Đề tài Phân tích các công cụ điều chỉnh xuất nhập khẩu của EU và đề xuất hướng đi cho xuất khẩu Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG I - TỔNG QUAN VỀ LIÊN MINH CHÂU ÂU 1. Quá trình hình thành và phát triển của EU 2. Cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của EU 3. Một số đặc điểm nổi bật của thị trường chung Châu Âu 3.1 Quy mô dân số 3.2 Tập quán và thị hiếu tiêu dùng 3.3 Chính sách thương mại 3.3.1 Chính sách thương mại nội khối 3.3.2 Chính sách ngoại thương của EU CHƯƠNG II - CÁC CHÍNH SÁCH, CÔNG CỤ ĐIỀU CHỈNH NHẬP KHẨU CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU 1. Chính sách thuế quan 1.1 Chính sách thuế quan cho các quốc gia đang phát triển 1.2. Chính sách thuế quan cho các quốc gia trong Liên minh Châu Âu 2 Chính sách phi thuế quan 2.1 Hạn ngạch 2.2 Hàng rào kỹ thuật 2.3 Chính sách chống bán phá giá. 2.4 Các biện pháp về quản lý hành chính 2.5 Biện pháp thể chế, quản lý nhập khẩu 2.6. Chính sách tỷ giá hối đoái CHƯƠNG III - ĐỀ XUẤT HƯỚNG ĐI CHO XUẤT KHẨU VIỆT NAM 1. Các biện pháp nhằm khuyến khích đầu tư. 1.1 Các biện pháp khuyến khích đầu tư trong nước. 1. 2 Các biện pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.2.1 Đa dạng hoá các hình thức thu hút vốn nước ngoài. 1.2.2 Tiếp tục ban hành các cơ chế, chính sách nhằm cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư. a. Tạo cơ sở pháp lý cho việc tiến tới xây dựng một luật đầu tư chung: b. Nghiên cứu sửa đổi, bổ xung luật pháp, chính sách và thủ tục, tạo thận lợi cho hoạt động FDI. 1.2.3 Nâng cao hiệu quả và năng lực điều hành hoạt động FDI. 2. Các biện pháp về tài chính tín dụng. 3. Biện pháp đa dạng hoá chủ thể kinh doanh. 4. Các vấn đề chất lượng, thị trường và xúc tiến thương mại. 4.1 Nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu. 4.2 Thành lập trung tâm xúc tiến thương mại Việt nam. 4.3 Quỹ khen thưởng xuất khẩu. 4.4 Thương mại cân bằng qua thương lượng. 5. Cải cách thủ tục hành chính. 5.1 Khuyến khích đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp, bằng thủ tục và dịch vụ một cửa. 5.2 Đơn giản hoá thủ tục gia công. 5.3 Công khai hoá các văn bản pháp luật. 5.4 Rà soát các thủ tục hành chính. 5.5 Quyền khiếu kiện. 5.6 Mã hàng hoá thuộc diện quản lý 5.7 Tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp. KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

doc37 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 16/05/2013 | Lượt xem: 1924 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phân tích các công cụ điều chỉnh xuất nhập khẩu của EU và đề xuất hướng đi cho xuất khẩu Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
h chống bán phá giá và áp dụng thuế "chống xuất khẩu bán phá giá" để đấu tranh với tình trạng cạnh tranh không lành mạnh và bất bình đẳng trong buôn bán với các nước ngoài liên minh. Thí dụ, đánh thuế 30% đới với những sản phẩm điện tử của Hàn Quốc và Singapore, nhôm của Nga, xe hơi của Nhật Bản, giầy dép của Trung Quốc, mức thế 50 - 100% đối với các sản phẩm camera truyền hình của Nhật Bản. Trong khi đó, các biện pháp chống hàng giả của EU cho phép ngăn chặn không nhập khẩu những hàng hoá được sản xuất do sao chép, đánh cắp bản quyền. Chính sách ngoại thương của EU biểu hiện trong việc áp dụng một số chính sách và công cụ đặc biệt, tiêu biểu là biểu thuế quan