của tỉnh Long An. 2.2.3.3. Theo thời gian vay: Bảng 5: Dư nợ cho vay theo thời gian vay: Đvt: tỷđồng Dư nợ Năm 2009 Năm 2010 So sánh 2010 với 2009 % Số tiền Tỷ trọng % Số tiền Tỷ trọng % Ngắn hạn 500 62.25 850 65.38 + 70 Trung dài hạn 300 37.75 450 34.62 + 50 Tổng dư nợ 800 100 1,300 100 + 62.50 ( Số liệu do phòng tín dụng ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – Long An cung cấp) Biểu đồ 4: Dư nợ cho vay theo thời hạn vay. Nhận xét: Khi xem xét dư nợ theo kỳ hạn, năm 2009 dư nợ ngắn hạn là 500 tỷđồng chiếm tỷ lệ 62.25% đến 2010 là 850 tỷđồng chiếm 65.38%. So sánh với nguồn vốn huy động ngắn hạn ta thấy dư nợ ngắn hạn của ngân hàng Sài Gòn Thương Tín Long An như vậy là phù hợp, bởi nguồn ngắn hạn được sử dụng chủ yếu để cho vay ngắn hạn. Mặt khác, với bất kỳ một NHTM, yếu tố quay vòng vốn nhanh là rất cần thiết, tỷ trọng cho vay ngắn hạn cao là tốt. Cho vay trung dài hạn của ngân hàng cũng tăng đáng kể trong năm 2010 450 tỷđồng chiếm tỷ lệ 34.62% so với tổng dư nợ. Các mặt hàng cho vay chủ yếu vẫn tập trung ở phân bón, sắt thép, xăng dầu phục vụ nhu cầu nhập khẩu và thuỷ sản, lúa gạo, hạt điều phục vụ nhu cầu xuất khẩu. Cho vay để xuất khẩu có rủi ro cao, đó là vì việc xuất khẩu hàng hoá sang các nước khác còn phụ thuộc nhiều vào quan hệ kinh tế giữa các nước, vào thị trường, vào tỷ giá, với nguồn vốn huy động nhiều, SACOMBANK Long An nên mở rộng cho vay sang các doanh nghiệp kinh doanh tiềm năng. Nhìn chung, chỉ tiêu nợ của SACOMBANK Long An đạt kết quả khá tốt, năm sau tăng hơn năm trước, nhưng vẫn còn tập trung chủ yếu ở ngắn hạn, tổ chức kinh tế (Doanh nghiệp) và VND. 2.2.4. Đánh giá hoạt động cấp tín dụng tại SACOMBANK Long An: Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng: Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn TD của NH, thời gian thu hồi nợ của NH là nhanh hay chậm. Vòng quay vốn càng nhanh thì được coi là tốt và việc đầu tư càng được an toàn. Bảng 6: Vòng quay vốn tín dụng của NH: Đvt: tỷđồng Chỉ tiêu 2009 2010 Doanh số thu nợ 1,025 1,650 Dư nợ bình quân 850 1,260 Vòng quay vốn tín dụng 1.21 1.31 ( Số liệu do phòng tín dụng ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – Long An cung cấp) Qua đó ta thấy năm vòng quay vốn tín dụng năm sau cao hơn so với năm trước. Điều này thể hiện hiệu suất sử dụng vốn của chi nhánh ngân hàng khá tốt, rủi ro tín dụng thấp và khả năng thu hồi đồng vốn vay cao. Thể hiện ở chỗ doanh số thu nợ của ngân hàng luôn đạt hiệu quả rất cao, nợ quá hạn được hạn chế rất tốt. Mặc dù vậy, chi nhánh cần quan tâm hơn trong công tác thu nợ; xử lý các khoản nợ tồn đọng nhất là nợ sắp tới hạn; thường xuyên theo dõi, kiểm tra để có những biện pháp giải quyết kịp thời nhiều khoản tín dụng chưa đến hạn thanh toán, song khả năng không thu hồi đầy đủ giá trị sẽ gặp khó khăn. Nợ quá hạn của SACOMBANK – Long An. Nợ quá hạn, nợ khó đòi là một biểu hiện rõ nét của chất lượng tín dụng. Đối với một khoản cho vay mà khi đến kỳ hạn trả nợ mà khách hàng không thể trả được nợ đúng hạn thì sẽ chuyển sang nợ quá hạn. Khi phát sinh nợ quá hạn cũng đồng nghĩa với khoản vay của ngân hàng bị rủi ro. Chính vì vậy mà tất cả các chuyên viên tín dụng của SACOMBANK đã xem xét rất cẩn thận đối với các khoản cho vay trước khi trình tiếp lên cấp trên để ký quyết định cấp tín dụng cho từng khách hàng. Trong công tác kiểm soát, hạn chế nguy cơ nợ quá hạn được ngân hàng chú trọng nhất. Chính vì vậy mà ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – Long An đã xuất sắc Chính vì vậy mà ngân hàng Sacom bank-Long An đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ,trong năm 2009 nợ quá hạn là 120 triệu đồng đến năm 2010 Sacombank – CN Long An đã thu nợ được 90 triệu đồng nên nợ quá hạn chỉ còn 30 triệu đồng. Qua chỉ tiêu trên Ngân hàng đã tránh được sự mất vốn, và hơn nữa nó còn làm tăng uy tín của ngân hàng trên thị trường trong nước và quốc tế, góp phần khẳng định năng lực cạnh tranh của Sacombank - Long An trong hệ thống Ngân hàng và ngày càng khẳng định vị trí của Sacombank với khách hàng.Qua đó cho thấy chất lượng tín dụng của SACOMBANK và còn hơn nửa còn làm tăng uy tín của ngân hàng trên thị trường trong nước và quốc tế, góp phần khẳng định năng lực cạnh tranh của SACOMBANK- Long An trong hệ thống ngân hàng và ngày càng khẳng định vị trí của SACOMBANK với khách hàng. Chỉ tiêu doanh số cho vay: Bảng 7: Doanh số cho vay: đvt: tỷđồng. Chỉ tiêu 2009 2010 2010/2009 Số tiền % Số tiền % Số tiền % Theo kỳ hạn Ngắn hạn 762.6 63.55 1,253.375 67.75 490.775 +64.36 Trung dài hạn 437.4 36.45 596.625 32.25 159.225 +36.41 Theo TPKT Doanh nghiệp 699 58.25 1,270.95 68.70 571.95 +81.82 Cá nhân 501 41.75 579.05 31.30 78.05 +15.58 Theo tiền tệ VND 1,145.4 95.45 1,686.275 91.15 540.875 +47.22 Ngoại tệ, vàng 54.6 4.55 163.725 8.85 109.125 +199.86 Tổng 1,200 100 1,850 100 650 +54.17 ( Số liệu do phòng tín dụng ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – Long An cung cấp) Dựa vào bảng phân tích số liệu trên, ta thấy doanh số cho vay năm sau đều tăng hơn năm trước kể cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối. Năm 2010 tăng hơn so với 2009 là 650 tỷđồng (+54.17%). Tuy nhiên, doanh số cho vay đã tăng nhưng SACOMBANK Long An vẫn còn thận trọng trong việc cho vay, không cho vay nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu vay vốn của doanh nghiệp cũng như chưa cho vay hết hạn mức được duyệt. Nhưng cũng chính vì vậy mà NH đã đạt được hiệu quả tốt trong công tác cho vay. Mặc dù xem xét, đánh giá khách hàng cẩn thận nhưng chất lượng tín dụng vẫn được nâng cao. Khi xem xét doanh số cho vay theo kỳ hạn, ta thấy chủ yếu là cho vay ngắn hạn (chiếm từ 63.55 – 67.72%), cho vay trung dài hạn tăng với tỷ lệ đáng kể. Điều này cho thấy ngân hàng vẫn còn thiếu các dự án có khả năng hấp thu vốn lớn, thời hạn cho vay dài. Một nguyên nhân nữa của tình trạng này, đó là do SACOMBANK Long An cho vay đối với các ngành thương mại vẫn chiếm tỷ trọng lớn, cho vay đối với các ngành nghề như công nghiệp chế biến nông lâm nghiệp, thuỷ sản ít hơn. Ngành thương mại là khu vực kinh tế có khả năng sinh lời cao, thời gian thu hồi vốn nhanh; tất nhiên là ở khu vực kinh tế này có chứa đựng rủi ro về mặt giá cả, thị trường. Xem xét doanh số cho vay theo thành phần kinh tế ta thấy doanh số cho vay đối với thành phần cá nhân giảm dần, cho vay đối với doanh nghiệp lại tăng lên cho thấy các DN hoạt động với quy mô cao hơn và có nhiều DN mới ra đời. Kinh tế Long An đã phát triển hơn. Xem xét doanh số cho vay theo ngoại tệ, ta thấy cho vay bằng VND vẫn chiếm tỷ trọng lớn (95.45 - 91.15%). Đó là do hoạt động tín dụng của SACOMBANK Long An còn phụ thuộc vào thị trường khi tỷ giá USD/VND tăng, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhập khẩu nguyên liệu đã chuyển sang vay VND. Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động kinh doanh Tình hình thu nhập năm 2009, 2010 được thể hiện qua bảng số liệu sau: Kết quả kinh doanh của ngân hàng. Bảng 8: Thu nhập – chi phí Đvt: tỷđồng Chỉ tiêu 2009 2010 2010/2009 Số tiền Số tiền Số tiền % Thu nhập 125 135 10 +8 Chi phí 84 90 6 +7.14 Lợi nhuận 41 45 4 +9.76 ( Số liệu do phòng tín dụng ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – Long An cung cấp) Biểu đồ 5: Thu nhập – Chi phí – Lợi nhuận của SACOMBANK. Năm 2009, kết quả kinh doanh của NH đạt 41 tỷ đồng. Trong bối cảnh nền kinh tế đang có nhiều khó khăn, lãi suất biến động phức tạp, ngân hàng nhà nước áp dụng trần lãi suất cho vay của các NHTM trong khi đó chi phí huy động đồng nội tệ đang cao do các ngân hang đang thiếu hụt đồng nội tệ nhưng nhìn vào lợi nhuận mà chi nhánh đã đạt được cho thấy tình hình kinh doanh đang rất khả quan. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện các hoạt động của toàn ngân hàng đòi hỏi nhiều chi phí đầu tư về công nghệ, nhân sự và thời gian để hoạt động tín dụng được vận hành nhanh gọn, trơn tru, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn hoạt động kinh doanh của chi nhánh đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Cụ thể là đến 31/12/2010 lợi nhuận của NH đạt 45 tỷđồng. Chỉ tiêu 2009 2010 Số tiền % Số tiền % Tổng thu nhập 125 100 135 100 Thu lãi cho vay 75 60 87.75 65 Thu phí dịch vụ 50 40 47.25 35 Bảng 9: Thu nhập: đvt: tỷđồng ( Số liệu do phòng tín dụng ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – Long An cung cấp) Qua bảng số liệu trên ta thấy, thu nhập từ hoạt động tín dụng của ngân hàng Sài Gòn Thương Tín Long An còn chiếm tỷ lệ cao hơn và năm sau tăng hơn so với năm trước. Tóm lại , thu nhập từ hoạt động tín dụng tăng. Đó là do SACOMBANK Long An đã có một chính sách tín dụng hợp lý không những thoả mãn nhu cầu của khách hàng mà còn tối đa hoá lợi nhuận của NH. Vấn đề đặt ra là SACOMBANK Long An cần phải mở rộng cho vay hơn nửa nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của DN ngày càng nhiều về chất lượng lẫn số lượng, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Lãi suất đặt ra cho các khoản vay là thu nhập của NH. Ở SACOMBANK đã có một chính sách lãi suất rõ ràng cho các khách hàng DN, khách hàng cá nhân, cho vay bằng VND và ngoại tệ. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn tín dụng Bảng: Hiệu suất sử dụng vốn: Đvt: tỷđồng Dư nợ Năm 2009 Năm 2010 Tổng dư nợ 800 1,300 Tổng huy động vốn 1,410 1,800 Hiệu suất sử dụng vốn 56.74% 72.22% ( Số liệu do phòng tín dụng ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – Long An cung cấp) Qua đó ta thấy, vốn huy động được dùng vào việc cho vay là tương đối. Chưa tận dụng hết nguồn vốn huy động. Như vậy, mặc dù có sự tăng trưởng mạnh mẽ, cơ cấu cho vay bắt đầu có sự chuyển dịch, nhưng tỷ trọng cho vay trên thị trường cấp I (thị trường quan hệ với khách hàng) vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp so với cho vay trên thị trường cấp II (thị trường quan hệ với các tổ chức tín dụng) và chưa tương xứng với tiềm năng hiện có của SACOMBANK Long An. ĐVT: triệu đồng Chỉ tiêu 2009 2010 Doanh số thu nợ 1,025,000 1,650,000 Doanh số cho vay 1,200,000 1,850,000 Tổng dư nợ 800,000 1,300,000 Tổng nợ quá hạn 120 30 Vòng quay vòng tín dụng (vòng) 1.21 1.31 Nợ quá hạn/Tổng dư nợ (%) 0.015 0.0023 Hệ số thu nợ (%) 85.42 89.19 Hệ số thu nợ: Nhìn chung, hệ số thu nợ của tất cả những loại nợ qua các năm ở chi nhánh đều cao trên 85%. Nghĩa là ngân hàng cho vay 100 đồng trong năm thì thu về từ 85 đồng trở lên. Điều đó cho thấy, khả năng thu nợ của chi nhánh ngân hàng trong 2 năm qua là khá tốt, độ an toàn của đồng vốn tương đối cao, công tác thu nợ của chi nhánh đã có sự chuyển biến tốt và mức độ xảy ra rủi ro thấp. Thực chất, khó có thể xác định được hệ số thu nợ bao nhiêu là tốt mà còn tùy thuộc vào những yếu tố khác nữa thì mới có thể đánh giá được hiệu quả và rủi ro tín dụng, vì hệ số thu nợ phản ánh ở tại một thời điểm cụ thể còn doanh số cho vay và doanh số thu nợ là phản ánh cả một thời kỳ hoạt động của ngân hàng. Do đó, để đảm bảo chỉ tiêu hệ số thu nợ tốt không có nghĩa là phải tìm cách làm cho hệ số này càng cao càng tốt, mà phải đảm bảo sự cân bằng về mức độ tăng lên của hệ số và mức độ tăng lên của các doanh số trên khi đến hạn thanh toán. Vì vậy, chúng ta không thể kết luận hiệu quả hoạt động của ngân hàng khi chỉ xét riêng chỉ tiêu này mà phải kết hợp nhiều chỉ tiêu khác để có đánh giá chính xác hơn. Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ Đây là chỉ tiêu quan trọng nói lên chất lượng công tác tín dụng của một ngân hàng, nó phản ánh số nợ quá hạn chưa thu hồi được trong tổng số dư nợ, đồng thời cũng phản ánh khả năng thu hồi vốn của ngân hàng đối với khách hàng. Hiện nay, theo mức độ cho phép của Ngân hàng Nhà nước thì tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ là dưới 5%. Ở đây ngân hàng luôn giữ tỷ lệ này ở mức dưới quy định. Năm 2009 là 0.015%, năm 2010 là 0.0023%. Tỷ lệ năm 2009 tăng cao hơn năm 2010 do nợ quá hạn năm 2009 cao hơn năm 2010 và vấn đề này đã được giải quyết khá tốt trong năm 2010 tỷ lệ nợ quá hạn giảm rất đáng kể. Có được thành quả như vậy phải kể đến sự tích cực trong công tác thu nợ, và các khâu có liên quan như: xét duyệt cho vay đúng đối tượng, công tác thẩm định. Có được thành quả như vậy phải kể đến sự tích cực trong công tác thu nợ, và các khâu có liên quan như: xét duyệt cho vay đúng đối tượng, công tác thẩm định,… Những kết quả đạt được: Mặc dù môi trường trong hoạt động tín dụng của các NHTM còn gặp nhiều khó khăn. Song được sự chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành từ Trung Ương đến địa phương, sự giúp đỡ của các cơ quan và sự nỗ lực của toàn bộ nhân viên trong ngân hàng, SACOMBANK Long An trong hai năm qua đã đạt được những kết quả sau trong hoạt động tín dụng: Một là: Công tác phục vụ khách hàng có nhiều đổi mới thích hợp với nền kinh tế thị trường. Phong cách phục vụ, giao dịch, văn minh lịch sự tạo được ấn tượng, uy tín đối với khách hàng, tăng được số lượng khách hàng, mở rộng thị phần. Hai là: Doanh số cho vay của ngân hàng năm sau luôn cao so với năm trước, quy mô dư nợ không ngừng tăng trưởng. Cơ cấu vay không bó hẹp. Tín dụng ngắn hạn đáp ứng nhanh chóng nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp và cá nhân. Ba là: Công tác kiểm tra, theo dõi dư nợ đã được chú trọng đúng mức. Sau hai năm hoạt động Ngân hàng không có nợ quá hạn. Đó là một thành công lớn cuản Ngân hàng. Bốn là: Ngân hàng đã triển khai công tác tiếp cận doanh nghiệp, hướng dẫn DN lập hồ sơ vay vốn hợp lý, đúng quy định nhằm tạo điều kiện cho DN hoàn thành các thủ tục xin vay nhanh chóng và thuận lợi. Ngân hàng từng bước gắn mình với DN qua vai trò tư vấn. Năm là: Trong quá trình cho vay, ngân hàng đã thực hiện việc kiểm tra khách hàng trước, trong và sau khi cho vay. Ngoài ra, Ngân hàng còn xem xét các vấn đề thị trường, sản phẩm tiêu thụ, thu nhập,… của khách hàng trong phạm vi cho phép. Sáu là: Ngân hàng đã lựa chọn những cán bộ có đủ tài năng, có trách nhiệm và nhiệt tình công tác tại phòng tín dụng, tạo điều kiện giúp đỡ các DN làm ăn có hiệu quả. Những tồn tại cần khắc phục. Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín Long An là một ngân hàng có chất lượng tín dụng khá tốt. SACOMBANK đã tự xây dựng cho mình một mục tiêu để phấn đấu làm sao ngày càng hoàn thiện và vững mạnh hơn. Nhìn chung, tình hình hoạt động và chất lượng của SACOMBANK rất tốt và không có tồn tại khuyết điểm. Tuy nhiên trong hoạt động tín dụng của ngân hàng còn một vài hạn chế. Vì vậy, SACOMBANK Long An cần các biện pháp nhằm duy trì các chỉ tiêu đồng thời xử lý những chỉ tiêu hạn chế để nâng cao hơn nửa chất lượng tín dụng của mình trong giai đoạn tới. Những hạn chế đó là: Thứ nhất: Nguồn thông tin mà ngân hàng cần để đánh giá, phân tích còn thiếu, không kịp thời và chất lượng không cao. Vì vậy, cán bộ tín dụng thường phải mất nhiều thời gian và công sức để tự đi điều tra. Thứ hai: Công tác Marketing ngân hàng tuy bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định nhưng so với yêu cầu còn có những hạn chế, điều này ít nhiều cũng hạn chế tăng trưởng dư nợ. Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại về mặt chất lượng: Những hạn chế tên đây về chất lượng tín dụng của ngân hàng Sài Gòn Thương Tín Long An do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan gây ra. Thứ nhất: Nguyên nhân từ phía ngân hàng. Xét về quy trình tín dụng: nhân viên NH tuy đều được phổ biến một cách cụ thể về quy trình tín dụng nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn một số hạn chế nhất định. Công tác thu thập thông tin thường dựa vào số liệu do khách hàng cung cấp và cũng có tham khảo thêm một số thông tin thu thập từ bên ngoài. Nhưng nhiều khi công tác này chưa tốt, dẫn đến việc đánh giá không đúng hiệu quả của dự án cũng như khả năng thực tế của khách hàng. Thứ hai: Nguyên nhân từ phía khách hàng. Do trình độ quản lý và kinh doanh của các DN còn hạn chế nên thường thua thiệt trong kinh doanh, làm thất thoát vốn và những chi phí không cần thiết dẫn đến không đủ sức đứng vững trong sự cạnh tranh găy gắt của nền kinh tế thị trường. Khách hàng cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh, về tài chính không đầy đủ, nếu có thì không kịp thời và sai lệch so với thực tế. Điều này gây khó khăn cho công tác kiểm tra, kiểm soát của ngân hàng. Vốn tự có của các DN thấp. Do không đáp ứng đủ các điều kiện về vốn tự có, về tài sản thế chấp, về tính khả thi của dự án nên không đủ điều kiện để NH có thể cho vay. Thứ ba: Nguyên nhân khác. Sự không ổn định của môi trường kinh tế trong nước và trên thế giới đã ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam. Đặc biệt là thị trường xuất khẩu (nhất là giá một số mặt hàng nông sản giảm mạnh), sự cắt giảm liên tục lãi suất ngoại tệ trên thị trường quốc tế, đã ảnh hưởng mạnh đến hoạt động của các DN, đặc biệt là các DN kinh doanh các mặt hàng Sài Gòn Thương Tín như lúa gạo, điều,… Những phân tích về thực trạng chất lượng tín dụng là NH trong thời gian qua cho thấy những kết quả đạt được và những hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng. Qua đó cũng khẳng định được vai trò, những đóng góp quan trọng của SACOMBANK Long An trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế để phát huy những kết quả đạt được và khắc phục những hạn chế trong hoạt động tín dụng. 2.2.5. Thuận lợi và khó khăn trong hoạt động cấp tín dụng tại SACOMBANK Long An. 2.2.5.1. Thuận lợi: - Qua hơn một năm hoạt động, SACOMBANK Long An đã nắm vững đặc điểm địa bàn, tạo mối quan hệ thân thiết với chính quyền địa phương, xây dựng quan hệ khách hàng ổn định làm cơ sở để phát triển thêm khách hàng mới. Uy tín và thương hiệu SACOMBANK đã dần dần khẳng định trên địa bàn, xoá sự nghi ngờ của người dân địa phương trước đây vốn chỉ quen giao dịch với hệ thống ngân hàng quốc doanh. - Chi nhánh có đội ngũ cán bộ nhân viên trẻ, năng động, nhiệt tình, phục vụ khách hàng tận tình chu đáo, luôn luôn theo sát từng hoạt động kinh doanh của khách hàng cùng với sự hỗ trợ tư vấn tích cực. - Các sản phẩm tín dụng đối với DN và Cá nhân rất đa dạng và phong phú với các nhu cầu của khách hàng như vậy thì NH có thể đáp ứng được các nhu cầu và mong muốn đa dạng của khách hàng. - Cán bộ công nhân viên thì rất nhiệt tình, vui vẻ, niềm nở và năng động. Đảm bảo đáp ứng kịp thời những mong muốn cũng như giải đáp những thắc mắc cho khách hàng nhanh chóng. - Phòng tín dụng luôn được sự hỗ trợ nhiệt tình từ ban giám đốc cũng như các phòng ban khác trong chi nhánh. Đó là sự phối hợp nhịp nhàng của toàn bộ máy SACOMBANK giúp cho ngân hàng ngày một phát triển hơn. - Chi nhánh nằm tại vị trí rất thuận lợi cho hoạt động kinh doanh. 2.2.5.2. Khó khăn: Từ phía ngân hàng: - Mặc dù cán bộ tín dụng làm việc rất tích cực nhưng số lượng người vẫn còn ít trong khi công việc thì quá nhiều, chính vì thế trong quá trình làm việc không tránh khỏi những sai sót. - Trong thời gian ngắn ngủi có không ít các chi nhánh của các ngân hàng lần lượt mọc lên với những cơ sở hạ tầng và trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. Vì thế sự cạnh tranh ngày càng gay ngắt. - Nền kinh tế suy thoái nghiêm trọng , chính sách lãi suất của NHNN cũng điều chỉnh liên tục làm cho hoạt động tín dụng bị trì trệ, điều này ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh của chi nhánh. Từ môi trường bên ngoài: - Hệ thống thông tin tín dụng không đầy đủ. Chi nhánh lấy thông tin từ trung tâm thông tin tín dụng CIC, tuy nhiên thông tin này cũng không phải hoàn toàn chính xác, bên cạnh đó số liệu cung cấp có thời điểm rất