Đề tài Nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta - Đặc điểm và xu hướng phát triển

Chương trình tín dụng nông thôn của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam. - Chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn. - Chương trình của các tổ chức quần chúng và phi chính phủ thực hiện với nguồn vốn tự có hoặc với sự tài trợ của các tổ chức quốc tế nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho các thành viên của mình. - Chương trình hỗ trợ trồng rừng của Chương trình lương thực thế giới (WFP) - Chương trình tái hòa nhập người tỵ nạn do EU tài trợ trên địa bàn 21 tỉnh với tổng số vốn trên 30 triệu USD. - Chương trình hỗ trợ tín dụng và tạo việc làm cho những người lao động ở Tiệp Khắc và CHLB Đức trở về do chính phủ của những nước trên tài trợ

pdf155 trang | Chia sẻ: ngoctoan84 | Ngày: 17/04/2019 | Lượt xem: 135 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta - Đặc điểm và xu hướng phát triển, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
c chính sách đối với nông thôn và nông dân. Tăng cường xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Cần đổi mới tổ chức và hoạt động của các đoàn thể nhân dân ở nông thôn, cần phải đổi mới đồng bộ từ hệ thống tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động và công tác cán bộ. Đây là vấn đề cần đặc biệt quan tâm ở nông thôn hiện nay. Thực hiện dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội nông thôn, quan trọng nhất là dân chủ về kinh tế nhằm phát triển NNL nông thôn. Dân chủ hóa là sự vận động của xã hội đến dân chủ. Đó là quá trình hiện thực hóa tư tưởng, đưa các giá trị dân chủ vào cuộc sống. Đồng thời là quá trình phát huy quyền làm chủ của con người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Dân chủ hóa ở nước ta có nội dung toàn diện và phát triển cùng với sự phát triển của công cuộc đổi mới đất nước. Đổi mới về kinh tế phải đồng thời đi liền với dân chủ hóa về kinh tế và dân chủ hóa về chính trị, nhằm phát huy tính chủ động, tích cực sáng tạo của đông đảo nhân dân trong đời sống chính trị - xã hội. Dân chủ hóa trên lĩnh vực văn hóa - tinh thần nhằm thực hiện tự do tư tưởng và tự do sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội. Như vậy, dân chủ hóa chính là quá trình đưa các giá trị dân chủ vào kinh tế, chính trị và văn hóa- tinh thần trong cuộc sống của nhân dân nhằm tạo điều kiện, môi trường phát triển chất lượng con người, chất lượng NNL nông thôn. ĐÈy mạnh dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội nông thôn nhằm góp phần hình thành ý thức dân chủ và những năng lực thực hành dân chủ của người lao động nông thôn. Trong đó, công bằng xã hội, trước hết và chủ yếu là công bằng về lợi ích, là trung tâm của các chính sách xã hội nông thôn- đó là sự công bằng giữa nghĩa vụ và quyền lợi của nông dân. Nghị định số 29 của Chính phủ tháng 5-1998 về Dân chủ ở cơ sở là một bước tiến quan trọng tạo nên sự điều hành của Nhà nước tốt hơn ở cấp cơ sở. Nghị định về dân chủ ở cơ sở là một bước tiến quan trọng cho phép người dân được tham gia trực tiếp vào quá trình 128 ra quyết định tại cơ sở cũng như nâng cao tính minh bạch, tính trách nhiệm cao ở xã nhằm giám sát các chương trình, dự án của địa phương. Nghị định này đặt trọng tâm vào bốn mục tiêu có sự tham gia của nhân dân: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Để phát triển NNL nông thôn hiện nay việc thực hiện Nghị định này cần phải được tiến hành và thực hiện nghiêm túc ở nông thôn nước ta. 3.3.2. Nhóm giải pháp về văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho phát triển nguồn nhân lực nông thôn Ngày nay, văn hóa được coi là động lực và mục tiêu quan trọng của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BCH TW Đảng khóa VII đã chỉ rõ: Văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội, một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, một lần nữa Đảng ta khẳng định: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội" [15, tr. 111]. Hoạt động văn hóa có vị trí rất quan trọng trong việc nâng cao trình độ văn hóa, nâng cao thể lực, hình thành nhân cách, tạo nên những quan hệ xã hội tốt đẹp. Văn hóa có ảnh hưởng to lớn đến tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống của con người, nó có vai trò cực kỳ quan trọng trong phát triển NNL. Văn hóa là nhân tố không thể thiếu trong quá trình hình thành, phát triển nhân cách của người lao động. Trong quá trình Êy, văn hóa đã tham dự và để lại những dấu Ên quan trọng trên diện mạo nhân cách của mỗi cá nhân, nó là cơ sở để phát huy tính năng động, tích cực và sáng tạo của người lao động. Với vai trò và ý nghĩa nhân văn sâu sắc, văn hóa đã khơi dậy những tiềm năng trí tuệ to lớn và khả năng sáng tạo của người lao động trong hành động và tư duy, trong điều chỉnh và hình thành nhân cách. "Nhân cách của một người như thế nào, điều đó tùy thuộc vào khả năng và mức độ mà người đó tiếp nhận những tác động văn hóa của xã hội thông qua sự luyện tập văn hóa của cá nhân trong lao động, học tập và trong giao tiếp xã hội" [5, tr. 3-5] Với tư cách là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, văn hóa lại tác động trực tiếp tới sự phát triển, hoàn thiện con người. Văn hóa đưa giá trị con người lên vị trí cao nhất trong hệ giá trị của xã hội, con người là giá trị của mọi giá trị. Chính nhờ có văn hóa mà con người trở thành những "sinh vật văn hóa", nhân bản, có lý tính và biết vượt lên những ràng buộc của hoàn cảnh và bản thân để phát triển. Môi trường xã hội- văn hóa lành mạnh sẽ chắp cánh cho sự sáng tạo, ngược lại sự thiếu hụt văn hóa, hoặc sự cằn cỗi, nghèo nàn về văn hóa tinh thần sẽ làm thui chột, méo mó 129 con người, thậm chí làm biến dạng nó trong lèi sống, hành vi, tính cách, tâm hồn như là những phản văn hóa. Những hiện tượng sa sút đạo đức và kỷ cương, sự lãng phí tài nguyên và tàn phá môi trường, sự lạc hậu, mê tín dị đoan... đều có nguyên nhân từ sự yếu kém văn hóa. Thiếu văn hóa, con người sẽ không xét đoán được giá trị và không thực hiện được giá trị nào cả. Trong tiềm năng sáng tạo của con người đều có ý nghĩa văn hóa, văn hóa trong trí tuệ, đạo đức, lối sống của mỗi cá nhân và cộng đồng. Mặt khác, văn hóa nằm chính trong lòng sự phát triển. Nó là dòng chảy liên tục, luôn được bồi đắp bằng sinh khí của thời đại, bằng kinh nghiệm