chung và chính sách chống bán phá giá. 1. Chính sách thuế quan 1.1 Chính sách thuế quan cho các quốc gia đang phát triển Chế độ GSP là một biện pháp đẩy mạnh thương mại của EU đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển (trong đó có Việt Nam) với mục đích giúp cho hàng hoá của các nước này tăng khả năng thâm nhập vào thị trường EU thông qua một số những ưu đãi thuế quan nhất định, từ đó thúc đẩy kinh tế của các nước này phát triển. Chế độ GSP được xây dựng dựa trên các nguyên tắc tự nguyện, không đòi hỏi có đi có lại, đơn phương quyết định. Chương trình này đã được Hội đồng châu Âu thông qua quy chế áp dụng cho từng thời kỳ: 1971 -1980, 1981-1990, 1991-1994, 1994-2005. Trong 8 năm trở lại đây, chương trình ưu đãi thuế quan 4 năm (1995-1998) đối với các sản phẩm công nghiệp nhất định có nguồn gốc từ các nước đang phát triển; (2) Quy định số 1256/96 ngày 20/6/1996 về việc áp dụng một chương trình ưu đãi thuế quan trong 4 năm (1996-1999) đối với một số sản phẩm nông nghiệp có nguồn gốc từ các nước đang phát triển: (3) Quy định số 2820 ngày 21/12/1998 về việc áp dụng một chương trình ưu đãi thuế quan trọng 3 năm (1999-2001) đối với tất cả các sản phẩm có xuất xứ các nước đang phát triển. Hiện nay, EU vẫn đang áp dụng chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập cho thời kỳ từ 1/7/1999 đến 31/12/2001. Theo chương trình này, EU chia ra các sản phẩm được hưởng GS thành 4 nhóm với mức thuế khác nhau dựa trên mức độ nhạy cảm đối với bên nhập khẩu, mức độ phát triển của nước xuất khẩu và những văn bản thoả thuận đã ký kết giữa hai bên. Bốn nhóm sản phẩm của các nước đang phát triển được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập của EU là:  1) Nhóm 1: Sản phẩm rất nhạy cảm: bao gồm phần lớn là nông sản và một số ít sản phảm công nghiệp tiêu dùng như: chuối tươi, chuối khô, dứa tưới, dứa hộp, (lượng đường không quá 17% trọng lượng), quần áo may sẵn, nguyên liệu thuốc lá, lụa tơ tằm,.. được hưởng mức thuế GSP bằng 85% thuế xuất MFN. Đây là nhóm mặt hàng EU hạn chế nhập khẩu.  2) Nhóm 2: Sản phẩm nhạy cảm: chủ yếu là thực phẩm, đồ uống, hoá chất, nguyên liệu, hàng thủ công (gạch lát nền và đồ sứ), gày dép, hàng điện tử dân dụng, xe đạp, ô tô, đồ chơi trẻ em...được hưởng mức thế GSP bằng 70% thuế suất MFN. Đây là nhóm mạt hàmg mà EU không khuyến khích nhập khẩu. 3) Nhóm 3: Sản phẩm án nhạy cảm: bao gồm phần lớn thuỷ sản đông lạnh (tôm, cua, mực đông lạnh, cá tươi ướp lạnh) một số nguyên liệu và hoá chất, hàng công nghiệp dân dụng (máy điều hoà, máy giặt, tủ lạnh)..được hưởng mức thuế suất GSP bằng 35% thuế suất MFN. Đây là nhóm mặt hàng EU khuyến khích nhập khẩu.  4)Nhóm 4: Sản phẩm không nhạy cảm: chủ yếu là một số loại thực phẩm, đồ uống, (nước khoáng, bia, rượu), nguyên liệu (than đá, dầu thô, cao su..), nông sản (dừa cả vỏ, hạt điều)..