xa so với thực tế. Nguồn thông tin thì chưa đi sâu đối với từng KH. Thiếu các trung tâm thông tin dữ liệu khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa khi CIC mới chỉ cung cấp thông tin về doanh nghiệp, khiến ngân hàng không có cơ sở để đánh giá mức độ an toàn và rủi ro đối với khách hàng cá nhân vay vốn của mình, những điều này gây không ít khó khăn cho CBTD để đưa ra quyết định đúng đắn trong việc cho vay. - Vướng mắc từ các văn bản pháp luật. Hiện nay các văn bản pháp luật nước ta về hoạt động của ngân hàng có những chỗ chồng chéo và mâu thuẫn với nhau. Điều này gấy không ít khó khăn cho CBTD cũng như KH, làm cho thủ tục trở nên rườm rà. CHƯƠNG 3 CÁC KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI SACOMBANK LONG AN. 3.1. CÁC KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI SACOMBANK . Theo dự báo, nền kinh tế thế giới 2011 chỉ đang bước đầu hồi phục, song vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Đối với nền kinh tế trong nước, bên cạnh những hạn chế nội tại của nền kinh tế, cuộc khủng hoản cũng sẽ tác động, ảnh hưởng không ít đến nhiều ngành nghề, nhiều khách hàng liên quan đến hoạt động tài chính của các NHTM, SACOMBANK cũng không ngoại lệ. Trước tiên SACOMBANK phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa củng cố và phát triển, đảm bảo hài hoà giữa hai mục tiêu an toàn và hiệu quả. Phát huy, cải thiện năng lực quản trị điều hành. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hoàn thiện công nghệ ngân hàng và tiếp tục mở rộng mạng lưới trọng điểm để chiếm lĩnh thị trường, tăng thị phần, triển khai bán chéo sản phẩm dịch vụ mới và nâng cao nămg lực quản lý rủi ro. Tình hình cho vay đang ở mức tăng trưởng, tuy nhiên năng lực của chi nhánh Long An còn có thể vượt xa hơn và để đạt sự tăng trưởng vượt bậc này, theo em ngoài việc tiếp tục duy trì, phát huy các mặt tích cực hiện tại, chi nhánh nên áp dụng một số biện pháp sau: 3.1.1. Đối với Sacombank Long An: 3.1.1.1. Marketing: Khâu đầu tiên nhưng lại có ý nghĩa quyết định nhất định trong việc mở rộng tín dụng tại chi nhánh Long An là khâu tiếp thị, hiện tại trên địa bàn TP. Tân An, và tỉnh Long An có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh cá nhân, hộ gia đình và hiện nay trên địa bàn TP Tân An có nhiều ngân hàng đang hoạt động. Vì vậy, chúng ta cần hết sức chủ động trong công tác tiếp thị, không nên ngồi chờ khách hàng đến xin cấp tín dụng mà phải năng động giới thiệu sản phẩm của ngân hàng, thực hiện bán chéo sản phẩm khác, phát huy mọi khả năng và tiềm lực để lôi kéo, thu hút khách hàng về phía ngân hàng, giao dịch với ngân hàng. Để làm tốt công tác tiếp thị chúng ta cần có một số kênh như sau: Thực hiện khảo sát, tìm hiểu và đến tận địa điểm sản xuất kinh doanh của khách hàng thăm hỏi, tiếp thị các sản phẩm của Ngân hàng. Ta nên lưu ý là phải tạo lòng tin của khách hàng vào sản phẩm, không tiếp thị một cách sáo rỗng, lời lẽ trao đổi phải cố gắng tạo sự gần gũi, thân mật, đặc biệt là phải tạo cảm giác đơn giản và nhanh chóng đối với khách hàng về hồ sơ vay vốn. Khi khách hàng thắc mắc về hồ sơ, thủ tục cấp tín dụng thì nhân viên quan hệ khách hàng phải cố gắng tư vấn, hướng dẫn chi tiết, rõ ràng, tránh sự thiếu sót gây phiền hà cho khách hàng. Việc bán cheo sản phẩm từ việc khai thác khách hàng cá nhân là thị trường tiềm năng. Đặc biệt là khách hàng sản xuất kinh doanh, doanh số chuyển tiền là rất cao do có nhiều đối tác trong tỉnh và các tỉnh khác. Ngân hàng ra sức quảng bá hình ảnh của minh bằng lãi suất cạnh tranh, năng suất lao độn, cung cách phục vụ, kỹ thuật nghiệp vụ, công nghệ hiện đại… qua mạng lưới chi nhánh, qua các phương tiện thông tin đại chúng nhằm tìm kiếm và thu hút khách hàng. Nhờ đó Ngân hàng có nhiều cơ hội lựa chọn danh mục đầu tư đúng đắn mà hạn chế đánh đổi lấy rủi ro vì mục tiêu lợi nhuận. Cần phải đặt thêm hình ảnh, thương hiệu của SACOMBANK ở nhiều nơi trong tỉnh. Nếu như lực lượng tiếp thị còn hạn chế thì việc phát tờ rơi đến các của hàng trong TP Tân An là việc làm hiệu quả nhất. Đẩy mạnh tiếp thị lại các tổ chức lớn, các tổ chức này có số lượng thành viên tương đối nhiều, mức thu nhập ổn định, từ đó ngân hàng sẽ có được cả khách hàng DN và khai thác thêm khách hàng cá nhân tại DN đó. Nên tổ chức những buổi họp mặt tại chi nhánh để trao đổi kinh nghiệm trong công tác tiếp thị cũng như các biện pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng. Theo dõi kịp thời tình hình lãi suất của các ngân hàng cạnh tranh trên địa bàn hoạt động của chi nhánh. Từ đó nêu ra kiến nghị nhằm có chính sách điều chỉnh kịp thời, phù hợp nhằm đảm bảo tính cạnh tranh và phát triển của SACOMBANK. Việc tiếp thị, tìm kiếm khách hàng vốn đã khó, nhưng việc chăm sóc và duy trì khách hàng lại càng khó hơn, nhất là trong tình hình cạnh tranh như hiện nay. Vì vậy, Chi nhánh Long An nên tăng cường hơn nửa công tác chăm sóc khách hàng. Nếu ta làm tốt công tác này thì công thác tiếp thị sẽ tăng theo cấp số nhân thông qua việc các khách hàng truyền miệng, giới thiệu nhau về sản phẩm tiện ích của SACOMBANK. 