sống và sức sáng tạo của các thế hệ, mà trong đó, nông thôn đóng một phần không nhỏ, làm phong phú thêm sự giàu có của văn hóa. Vấn đề đặt ra hiện nay, trong thời đại ngày nay, nhất là trong bối cảnh nước ta, một nước chậm phát triển đang phấn đấu xây dựng xã hội có văn hóa cao theo định hướng XHCN, làm cho quan điểm xem văn hóa là mục tiêu và động lực của sự phát triển thấm dần từng bước vào đời sống của mọi người, mọi ngành, mọi địa phương. Cần phải hiểu rằng ở đâu có yêu cầu phát triển thì ở đó có yêu cầu văn hóa. Chỉ có văn hóa mới tạo ra nhận thức đúng đắn cho sự phát triển, mới giúp cho phát triển những nền nếp, kỷ cương và quan hệ ứng xử đúng đắn giữa người với người, người với thiên nhiên, môi trường, và cuối cùng, tạo ra những hiệu quả đích thực cho phát triển. Phát triển văn hóa ở nông thôn phải đặc biệt chú ý đến vấn đề tạo ra môi trường văn hóa cho người lao động. Môi trường văn hóa và con người văn hóa là hai nhân tố tác động biện chứng với nhau. Suy cho cùng: con người là sản phẩm của môi trường văn hóa, môi trường văn hóa sáng tạo ra con người trong chõng mực con người sáng tạo ra môi trường văn hóa. Vì vậy phải làm cho văn hóa thâm nhập vào con người nông thôn, nhất là thanh niên. Nhân cách người lao động ở nông thôn được hình thành trên cơ sở hoạt động thực tiễn xây dựng nông thôn mới và là kết quả của giáo dục văn hóa. Nhiều học giả đã dự đoán rằng: Trong tương lai, nhân loại sẽ không thể duy trì và tiếp tục tăng trưởng nếu không lấy văn hóa làm động lực. Tương lai, tính ưu việt trong sự phát triển xã hội sẽ thuộc về văn hóa. Hạnh phóc của con người chủ yếu sẽ do văn hóa mang lại. Mọi sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật không song hành với phát triển văn hóa sẽ tạo ra những con người phiến diện, thực dụng. Con người thờ ơ, vô cảm, phi nhân tính trong cuộc sống xã hội. Nói cách khác: thời kỳ con người đi tìm động lực trong kỹ thuật đã đi qua. Đến nay, chính con người và sự sáng tạo văn hóa của nó mới là nguồn nội lực vô tận của phát triển bền vững. 130 Vậy là, trong điều kiện hiện nay, văn hóa giúp cho người lao động thoát khỏi tệ nạn xã hội, lập lại sự cân bằng sinh thái, góp phần tạo ra nhân cách văn hóa hiện đại. Nếu thiếu văn hóa, đánh mất bản sắc dân tộc, hoặc chỉ biết hưởng thụ mà không sáng tạo văn hóa, cuộc sống sẽ trở lên vô nghĩa. Văn hóa không chỉ biểu hiện sức sống, sức sáng tạo của một dân tộc mà còn nói lên trình độ người của một xã hội, thời đại và mỗi cá nhân cụ thể. "Tất cả những gì do con người, ở trong con người và liên quan trực tiếp đến con người" là văn hóa [17, tr. 13]. Trong thời đại ngày nay, bất cứ quốc gia nào muốn phát triển theo yêu cầu và mục tiêu của đất nước mình, đều phải có ý thức bảo tồn và phát triển nền văn hóa riêng của dân tộc mình. Khi nói đến 4 mục tiêu chính của "Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa", UNESCO cũng đề ra mét trong bốn mục tiêu là khẳng định và đề cao các bản sắc văn hóa, khuyến khích tài năng sáng tạo và cuộc sống có văn hóa. Điều đó cho thấy việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc có thể xem là xu thế tất yếu của sự phát triển. CNH, HĐH ở nước ta không chỉ đề cao yếu tố trí tuệ, mà còn hết sức coi trọng các nhân tố đạo đức- cái tâm của con người, một trong những giá trị cốt lõi của văn hóa. Vì vậy, đạo đức là cái gốc, là nền tảng cho sự phát triển nhân cách người lao động nông thôn. Sức mạnh của con người Việt Nam khi bước vào CNH, HĐH là sức mạnh của tinh thần dân tộc cùng với tri thức về khoa học công nghệ tiên tiến. Vấn đề đặt ra cho quá trình phát triển NNL nông thôn là phải tạo ra những con người lao động mới trong đó kết hợp giữa sức mạnh tổng hòa của con người và nền văn hóa truyền thống dân tộc. Nâng cao chất lượng NNL nông thôn ngoài việc phát triển trí tuệ, dân trí còn phải chú trọng xây dựng thế hệ con người văn hóa, mang đậm nét bản sắc dân tộc. Những truyền thống tốt đẹp của con người, của dân tộc và của nông thôn Việt Nam cần phải được phát huy trong thời đại ngày nay, tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường, lao động thông minh sáng tạo... là những vấn đề có ý nghĩa tạo nên sức mạnh nội lực. Chúng ta phải biết khơi dậy những truyền thống tốt đẹp đó, kết hợp với những giá trị hiện đại để tạo nên nhân cách con người nông thôn Việt Nam đi vào CNH, HĐH. Phải làm cho bản sắc dân tộc và tính chất tiên tiến của nền văn hóa thấm đượm trong mỗi con người, có tư duy độc lập, có cách làm vừa hiện đại, vừa mang sắc thái Việt Nam. Quán triệt quan điểm trên, quá trình phát triển NNL nông thôn phải hướng tới mục tiêu hình thành con người mới với những nét đặc trưng sau: - Có niềm tin vững chắc, quyết tâm hoàn thành CNH, HĐH để thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu bằng ý chí và tài năng sáng tạo. 131 - Có tinh thần yêu nước, yêu độc lập tự do, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường, tinh thần hòa hợp, hòa bình, hữu nghị. - Con người có bản chất nhân văn, nhân đạo, nhân ái trong quan hệ giữa người và người, con người có ý thức cộng đồng, ý thức trách nhiệm cao với đất nước, gia đình, bản thân, có quan hệ tình nghĩa, trọng chữ tín. - Con người khoa học - công nghệ, phát triển cao về trí tuệ, ham học hỏi tinh hoa của văn hóa nhân loại, có tư duy tổng hợp, linh hoạt, sáng tạo, có tác phong công nghiệp, có tính thích ứng cao, ý thức tiết kiệm, làm giàu cho bản thân và xã hội. - Có tinh thần công dân, hiểu biết và tự giác chấp hành pháp luật, tinh thần cộng đồng vì dân chủ, tự do, về quyền con người...