Đề tài Phần phân tích giải pháp chính sách thu hút vốn FDI

Cuối cùng, và cũng là quan trọng nhất, chính sách thu hút FDI không thể không đi liền với những cải cách mạnh dạn cần thiết nhằm thực hiện chiến lược cơ cấu lại nền kinh tế nước nhà. Hệ thống luật pháp, nền hành chính, các dịch vụ công cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường, tương thích với các chuẩn mực quốc tế được thừa nhận rộng rãi và các cam kết quốc tế của chúng ta. Luật pháp, chính sách và các quy hoạch phải đảm bảo tính minh bạch, nhất quán, tiên liệu được, và phải được thực thi nghiêm túc theo tinh thần thượng tôn pháp luật. Cải cách trong các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, thương mại, doanh nghiệp phải được thúc đẩy, dứt khoát và triệt để hơn, nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho đầu tư và phát triển của doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế nói chung. Trên hết, chúng ta cần đổi mới tư duy, nhận thức lại yêu cầu và định hướng phát triển nền kinh tế nước nhà trên cơ sở bối cảnh mới của đất nước và thế giới dưới tác động và nhân cơ hội của cuộc khủng hoảng đang diễn ra, để có quyết tâm cao cải cách và tái cơ cấu nền kinh tế. Có hai hướng tiềm năng mà chúng ta lên hướng fdi đến lĩnh vực đó là :Nghành công nghiệp phụ trợ và mở cửa thị trường dịch vụ Thứ ba, cần công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý. Trong đó, cần rà soát lại các văn bản phát quy liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế, sửa đổi các văn bản cho phù hợp với quy định của WTO. Thách thức lần này nặng nề hơn, song chắc chắn không làm nản lòng chúng ta cũng như các nhà đầu tư nước ngoài. Nhiều nhà đầu tư vẫn coi Việt Nam là một điểm đến hấp dẫn, một thị trường mới nổi với nhiều tiềm năng phát triển. Bằng những cải cách mạnh mẽ và chính sách đúng đắn, hành động khôn ngoan của mình, chúng ta sẽ giữ được niềm tin của họ, tiếp tục thu hút FDI vào nước ta với chất lượng cao hơn, và kết hợp nguồn lực đó với những nguồn lực nội tại của mình để đưa nền kinh tế vững vàng đi vào giai đoạn phát triển mới sau khủng hoảng.

doc16 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 12/04/2013 | Lượt xem: 1791 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phần phân tích giải pháp chính sách thu hút vốn FDI, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phần phân tích giải pháp chính sách:(thu hút vốn fdi) Các giải pháp của chính phủ: 1.  Nhóm giải pháp về chính sách thu hút đầu tư a) Các giải pháp: - Tiếp tục rà soát pháp luật, chính sách về đầu tư, kinh doanh để sửa đổi các nội dung không đồng bộ, thiếu nhất quán, bổ sung các nội dung còn thiếu; sửa đổi các quy định còn bất cập, chưa rõ ràng liên quan đến thủ tục đầu tư và kinh doanh. - Ban hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực: phát triển đô thị, phát triển hạ tầng kỹ thuật (cấp thoát nước, môi trường đô thị,...), phát triển nhà ở xã hội và nhà ở cho người có thu nhập thấp; xây dựng công trình phúc lợi (nhà ở, bệnh viện, trường học, văn hoá, thể thao) cho người lao động làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; các dự án đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. - Thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân; không cấp phép cho các dự án công nghệ lạc hậu, dự án tác động xấu đến môi trường; thẩm tra kỹ các dự án sử dụng nhiều đất, giao đất có điều kiện theo tiến độ dự án; cân nhắc về tỷ suất đầu tư/diện tích đất, kể cả đất Khu Công nghiệp. Tiến hành rà soát các dự án đã cấp giấy chứng nhận đầu tư trên địa bàn cả nước để có hướng xử lý đối với từng loại dự án. b) Phân công nhiệm vụ: - Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư: + Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương rà soát các quy định còn chồng chéo, cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành trong quá trình xây dựng chính sách liên quan đến đầu tư; kiến nghị giải pháp khắc phục, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2009. + Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương tiếp tục rà soát các dự án ĐTNN đã cấp giấy chứng nhận đầu tư trên phạm vi cả nước, trên cơ sở đó có biện pháp hỗ trợ, tập trung tháo gỡ vướng mắc và tạo điều kiện để dự án sớm triển khai; thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án không có khả năng triển khai thực hiện. Chủ trì thành lập các tổ công tác liên ngành với sự tham gia của các Bộ, ngành liên quan để xúc tiến đầu tư và thúc đẩy giải ngân các dự án quy mô lớn: nghiên cứu, đề xuất biện pháp xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai các dự án ĐTNN; đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù áp dụng cho các dự án quy mô lớn, có tầm quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của ngành và địa phương trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. + Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong quý III năm 2009 về các ưu đãi khuyến khích đầu tư đối với các dự án xây dựng các công trình phúc lợi (nhà ở, bệnh viện, trường học, văn hoá, thể thao) cho người lao động làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; + Trong quý III năm 2009, ban hành quy định về chế độ báo cáo về ĐTNN thay thế Thông tư liên tịch số 01/1997/TTLT-BKH-TCTK của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tổng cục Thống kê về chế độ báo cáo của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN. - Giao Bộ Tài chính: Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, trình Chính phủ ban hành trong quý III năm 2009 về các ưu đãi khuyến khích đầu tư đối với các dự án chế biến nông sản tại các vùng xa trung tâm, vùng kinh tế kém phát triển theo Danh mục do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố. Đối với các dự án ứng dụng khoa học công nghệ và sản xuất, kinh doanh để tạo thêm giá trị gia tăng cho sản phẩm và bảo vệ môi trường (theo Nghị quyết số 23/2008/QH12 ngày 06 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009). - Giao Bộ Công thương: Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, trình Chính phủ ban hành trong quý III năm 2009 về cơ chế, chính sách huy động các nguồn lực xã hội để đầu tư phát triển công nghiệp phụ trợ, công nghiệp chế biến gắn với các dự án đầu tư lớn từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo Nghị quyết số 23/2008/QH12 ngày 06 tháng 11 năm 2008 nêu trên. - Giao Bộ Xây dựng: Nghiên cứu và đề xuất Thủ tướng Chính phủ trình Quốc Hội hướng sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Luật Xây dựng có liên quan đến công tác xây dựng trong quá trình cấp Giấy chứng nhận đầu tư như thiết kế cơ sở trong hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đầu