3.1.1.2. Tăng cường hoạt động huy động vốn. Đối với một NHTM trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, việc huy động vốn là một vấn đề hết sức cần thiết bởi Ngân hàng cần phải có vốn tín dụng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tiền tệ tìm kiếm lợi nhuận đồng thời thoả mãn nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Nhu cầu về vốn của xã hội ngày càng tăng khi xã hội ngày càng phát triển. Do vậy, để đáp ứng được nhu cầu đó thì ngân hàng cần phải có được một nguồn vốn huy động ngày càng tăng về mặt số lượng. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh quyết liệt thì ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – Long An phải có một phương sách huy động vốn thích hợp nhất. Một cơ chế lãi suất hợp lý sẽ là một cơ hội để huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nhằm kích thích sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển. Áp dụng các hình thức huy động đa dạng hơn để phù hợp với từng khách hàng từ trẻ đến già, từ mọi thành phần kinh tế. Chẳng hạn, với những khoản tiền lớn sẽ có người đến tận nhà, cơ quan,… để nhận. Ngân hàng cần phải mở rộng mạng lưới giao dịch. Tuy nhiên, phải trên cơ sở các mạng lưới cũ đã hoạt động hết công suất và đã được nâng cấp về mặt hình thức cũng như về mặt chất lượng. Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá nên lượng vốn để đáp ứng nhu cầu đó chưa thể đủ và sẽ còn đòi hỏi rất nhiều. Muốn đáp ứng nổi nhu cầu về vốn dài hạn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường thì ngân hàng sử dụng một tỷ lệ nhất định vốn vay ngắn hạn để cho vay dài hạn. Nhưng kể cả việc làm đó cũng chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu vay vốn dài hạn. Chính vì vậy, SACOMBANK Long An cần phải huy động được nguồn vốn trung, dài hạn nhiều hơn nửa để tài trợ cho các dự án vay dài hạn. 3.1.1.3. Đơn giản hoá các thủ tục cho vay. SACOMBANK Long An nên đơn giản hoá các thủ tục xin vay vốn, đẩy mạnh quá trình điều tra xét duyệt cho đối với các dự án có hiệu quả. Nhìn chung, khách hàng đi vay vốn bao giờ cũng ngại thủ tục xét duyệt cho vay quá nhiều. Việc đơn giản hoá như vậy sẽ làm khách hàng không ngần ngại khi đặt quan hệ vay vốn với ngân hàng. Việc các thủ tục xét duyệt đơn giản cũng sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng điều tra có trọng điểm, không mất thời gian tìm hiểu quá lâu. Đơn giản không có nghĩa là qua loa, hời hợt đó là nguyên tắc của ngân hàng trước khi điều tra cho vay. 3.1.1.4. Xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Mối quan hệ lâu dài với khách hàng giúp Ngân hàng giảm thiểu một cách đáng kể chi phí thu thập thông tin, đánh giá tiềm năng và rủi ro của khách hàng và việc phân loại khách hàng theo rủi ro tín dụng cũng dể dàng hơn. Nhờ mối quan hệ lâu dài với ngân hàng, khách hàng được hưởng lãi suất vay ưu đãi, thủ tục đơn giản và thuận tiện, trị giá món vay có thể lớn hơn khách hàng thông thường. 3.1.1.5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hoàn thiện quy trình nghiệp vụ cho vay. Để đáp dụng một quy trình tín dụng hoàn thiện và khoa học thì trước hết ngân hàng cần phải có một cơ cấu quản lý chặt chẽ, đồng bộ. Xây dựng một tập thể cán bộ đoàn kết, mọi người phải năng nổ, sáng tạo, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình trong công việc. Công tác nâng cao và phát triển nguồn nhân lực tại ngân hàng hiện tại khá tốt, cần tiếp tục duy trì và phát huy. Hơn nửa, phải đảm bảo cho nhân viên được hưởng đầy đủ quyền lợi đúng quy định. Tuyển dụng lao động có trình độ cao để tăng cường nơi thiếu, trẻ hoá dần bộ phận nhân viên nghiệp vụ, xây dựng lực lượng kế thừa cho cán bộ quản lý. Với hệ thống trang thiết bị hiện có của Chi nhánh, nên mua sắm hơn nữa những máy móc hiện đại, đổi mới công nghệ để đáp ứng yêu cầu nhanh chóng, cải tiến kỹ thuật trong xu hướng chung của xã hội. Nếu áp dụng cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ hay cá nhân sản xuất kinh doanh cần phải xác định mức rủi ro thấp nhất cho khoản tín dụng đó. Do vậy ngân hàng cần mạnh dạn phân công trách nhiệm tới cán bộ tín dụng. Mức quy định cụ thể tuỳ thuộc tính chất đối tượng món vay. Đối với khách hàng đã có quan hệ tín dụng lâu dài, tình hình kinh doanh tốt Ngân hàng có thể mạng dạn nâng cao dư nợ. Tuy nhiên, với những đối tượng không có tính minh bạch cao. Đòi hỏi người làm công tác thẩm định phải thật sự giỏi, kỷ lưỡng, tính quan sát cao, tinh vi hơn trong các thủ thuật khai thác thông tin khách hàng. 3.1.1.6. Đa dạng hoá khách hàng và lĩnh vực cho vay. Nói một cách tổng quát, để giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh cần đa dạng hoá các sản phẩm. Chẳng hạn, kinh