[20, tr. 158]. Ở nông thôn nước ta hiện nay, đời sống văn hóa còn hết sức nghèo nàn, nhất là việc thỏa mãn những nhu cầu văn hóa cho thanh niên. Văn hóa ngày càng trở thành nhu cầu không thể thiếu được với thanh niên nông thôn nhất là trong điều kiện sự giao lưu văn hóa ngày càng phát triển. Ngoài những nhu cầu văn hóa bình thường, thanh niên nông thôn còn có nguyện vọng và mong muốn hưởng thụ những thành tựu cao của văn hóa và tham gia vào các hoạt động văn hóa. Trong điều kiện giao lưu văn hóa hiện nay, NNL nông thôn - nhất là thanh niên nông thôn nước ta phải chịu đựng nhiều thiệt thòi về sự thiếu thốn đời sống văn hóa, tinh thần. Họ không có báo đọc, Ýt được xem phim, Ýt có điều kiện hưởng thụ các giá trị văn hóa nghệ thuật, không có câu lạc bộ để sinh hoạt, không có địa điểm vui chơi giải trí, nhiều nơi không có nhà văn hóa cho thanh niên. Họ thiếu hẳn những điều kiện, thông tin để học hỏi mở mang kiến thức, thiếu môi trường văn hóa. Điều này đặc biệt khó khăn ở các vùng sâu, vùng xa, miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số. Tình trạng đời sống khó khăn, thiếu thốn, không có điều kiện học tập, phát triển nghề nghiệp, đời sống tinh thần lại quá yếu đã làm cho một bộ phận không nhỏ chán nản, bế tắc, muốn rời bỏ làng quê ra đi kiếm sống, lập nghiệp. Vì vậy, hơn lúc nào hết, một vấn đề được hết sức quan tâm là phải phát triển đời sống văn hóa tinh thần cho thanh niên và NNL nông thôn. Chính quyền và các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý nông thôn phải có ý thức và sự quan tâm đặc biệt đến tuổi trẻ ở nông thôn, tạo môi trường văn hóa lành mạnh ở nông thôn. - Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng như hội diễn văn nghệ, thi sáng tác thơ ca, tổ chức các lễ hội. Hình thành các đội văn nghệ quần chúng, nghiệp dư ở nông thôn. 132 - Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, tham quan học tập kinh nghiệm, thi đấu thể thao giao hữu, giao lưu văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao nhằm tạo không khí vui tươi, lành mạnh, khai thác các vốn văn hóa dân tộc. - Tổ chức các hình thức câu lạc bộ: Câu lạc bộ gia đình trẻ, câu lạc bộ sản xuất kinh doanh giỏi, câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ, tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình... - Xây dựng các tụ điểm và trung tâm văn hóa địa phương. Nhiều nơi tổ chức thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm đã huy động được sức lao động và đóng góp vật chất của dân... - Mở rộng và nâng cao cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", "Xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa", phong trào "Người tốt, việc tốt" làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người ở nông thôn, hình thành hệ giá trị mới cho con người nông thôn, kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo ra sức đề kháng chống văn hóa đồi trụy, độc hại. Nâng cao tính văn hóa của các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân nông thôn. - Chó trọng giữ gìn và phát triển các di sản văn hóa phi vật thể ở nông thôn, đồng thời tôn tạo và quản lý tốt các di sản văn hóa vật thể, các di tích lịch sử ở nông thôn. Phát triển mạnh mạng lưới thư viện, hiện đại hóa công tác thư viện ở các xã, nhất là vùng sâu, vùng xa, miền núi. Xây dựng nhanh các công trình văn hóa, các khu vui chơi công cộng ở nông thôn. - Phát triển và hiện đại hóa mạng lưới thông tin đại chúng ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nâng cao chất lượng các dịch vụ phát thanh, truyền hình ở nông thôn. Đến năm 2010, phấn đấu hoàn thành cơ bản việc phổ cập các phương tiện phát thanh, truyền hình đến mỗi gia đình, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người. Phát triển các điểm văn hóa kết hợp với hệ thống bưu cục khắp các xã trong cả nước. Thực hiện các chương trình tiếng nói, chữ viết qua sách báo và phát thanh, truyền hình. - Đẩy mạnh các hoạt động thể dục, thể thao, nâng cao thể trạng và tầm vóc của người lao động nông thôn, phát động các phong trào thể dục, thể thao quần chúng ở nông thôn. - Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thể thao; khuyến khích nhân dân và các tổ chức ở nông thôn tham gia tích cực và có hiệu quả vào các hoạt động này. 133 - Tăng ngân sách cho văn hóa nông thôn tương ứng với đà tăng trưởng kinh tế ở nông thôn. Các giải pháp về văn hóa và xây dựng đời sống tinh thần cho NNL nông thôn phải được kết hợp một cách đồng bộ, phải được sự quan tâm thích đáng cả về vật chất và tinh thần của các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội, phải tạo ra để người lao động nông thôn thừa hưởng được các giá trị, để văn hóa thấm sâu vào hoạt động của người lao động. Muốn vậy, Nhà nước phải có chính sách văn hóa đủ mạnh, đúng hướng, cần có cơ chế hoạt động văn hóa ở nông thôn. Có như vậy, nền văn hóa dân tộc, truyền thống mới phát huy được các giá trị nhân bản, nhân đạo và nhân văn mà nổi bật là đạo lý và tâm hồn, nhân cách của con người lao động nông thôn vừa hiện đại vừa thấm đượm truyền thống, vươn tới chân- thiện- mỹ. Đó là một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được giữ gìn và bồi đắp từ NNL nông thôn có văn hóa, hiện đại. Ngoài những nhóm giải pháp trên thì một vấn đề bức xúc hiện nay trong phát triển NNL nông thôn nước ta là: Đổi mới cơ chế quản lý và kế hoạch hóa NNL nông thôn. Có thể nói rằng mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế - xã hội là phát triển NNL. Đổi mới cơ chế quản lý và kế hoạch hóa NNL nhằm phát triển NNL đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ vừa tạo điều kiện môi trường thuận lợi để NNL phát triển, vừa tạo ra động lực bên trong NNL- con người- tự chứa trong mình nó nhân tố chủ động, sáng tạo ra sự phát triển. Do đó việc đổi mới cơ chế quản lý và kế hoạch hóa NNL cần tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau: - Thay đổi quan niệm cũ của các nhà kế hoạch, hoạch định chính sách và quản lý thường quen vận dụng trong nền kế hoạch hóa tập trung trước đây, coi NNL như là một yếu tố bị động, có thể phân phối sắp đặt theo ý muốn thành quan niệm coi NNL là nhân tố chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong nền kinh tế thường xuyên biến động và phụ thuộc đòi hỏi khắt khe của thị trường. Từ đó, việc quản lý, kế hoạch hóa không phải là sự ra lệnh, điều khiển trực tiếp mà là định hướng, tạo điều kiện và môi trường để con người chủ động, sáng tạo phát huy mọi năng lực của bản thân nhằm làm giàu chính đáng cho mình, cho gia đình và xã hội. - Vận dụng lồng ghép vấn đề dân số và NNL trong phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện kế hoạch hóa phát triển NNL: trong đó đặc biệt coi trọng chỉ tiêu chất lượng NNL. Vai trò của kế hoạch hóa phát triển NNL là phải đưa ra được những dự báo ngay từ đầu để cho nền kinh tế có đủ thời gian điều chỉnh. Kế hoạch hóa phát triển NNL là một kế hoạch chỉ dẫn, nó cung cấp những định hướng và được thực hiện thông qua việc đào tạo và 134 những chính sách hạn chế, hay khuyến khích thích hợp. - Cải tiến và tăng cường công tác thống kê và xử lý thông tin, thu thập về dân