được hưởng mức thuế GSP bằng 0% đến 10% thuế suất MFN. Đây là nhóm mặt hàng EU đặc biệt khuyến khích nhập khẩu. Mỗi nhóm hàng trên gồm nhiều mặt hàng chịu các mức thuế suất khác nhau trong phạm vi giới hạn của GSP giai đoạn 1/7/1999 đến 31/12/2001. Đến cuối năm 2004, EU sẽ chấm dứt giai đoạn của chương trình GSP và xoá bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may của các nước là thành viên WTO còn đối với những nước không phải là thành viên của WTO (trong đó có Việt Nam) thì chưa có chính sách cụ thể. Cho đến nay, EU vẫn chưa đưa ra chương trình thực hiện GSP cho thời kỳ từ 2005 trở đi, nhưng họ đang tiến từng bước giảm thuế quan và giảm ưu đãi GSP. Trong tương lai, tới một thời điểm nhất định, hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển khi xâm nhập vào thị trường EU sẽ không được hưởng GSP nữa và phải cạnh tranh bình đẳng với hàng của các nước phát triển, chịu cùng một mức thuế như hàng của những nước này và không được hưởng các ưu đãi khác. Như vậy, đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU thời kỳ 2005 -2010 sẽ xảy ra hai khả năng: thứ nhất, có thể hàng xuất khẩu của Việt Nam vào EU không phải chịu hạn ngạch hoặc phải chịu hạn ngạch nhưng vẫn được hưởng GSP. Cho dù xảy ra trường hợp nào thì giai đoạn 2001-2010 có khả năng sẽ rất khó khăn và nhiều thách thức đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU. Các biện pháp khuyến khích trong GSP của EU so với ưu đãi mà cá nước và khu vực khác dành chó các nước đang phát triển vào loại thấp nhất. Có lẽ vì thế đã tồn tại trong hệ thống GSP của EU quy định khuyến khích tăng thêm mức ưu đãi 10%, 20%o Cho 35% đối với hàng nông sản và 15% 25% 35% đối với hàng nông sản và của EU bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/1999 thì những trường hợp sau được hưởng ưu đãi thêm:  -Bảo vệ quyền của người lao động: nước hưởng GSP cần chứng minh trong các văn bản pháp quy của mình có các quy định về các tiêu chuẩn áp dụng các nguyên tắc về tổ chức, đàm phán tập thể và tuổi lao động tối thiểu.  -Bảo vệ môi trường: các văn bản pháp quy của nước hưởng GSP phải có các quy định cụ thể áp các tiêu chuẩn của OIBT về bảo vệ môi trường. 1.2. Chính sách thuế quan cho các quốc gia trong Liên minh Châu Âu EU áp dụng biểu thuế quan chung (CCT) chủ yếu đối với các mặt hàng công nghiệp. Đây là công cụ chủ yếu trong chính sách thương mại của Liên minh. Các thành phần của CCT bao gồm danh mục các mặt hàng tính thuế, các quy định về cách tính thuế, miễn hoặc giảm thuế, xuất xứ hàng hoá. Các mức thuế quan được xây dựng trên cơ sở lấy bình quân các mức thuế áp dụng với từng mặt hàng kể từ ngày 1/1/1957 ở 6 nước của EEC khi mới thành lập là Pháp, Tây Đức, Italy, và Benelux (gồm Bỉ, Hà Lan và Luxembourg). Theo cách tính này thì phần lớn các mức thuế của Pháp và Italy phải giảm đi, còn các mức thuế ở Đức và Luxembourg được tăng lên. Trong quá trình xây dựng, CCT được chia thành ba giai đoạn và kết thúc vào năm 1968, sớm hơn so với thời hạn dự kiến 2 năm. Hiệp ước Roma có quy định điều khoản theo đó các thành viên EC luôn sẵn sàng đàm phán nhằm cắt giảm các mức thuế quan chung. Những thoả thuận về những cắt giảm như vậy đã đạt được trong khuôn khổ một loạt các vòng đàm phán Dillon (1961-1962), mức CCT bình quân được giảm từ 25% vào năm 1958 xuống còn 11,7% vào năm 1963. Còn kết quả đạt được sau vòng đàm phán Kennedy là các mức thuế quan được cắt giảm trung bình đối với Hoa Kỳ là 32% và với Anh là 35%. Do có những thoả thuận cắt giảm như vậy cho nên đến tháng 1/1972, mức trung bình của CCT chỉ còn là 8,1% giảm đi 35% so với mức ban đầu, 12% và 11,5%. Một khi đã xây dựng được các mức CCT thì các nước thành viên phải có nghĩa vụ áp dụng chúng theo một cách thức thống nhất. Điều này liên quan đến danh mục các mặt hàng, thủ tục tính thuế và