tư (đối với dự án đầu tư có xây dựng),... tạo điều kiện thuận lợi để thu hút tốt các nguồn lực; đề xuất giải pháp khắc phục những vướng mắc trong việc huy động vốn đầu tư vào lĩnh vực bất động sản. Trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2009. - Giao Bộ Tài nguyên và Môi trường: + Chủ trì rà soát và sửa đổi, bổ sung các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường; chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Thanh tra Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật như Bộ luật Hình sự, Luật Thanh tra và các văn bản khác về xử lý vi phạm trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2009. + Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và chính quyền địa phương tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý các trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích, không hiệu quả của các dự án đầu tư đã cấp phép. - Giao Bộ Khoa học và Công nghệ: Rà soát, đánh giá về trình độ công nghệ đang được áp dụng tại các dự án có vốn ĐTNN, đề xuất biện pháp thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao. - Giao Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: + Chỉ đạo các cơ quan tham mưu của địa phương phối hợp với các Bộ, cơ quan quản lý chuyên ngành tiến hành thẩm tra thận trọng khi xem xét cấp Giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án đầu tư trên địa bàn trên các phương diện: công nghệ, năng lực thực hiện, nguy cơ ô nhiễm môi trường,... đặc biệt lưu ý về quy mô vốn của dự án đối với việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên như đất đai, khoáng sản... trên cơ sở phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương, quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt, quy hoạch ngành và chiến lược phát triển vùng nhằm bảo đảm sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực cũng như phát huy lợi thế để phát triển bền vững. + Chỉ đạo các cơ quan chức năng quản lý, giám sát chặt chẽ quá trình triển khai dự án; việc giao đất phải được tiến hành theo tiến độ thực hiện dự án; tiến hành ngay các thủ tục thu hồi đất và thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án không có khả năng triển khai hoặc chưa có kế hoạch sử dụng hết diện tích đất đã được giao để chuyển cho các dự án đầu tư mới có hiệu quả hơn. Đồng thời, trong phạm vi thẩm quyền của mình, chủ động tổ chức việc đền bù giải tỏa và giao đất cho chủ đầu tư theo đúng cam kết, đặc biệt là các dự án quy mô lớn mà chủ đầu tư sẵn sàng giải ngân thực hiện dự án. + Thống nhất với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để ban hành quy định về suất đầu tư tối thiểu/ha đối với các dự án đầu tư có yêu cầu sử dụng diện tích đất lớn, đặc biệt là đất nông nghiệp chuyên trồng lúa. + Đề xuất với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành liên quan phương án xử lý những vấn đề vượt quá thẩm quyền của mình, để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ. 2. Nhóm giải pháp về quy hoạch a) Các giải pháp: - Làm tốt công tác xây dựng quy hoạch và quản lý quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất chi tiết, quy hoạch ngành và các sản phẩm chủ yếu; rà soát điều chỉnh cho phù hợp và kịp thời đối với các quy hoạch đã lạc hậu; có kế hoạch cụ thể để thực hiện các quy hoạch đã được duyệt. - Công bố rộng rãi các quy hoạch đã được phê duyệt, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư; rà soát, kiểm tra, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất một cách hiệu quả, nhất là đối với các địa phương ven biển nhằm đảm bảo phát triển kinh tế và môi trường bền vững. - Quán triệt và thực hiện thống nhất các quy định của Luật Đầu tư trong công tác quy hoạch, đảm bảo việc xây dựng các quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm phù hợp với các cam kết quốc tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh.  b) Phân công nhiệm vụ: - Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư: + Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và các cơ quan liên quan nghiên cứu, trình Chính phủ phương án xây dựng dự án Luật Quy hoạch để trình Quốc hội xem xét thông qua trong năm 2010 - 2011. + Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương rà soát để bổ sung các quy hoạch còn thiếu, điều chỉnh các quy hoạch đã lạc hậu. Báo cáo rà soát hoàn thành trong quý IV năm 2009. - Giao các Bộ quản lý chuyên ngành và các địa phương: Chủ động rà soát các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm để điều chỉnh, bổ sung hoặc trình cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung kịp thời, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. - Giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: + Công bố danh mục các dự án thuộc lĩnh vực nông, lâm thủy sản, đặc biệt là tại các khu vực xa trung tâm, vùng kinh tế kém phát triển,... cần ưu tiên thu hút vốn ĐTNN trong giai đoạn đến năm 2020, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2009. + Nghiên cứu, đề xuất giải pháp ngăn ngừa tình trạng nông dân tự ý phá vỡ hợp đồng cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến nông sản, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2009. - Giao Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch: Công bố danh mục các dự án thu hút ĐTNN trong lĩnh vực du lịch, đặc biệt là các khu du lịch quốc gia, khu du lịch tổng hợp và chuyên đề làm động lực cho phát triển du lịch của các vùng du lịch tiềm năng; đề xuất các biện pháp ưu đãi, khuyến khích, hỗ trợ cho các dự án đầu tư trong lĩnh vực du lịch, trình Thủ tướng Chính phủ trước tháng 7 năm 2009. - Giao Bộ Công thương: Công bố danh mục các dự án ngành công nghiệp, năng lượng, khoáng sản,... cần ưu tiên thu hút vốn ĐTNN trong giai đoạn tới năm 2020; hoàn thành trong quý IV năm 2009. - Giao Bộ Thông tin và Truyền thông: chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành, địa phương tiến hành rà soát quy hoạch về hạ tầng công nghệ thông tin - truyền thông trong tổng thể quy hoạnh cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội; đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phối hợp quy hoạch về hạ tầng công nghệ thông tin - truyền thông với các lĩnh vực hạ tầng khác. 3. Nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng a) Các giải pháp: - Tiến hành tổng rà soát, điểu chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020. Tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; ưu tiên các lĩnh vực cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường (xử lý chất thải rắn, nước thải,...); hệ thống cầu và đường bộ cao tốc, trước hết là tuyến Bắc-Nam, hai hành lang kinh tế Việt Nam - Trung Quốc; nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt, trước