số, NNL và việc làm trong đó vận dụng các khái niệm và chỉ tiêu mới (như NNL, việc làm, người lao động, thất nghiệp, phân loại NNL...) nhằm phản ánh trung thực hơn thực tế khách quan nền kinh tế thị trường, để có được cơ sở dữ liệu đáng tin cậy phục vụ việc kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xã hội, phát triển NNL và điều tiết thị trường lao động. - Cần xây dựng chiến lược phát triển NNL đến năm 2010 và 2020 mét cách toàn diện và đồng bộ của các ngành, các cấp phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và KH- CN trong quá trình CNH, HĐH, làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển các ngành có liên quan. - Thu hót sự tham gia của cả cộng đồng vào việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch phát triển NNL. Tổ chức quản lý vĩ mô NNL là một vấn đề cấp bách hiện nay. Trước hết đó là phải kết hợp thống nhất giữa đào tạo, sử dụng và việc làm trong điều kiện có thị trường lao động. Để phát huy có hiệu quả NNL nông thôn cần phải đảm bảo sự thống nhất của cả ba mặt: đào tạo, sử dụng, việc làm. Trong những năm qua, do thiếu sự quản lý có tính đồng bộ và hệ thống của Nhà nước nên cả 3 mặt đều kém hiệu quả, kết quả là vừa lãng phí công sức đào tạo, vừa không phát huy được hiệu quả NNL. Ở đây vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước là đặc biệt quan trọng. Trong lĩnh vực đào tạo và sử dụng NNL cũng vậy, có thể thấy rõ điều này trên thực tế hiện nay: cơ cấu, chất lượng NNL được đào tạo không đảm bảo sự phù hợp với nhu cầu sử dụng của nền kinh tế - xã hội. Tính thực dụng của người học làm cho qui mô đào tạo không tương xứng làm mất cân đối lớn trong cơ cấu đào tạo, nhiều ngành không có lao động chuyên môn kỹ thuật nhưng nhiều sinh viên tốt nghiệp không có việc làm. Gắn đào tạo với sử dụng trong một cơ cấu thống nhất đòi hỏi trước hết phải xác định được nhu cầu về việc làm, về sử dụng nhân lực đã qua đào tạo để từ đó mà xác định qui mô đào tạo phù hợp. Muốn vậy phải có những nghiên cứu đầy đủ về thực trạng thị trường lao động, dự báo xu hướng vận động trong quá trình CNH, HĐH. Bởi vậy "cần thành lập mét ban chỉ đạo đào tạo, sử dụng, việc làm đặt dưới sự điều khiển của một phó Thủ tướng phụ trách NNL, có sự tham gia của đại diện các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội" [20, tr. 294]. Từ đây sẽ triển khai chương trình đào tạo lại, đào tạo mới, đưa ra các chính sách vĩ mô tạo ra việc làm, điều chỉnh cơ cấu đào tạo, cơ cấu lao động, chính sách khoa học công 135 nghệ, các chính sách lao động, chính sách tiền lương, nói cụ thể hơn, chính sách tuyển dụng và sử dụng lao động, chính sách cán bộ [51, tr. 186]. Chính sách lao động, tiền lương, khen thưởng làm cơ sở cho việc thực hiện nguyên tắc lợi Ých là một động lực quan trọng nhất của phát triển NNL. Đó là vấn đề tạo động lực kích thích tính tích cực lao động, tính tích cực xã hội của người lao động, làm cho họ năng động, cầu tiến, thiện chí... từ đó đi đến sáng tạo là một vấn đề quan trọng trong quản lý vĩ mô cũng như vi mô NNL. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Phát triển NNL nông thôn là một vấn đề hết sức quan trọng, có ý nghĩa cấp bách cũng như lâu dài trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta. Sự nghiệp CNH, HĐH có thành công hay không, phần lớn phụ thuộc vào việc sử dụng, bồi dưỡng và phát triển NNL. Muốn vậy, phải hình thành một hệ thống tổ chức với chính sách và cơ chế hợp lý nhằm sử dụng, phát triển NNL nông thôn. Phải không ngõng tìm tòi, sáng tạo các phương thức tác động, tạo ra các điều kiện thuận lợi, làm bộc lé khả năng và năng lực sáng tạo của người nông dân, nhất là thanh niên, đảm bảo cho họ tìm thấy triển vọng và lợi Ých cá nhân trong triển vọng và lợi Ých chung của dân tộc. Sự khẳng định tính chất quan trọng của NNL nông thôn trong quá trình CNH, HĐH chỉ có ý nghĩa, khi có được hệ thống các giải pháp đồng bộ và đúng đắn, có khả năng đi vào cuộc sống. Trong các nhóm giải pháp nhằm phát triển NNL nông thôn nước ta hiện nay thì giáo dục, đào tạo là một trong những nội dung và giải pháp quan trọng nằm trong chiến lược phát triển NNL cho tương lai, giúp cho NNL nông thôn có được những kỹ năng, kiến thức và phẩm chất cần thiết cho công việc. Giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống vật chất đi đôi với hưởng thụ văn hóa tinh thần, tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển NNL nông thôn là một ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Các quan điểm và giải pháp phát triển NNL nông thôn chỉ có thể đạt được trên thực tế, khi tiến hành đồng bé trên tất cả các mặt, vì giữa các nhóm giải pháp có quan hệ qua lại và tác động biện chứng với nhau, trong một chỉnh thể. Các nhóm giải pháp trên chỉ có thể đạt kết quả trên cơ sở thực hiện tốt dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội, đảm bảo công bằng xã hội. Quan tâm, giải quyết tốt các giải pháp phát triển NNL nông thôn không những có ý nghĩa nhân văn, nhân đạo mà còn là có ý nghĩa to lớn về kinh tế, chính trị, quyết định sự ổn định chính trị ở nông thôn, tạo tiền đề để NNL nông thôn nước ta có đủ khả năng và điều kiện đi vào thế kỷ XXI với tư cách là chủ thể của quá trình CNH, HĐH. 136 KẾT LUẬN 1. Sự phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện, nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào con người. Điều khẳng định trên lại càng đúng với hoàn cảnh cụ thể nước ta trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. So sánh các nguồn lực với tư cách là điều kiện, tiền đề để phát triển đất nước và tiến hành CNH, HĐH thì NNL có ưu thế hơn cả. Do vậy, hơn bất cứ nguồn lực nào khác, NNL phải chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Khai thác, sử dụng và phát triển NNL là vấn đề quan trọng góp phần thực hiện thành công quá trình CNH, HĐH đất nước. Chóng ta tiến hành CNH gắn liền với HĐH. Đây là yêu cầu khách quan để khắc phục sự tụt hậu của nền kinh tế và sự lạc hậu của phát triển xã hội nói chung nhằm đưa nước ta tiến tới trình độ văn minh, hiện đại. Quá trình sử dụng, phát triển NNL cần gắn với định hướng mang tính chiến lược đó. Vì vậy, phải đào tạo, tổ chức quản lý và phát triển NNL theo những yêu cầu mang tính qui luật của việc phát triển NNL trong quá trình CNH, gắn với diễn biến của cuộc cách mạng KH-CN hiện nay. Thực chất của việc