các quy định về xuất xứ hàng hoá kết hợp với việc thực hiện GSP. Đặc biệt khi làm rõ đặc điểm trong chính sách ngoại thương EU, cần phải nghiên cứu biểu thuế quan có liên quan đến xuất xứ của hàng hoá theo quy định của liên minh. Xuất xứ hàng hoá của EU được quy định cụ thể như sau:  -Đối với các sản phẩm hoàn toàn được sản xuất tại lãnh thổ nước hưởng GSP như: khoáng sản, động thực vật, thuỷ sản đánh bắt trong lãnh hải và các hàng hoá sản xuất từ các sản phẩm đó xem là có xuất xứ và được hưởng GSP. - Đối với các sản phẩm sản xuất tại nước hưởng GSP ( tính theo giá xuất xưởng) phải đạt 60% tổng giá trị hàng liên quan. Tuy nhiên, đối với một số nhóm hàng thì hàm lượng này thấp hơn. EU quy định cụ thể tỷ lệ trị giá và công đoạn gia công đối với một số nhóm hàng mà yêu cầu phần trị giá sáng tạo thấp hơn 60% (điều hoà nhiệt độ, tủ lạnh không dưới 40%: đồ trang trí làm từ kim loại không dưới 30%; giày dép chỉ được hưởng GSP nếu các bộ phận như: mũi, đế, ở dạng rời sản xuất trong nước hưởng GSP hoặc nhập khẩu;..) EU còn quy định xuất xứ cộng gộp, đây là quy định về xuất xứ mà theo đó hàng của một nước có thành phần xuất xứ từ một nước trong cùng một tổ chức khu vực cũng được hưởng GSP thì các thành phần đó cũng được xem là có xuất xứ từ nước liên quan. Thí dụ, Việt Nam xuất khẩu sang EU một mặt hàng trong đó thành phần xuất xứ của Việt Nam chiếm 29% giá trị, còn lại 15% giá trị nhập khẩu của Indonesia, 10% của Thái lan, 15% của Singapone. Xuất xứ cộng gộp của hàng Việt Nam sẽ là: 20%+15%+10% = 60%. Mặt hàng này sẽ ra không được hưởng GSP (vì hàm lượng giá trị của Việt Nam chưa được 50%), nhưng nhờ cộng gộp (60%) nên đã đủ điều kiện hưởng GSP. Đây là đặc điểm về xuất xứ của EU mà các doanh nghiệp Việt Nam cần lưu ý và vận dụng. 2 Chính sách phi thuế quan 2.1 Hạn ngạch Là một công cụ được EU sử dụng để hạn chế số lượng hoặc giá trị một số mặt hàng nhập khẩu vào EU và phân bổ theo hạn ngạch theo chương trình hỗ trợ các nước đang phát triển trong khung khổ của GSP. Những hạn ngạch này nằm cho quy chế 519/94 (của khối EU cũ) áp dụng cho một số nước chưa phải là thành viên của WTO. Tuy nhiên, sau khi gia nhập WTO, những hạn chế về định lượng được thoả thuận là phải dỡ bỏ vào năm 2005. Hiện nay, một số mặt hàng của Việt Nam như hàng dệt may, một số loại thuỷ sản xuất khẩu sang thị trường EU cũng phải chịu sự quản lý bằng hạn ngạch. 2.2 Hàng rào kỹ thuật Rào cản kỹ thuật chính là quy mô chế nhập khẩu chung và các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của EU, được cụ thể hoá ở 5 tiêu chuẩn bắt buộc của sản phẩm: tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn về lao động. Những mặt hàng xuất khẩu như hải sản, nông sản thực phẩm và dược liệu của Việt Nam phải thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu này của EU. Năm tiêu chuẩn bắt buộc đối với sản phẩm nhập khẩu vào thị trường EU cụ thể như sau: 1) Tiêu chuẩn chất lượng: Hệ thống quản lý ISO 9000 gần như là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sang thị trường EU. Đây là hệ thống quản lý chất lượng do Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế đặt ra để giúp các đơn vị sản xuất cải tiến hệ thống quản lý nhằm nâng cao năng xuất và chất lượng sản phẩm, duy trì sự đồng nhất và phù hợp giữa chất lượng và giá thành. Có thể coi ISO 9000 như một "ngôn ngữ" xác định cam kết cung ứng sản phẩm có chất lượng đáng tin cậy cũng như "phương tiện thâm nhập" vào thị trường EU mà các doanh nghiệp Việt Nam cần lưu ý và thực hiện. 2) Tiêu chuẩn 2: tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm. Về phương diện này, EU đòi hỏi các doanh nghiệp chế biến hàng thực phẩm xuất khẩu sang EU phải tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh chặt chẽ. Đặc biệt việc áp dụng hệ thống HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point) trong các xí nghiệp chế biến hải sản là một yêu cầu không thể thiếu. HACCP là hệ thống phân tích nguy cơ và kiểm soát các trọng yếu áp dụng cho các doanh nghiệp trực phẩm và các ngành có liên quan (chăm nuôi, trồng trọt) Hệ thống này có tính bắt buộc với các công ty nước ngoài. Nhưng từ ngày 1/1/1993, EU đã ra một văn bản hướng dẫn nhập khảu hàng thuỷ sản nêu rõ: "Các điều khoản áp dụng cho nhập khẩu thuỷ sản từ nước thứ 3 phải tương đương với hàng lưu thông trong EU". Như vậy, một cách gián tiếp cơ chế này đã bắt buộc các nhà xuất khẩu nước những ngoài phải tuân thủ các nguyên tắc HACCP khi muốn thâm nhập vào thị trường EU. Các công ty chế biến thực phẩm của việt nam phải tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh chặt chẽ. Về phương diện này, việc áp dụng hệ thống HACCP là rất quan trọng và gần như là yêu cầu bắt buộc đối với các xí nghiệp chế biến thuỷ hải sản của các nước đang phát triển muốn xuất khẩu sản phẩm vào thị trường EU. 3) Tiêu chuẩn 3: tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng EU đã thông qua những quy định về độ an toàn chung của sản phẩm hay các định chuẩn. Hiện nay, ở EU có 3 tổ chức định chuẩn: Uỷ ban châu Âu về định chuẩn điện tử, Viện định chuẩn viễn thông của châu Âu chịu trách nhiệm đưa ra các quy chế định chuẩn. Theo hệ thống quy chế này, kỹ mã hiệu là quan trọng số một trong lưu thông hàng hoá trên thị trường EU và được quy định rất nghiêm ngặt, cụ thể đối với một số nhóm hàng của nước ta như sau:  - Các sản phẩm thực phẩm, đồ uống đóng gói phải ghi rõ tên sản phẩm, nhãn mác, danh mục thành phần, thành phần, trọng lượng ròng, thời gian và cách sử dụng, địa chỉ của nước sản xuất hoặc nơi bán, nơi sản xuất, các điều kiện đặc biệt để bảo quản, để chuẩn bị sử dụng hoặc các thao tác bằng tay, mã số và mã vạch để nhận dạng lô hàng.  - Các loại thuốc mem đều phải được kiểm tra, đăng ký và phải được các cơ quan thẩm quyền của các quốc gia thuộc EU cho phép trước khi được bán ra trên thị trường. Giữa các cơ quan thẩm quyền này và uỷ ban châu Âu về định chuẩn thiết lập một hệ thống thông tin trao đổi tức thời có khả năng nhanh chóng thu hồi bất cứ loại thuốc nào có tác dụng phụ đang được bán trên thị trường.  - Đối với các loại vải lụa, EU lập ra một hệ thống thống nhất về mã hiệu cho biết các loại sợi cấu thành nên loại vải hay lụa được bán trên thị trường. 