hết là đường sắt cao tốc Bắc - Nam, đường sắt hai hành lang kinh tế Việt Nam - Trung Quốc, đường sắt nối các cụm cảng biển lớn, các mỏ khoáng sản lớn với hệ thống đường sắt quốc gia, đường sắt nội đô thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; sản xuất và sử dụng điện từ các loại năng lượng mới như sức gió, thủy triều, nhiệt năng từ mặt trời; các dự án lĩnh vực bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin. - Tăng cường năng lực cạnh tranh của hệ thống cảng biển Việt Nam; kêu gọi vốn đầu tư các cảng lớn của các khu vực kinh tế như hệ thống cảng Hiệp Phước - Thị Vải, Lạch Huyện,... b) Phân công nhiệm vụ: - Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư: + Chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải và các Bộ ngành, địa phương liên quan tổng rà soát, điểu chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020, trình Chính phủ trước tháng 10 năm 2009. + Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, đề xuất xây dựng chính sách về phương thức hợp tác đầu tư Nhà nước - Tư nhân trong việc phát triển cơ sở hạ tầng (phương thức PPPs) trong năm 2009. - Giao Bộ Công thương: Rà soát tình hình cung cấp điện cho các doanh nghiệp ĐTNN, nhất là các dự án có nhu cầu sử dụng điện lớn, các khu công nghiệp tập trung đánh giá khả năng và đề xuất giải pháp bảo đảm cấp điện ổn định cho sản xuất kinh doanh, bao gồm cả biện pháp huy động các nguồn vốn cho phát triển nguồn điện. - Giao Bộ Giao thông vận tải: Rà soát lại các dự án giao thông vận tải ưu tiên thu hút ĐTNN và chuẩn bị các thủ tục đầu tư cần thiết để gọi vốn ĐTNN; phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan kiến nghị các chính sách ưu đãi đối với các dự án vốn đầu tư rất lớn, khả năng hoàn vốn khó khăn như: đường sắt, cảng biển, đường bộ cao tốc, đường sắt cao tốc, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2009. - Giao Bộ Xây dựng:  Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương sửa đổi, hoàn thiện các quy định về xây dựng nhà ở, kinh doanh khu đô thị, kinh doanh bất động sản, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2009. 4. Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực a) Các giải pháp: - Hoàn thiện các văn bản pháp lý về hợp tác đầu tư trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút ĐTNN đào tạo lao động ở các trình độ, góp phần thực hiện mục tiêu Chiến lược giáo dục giai đoạn 2001 - 2010 là nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40%. - Nghiên cứu điều chỉnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế; nâng cao trình độ lao động, đặc biệt là đối với người nông dân bị thu hồi đất sản xuất để giao cho dự án. b) Phân công nhiệm vụ: - Giao Bộ Giáo dục và Đào tạo: - Chủ trì hoàn thiện dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các Nghị định số 06/2000/NĐ-CP, Nghị định số 18/2001/NĐ-CP và Nghị định số 165/2005/NĐ-CP theo hướng phân định rõ các loại hình đào tạo có yếu tố nước ngoài, theo đó làm rõ những thủ tục nào là bắt buộc theo pháp luật về đầu tư, những thủ tục nào là đặc thù cho ngành giáo dục, từ đó có hướng dẫn cụ thể về tiêu chí, điều kiện, quy trình thành lập, tổ chức hoạt động và quản lý phù hợp với các quy định của pháp luật áp dụng đối với từng loại hình cơ sở đào tạo, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2009; - Tổ chức hướng dẫn, tập huấn cho các cơ quan quản lý giáo dục đào tạo thực hiện công tác quản lý nhà nước trong việc thẩm tra, giám sát, hậu kiểm đối với các cơ sở giáo dục đào tạo có vốn ĐTNN. - Giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: + Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao theo Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 18 tháng 8 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 22/CT-TW ngày 05 tháng 6 năm 2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp, trong đó tập trung vào các giải pháp hạn chế đình công xảy ra không đúng trình tự pháp luật quy định. + Thực hiện việc soạn thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) và các giải pháp đưa pháp luật lao động vào cuộc sống thông qua việc tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra và phổ biến, tuyên truyền pháp luật lao động cho người lao động và người sử dụng lao động. + Xây dựng đề án “Đổi mới và phát triển dạy nghề giai đoạn 2008 - 2020” và đề án “Cung ứng lao động đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp và các nhà đầu tư nước ngoài”, đặc biệt lưu ý tới việc đào tạo các ngành nghề hiện đang thiếu hụt lao động và đào tạo tại các khu vực tập trung các khu công nghiệp, các dự án lớn có nhu cầu cao về số lượng lao động, chuyển đổi nghề cho nông dân khi bị thu hồi đất làm dự án đầu tư. - Giao Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: + Tập trung giải quyết cơ bản tình trạng đình công xảy ra không theo trình tự pháp luật quy định trên địa bàn quản lý. + Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và các cơ quan địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động cho người lao động, người sử dụng lao động; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn. 5.  Nhóm giải pháp về công tác phối hợp trong quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐTNN a) Các giải pháp: - Phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương trong việc cấp phép và quản lý các dự án đầu tư nước ngoài. - Tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý ĐTNN; nâng cao năng lực thực thi và hiệu quả quản lý nhà nước về ĐTNN của các cơ quan chức năng. - Tiến hành tổng kết, đánh giá việc phân cấp trong quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐTNN trong thời gian qua, phát hiện những bất cập, kịp thời điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp. b) Phân công nhiệm vụ: - Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Trên cơ sở rà soát, tổng kết, đánh giá tình hình phân cấp trong quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐTNN, chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương nghiên cứu, đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản quy định về quy chế phối hợp giữa Trung ương và địa phương trong quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài. Trình Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2009. - Các Bộ, ngành tham gia thẩm tra dự án: có trách nhiệm trả lời trong thời hạn quy định tại Nghị định 108/2006/NĐ-CP; đồng thời chịu trách nhiệm về các nội dung thẩm tra thuộc chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của cơ quan mình; đặc biệt là các nội dung về quy hoạch, đất đai, môi trường, công nghệ, các điều kiện phải đáp ứng theo quy định của pháp luật chuyên ngành,... làm cơ sở cho cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án. - Các Bộ, cơ quan: Tài chính, Công thương, Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo nhanh, cập nhật thông tin hàng tháng về tình hình tiếp nhận, cấp Giấy chứng nhận đầu tư và vốn thực hiện của các dự án ĐTNN thuộc phạm vi thẩm quyền của mình về Bộ Kế hoạch và Đầu tư và định kỳ hàng quý, 6 tháng và một năm tổng hợp, đánh giá hoạt động đầu tư trên địa bàn để đề xuất các giải pháp phù hợp đối với khu vực kinh tế có vốn ĐTNN. 6.  Nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư: a) Các giải pháp: - Nghiên cứu, đề xuất chính sách vận động, thu hút đầu tư đối với các tập đoàn đa quốc gia cũng như có chính sách riêng đối với từng tập đoàn và các đối tác trọng điểm như các quốc gia thành viên EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản,...; chú trọng và đẩy nhanh tiến độ đàm phán các Hiệp định đầu tư song phương giữa Việt Nam và các đối tác lớn. - Hoàn thành việc xây dựng thông tin chi tiết về dự án (project profile) đối với danh mục đầu tư quốc gia kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006 - 2010 để làm cơ sở cho việc kêu gọi các nhà đầu tư; xây dựng danh mục gọi vốn ĐTNN cho giai đoạn 2011 - 2015 và những năm tiếp theo. - Tổ chức khảo sát, nghiên cứu và xây dựng mô hình cơ quan xúc tiến đầu tư ở Trung ương và địa phương; xây dựng văn bản pháp quy về công tác Xúc tiến đầu tư nhằm tạo hành lang pháp lý thống nhất trong công tác quản lý nhà nước, cơ chế phối hợp và tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư. - Thực hiện tốt Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia giai đoạn 2007 - 2010. Triển khai nhanh việc thành lập bộ phận xúc tiến đầu tư tại một số địa bàn trọng điểm. Tiếp tục kết hợp các hoạt động xúc tiến đầu tư trong các chuyến thăm và làm việc tại các nước của lãnh đạo cấp. - Tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư. b) Phân công nhiệm vụ: - Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư: + Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ văn bản quy phạm pháp luật về công tác xúc tiến đầu tư theo hướng tăng cường quản lý nhà nước đối với công tác xúc tiến đầu tư và cụ thể hóa cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong công tác xúc tiến đầu tư; xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư dài hạn và có chiều sâu. Trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2009. + Nghiên cứu xu hướng và chiến lược đầu tư của một số đối tác có tiềm năng để có phương án chủ động vận động các nhà ĐTNN, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài. Báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ trong quý III năm 2009. + Làm đầu mối quản lý, điều phối hoạt động xúc tiến đầu tư ở trong và ngoài nước (bao gồm cả các cơ quan đại diện xúc tiến đầu tư tại nước ngoài). + Hướng dẫn mẫu biểu, nội dung thông tin để các ngành, địa phương thống nhất xây dựng “project profile” cho các dự án gọi vốn ĐTNN, làm cơ sở vận động đầu tư; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng Danh mục dự án quốc gia gọi vốn ĐTNN giai đoạn 2011 - 2015, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong năm 2010. + Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn; hợp tác với các cơ quan tổ chức trong và ngoài nước đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư. - Giao Bộ Ngoại giao: Triển khai nhanh việc thành lập bộ phận xúc tiến đầu tư tại một số địa bàn trọng điểm. Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,...) khẩn trương hoàn thiện các thủ tục và điều kiện liên quan tới việc thành lập và hoạt động của bộ phận xúc tiến đầu tư tại một số địa bàn trọng điểm như đã được Thủ tướng chỉ đạo tại văn bản số 103/TB-VPCP ngày 09 tháng 5 năm 2007 của Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ về Đề án tăng cường bộ phận xúc tiến ĐTNN tại một số địa bàn trọng điểm và Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-BKH-BNG ngày 17 tháng 3 năm 2008 của liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Bộ Ngoại giao hướng dẫn triển khai bộ phận xúc tiến ĐTNN tại một số địa bàn trọng điểm. - Giao các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: + Tiếp tục rà soát, cập nhật bổ sung danh mục kêu gọi đầu tư phù hợp với nhu cầu đầu tư và quy hoạch phát triển địa phương, ngành, lĩnh vực, sản phẩm. + Chủ động thực hiện xây dựng thông tin chi tiết về dự án (project profile) đối với dự án do ngành, địa phương mình đề xuất đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1290/QĐ-TTg ngày 26 tháng 9 năm 2007 ban hành Danh mục quốc gia kêu gọi ĐTNN giai đoạn 2006 - 2010, gửi về Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước tháng 6 năm 2009. 7.  Một số giải pháp khác a) Tập trung chỉ đạo quyết liệt để thực hiện thành công Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 - nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá cải cách hành chính của Chính phủ từ nay đến hết 2010 - để tiếp tục thu hút ĐTNN. b) Tiếp tục nâng cao hiệu quả việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và tình trạng nhũng nhiễu đối với nhà đầu tư. Đề cao tinh thần trách nhiệm cá nhân trong xử lý công việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở các cơ quan quản lý nhà nước. c) Triển khai tốt việc xây dựng hệ thống quản lý thông tin ĐTNN theo Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg ngày 24 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ, đảm bảo thông tin phục vụ công tác quản lý, điều hành. d) Thực hiện hiệu quả chương trình sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn III; tiếp tục hợp tác tích cực với các cơ quan, tổ chức nước ngoài trong việc XTĐT và hỗ trợ doanh nghiệp triển khai dự án. đ) Duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên giữa lãnh đạo Chính phủ, các Bộ, ngành với các nhà đầu tư, đặc biệt là Diễn đàn doanh nghiệp hàng năm để xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách và phát luật hiện hành, đảm bảo các dự án hoạt động hiệu quả, nhằm tiếp tục củng cố lòng tin của các nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, tạo hiệu ứng lan tỏa và tác động tích cực tới nhà đầu tư mới. e) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra: theo chức năng và nhiệm vụ của mình, Thanh tra Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương có kế hoạch tăng cường thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ các quy định của chính sách, pháp luật về ĐTNN nói chung và việc thực hiện Nghị quyết này của Chính phủ. Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm làm đầu mối, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nội dung giải pháp nêu tại mục này; báo cáo, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chủ trì các buổi đối thoại giữa lãnh đạo Chính phủ, các Bộ, ngành với các nhà đầu tư. Để đảm bảo kịp thời và đồng bộ triển khai các nội dung của Nghị quyết này, Chính phủ thống nhất cho phép áp dụng quy trình rút gọn đối với việc xây dựng, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số văn bản quy phạm pháp luật dự kiến trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong quý II, III năm 2009. Cụ thể ta có thể lấy ví dụ về những thay đổi trong luật đầu tư nước ngoài của VIỆT NAM qua từng năm như sau: BẢNG  1: Những thay đổi chủ yếu trong chính sách thu hút FDI trong các thời kỳ sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Lĩnh vực Luật sửa đổi năm 1992 đến 1995 Luật sửa đổi năm 1996 đến hết 1999 Luật sửa đổi năm 2000 đến 2004 Luật sửa đổi năm 2005 đến nay Trình tự đăng ký + Dự án FDI được nhận giấy phép đầu tư trong vòng 45 ngày + Sau khi có giấy phép, DN FDI vẫn phải xin đăng ký hoạt động + DN FDI được lựa chọn loại hình đầu tư, tỷ lệ góp vốn, địa điểm đầu tư, đối tác đầu tư + DN xuất khẩu sản phẩm trên 80% được ưu tiên nhận giấy phép sớm. + Ban hành danh mục DN FDI được đăng ký kinh doanh, không cần xin giấy phép; + Bỏ chế độ thu phí đăng ký đầu tư FDI + Dự án có vốn đầu tư trong nước có vốn dưới 15 tỷ đồng và không thuộc danh mục đầu tư có điều kiện thì không phải làm thủ tục đăng ký đầu tư. + Đối với các dự án có quy mô từ 15-300 tỷ đồng và không thuộc danh mục đầu tư có điều kiện phải làm thủ tục đăng ký đầu tư theo mẫu Lĩnh vực đầu tư + Khuyến khích các dự án liên doanh với doanh nghiệp trong nước; hạn chế dự án 100% vốn nước ngoài + Khuyến khích DN FDI đầu tư vào những lĩnh vực định hướng xuất khẩu, công nghệ cao. + Ban hành danh mục dự án kêu gọi đầu tư FDI cho giai đoạn 2001 – 2005 + Mở rộng lĩnh vực cho phép FDI đầu tư xây dựng nhà ở + Đa dạng hoá hình thức đầu tư; được mua cổ phần của các doanh nghiệp trong nước. + Nhà đầu tư được quyền sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh. Đất đai + Phía Việt Nam chịu trách nhiệm đền bù giải phóng mặt bằng cho các dự án có vốn FDI; + Dự án có vốn FDI được thuê đất để hoạt động, nhưng không được cho các doanh nghiệp khác thuê lại. + UBND địa phương tại điều kiện mặt bằng kinh doanh khi dự án được duyệt; DN thanh toán tiền giải phóng mặt bằng cho UBND + Được quyền cho thuê lại đất đã thuê tại các khu CN, khu chế xuất. + Được thế chấp tài sản gắn liền với đất và giá trị quyền sử dụng đất; + Trường hợp nhà đầu tư thuê lại đất của người sử dụng đất được Nhà nước giao đất thì nhà đầu tư có trách nhiệm tự tổ chức thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng. Tỷ giá, ngoại tệ + Các dự án FDI đầu tư hạ tầng và thay thế nhập khẩu được Nhà nước bảo đảm cân đối ngoại tệ; + Các DN FDI thuộc các lĩnh vực khác phải tự lo cân đối ngoại tệ; Nhà nước không chịu trách nhiệm về cân đối ngoại tệ đối với các dự án này + Dự án phải bảo đảm cân đối nhu cầu về ngoại tệ cho các hoạt động của mình; + Áp dụng tỷ lệ kết hối ngoại tệ do tác động khủng hoảng tài chính khu vực (80%), sau đó nới dần tỷ lệ này. + DN có thể mua ngoại tệ với sự cho phép của Ngân hàng Nhà nước + Được mua ngoại tệ tại NHTM để đáp ứng nhu cầu giao dịch theo luật định; + Bãi bỏ yêu cầu chuẩn y khi nhượng vốn; giảm mức phí chuyển lợi nhuận ra nước ngoài + Giảm tỷ lệ kết hối ngoại tệ từ 80% xuống 50% đến 30% và 0% + Nhà đầu tư được mua ngoại tệ để đáp ứng cho giao dịch vốn và giao dịch khác theo luật định + Chính phủ bảo đảm cân đối hoặc hỗ trợ cân đối ngoại tệ đối với một số dự án quan trọng trong lĩnh vực năng lượng, kết cấu hạ tầng giao thông, xử lý chất thải. Xuất nhập khẩu + DN phải bảo đảm tỷ lệ xuất khẩu theo đã ghi trong giấy phép đầu tư + Sản phẩm của DN FDI không được bán ở thị trường Việt Nam qua đại lý + DN FDI không được làm đại lý XNK + Bãi bỏ hoàn toàn việc duyệt kế hoạch xuất khẩu của DN FDI + Cải tiến thủ tục XNK hàng hoá đối với xét xuất xứ hàng hoá XNK + Thu hẹp lĩnh vực yêu cầu tỷ lệ xuất khẩu 80% sản lượng; + DN FDI được tham gia dịch vụ đại lý XNK + Không bắt buộc nhà đầu tư xuất khẩu hàng hoá hoặc dịch vụ đạt một tỷ lệ nhất định hoặc  nhập khẩu với số lượng và giá trị tương ứng với số lượng và giá trị hàng hoá xuất khẩu hoặc phải tự cân đối ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu. Thuế + Áp dụng thuế ưu đãi cho các dự án đầu tư vào các lĩnh vực đặc biệt ưu tiên với mức thuế thu nhập 10% trong vòng 15 năm kể từ khi hoạt động; + Mức thuế thu nhập của DN 100% vốn nước ngoài không bao gồm phần bù trừ lợi nhuận của năm sau để bù lỗ cho các năm trước; + Không được tính vào chi phí sản xuất một số khoản chi nhất định; + Thuế nhập khẩu được áp với mức giá thấp trong khung giá do Bộ Tài chính quy định + Miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị , máy móc, vận tải chuyên dùng, nguyên liệu vật tư... + Miễn thuế nhập khẩu đối với DN đầu tư vào những lĩnh vực ưu tiên, địa bàn ưu tiên trong 5 năm đầu hoạt động + DN xuất khẩu được miễn thuế nhập khẩu nguyên vật liệu để xuất khẩu sản phẩm + DN cung ứng sản phẩm đầu vào cho DN xuất khẩu cũng được miễn thuế nhập khẩu nguyên vật liệu trung gian với tỷ lệ tương ứng. + Bãi bỏ quy định bắt buộc DN FDI trích quỹ dự phòng + Tiếp tục cải cách hệ thống thuế, từng bước thu hẹp khoảng cách về thuế giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. + Nhà đầu tư được hưởng ưu đãi về thuế cho phần thu nhập được chia từ hoạt động góp vốn, mua cổ phần vào tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật về thuế sau khi tổ chức kinh tế đó đã nộp đủ thuế thu nhập doanh nghiệp Bên cạnh diễn biến về thu hút vốn FDI và thực tiễn hoạt động của khu vực có vốn FDI, những thay đổi trong chính sách thu hút FDI của Việt Nam trong những năm qua còn xuất phát từ ba yếu tố khác, đó là:(i) sự thay đổi về nhận thức và quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với khu vực có vốn FDI; (ii) chính sách thu hút FDI của các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo nên áp lực cạnh tranh đối với dòng vốn đầu tư FDI vào Việt Nam và (iii) những cam kết quốc tế của Việt Nam về đầu tư nước ngoài. Những thành tựu đã đạt được của chính sách thu hút FDI ở việt nam: Trong 3 năm vừa qua, vốn FDI đăng ký đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ mang tính đột biến. Vốn đăng ký liên tục đạt mức cao kỷ lục kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987. Năm 2006 cả nước đã thu hút được 12 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 83% so với năm 2005. Năm 2007, vốn đăng ký tiếp tục lập kỷ lục mới với 21,3 tỷ USD, tăng 71% so với năm 2006. Riêng năm 2008, vốn đăng ký đã đạt