phát triển NNL ở Việt Nam hiện nay là nâng cao chất lượng con người và phát huy vai trò của nã, đặc biệt là đối với NNL nông thôn. Đây chính là tài sản quý giá cho hôm nay và mai sau. Chất lượng NNL nông thôn bao hàm chất lượng cá thể người (thể lực, trí lực, đạo đức...), và chất lượng của cả cộng đồng xã hội (nhóm, cộng đồng, tập thể, xã hội). Đó vừa là nguồn lực hiện hữu, vừa là nguồn lực dự trữ tiềm tàng đang định hình, lớn lên, đang được xã hội đầu tư cho phát triển. Việc phát triển NNL nông thôn trước hết phải nâng cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn, phát triển tiềm năng sáng tạo của họ. Chất lượng phát triển NNL nông thôn chính là điều kiện để phát huy vai trò năng động, sáng tạo của người lao động nông thôn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tiềm năng nhân lực ở nông thôn nước ta không phải là nhỏ- nếu không muốn nói là khá lớn. Đó là thế mạnh về qui mô NNL, là ưu thế về tiềm năng trí tuệ; tiềm năng "chất xám" rất đa dạng, phong phú của thanh niên nông thôn, là truyền thống văn hóa mang nặng những giá trị cổ truyền của nền văn hóa phương Đông như hiếu học, trọng người tài, trọng tri thức khoa học.... Tuy nhiên cho đến nay, NNL nông thôn nước ta còn hạn chế và bất cập về nhiều mặt, nhất là về chất lượng NNL. Việc khai thác sử dụng và phát triển nguồn tiềm năng to lớn này vẫn chưa có hiệu quả, chưa được khai thác đầy đủ. Tình hình đó đặt ra những yêu cầu vừa cơ bản, vừa bức xúc trong việc phát triển NNL nông thôn nước ta là: sử 137 dụng có hiệu quả lực lượng lao động nông thôn, khai thác tiềm năng trí tuệ, năng lực sáng tạo, phát huy những yếu tố tinh thần gắn với truyền thống dân tộc. Thực hiện những yêu cầu trên, vấn đề cơ bản là phải khơi dậy, khai thác và phát huy được tính sáng tạo, tích cực của người lao động nông thôn, hướng nó vào mục tiêu CNH, HĐH. 2. Để đạt được yêu cầu tạo ra NNL chất lượng cao ở nông thôn đáp ứng yêu cầu của CNH, HĐH cần nâng cao nhận thức của toàn xã hội, trước hết là nhận thức trong Đảng và Nhà nước về ý nghĩa, tầm quan trọng của NNL nông thôn, vai trò và ý nghĩa của nó trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay. Phải hình thành một hệ thống tổ chức với chính sách và cơ chế hợp lý nhằm phát triển NNL nông thôn, nhất là thanh niên nông thôn. Đồng thời phải thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các nhóm giải pháp nhằm phát triển NNL nông thôn trong quá trình CNH, HĐH. Đó là: - Nhóm giải pháp về giáo dục - đào tạo - Nhóm giải pháp về kinh tế - xã hội - Nhóm giải pháp về chính trị, văn hóa và xây dựng đời sống tinh thần. Đây là những nhóm giải pháp vừa then chốt, vừa cã ý nghĩa cơ bản, lâu dài và mang tính bức xúc trước mắt. Trong đó, nhóm giải pháp về giáo dục, đào tạo là nhóm giải pháp mang tính chiến lược, cơ bản và hàng đầu. Bên cạnh đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc về việc làm, thu nhập và đời sống người lao động nông thôn cũng là giải pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài, có ý nghĩa lớn trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta. Ba nhóm giải pháp cho phát triển NNL nông thôn được đề cập trong luận án không biệt lập nhau mà là một hệ thống chính thể, đồng bộ, làm tiền đề và điều kiện cho nhau, một chỉnh thể thể chế- cơ chế quản lý cùng hướng vào phát triển NNL nông thôn, phát huy nội lực cho quá trình CNH, HĐH ở nước ta. 3. Phát triển NNL nông thôn trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta là một vấn đề có nội dung rộng lớn, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong khuôn khổ luận án, tác giả không thể trình bày hết cả về mặt lý luận và thực tiễn của vấn đề. Những khía cạnh được đề cập ở đây mới chỉ là nghiên cứu bước đầu của tác giả. Những vấn đề như: thu nhập, đời sống, nghề nghiệp, quản lý và sử dụng NNL nông thôn... đang là những vấn đề thời sự cấp bách, vừa là những vấn đề cơ bản, lâu dài đòi hỏi phải có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, cũng như sự quan tâm của các nhà khoa học trong việc xây dựng một hệ thống chính sách sử dụng, phát triển NNL nông thôn hướng tới sự phát 138 triển bền vững của đất nước. Tiềm năng trong mỗi con người và của cả cộng đồng là rất lớn, nếu không muốn nói là vô tận. Quá trình tìm kiếm những mô hình, giải pháp nhằm phát triển NNL nông thôn vẫn đang tiếp tục bằng sự nỗ lực của cả dân tộc nói chung, của giới lý luận nói riêng, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tác giả hy vọng rằng đây là một hướng nghiên cứu có thể và cần phải đặt ra tiếp theo sau công trình luận án, những vấn đề được trình bày trong luận án là sự đóng góp rất nhỏ vào quá trình tìm kiếm đó. 139 NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Nguyễn Ngọc Sơn (1999), "Vai trò của vấn đề an ninh nông thôn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay", Tập san Khoa học của Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy, Bộ Công an, (3-4-5). 2. Nguyễn Ngọc Sơn (2000), "Chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho lực lượng phòng cháy chữa cháy trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Tập san Khoa học của Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy – Bộ Công an, (4-5-6). 3. Nguyễn Ngọc Sơn (2000), "Vai trò của phát triển nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta", Nông thôn mới, (7). 4. Nguyễn Ngọc Sơn (2000), "Quan điểm của Đảng ta về phát triển nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn", Nông thôn mới, (10). 5. Nguyễn Ngọc Sơn (2000), "Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa dưới tác động của cách mạng khoa học và công nghệ", Triết học, (5). 6. Nguyễn Ngọc Sơn (2000-2001), "Trường đại học Phòng cháy chữa cháy với việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao làm công tác phòng cháy chữa cháy giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Tập san Khoa học của Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy, Bộ Công an, (1). 7. Nguyễn Ngọc Sơn (1999), "Quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực làm công tác phòng cháy chữa cháy trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta", Đề tài khoa học cấp Bộ, nghiệm thu tháng 8 (là thành viên tham gia nghiên cứu đề tài). 