doanh chứng khoán ta cần đa dạng hoá danh mục đầu tư. Ngân hàng cũng vậy, muốn giảm rủi ro ngân hàng không nên chỉ tập trung quá lớn vào một đối tượng khách hàng nhất định hay một ngành nghề kinh doanh nhất định nào đó. Cụ thể tại SACOMBANK, có thể nói cho vay DN vừa và nhỏ là một lợi thế lớn, tuy nhiên NH cũng nên phát triển cho vay cả DN lớn hoạt động ổn định, phát triển cho vay khách hàng cá nhân nhằm phân tán rủi ro. Bên cạnh đó, NH cũng không nên chỉ tập trung vào thương mại và sản xuất chế biến mà nên mở đường cho vay các lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp hay xây dựng. Điều này sẽ hạn chế được tổn thất cho NH nếu như có khủng hoản một ngành kinh tế nào đó xảy ra. Tuy nhiên, đa dạng hoá không đồng nghĩa với việc phức tạp hoá, điều đó dẫn đến nguy cơ rất khó quản lý cho NH. Việc mở rộng đối tượng KH hay ngành nghề cho vay cũng trên cơ sở thận trọng và có chọn lọc, hạn chế việc mở rộng cho vay các đối tượng có rủi ro cao và những ngành nghề kinh doanh tiềm ẩn tính bất ổn cao trong thị trường. Vì vậy sẽ dẫn đến các tác động ngược chiều trong quá trình quản trị rủi ro tín dụng. 3.1.1.7. Nâng cao trình độ nhân viên. Nền kinh tế Việt Nam đã thực sự hoà mình vào dòng chảy nền kinh tế thị trường, vì vậy vấn đề vốn cho DN là hết sức quan trọng trong việc mở rộng kinh doanh hay nói cách khác về khả năng cạnh tranh mang tính cấp thiết, mà nhu cầu vốn được đáp ứng kịp thời đó chính là vay tại các NH, đó cũng là lý do để NH trong những năm gần đây phát triển mạnh hơn. Hệ thống NH phát triển với số lượng ngày càng tăng, vấn đề cạnh tranh giữa các NH không thua kém các DN sản xuất, để có thể đứng vững và lớn mạnh đòi hỏi vốn kinh doanh phải lớn, đội ngũ nhân viên có năng lực, sáng tạo trong công việc hơn hẳng các NH khác để thu hút khách hàng. Để thực hiện điều này đòi hỏi NH phải: Đào tạo và đào tạo lại trình độ của nhân viên NH. Ngoài chuyên môn nghiệp vụ NH, cần bổ sung thêm kiến thức về các lĩnh vực kinh doanh khác để phục vụ công tác thẩm định khách hàng trước khi quyết định cho vay vốn. Tạo cơ hội cho nhân viên tiếp xúc, trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp trong và ngoài đơn vị công tác. Tạo cơ hội để họ phát huy hết khả năng tiềm ẩn của mình. Bên cạnh cần nâng cao nhận thức về đạo đức nghề nghiệp cho nhân viên để họ nhận thức nhiều hơn nữa về điều này và đây chính là biện pháp hữu hiệu nhất để thu hút khách hàng. 3.1.1.8. Tăng cường công tác kiểm soát nội bộ. Để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng NH không chỉ quan tâm đến mở rộng hoạt động tín dụng mà còn phải quan tâm tới công tác kiểm tra kiểm soát dư nợ nhằm hạn chế nợ quá hạn. Công tác kiểm tra, kiểm soát được đề cập không chi đơn thuần nhằm kiểm tra khách hàng, mà quan trọng hơn là phải kiểm tra, giám sát việc làm của cán bộ tín dụng nhằm giúp cho họ tuân thủ đầy đủ theo đúng quy trình, quy chế nghiệp vụ, đảm bảo kinh doanh an toàn, hiệu quả và đúng pháp luật. 3.1.2. Đối với NHNN. Thứ nhất: Cần nâng cao chất lượng công tác thông tin tín dụng. NHTM khi cho bất cứ một khách hàng nào vay thì điều cần phải có thông tin về khách hàng đó để có quyết định cho vay đúng đắn. Hoạt động tín dụng muốn đạt hiệu quả cao, an toàn cần phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ công tác này. Nhận thức rõ vai trò và yêu cầu thông tin phục vụ công tác tín dụng và kinh doanh Ngân hàng, ban lãnh đạo NHNN đã sớm chủ trương xây dựng hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro tín dụng mà sau này đã trở thành hệ thống thông tin tín dụng (gọi tắc là CIC) của ngân hàng. Hệ thống CIC đã phần nào cải thiện tình trạng thiếu thông tin tín dụng phục vụ công tác cho vay của các NHTM và tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, do mới được thành lập, còn đang trong giai đoạn củng cố và hoàn thành nên CIC vẫn còn phải đương đầu với nhiều khó khăn trong việc thu thập và xử lý thông tin. Việc thu nhập và cập nhật các thông tin biến động của CIC thực hiện vẫn chưa có hiệu quả. Chính vì vậy, NHNN cần có giải pháp để hoạt động của trung tâm này phát huy hiệu quả. Thứ hai: Ngân hàng Nhà nước cần hoàn thiện các quy chế, quy định và môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng NHNN cần đưa ra những quy định cụ thể, rõ ràng về việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro, các mức trích lập cũng như danh mục nội dung cần trích lập để các TCTD chủ động trong vấn đề giải quyết các khoản nợ có vấn đề của mình. Về cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động tín dụng. Nhìn chung hệ thống văn bản pháp quy của NHNN về hoạt động tín dụng đã có nhiều điểm mới, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các NHTM, tháo gỡ phần nào khó khăn vướng mắt cho các NHTM trong quá trình làm thủ tục thế chấp, cầm cố, bảo lãnh tài sản cho vay và xử lý tài sản để thu nợ. Việc không ngừng hoàn thiện các