trên 64 tỷ USD, tăng 3 lần so với năm 2007. Như vậy, chỉ tính từ 2006 đến hết năm 2008, vốn đăng ký đã đạt 97,6 tỷ USD, vượt 77,4% so với mục tiêu đề ra cho cả giai đoạn 5 năm 2006 - 2010. Cùng với sự gia tăng mạnh mẽ về quy mô vốn đăng ký, cơ cấu FDI theo ngành, lĩnh vực, theo đối tác đầu tư và theo vùng lãnh thổ tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Trong 3 năm 2006-2008, vốn FDI đăng ký tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 56,7%; tiếp đến là lĩnh vực dịch vụ, chiếm 41,8%; lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong cơ cấu đầu tư, chỉ đạt 1,2% tổng vốn đăng ký. Cũng trong thời gian đó, có 70 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam, trong đó Malaysia đứng vị trí thứ nhất, chiếm 17,0% tổng vốn đăng ký; Đài Loan đứng thứ hai, chiếm 13,1%; Nhật Bản đứng thứ ba, chiếm 11,1%; Hàn Quốc đứng thứ tư, chiếm 10,8% và British Virgin Islands đứng thứ 5, chiếm 9,3%. Cơ cấu đầu tư theo đối tác đã đa dạng hơn và có sự chuyển dịch theo hướng tích cực từ các nước quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông... sang các khu vực khác như châu Âu (British Virgin Islands, Thụy Sỹ, Anh, Samoa, Síp, Cayman Islands, Pháp, Hà Lan, Đức, Đan Mạch...) và châu Mỹ (Canada, Hoa Kỳ). Cơ cấu đầu tư theo địa bàn có sự chuyển dịch tích cực hơn trong 3 năm qua. Bên cạnh các địa bàn thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc ) và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (TP. HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An), nguồn vốn FDI thời gian gần đây đã dịch chuyển đáng kể sang một số địa bàn khác thuộc các tỉnh thuộc Duyên hải miền Trung và đồng bằng Sông Cửu Long như Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Phú Yên, Ninh Thuận, Kiên Giang, Hậu Giang... Trong năm 3 năm 2006 - 2008, cả nước có 63 địa phương thu hút được dự án ĐTNN, trong đó, 10 địa phương dẫn đầu là TP. Hồ Chí Minh chiếm 13,7% tổng vốn đăng ký, Bà Rịa - Vũng Tàu chiếm 13,2%, Ninh Thuận chiếm 10,3%, Hà Tĩnh chiếm 8,1%, Hà Nội chiếm 6,8%, Thanh Hóa chiếm 6,5%, Phú Yên chiếm 6,3%, Đồng Nai chiếm 5,5%, Bình Dương chiếm 4,9% và Kiên Giang chiếm 2,4%. Quy mô vốn đầu tư trung bình của một dự án tăng lên rất nhanh trong thời gian gần đây, từ mức 14,4 triệu USD/dự án trong 2007 đã tăng lên gần 60 triệu/dự án trong 11 tháng đầu năm 2008, thể hiện số lượng dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư có vốn đầu tư đăng ký hàng trăm triệu đến trên một tỷ USD tăng nhanh. Vốn FDI thực hiện cũng có sự tăng trưởng đáng kể trong 3 năm vừa qua. Năm 2006 vốn FDI thực hiện đạt 4,1 tỷ USD, tăng 24% so với năm 2005. Năm 2007 đạt 8 tỷ USD, tăng 96%, gần gấp 2 lần năm 2006. Trong năm 2008, vốn giải ngân đã đạt 11,5 tỷ USD, tăng 44% so với cùng kỳ năm 2007, đạt mức cao nhất trong hơn 20 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam). Như vậy, tính chung giai giai đoạn 2006 - 2008, vốn thực hiện của khu vực kinh tế có vốn nước ngoài đã đạt khoảng 23,6 tỷ USD, bằng 94,4% mục tiêu đề ra cho cả giai đoạn 5 năm 2006-2010. Với tình hình vốn FDI thực hiện trong 3 năm qua, khả năng hoàn thành mục tiêu đề ra ban đầu trong kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 là hoàn toàn khả thi. Vốn thực hiện tăng nhanh đã khiến tỷ trọng vốn FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội gia tăng, đặc biệt trong 2 năm trở lại đây. Với 4,1 tỷ USD giải ngân năm 2006, tỷ trọng FDI chiếm 16,2% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; với trên 8 tỷ USD giải ngân năm 2007, tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã lên tới 24,8%, góp phần đưa tỷ lệ đầu tư toàn xã hội lên 45,6% GDP năm 2007. Sự tăng trưởng mạnh mẽ của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong 3 năm qua đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đang ngày càng đóng góp tích cực hơn vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Khu vực FDI là khu vực có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP chung, năm 2006 tăng trưởng khu vực FDI là 14,33%, năm 2007 là 12,81% (so với tốc độ tăng GDP tương ứng là 8,29% và 8,68%). Tỷ trọng của khu vực kinh tế FDI trong GDP vẫn tiếp tục tăng lên qua các năm, từ 17,02% năm 2006 (so với 15,99% năm 2005) lên 17,66% năm 2007. Trong gần 3 năm 2006-2008, các doanh nghiệp ĐTNN tạo việc làm mới cho 37.000 lao động, đưa tổng số lao động trong khu vực có vốn ĐTNN tính đến thời điểm này là 1,45 triệu lao động. Đồng thời, các doanh nghiệp ĐTNN nộp ngân sách nhà nước khoảng 5 tỷ USD, trong đó năm 2006 nộp 1,47 tỷ USD, năm 2007 nộp trên 1,57 tỷ USD; năm 2008 đạt 1,98 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2007. Theo kết quả nghiên cứu công bố đầu năm 2010 vừa qua tại Hội nghị của LHQ về thương mại và phát triển (UNCTAD), Việt Nam nằm trong 15 nước được đánh giá cao về môi trường đầu tư và là điểm đến hấp dẫn cho FDI trong năm 2010. Vốn đăng ký mới dự kiến trong năm 2010 khoảng 19 tỷ USD, vốn tăng thêm dự kiến khoảng 3 tỷ USD.( Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thu hút vốn FDI 2 tháng đầu năm 2010 đạt hơn 1,78 tỷ USD, bằng 27,3% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó, có 88 dự án được cấp phép mới với vốn đăng ký hơn 1,61 tỷ USD (giảm 40,2% về vốn và giảm 42,5% về số dự án so với cùng kỳ năm trước). Vốn đăng ký bổ sung đạt 165,2 triệu USD (của 16 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước). Xét về phân bổ FDI theo địa phương, trong 2 tháng đầu năm đã có 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép mới. Trong đó, địa phương có số vốn đăng ký dẫn đầu là  Bà Rịa-Vũng Tàu với 924 triệu USD, chiếm 57,2% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là TP. Hồ Chí Minh 333,4 triệu USD, chiếm 20,6%; Bình Dương 212 triệu USD, chiếm 13,1%; Bắc Ninh 40,7 triệu USD, chiếm 2,5%; Hải Dương 37 triệu USD, chiếm 2,3%. Hoạt động của các doanh nghiệp FDI hiện có nhiều chuyển biến tích cực so với cùng kỳ năm 2009. Tuy vốn đăng ký giảm nhưng vốn FDI thực hiện 2 tháng đầu năm lại cho thấy tín hiệu khả quan, ước đạt 1,1 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2009. Những hạn chế cần khắc phục: Tuy nhiên, thực tiễn ĐTNN vào Việt Nam trong giai đoạn vừa qua cũng đã bộc lộ một số tồn tại và hạn chế ở cả môi trường đầu tư và tình hình đầu tư. Sự tăng trưởng mạnh mẽ, mang tính đột biến của nguồn vốn FDI vào Việt Nam đã làm cho những mặt hạn chế vốn có nhưng chưa hoặc chậm được khắc phục của môi trường đầu tư của nước ta ngày càng bộc lộ rõ nét và trở nên gay gắt hơn. Bên cạnh đó, một số vấn đề mới phát sinh cũng đang bắt đầu có những tác động tiêu cực đến môi trường đầu tư làm hạn chế khả năng thu hút và sử dụng vốn đầu