8. Nguyễn Ngọc Sơn (2000), "Nguồn nhân lực trong công tác phòng cháy chữa cháy giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta - Thực trạng và giải pháp", Đề tài khoa học cấp Bộ, nghiệm thu tháng 8 (Chủ nhiệm đề tài). 140 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ban Kinh tế Trung ương (1997), Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế hợp tác và thực hiện liên minh công nông về kinh tế, Hà Nội. 2. Báo Nhân Dân, ngày 12-8-1994. 3. Báo Nhân Dân, ngày 30-9-1997. 4. Hoàng Chí Bảo (1993), "Ảnh hưởng của văn hóa đối với việc phát huy nguồn lực con người", Triết học, (1). 5. Hoàng Chí Bảo (1997), "Văn hóa và sự phát triển nhân cách thanh niên", Nghiên cứu lý luận, (1). 6. Nguyễn Văn Bích, Chu Tiến Quang (1996), Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 7. Bé Lao động - Thương binh và xã hội (1990), Thị trường lao động việc làm, Thông tin chuyên đề, Hà Nội. 8. Nguyễn Trọng Chuẩn (cùng tập thể tác giả) (1991), Tiến bé khoa học kỹ thuật và công cuộc đổi mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 9. Nguyễn Sinh Cúc, Nguyễn Văn Tiêm (1995), Đầu tư trong nông nghiệp - thực trạng và triển vọng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 10. Nguyễn Sinh Các (1995), Nông nghiệp Việt Nam 1945-1995, Nxb Thống kê, Hà Nội. 11. Nguyễn Hữu Dũng (1994), "Tạo việc làm, tăng thu nhập, giảm đói nghèo ở nông thôn", Thông tin lý luận (4). 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương (khóa VII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 13. Đảng cộng sản Việt Nam (1993) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương (khóa VII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương (khóa VII), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998) Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ tư (khóa VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 141 17. Hà Đăng (1995), "Văn hóa và đổi mới với thực tiễn văn hóa", Công tác tư tưởng văn hóa, (2). 18. Nguyễn Minh Đường (1996), Bồi dưỡng đào tạo lại đội ngò nhân lực trong tình hình mới, Đề tài KX.07.14, Hà Nội. 19. Phạm Minh Hạc (1994), Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 20. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 21. Nguyễn Thị Hằng (1999), "Phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam đến năm 2010", Tạp chí Cộng sản, (7). 22. Trần Đình Hoan, Lê Mạnh Khoa (1991), Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội. 23. Jacqnes Hallak (1990), Đầu tư vào tương lai (bản dịch) IIEF, Paris, UNESCO. 24. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1996), Nông thôn Việt Nam sau 10 năm đổi mới. 25. Lê Mạnh Hùng (chủ biên) (1996), Kinh tế - xã hội Việt Nam - tình trạng, xu hướng và giải pháp, Nxb Thống kê, Hà Nội. 26. Trương Công Hùng (1999), "Kinh tế trang trại nông nghiệp ở nước ta", Tạp chí Cộng sản, (6). 27. Ianốpsky. R (1986), "Sù tham gia của những người lao động vào việc quản lý xã hội XHCN", Giáo dục lý luận, (9). 28. Phạm Khiêm Ích - Nguyễn Đình Phan (1995), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và các nước khu vực, Nxb Thống kê, Hà Nội. 29. Đoàn Văn Khái (1995), "Nguồn lực con người, yếu tố quyết định sù nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Triết học, (4). 30. Phan Văn Khải (11/1/1998), "Tăng cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với các nhà khoa học công nghệ và các cơ quan chính phủ để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế", Báo Nhân Dân. 31. Phan Văn Khải (30/9/1998), "Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về HĐND và UBND", Báo Nhân dân. 32. Nguyễn Vi Khải (chủ biên) (1992), Dân sè lao động, việc làm - Vấn đề và giải pháp, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội. 33. Hồ Quang Khánh (1999), "Vài nét về vấn đề lao động thiếu việc làm ở khu vực nông 142 thôn", Thị trường lao động, (6). 34. Nguyễn Khang (1993), "Về giải quyết việc làm ở nông thôn từ 1994, 1995 đến năm 2000", Lao động và Xã hội. 35. VI. Lênin (1997), Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 36. Liên hiệp quốc tại Việt Nam (1999), Hướng tới tương lai. Báo cáo đánh giá chung về tình hình Việt Nam, Hà Nội. 37. C. Mác và Ph. Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 25, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 38. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 39. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 40. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 24, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 41. C. Mác, Ph Ăngghen, VI. Lênin (1977), Bàn về tổ chức lao động xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội. 42. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 43. Phan Sĩ Mẫn (1997), "Giải quyết việc làm ở nông thôn trong giai đoạn hiện nay", Nghiên cứu kinh tế, (225). 44. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 45. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 46. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 12, Nxb Sự thật, Hà Nội. 47. Đỗ Mười (12-8-1994), Báo Nhân Dân. 48. Leonand Nadler (1980), Phát triển nguồn nhân lực trong một tập thể- một công cụ quản lý, New-York. 49. Ngành nghề nông thôn Việt Nam (1998), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 50. Nguyễn Thế Nghĩa (1997), Hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 51. Trần Nhâm (chủ biên) (1997), Có một Việt Nam như thế - Đổi mới và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 52. Nhóm chuyên gia Chính phủ, Nhà tài trợ, Tổ chức phi Chính phủ (12/1999), Việt Nam tấn công đói nghèo, Báo cáo phát triển của Việt Nam năm 2000. 53. Lương Xuân Quỳ (chủ biên) (1996), Những biện pháp kinh tế, tổ chức và quản lý để phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa nông thôn Bắc Bộ, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 54. Nguyễn Sinh (1998), "Kinh tế Việt Nam 12 năm đổi mới (1986- 1997)", Tạp chí Cộng sản, (6). 143 55. Phan Thanh (1995), "Sử dụng hợp lý nguồn lao động để phát triển kinh tế vùng ven biển và hải đảo", Kinh tế và dự báo, (4). 56. Lê Văn Toàn, Trần Hoàng Kim (1992), Kinh tế các nước ASEAN và khả năng hòa nhập của Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội. 57. A. Toffer (phần 1: 1991; phần 2: 1992), Thăng trầm quyền lực, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội. 58. Lê Danh Tèn (1997), "Khoa học, công nghệ Việt Nam trước yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Thông tin lý luận, (4) 59. Phương Trang, Quỳnh Anh (1999), "Chương trình dân số- kế hoạch hóa gia đình Việt Nam- Thành công và những thách thức trong giai đoạn mới", Tạp chí Cộng sản, (19). 