4) Tiêu chuẩn 4: tiêu chuẩn bảo vệ môi trường. Thị trường EU yêu cầu các hàng hoá có liên quan đến môi trường phải dán nhãn sinh thái (ecolabels) hoặc nhãn tái sinh theo quy định. Ngoài ra, các nhà sản xuất còn phải đảm bảo tuân thủ hệ thống quản lý môi trường ISO 14000. Đây là bộ tiêu chuẩn được xây dựng trên cơ sở các thoả thuận quốc tế, đem đến cách tiếp cận hệ thống cho việc quản lý môi trường và cung cấp các công cụ hỗ trợ có liên quan như đánh giá môi trường, phân tích chu kỳ sống của sản phẩm. Nhằm cải thiện môi trường một cách liên tục tại các tổ chức cơ sở. Như vậy, thị trường EU yêu cầu hàng hoá có liên quan đến môi trường phải dán nhãn theo quy định (nhãn sinh thái, nhãn tái sinh) và có chứng chỉ được quốc tế công nhận, nên các doanh nghiệp Việt Nam cần có ý thức tôn trọng. Ví dụ, tiêu chuẩn GAP (Good agrricultural Practice) và các nhãn hiệu sinh thái (Ecolabels) đang ngày càng phổ biến, chứng tỏ các cấp độ kách nhau về môi trường tốt. Ngoài ra, các công ty ngày càng được yêu cầu phải tuân thủ hệ thống quản lý môi trường (các tiêu chuẩn The social Accountability 8000 sẽ ngày càng trở nên quan trọng trong những năm tới. 5) Tiêu chuẩn 5: tiêu chuẩn về lao động EU cấm nhập khẩu những hàng hoá mà quá trình sản xuất doanh nghiệp sử dụng bất kỳ một hình thức lao động cưỡng bức nào như được xác định trong Hiệp ước Geneva (25/9/1926 và 7/9/1956) và các Hiệp ước lao động quốc tế số 29 và 105. Uỷ ban châu Âu (EC) tiền thân của EU có quyền đình chỉ hoạt động của các xí nghiệp này sử dụng lao động cưỡng bức và cấm nhập khẩu những hàng hoá mà quá trình sản xuất sử dụng bất kỳ một hình thức lao động cưỡng bức nào như được xác định trong các Hiệp ước Geneva ngày 25/9/1926 và 7/92956 và các Hiệp ước Lao động quốc tế số 29 và 105. Ví dụ, các hình thức lao động cưỡng bức bị cấm khi doanh nghiệp sử dụng để sản xuất hàng hoá nhập khẩu như: lao động tù nhân, lao động trẻ em, v..vv... Qua đây có thể thấy chính sách thương mại nói chung và chế độ quản lý nhập khẩu nói riêng của EU là rất phức tạp. Do đó, việc thu thập và phổ biến thông tin về thị trường này đến các nhà sản xuất của Việt Nam là việc làm cần có tầm quan trọng hàng đầu đối với chúng ta hiện nay. Theo cách tính toán của UNCTAD ( Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại phát triển), do thiếu thông tin và không hiểu rõ các quy định về thủ tục của EU, Việt Nam hiện nay chỉ sử dụng được khoảng 48% các ưu đãi của EU trong chế độ GSP.  EU sử dụng "rào cản kỹ thuật" là biện pháp chủ yếu để đảm bảo hộ sản xuất và tiêu dùng nội địa hiện nay vì thuế nhập khẩu vào EU đang giảm dần. Hơn nữa, các nước đang phát triển được EU cho hưởng thuế quan ưu đãi GSP. Bởi vậy, yếu tố có tính quyết định việc hàng của các nước này có thâm nhập vào được thị trường EU hay không chính là hàng hoá đó có vượt qua được rào cản kỹ thuật của EU hay không. EU là thị trường đòi hỏi yêu cầu chất lượng cao, điều kiện thương mại nghiêm ngặt và được bảo hộ đặc biệt. Các khách hàng EU nổi tiếng khó tính về mẫu mốt, thị hiếu. Khác với Việt Nam, nơi giá cả có vai trò quyết định trong vịêc mua hàng, đối với phần lớn người châu âu thì "thời trang" là một trong những yếu tố quyết định. Chỉ khi các yếu tố chất lượng, thời trang và giá cả hấp dẫn thì sản phẩm mới có cơ hội bán được ở châu Âu. Việc nhiều nước châu âu khác, đặc biệt là Trung Quốc, với tiềm năng xuất khẩu lớn và đã có nhiều kinh nghiệm có mặt ở thị trường EU là một khó khăn lớn đối với Việt Nam khi thâm nhập thi trường này. Ngày nay, EU là một thị trường mở có quy mô lớn đối với các nhà đầu tư và các sản phẩm nước ngoài. Do đó, nó là một thị trường mang tính cạnh tranh rất lớn vì lượng hàng nhập khẩu rất nhiều. Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường này đang bị sức ép rất mạnh của Trung Quốc (giày dép, dệt may, hàng điện tử, đồ chơi, thủ công mỹ nghệ), hàng Indonesia (dệt may, giày dép,..). Phần lớn hàng của các đối thủ cạnh tranh có ưu thế hơn hàng của Việt Nam về chất lượng, giá cả và nguồn cung cấp ổn định. Muốn đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU thì không còn cách nào khác là chúng ta phải chiến thắng trong cạnh tranh, đánh bại các đối thủ chiếm lĩnh thị trường. Để làm được việc đó, hàng xuất khẩu Việt nam phải phù hợp với thị hiếu tiêu dùng và đáp ứng tốt 5 tiêu chuẩn của sản phẩm (chất lượng, vệ sinh thực phẩm, an toàn cho người sử dụng, bảo vệ môi trường và lao động). Ngay từ lúc này, chúng ta cần phải thực hiện việc cải tiến sản xuất, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, đa dạng hoá và sản xuất sản phẩm theo thị hiếu tiêu dùng trên thị trường EU. 2.3 Chính sách chống bán phá giá. Các quy định về chống bán phá giá của EU được đưa ra từ những ngày đầu thành lập và được xây dựng trên cơ sở điều khoản của WTO, EU chỉ được áp dụng các biện pháp chống bán phá giá trong trường hợp các ngành công nghiệp của EU bị tổn hại do việc nhập khẩu các sản phẩm phá giá. Đây là những sản phẩm được bán trên thị trường nội địa với mức giá "thông thường". Tuy nhiên, việc so sánh các mức giá này thường gặp khó khăn. Cách tính giá "thông thường" của EU dựa vào chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận cận biên. Vấn đề làmức lợi nhuận như thế nào mới được coi là thích hợp. Xu hướng của EU là tính mức lợi nhuận cao, có khi tới 30%. Các quy định chống bán phá giá của EU được xác định trong Quy chế chống phá giá có hiệu lực từ năm 1995 và sau đó được cập nhật bằng quy chế 384/96 có hiệu lực từ ngày 6/3/1996. Quy chế mới lồng ghép tất cả các biện pháp được thoả thuận tại vòng đàm phán Urugoay của GATT. Quy chế chống phá giá năm 1996 quy định việc áp dụng thế chống bán phá giá và chỉ được áp dụng thuế này trong các đìều kiện. - Có phát hiện bán phá giá: giá xuất khẩu của sản phẩm trên thị trường EU thấp hơn giá bán tại thị trường của nhà xuất khẩu.  - Có tổn hại vật chất cho doanh nghiệp của EU; hàng nhập khẩu gây ra hoặc đe doạ gây tổn thất cho phần lớn ngành kinh doanh EU.  - Lợi ích của EU: chi phí mà EU bỏ ra để thực hiện các biện pháp không được tỉ lệ ngịch với lợi ích thu được. Sau khi các mức giá xuất khẩu và giá thông thường đã được xác định thì chúng được so sánh với nhau để xác định mức phá giá. Luật pháp của EU cho phép thực hiện điều chỉnh đối với các mức chênh lệch liên quan đến công dụng của các sản phẩm, thuế nhập khẩu, các loại thuế gián tiếp, các chi phí bán hàng như vận chuyển vận chuyển và tiền trả hoa hồng. Tuy nhiên, EU bị phê phán là không tính đến nhưng mức khác biệt lớn hơn về sản lượng bán ra trên thị trường nội địa hoặc về hoạt động Marketing khi bán hàng. Phương pháp so sánh các mức giá của EU cũng bị phê phán (đặc biệt từ phía Nhật Bản) vì các chi phí bán không được tính đến trên thị trường EU nhưng lại được tính đến trên thị trường nội địa, dẫn đến làm tăng thêm mức chênh lệch giá. Khi mức bán phá giá được tính đến trên thị trường đó có làm tổn hại đến ngành sản xuất nội địa hay không. Mức độ gây tổn hại thường được đo bằng các chỉ số như lợi nhuận công suất hoạt động và thị phần. Quá trình này cần đến việc thu nhập và xử lý một lượng thông tin