tư của nền kinh tế. Về luật pháp, chính sách: Hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư, kinh doanh vẫn còn một số điểm thiếu đồng bộ và nhất quán giữa các luật các luật chung và luật chuyên ngành. Vì vậy trên thực tế vẫn tạo ra các cách hiểu khác nhau gây rất nhiều khó khăn cho việc xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư cũng như hướng dẫn các doanh nghiệp xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai dự án. Về công tác quy hoạch: Công tác quy hoạch lãnh thổ, ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm còn yếu và thiếu, đặc biệt trong bối cảnh phân cấp triệt để việc cấp phép và quản lý đầu tư về các địa phương, dẫn đến tình trạng mất cân đối chung. Nhiều địa phương cấp phép tràn lan, khai tăng vốn đăng ký của dự án để có thành tích, để cạnh tranh nhau, dẫn đến cùng cấp quá nhiều giấy phép cho các dự án có cùng một loại sản phẩm mà không tính đến khả năng thị trường, gây dư thừa, lãnh phí, hiệu quả đầu tư thấp (ví dụ như trường hợp cấp phép các dự án sản xuất thép, dự án sân Golf, dự án cảng biển...). Về cơ sở hạ tầng: Sự yếu kém của hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào là nhân tố quan trọng gây tâm lý lo ngại của các nhà đầu tư. Thông thường các nhà đầu tư tính toán, thực hiện tiến độ xây dựng công trình dự án theo tiến độ xây dựng công trình hạ tầng ngoài hàng rào để tránh tình trạng công trình dự án xây dựng xong không đưa vào vận hành được do hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào không đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là hệ thống cấp điện, nước, đường giao thông, cảng biển phục vụ nhu cầu sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hóa. Về nguồn nhân lực: Tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực đã qua đào tạo, đặc biệt là công nhân kỹ thuật và kỹ sư ngày càng rõ rệt, không chỉ xảy ra ở các khu kinh tế mới hình thành như Chân Mây, Dung Quất, Nhơn Hội... mà còn ở cả những trung tâm công nghiệp như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương... Mặt hạn chế này đã tồn tại từ các giai đoạn trước nhưng trong 3 năm trở lại đây càng trở nên bức xúc hơn trong điều kiện nhiều dự án ĐTNN, đặc biệt là các dự án lớn đi vào triển khai thực hiện. Vấn đề đất đai và công tác giải phóng mặt bằng: Công tác giải phòng mặt bằng là mặt hạn chế chậm được khắc phục của môi trường đầu tư của ta. Trên thực tế, công tác quy hoạch sử dụng đất đã được các địa phương quan tâm nhưng vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ với quy hoạch ngành, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói chung và thu hút và sử dụng có hiệu qủa nguồn vốn FDI nói riêng. Nhiều địa phương đang lâm vào trình trạng khó khăn trong việc bố trí đủ đất cho các dự án quy mô lớn như đã cam kết trước khi cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Vấn đề môi trường: Việc xử lý chất thải của các dự án ĐTNN tập trung tại các khu công nghiệp tập trung thuộc vùng kinh tế trọng điểm đã và đang ảnh hưởng nhất định đến môi trường tự nhiên cũng như xã hội, trong đó đặc biệt là đối với các dự án sản xuất quy mô lớn. Thực tế thời gian gần đây các cơ quan chức năng đã phát hiện một số vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường với các hành vi cố ý rất tinh vi của một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là vấn đề cần được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm ở tất cả các khâu từ thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư, đến triển khai thực hiện dự án cũng như quá trình hoạt động của dự án đầu tư. Về xúc tiến đầu tư: Công tác xúc tiến đầu tư trong thời gian qua còn nhiều bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa thực sự hiệu quả, nội dung và hình thức chưa phong phú, còn chồng chéo, mâu thuẫn gây lãng phí nguồn lực. Nguyên nhân là do ta chưa có một chiến lược tổng thể về xúc tiến đầu tư, làm cho công tác xúc tiến đầu tư thiếu một tầm nhìn dài hạn, có tính hệ thống; Trình độ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư còn hạn chế, thiếu cơ sở vật chất và điều kiện hoạt động; Công tác quản lý nhà nước và cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong công tác xúc tiến đầu tư chưa thực sự hiệu quả, nhiều nội dung chưa được xác định rõ ràng do còn thiếu một văn bản pháp luật quy định cụ thể về vấn đề này. Những góp ý cho chính sách: Biết tận dụng tốt cơ hội triệt để khai thác tốt nguồn vốn fdi hiện có ,lên có sự điều tiết của chính phủ nhằm đảm bảo sự phân bổ fdi ổn định và theo hướng có lợi cho nền kinh tế tránh tường hợp vốn vào nhiều nhưng thẩm thấu kém làm hại đến nền kinh tế. Phải có chính sách xử lý mạnh tay với những dự án ma và những dự án kém hiệu quả tránh những trường hợp mà chúng ta chỉ là trung gian của luồn vốn fdi. Phải có sự đồng bộ về việc thu hút fdi giữa các tỉnh thành địa phương tránh trường hợp có sự cạnh tranh fdi giữa các tỉnh thành địa phương dẫn tới chúng ta bị thiệt thòi về quyền lợi chính đáng Xác định lại vị trí của FDI Chiến lược cơ cấu lại nền kinh tế Việt Nam sẽ được thực hiện trong bối cảnh nước ta trở thành nước thu nhập trung bình, phấn đấu để trở thành nước thu nhập trung bình cao và tiến tới giàu có. Để phát triển từ nước thu nhập trung bình lên giàu có, cần 3 sự chuyển đổi: từ tích lũy sang sáng tạo, từ đa dạng hóa sang chuyên môn hóa, từ có kỹ năng sang kỹ năng tiên tiến (theo WB trong cuốn “Đông Á phục hưng” xuất bản năm 2007). FDI vào Việt Nam phải phù hợp với bối cảnh này, phục vụ cho mục tiêu này. FDI với vai trò là bộ phận tiên tiến hàng đầu trong nền kinh tế hiện nay hoàn toàn có thể và cần góp phần thúc đẩy ba sự chuyển đổi đó. Chúng ta cũng cần có FDI nhiều hơn, chất lượng hơn, và cần mạnh dạn dành cho FDI vị trí cao hơn trong một số lĩnh vực nhằm sớm đạt mục tiêu trên. Trong bối cảnh nguồn FDI bị khan hiếm đi do cuộc khủng hoảng toàn cầu, chính sách thu hút FDI càng phải đảm bảo không những hấp dẫn mà còn thực sự cạnh tranh so với các nước khác. Những đột phá trong chính sách thu hút FDI phải được áp dụng trong những trường hợp cần thiết, như ta đã từng làm với dự án của Intel trước đây, cả khi quyết định chấp thuận dự án cũng như trong quá trình triển khai thực hiện. Hướng vào mục tiêu phát triển Chính sách thu hút FDI cần hướng vào mục tiêu phát triển ở Việt Nam những lĩnh vực kinh doanh mới, hiện đại, phù hợp với nhu cầu của thị trường quốc tế, có tính cạnh tranh và khả năng kết nối cao với mạng kinh doanh toàn cầu. Cần tập trung cao vào những lĩnh vực chọn lọc, không tràn lan, và cương quyết khước từ những dự án có thể gây tổn hại lâu dài cho nền kinh tế về khai thác nguồn lực con người, tài nguyên, bảo vệ môi trường và vị