60. Nguyễn Thị Ngọc Trầm (1993), "Trí tuệ nguồn lực vô tận của sự phát triển xã hội", Triết học, (1). 61. Nguyễn Ngọc Trìu (1995), "Kinh tế VAC với việc làm ở nông thôn", Nghiên cứu kinh tế, (5) (13-15). 62. Nguyễn Văn Trung (chủ biên) (1998), Phát triển nguồn nhân lực trẻ ở nông thôn để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 63. Đỗ Thế Tùng (1996), Vấn đề lao động việc làm - Đại hội VIII những tìm tòi đổi mới, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 64. Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (1996), Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 65. "Thực trạng đội ngò cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô ở các cơ quan Trung ương" (1997), Nghiên cứu kinh tế, (12). 66. Thực trạng lao động - việc làm Việt Nam 1997 (1998), Nxb Thống kê, Hà Nội. 67. Thực trạng lao động - việc làm Việt Nam 1998 (1999), Nxb Thống kê, Hà Nội. 68. Ủy ban Dân số và kế hoạch hóa gia đình (4/1993), Điều tra biến đổi dân số và kế hoạch hóa gia đình, Hà Nội. 69. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (9/1994), Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam 1992- 1993, Hà Nội. 70. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (1994), Kinh tế Việt Nam 1991-1995, Hà Nội, 71. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (10/1998), "Kế hoạch hóa và các chính sách về lao động", Kế hoạch hóa. 144 72. Viện Chiến lược công an nhân dân - Bé Công an, Đề tài khoa học cấp Bộ (1998), An ninh nông thôn trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội nước ta - thực trạng và giải pháp, Hà Nội. 73. Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Ban nguồn nhân lực và xã hội, đề tài khoa học cấp Bộ (1995), Giải quyết việc làm và hạn chế di dân nông thôn thành thị ở đồng bằng sông Hồng đến năm 2010, do Tiến sĩ Trần Thị Tuyết Mai chủ nhiệm đề tài. 74. Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Ban Nông nghiệp và nông thôn, Đề tài khoa học cấp Bộ (1999), Khái quát con đường và mô hình hiện đại hóa nông nghiệp và công nghiệp hóa nông thôn Việt Nam đến năm 2010 và 2020, Hà Nội. 75. Viện Chiến lược phát triển quốc tế Harvard (1994), Việt Nam cải cách kinh tế theo hướng rồng bay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 76. Viện Dinh Dưỡng - Bé Y tế (1990), Dinh dưỡng con người Việt Nam- Đề tài 64D. 01.01, Hà Nội. 77. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (1994), Đổi mới kinh tế ở Việt Nam - Thành tựu và triển vọng, Hà Nội. 78. Viện Thông tin khoa học xã hội (1992), Những vấn đề kinh tế học hiện đại, Tập III, Hà Nội. 79. Viện Thông tin khoa học xã hội (1995), Con người và nguồn lực con người trong phát triển, Hà Nội. 145 PHỤ LỤC Phụ lục 1 Bảng 1: Cơ cấu tuổi của dân số và nguồn nhân lực Nhóm tuổi Số lượng (người) Tỷ lệ % 0-14 25.464.158 33,65 15-24 13.941.319 18,43 35-44 10.030.042 13,26 45-54 5.431.319 7,19 55 413.754 6,55 56-59 1.675.668 2,21 60 533.257 0,7 Trên 60 6.380.924 8,42 Tổng sè 75.664.692 100 Nguồn [66]. Bảng 2: Số người từ đủ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên chia theo trình độ học vấn khu vực nông thôn Đơn vị tính: ngàn người Chưa biết chữ Chưa TN cấp I Đã TN cấp I Đã TN cấp II Đã TN cấp III Tổng sè 29.757 1.333 6.046 9.213 9.899 3.267 Tỷ lệ 100% 4,48% 20,32% 30,96% 33,26% 10,98% Nữ 14.988 834 3.404 4.594 4.796 1.361 Tỷ lệ 100% 5,56% 22,71% 30,65% 32,00% 9,08% Nguồn [33, tr. 17]. 146 Bảng 3: Số người từ đủ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT) ở khu vực nông thôn Đơn vị tính: ngàn người Không có CMKT Sơ cấp CN kỹ thuật có bằng CN KT không có bằng THCN CĐ và Đại học Trên đại học Tổng số 29.758 27.360 364 323 456 865 382 8 Tỷ lệ 100% 91,94% 1,22% 1,69% 1,53% 2,91% 1,28% 0,03% Nữ 14.988 14.044 176 35 132 431 166 3 Tỷ lệ 100% 93,7% 1,18% 0,23% 0,88% 2,88% 1,11% 0,02% Nguồn [33, tr. 17]. Bảng 4: Phân bổ LLLĐ có trình độ chuyên môn kỹ thuật Vùng lãnh thổ CNKT THCN CĐ, ĐH và trên ĐH Số lượng % Số lượng % Số lượng % Miền núi và trung du 312.267 14,62 287.120 20,80 107.461 11,58 Đồng bằng sông Hồng 560.442 26,23 378.474 27.42 293.635 31,65 Bắc Trung bé 210.828 9,78 187.605 13,59 83.461 9,00 Duyên hải miền Trung 233.390 10,92 119.883 8,69 96.455 10,4 Tây Nguyên 75.720 3,54 46.719 3,39 26.465 2,85 Đông Nam Bé 426.185 19,95 172.480 12,50 27.542 23,45 Đồng bằng S. Cửu Long 317.764 14,87 187.829 13,61 102.693 11,07 Tổng số: 2.136.59 6 100 1.380.11 0 100 917.712 100 Nguồn [66]. 147 Bảng 5: Số người từ đủ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên thiếu việc làm trong 12 tháng qua chia theo nhóm tuổi ở khu vực nông thôn Đơn vị tính: ngàn người 15-24 25-34 35-44 45-54 55-59 > = 60 Tổng sè 8.219 2.519 2.440 1.953 905 222 180 Tỷ lệ 100% 30,65% 29,68% 23,76% 11,01% 2,70% 2,19% Nữ 3.826 1.209 1.114 914 422 99 68 Tỷ lệ 100% 31,6% 29,11% 23,89% 11,02% 2,60% 1,78% Nguồn [67]. Bảng 6: Số người trong độ tuổi lao động Đơn vị: ngàn người, %. Dân sè trong tuổi lao động % so với tổng dân số Mức tăng bình quân /năm Tốc độ tăng bình quân /năm 1990 33.728 50,8 845,6 3,55 1995 38.955 52,6 1.045,4 2,92 2000 46.076 59,1 1.404,4 3,40 2005 52.100 62,5 1.240,0 2,55 2010 56.780 64,1 970,0 1,80 2015 60.259 64,5 647,2 1,10 2020 62.590 64,0 466,4 0,75 Nguồn: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước Viện nghiên cứu chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch Đầu tư: "Cơ sở khoa học của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 2000-2020", Hà Nội, 2000. 148 Bảng 7: Dân số trong tuổi lao động trong thời kỳ 2000-2020 Đơn vị nghìn người 2000 2005 2010 2020 Mức gia tăng 2001- 2005 2006- 2010 Cả nước 46.076 52.099 56.781 62.590 6.023 4.682 1. Đông Bắc 6.371 7.330 8.057 9.061 959 727 2. Tây Bắc 1.268 1.508 1.687 1.942 240 179 3. ĐB sông Hồng 8.973 10.020 10.731 11.393 1.047 711 4. Bắc Trung Bộ 5.642 6.524 7.250 8.427 882 1.608 5. D.hải Trung Bộ 3.772 4.273 4.769 5.478 501 496 6. Tây Nguyên 1.779 2.107 2.376 2.620 328 269 7. Đông Nam Bộ 7.952 8.867 9.530 10.155 915 663 8. ĐBSC Long 9.810 11.089 12.113 13.575 1.279 1.024 Nguồn: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước Viện nghiên cứu chiến lược phát triển - Bé Kế hoạch Đầu tư: "Cơ sở khoa học của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 2000-2020", Hà Nội, 2000. 