văn bản pháp luật nói trên đã tạo điều kiện cho các NHTM mở rộng hoạt động tín dụng có hiệu quả, tiết kiệm chi phí. Bên cạnh đó, các văn bản liên quan đến cơ chế tín dụng còn quá nhiều, ngoài cơ chế cho vay của NHNN còn nhiều công văn, quyết định, thông tư, chỉ thị của các cấp, các ngành có liên quan chỉ đạo cho từng ngành nghề như: nuôi trồng thuỷ sản, lâm nghiệp, mía đường… Mỗi ngành nghề được thêm bớt một số điều kiện khi cho vay phải tham chiếu nhiều văn bản. NHNN cần có biện pháp cơ cấu lại hệ thống văn bản pháp luật nhằm đáp ứng hoạt động tín dụng thực hiện một cách khoa học nhanh chóng an toàn. 3.1.3. Đối với SACOMBANK. Ngân hàng cần tạo lập, huy động vốn để đáp ứng nhu cầu vay vốn ngày càng tăng của các tầng lớp dân cư và các TCTD. Ngân hàng cần tiếp tục đẩy mạnh huy động vốn từ mọi tầng lớp dân cư. Tập trung và huy động nguồn vốn ngắn hạn thông qua tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán của các cá nhân và các thành phần kinh tế vì đây là nguồn vốn có chi phí sử dụng vốn (lãi suất thấp). Lượng vốn ngắn hạn rất dồi dào trong dân chúng. Thu hút thêm nguồn vốn huy động trung và dài hạn, mảng này vẫn còn yếu tại SACOMBANK. Cần nâng cao công tác huy động đối với nguồn vốn trung dài hạn để phục vụ cho công tác tín dụng. Đa dạng hoá các hình thức cho vay nhằm mở rộng quy mô của hoạt động tín dụng đến với mọi tầng lớp dân cư và tổ chức kinh tế. Đáp ứng tốt nhu cầu của những nhóm khách hàng. Ngân hàng cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Vì nguồn nhân lực có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả hoạt động của Ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Thường xuyên nâng cao chất lượng, trình độ của các cán bộ tín dụng thông qua những khoá đào tạo nghiệp vụ. Để từ đó giúp cán bộ tín dụng có thể nâng cao chất lượng của từng bộ hồ sơ cho vay vốn. Nâng cao năng lực cán bộ quản trị và tác nghiệp trong lĩnh vực tín dụng. Đưa ra chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ và đề bạt thích hợp với các yêu cầu và trách nhiệm công việc. Thường xuyên tổ chức và phối hợp với các Ngân hàng nước ngoài các lớp học, tập huấn, đào tạo và đào tạo lại để cập nhật kiến thức ngân hàng thời kỳ kinh tế thị trường phát triển, tăng cường kỹ năng cho cán bộ quản trị và cán bộ tín dụng. Đưa vào sử dụng mô hình, phần miềm hiện đại phục vụ việc phân tích mức để rủi ro của khách hàng, định giá khoản vay, định giá tài sản thế chấp và quản trị danh mục cho vay. Ngân hàng cần phải phòng ngừa rủi ro ngay từ khâu xét duyệt cho vay vốn. Nếu quy trình này thực hiện tốt sẽ giúp cho ngân hàng giảm thiểu được những rủi ro tín dụng. Đây là giai đoạn phát hiện và loại bỏ những rủi ro tiềm tàng giúp hoạt động tín dụng phát triển tốt và có hiệu quả cao, an toàn cho nguồn vốn của ngân hàng. KẾT LUẬN ---—{–--- Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản và hàng đầu của các NHTM. Là trợ thủ đắc lực về vốn cho nhu cẩu sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp, Tổ chức. Hoạt kinh doanh của ngân hàng muốn tăng trưởng và phát triển thì phải không ngừng cải tiến chất lượng hoạt động dịch vụ, mở rộng mạng lưới hoạt động, vốn điều lệ và cả về lực lượng nhân sự. Tìm các biện pháp nhằm khai thác một cách triệt để các nguồn năng lực, các cơ hội làm cho sảm phẩm của ngân hàng được gần gũi và tiện lợi nhất đối với khách hàng, đặc biệt là khách hàng Doanh nghiệp, do đặc thù của khách hàng Doanh nghiệp là tính đa dạng trong nhu cầu. Bên cạnh đó ngân hàng vẫn phải cân nhắc tính an toàn trong hoạt động tín dụng, vì vậy cần chú trọng hơn nữa trong công tác tín dụng để có chiến lược chính sách phù hợp hạn chế tối đa rủi ro. Cho đến nay trong công tác hoạt động tín dụng hoạt động tín dụng đối với các Doanh nghiệp, ngân hàng Sài Gòn Thương Tín – CN Long An đã đạt được một số thành tựu đáng kể tuy rằng không phải là không còn hạn chế. Trong tương lai ngân hàng sẽ vẫn duy trì và phát triển hơn nửa những thành quả đó, góp phần cấp vốn một cách có hiệu quả cho kinh tế Long An nói riêng và cả nước nói chung. Trên cơ sở những thuận lợi trên, song còn những tồn tại khó khăn không chỉ do Chi nhánh mà còn liên quan đến nhiều cấp, ngành. Xuất phát từ tình hình đó em xin nêu ra một số kiến nghị mong muốn sẽ góp phần giải quyết những vấn đề đang đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại SACOMBANK Long An. Tuy nhiên đây là một đề tài nghiên cứu rộng và phức tạp, mặt khác bản thân em còn nhiều hạn chế về lý luận cũng như thực tế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo. Em xin chân thành cám ơn cô giáo – Thạc sỹ Nguyễn Thị Trúc Hương, các thầy cô trong khoa tài chính ngân hàng cùng toàn thể ban lãnh đạo, các cán bộ tại ngân hàng Sài Gòn Thương Tín Long An đã tạo điều kiện, giúp đỡ em hoàn thành báo cáo này. MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín - CN Long An.doc
Luận văn liên quan