thế trên thị trường. Khi đưa ra các lĩnh vực chọn lọc này, một mặt ta cần dựa trên chiến lược cơ cấu lại nền kinh tế của mình, mặt khác cần linh hoạt sẵn sàng chớp những thời cơ mới do thị trường bên ngoài và nhà đầu tư mang lại, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu và các nước đối tác chính sẽ cơ cấu lại và chuyển động mạnh sau khủng hoảng. Cũng rất cần quan tâm tự mình chuẩn bị các nguồn lực bên trong, đặc biệt là nhân lực và hạ tầng, xây dựng và phát triển các cơ sở cần thiết để tạo điều kiện và hỗ trợ cho sự hình thành và phát triển các lĩnh vực chúng ta muốn kéo FDI vào. Phù hợp và hỗ trợ quy hoạch phát triển mới các vùng kinh tế Chính sách thu hút FDI cần phù hợp và hỗ trợ cho quy hoạch phát triển mới các vùng kinh tế của Việt Nam. Một quy hoạch tổng thể, có tầm nhìn xa về phát triển các vùng, gắn kết với quy hoạch phát triển các ngành, có tính toán đầy đủ các yếu tố dân cư, vị trí địa lý trong nước và trong khu vực, môi trường tự nhiên (kể cả trong mối đe dọa biến đổi khí hậu), bối cảnh mới của cạnh tranh và hội nhập quốc tế… là cần thiết để đảm bảo sự phát triển hiệu quả, công bằng và bền vững ở Việt Nam. Quy hoạch này cũng là cơ sở để các nhà đầu tư chọn lựa vị trí tiến hành dự án của họ, sẽ chỉ điều chỉnh khi có những lợi ích mới, to lớn hơn cho toàn bộ nền kinh tế xuất hiện và không thể bị hy sinh cho lợi ích của bất cứ nhà đầu tư riêng lẻ hoặc địa phương nào. Xây dựng hoặc điều chỉnh quy hoạch phát triển cho các vùng kinh tế của Việt Nam cho giai đoạn tới rất cần tính toán để tận dụng và nâng cao vị thế của Việt Nam ở Đông Dương, trong Tiểu vùng Mekong mở rộng, trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN sẽ hình thành vào năm 2015, trong công thức “Trung Quốc cộng 1”, trong liên kết “ASEAN cộng 3” cũng như trong các cam kết thương mại tự do giữa Việt Nam hoặc giữa ASEAN với các đối tác khác. Hài hòa, bổ trợ cho chiến lược phát triển các doanh nghiệp Chính sách thu hút FDI cần hài hòa và bổ trợ cho chiến lược phát triển các doanh nghiệp trong nước, nhằm tranh thủ tối đa tác động lan tỏa tích cực của FDI, đặc biệt trong việc chuyển giao công nghệ, tạo liên kết với các doanh nghiệp Việt Nam, hình thành các cluster trong nước, trong khu vực, nâng cấp các doanh nghiệp công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ của Việt Nam, đưa các doanh nghiệp Việt Nam vào cùng tham gia các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu ở những khâu tạo nhiều giá trị gia tăng hơn… Khuôn khổ chính sách thu hút FDI cần chú trọng những biện pháp thực tế để xóa “khoảng trống” đang tồn tại, khuyến khích sự hợp tác, nâng cao khả năng hỗ trợ cho nhau trong quan hệ giữa FDI và doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước. Mặt khác, khuôn khổ chính sách này cũng cần ngăn chặn sự liên kết bất chính để lũng đoạn thị trường và không để FDI chèn lấn các doanh nghiệp trong nước. Một môi trường kinh doanh bằng phẳng, không phân biệt đối xử như luật pháp và các cam kết quốc tế của nước ta đòi hỏi rất cần được hình thành thực sự, để đảm bảo có đội ngũ doanh nghiệp đủ mạnh đặng phục vụ công cuộc phát triển của đất nước trong giai đoạn tới. Cần chính sách riêng biệt thu hút các nhà đầu tư chiến lược Cần thiết kế các chính sách cụ thể riêng biệt để thu hút các nhà đầu tư chiến lược từ các nước đối tác lớn, các công ty đa quốc gia, có tiềm năng lớn về công nghệ và thị trường, những đối tượng thực sự có khả năng đóng góp cho chúng ta đạt được những mục tiêu, yêu cầu nêu trên. Mặt khác cũng cần có những quy định rõ ràng về pháp lý để ngăn chặn những luồng đầu tư không mong muốn. Đây cần được coi là một định hướng quan trọng trong chiến lược cơ cấu và chính sách kinh tế đối ngoại mới, đòi hỏi có sự tự tin, có cách làm mạnh dạn, khôn ngoan, sẵn sàng vượt khỏi các khuôn khổ chính sách bình thường để tạo bước ngoặt cần thiết trong thu hút FDI. Thực hiện điều này đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng các đối tượng bên ngoài, nhận diện lợi ích thực thụ của mỗi bên để đánh giá, so sánh, chọn lựa và có cách đối xử thông minh, phù hợp thậm chí với từng đối tượng. Cũng cần có sự thống nhất về nhận thức và phối hợp hành động tốt giữa các cơ quan, đơn vị và cá nhân liên quan trong khi thực hiện chủ trương này. Các cấp tham gia quyết định và thực hiện các dự án FDI, đặc biệt ở các địa phương, rất cần được nâng cao trình độ và năng lực thẩm định, giám sát và làm việc với các đối tượng FDI đặc biệt này. Không thể thiếu những cải cách Cuối cùng, và cũng là quan trọng nhất, chính sách thu hút FDI không thể không đi liền với những cải cách mạnh dạn cần thiết nhằm thực hiện chiến lược cơ cấu lại nền kinh tế nước nhà. Hệ thống luật pháp, nền hành chính, các dịch vụ công cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường, tương thích với các chuẩn mực quốc tế được thừa nhận rộng rãi và các cam kết quốc tế của chúng ta. Luật pháp, chính sách và các quy hoạch phải đảm bảo tính minh bạch, nhất quán, tiên liệu được, và phải được thực thi nghiêm túc theo tinh thần thượng tôn pháp luật. Cải cách trong các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, thương mại, doanh nghiệp phải được thúc đẩy, dứt khoát và triệt để hơn, nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho đầu tư và phát triển của doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế nói chung. Trên hết, chúng ta cần đổi mới tư duy, nhận thức lại yêu cầu và định hướng phát triển nền kinh tế nước nhà trên cơ sở bối cảnh mới của đất nước và thế giới dưới tác động và nhân cơ hội của cuộc khủng hoảng đang diễn ra, để có quyết tâm cao cải cách và tái cơ cấu nền kinh tế. Có hai hướng tiềm năng mà chúng ta lên hướng fdi đến lĩnh vực đó là :Nghành công nghiệp phụ trợ và mở cửa thị trường dịch vụ Thứ ba, cần công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý. Trong đó, cần rà soát lại các văn bản phát quy liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế, sửa đổi các văn bản cho phù hợp với quy định của WTO. Thách thức lần này nặng nề hơn, song chắc chắn không làm nản lòng chúng ta cũng như các nhà đầu tư nước ngoài. Nhiều nhà đầu tư vẫn coi Việt Nam là một điểm đến hấp dẫn, một thị trường mới nổi với nhiều tiềm năng phát triển. Bằng những cải cách mạnh mẽ và chính sách đúng đắn, hành động khôn ngoan của mình, chúng ta sẽ giữ được niềm tin của họ, tiếp tục thu hút FDI vào nước ta với chất lượng cao hơn, và kết hợp nguồn lực đó với những nguồn lực nội tại của mình để đưa nền kinh tế vững vàng đi vào giai đoạn phát triển mới sau khủng hoảng.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPhần phân tích giải pháp chính sách thu hút vốn fdi.doc
Luận văn liên quan