149 Bảng 8: Một số thông tin tổng hợp về ngành nghề ở nông thôn qua kết quả điều tra năm 1997 Cơ cấu Cả nước Phía Bắc Phía Nam 1. Loại hộ gia đình (%) - Hé Nông nghiệp thuần 62,22 37,78 59,06 - Hé kiêm 26,49 23,91 27,95 - Hé chuyên ngành nghề 11,29 8,31 12,09 2. Lao động (%) Hộ nông nghiệp thuần 56,89 63,36 53,29 Hộ kiêm 29,78 26,11 32,13 Trong đó: riêng ngành nghề 16,12 13,95 17,55 Hộ chuyên ngành nghề 13,13 10,53 14,58 Sản xuất nông nghiệp 70,55 75,52 67,87 Hoạt động phi nông nghiệp 49,45 24,48 32,13 3. Vốn đầu tư (%) Hộ nông nghiệp thuần 45,47 51,85 42,33 Hộ kiêm 31,85 25,56 34,93 Trong đó: riêng ngành nghề 23,07 19,58 24,79 Hộ chuyên ngành nghề 22,68 22,59 22,73 Sản xuất nông nghiệp 54,25 57,83 52,48 Hoạt động phi nông nghiệp 29,45 42,17 47,52 4. Giá trị tăng thêm (%) Hộ nông nghiệp thuần 51,30 59,63 47,29 Hộ kiêm 30,63 26,42 32,86 Trong đó: riêng ngành nghề 17,57 10,92 18,66 Hộ chuyên ngành nghề 18,07 13,94 19,84 Sản xuất nông nghiệp 64,36 75,13 61,49 Hoạt động phi nông nghiệp 35,64 24,87 38,51 5. Thu nhập (%) Hộ nông nghiệp thuần 51,95 62,07 46,66 Hộ kiêm 31,22 26,44 33,80 Trong đó: riêng ngành nghề 18,36 15,15 20,10 150 Hộ chuyên ngành nghề 16,83 11,49 19,54 Sản xuất nông nghiệp 64,81 73,36 60,36 Hoạt động phi nông nghiệp 35,19 26,64 39,64 Nguồn: [74]. Phụ lục 2 Quản lý nguồn nhân lực Phát triển NNL Sử dụng NNL Môi trường NNL Dinh dưỡng và sức khỏe Tuyển dụng Mở rộng chủng loại việc làm Giáo dục - đào tạo Sàng lọc Mở rộng qui mô việc làm Dân số, kế hoạch hóa gia đình Bố trí Phát triển tổ chức Văn hóa, truyền thống dân tộc Đánh giá Việc làm và phân phối thu nhập Đãi ngộ Kế hoạch hóa sức lao động Nguồn [48, tr. 2]. 151 Phụ lục 3 Mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thời kỳ 1995 - 2020 Cơ cấu 1995 2000 2010 2020 1. Học sinh tiểu học (triệu người) 10,05 11,72 12,3 14,25 - Tỷ lệ học sinh đi học (%) 106 103 100 100 2. Học sinh trung học cơ sở (triệu người) 3,68 4,91 7,44 10,94 - Tỷ lệ học sinh đi học (%) 50 60 78 95 3. Học sinh trung học chuyên ban và sau trung học cơ sở (triệu người) 0,9 1,59 2,76 4,26 - Tỷ lệ học sinh đi học (%) 19 30 45 60 4. Sinh viên đại học, sau trung học chuyên ban (triệu người) 0,368 0,544 1,335 2,575 - Tỷ lệ học sinh đại học (%) 5,3 7 15 25 Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo: Mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020. 152 Phụ lục 4 1. Tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm (% tăng trưởng hàng năm) Năm Toàn bộ nền KT Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ GDP LĐ GDP LĐ GDP LĐ GDP LĐ 1991 5,96 2,27 2,17 2,68 9,04 0,06 8,26 2,07 1992 8,65 2,72 7,08 3,22 14,03 1,65 6,98 1,38 1993 8,07 2,84 3,82 2,96 13,13 2,08 9,19 2,65 1994 8,84 2,84 3,92 2,56 14,02 2,33 10,2 2,87 1995 9,54 2,97 4,95 -1,59 13,3 2,70 10,03 8,52 1996 9,34 3,47 4,40 2,7 13,85 1,06 9,29 8,54 1997 8,8 3,35 4,45 2,7 13,07 0,08 8,29 6,73 Nguồn: Niên giám thống kê 1991 - 1997 2. Mức tăng dân số trong tuổi lao động Đơn vị: Ngàn người Thời kỳ Vào tuổi lao động Ra tuổi lao động Tăng thêm Tổng sè BQ năm Tổng sè BQ năm Tổng sè BQ năm 1991 - 1995 7.543 1.510 1.888 378 5.655 1.131 1996 - 2000 8.570 1.715 1.780 356 6.790 1.358 2001 - 2005 8.800 1.760 1.954 390 6.846 1.369 2006 - 2010 8.300 1.660 2.500 500 5.800 1.160 Nguồn: Viện Nghiên cứu chiến lược phát triển - Bé Kế hoạch và Đầu tư 153 3. Mức độ phù hợp của công việc với ngành nghề được đào tạo (kết quả khảo sát của đề tài KX.07.14) Mức độ phù hợp Số người lựa chọn Tỷ lệ % 1. Phù hợp 2.391 48,8 2. Tương đối phù hợp 633 12,9 3. Ýt phù hợp 218 4,5 4. Không phù hợp 125 2,6 5. Không có ý kiến 1.531 31,2 Tổng cộng 4.898 100 Nguồn: Nguyễn Minh Đường (chủ biên), Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới, H.1996, tr.109. 4. Một số thay đổi về nhận thức của con người Việt Nam trong đổi mới mở cửa Các ý kiến Số người lùa chọn % - Tù nhận thức rằng mình phải đào tạo lại mới thích nghi với đổi mới, mở cửa. 79,2 - Phải thay đổi về cách nghĩ, nếp sống của mình mới thích nghi được với đổi mới, mở cửa. 71,1 - Thấy khó khăn vì thiếu ngoại ngữ. 67,1 - Lo lắng về tinh hoa truyền thống bị xói mòn. 55,0 - Cảm thấy lo ngại, khó bắt kịp, hòa nhập với sự phát triển của khu vực và thế giới. 54,2 - Vẫn cảm thấy luyến tiếc thời bao cấp. 10,6 Nguồn: Kết quả điều tra xã hội học của đề tài KX 07.12 154 5. Những định hướng lựa chọn giá trị nhân cách của con người Việt Nam trong thời đổi mới mở cửa Định hướng giá trị nhân cách Số người lựa chọn (%) 1. Có trình độ học vấn rộng 75,7 2. Sống có tình nghĩa 52,7 3. Có khả năng tổ chức quản lý công việc 51,9 4. Làm việc tận tâm, có trách nhiệm, kỷ luật 51,3 5. Sáng tạo trong học tập, lao động, công tác. 50,3 6. Biết nhiều nghề, thạo một nghề 50,2 Nguồn: Kết quả điều tra xã hội học của đề tài KX 07.04 6. Hướng lựa chọn giá trị nghề nghiệp của con người Việt Nam trong đổi mới, mở cửa Các ý kiến lùa chọn Số người lùa chọn (%) 1. Nghề có thu nhập cao 70,0 2. Nghề phù hợp với sức khỏe và trình độ cá nhân 67,2 3. Nghề phù hợp hứng thú, sở thích cá nhân 66,3 4. NghÒ phù hợp với điều kiện chăm lo gia đình 64,3 5. Nghề có điều kiện phát triển năng lực 62,8 6. Nghề được xã hội coi trọng 62,7 7. Nghề được đảm bảo yên tâm suốt đời 60,0 8. Nghề có thể giúp ích được mọi người 57,8 9. Nghề có điều kiện tiếp tục học thêm 56,8 Nguồn: Phạm Minh Hạc, Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH, HĐH, Nxb CTQG, H. 1996, tr.136. 155 7. Những yếu tố tác động đến động cơ, thái độ làm việc Đơn vị: % Điều gì khiến anh (chị) làm việc hăng say nhất Địa điểm điều tra Tổng số TP.HC M Hà Nội Hải Phòng Thu nhập 46,9 70,5 60,2 59,2 Quan hệ bạn bè đồng nghiệp thân ái 39,4 65,4 54,5 53,1 Được mọi người tín nhiệm 26,0 56,4 52,6 45,0 Nội dung công việc hấp dẫn 34,6 51,6 45,1 44,1 Có điều kiện nâng cao tay nghề 37,4 45,0 42,5 41,6 Được cấp trên và bạn bè thông cảm 19,7 51,8 47,8 39,8 Cách phân phối phúc lợi công bằng 10,2 28,6 27,7 22,2 Được đề bạt 8,15 4,4 14,0 8,8 Đạt các danh hiệu vẻ vang 3,5 7,5 14,8 8,6 Lý do khác 4,1 0,7 5,5 3,6 Nguồn: Số liệu điều tra xã hội học của đề tài KX 07.13

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_tien_si_7434_2082204.pdf
Luận văn liên quan