lớn về kinh tế, tài chính và thương mại. Sau khi xác định được mức bán phá giá và mức độ tổn hại đối với các ngành sản xuất nội địa, EU áp dụng các mức thuế chống phá giá hoặc chấp nhận đề nghị từ phía người xuất khẩu lên. Thông thường, các bên không nên áp dụng đặt mức thuế chống phá giá ở mức tối đa nếu như điều này không cần thiết cho việc ngăn chặn tổn hại do bán phá giá gây ra. EU thường tính toán ở mức độ tổn thất và áp đặt mức thuế đúng bằng mức đó . Về nguyên tắc, các biện pháp chống bán phá giá thường là các mức thuế tính theo giá trị. Tuy nhiên, đối với những mặt hàng đồng nhất như nguyên liệu, nông sản thì thuế tính theo số lượng thường được áp dụng. Trong trường hợp mức thuế áp dụng vượt quá mức phá giá thì khoản chênh lệch sẽ phải được hoàn trả cho nhà xuất khẩu. 2.4 Các biện pháp về quản lý hành chính Một đặc điểm nổi bật trên thị trường EU là quyền lợi của người tiêu dùng được bảo vệ nghiêm ngặt, khác hẳn với thị trường của các nước đang phát triển. Để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng, EU tiến hành kiểm tra các sản phẩm ngay từ nơi sản xuất và có các hệ thống báo động giữa các nước thành viên, đồng thời bãi bỏ việc kiểm tra các sản phẩm ở biên giới. EU đã thông qua những quy định bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng về độ an toàn chung của các sản phẩm được bán ra, các hợp đồng quảng cáo, bán hàng tận nhà, nhãn hiệu, v.v.. các tổ chức chuyên nghiên cứu đai diện cho giới tiêu dùng sẽ đưa ra các quy chế định chuẩn Quốc gia hoặc châu Âu. Hiện nay, ở EU có 3 tổ chức định chuẩn: Uỷ ban châu Âu về định chuẩn, Uỷ ban châu Âu về định chuẩn điện tử, Viện Định chuẩn viễn thông châu Âu. Tất cả các sản phẩm chỉ có thể bán được ở thị trường này với điều kiện phải bảo đảm tiêu chuẩn an toàn chung của EU, các luật và định chuẩn quốc gia được sử dụng chủ yếu để cấm buôn bán sản phẩm được sản xuất từ các nước có những điều kiện sản xuất chưa đạt được mức an toàn ngang với tiêu chuẩn của EU. Quy chế bảo đảm an toàn của EU đối với một số loại sản phẩm tiêu dùng biểu hiện cụ thể như sau: - Các sản phẩm thực phẩm, đồ uống đóng gói sản phẩm phải ghi rõ tên sản phẩm, nhãn mác, danh mục thành phẩm, thành phần, trọng lượng tịnh, thời gian sử dụng, cách sử dụng, địa chỉ của nước sản xuất hoặc nơi bán, nơi sản xuất, các điều kiện đặc biệt để bảo quản, để chuẩn bị sử dụng hoặc các thao tác bằng tay, mã số và mã vạch để dễ nhận dạng lô hàng.  - Các loại thốc men đều phải được kiểm tra chặt chẽ, phải đăng ký và được các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia thuộc EU cho phép trước khi sản phẩm được bán ra trên thị trường EU. Giữa các cơ quan có thẩm quyền này và Uỷ ban châu Âu về định chuẩn thiết lập một hệ thống thông tin trao đổi tức thời, có khả năng nhanh chóng thu hồi bất cứ loại thuốc nào có tác dụng phụ đang được bán trên thị trường.  - Đối với các loại vải lụa, EU lập ra một hệ thống nhất về mã hiệu cho biết các loại sợi cấu thành nên loại vải hay lụa được bán ra trên thị trường EU. Bất cứ loại vải hay lụa nào được sản xuất ra trên cơ sở hai hay nhiều loại sợi mà trong các loại ấy chiếm tối thiểu 85% tổng trọng lượng thì trên mã hiệu có thể đề tên của loại sợi đó kèm theo tỷ lệ về trọng lượng hoặc đề tên của loại sợi đó kèm tỷ lệ tối thiểu 85%, hoặc ghi cấu thành chi tiết của sản phẩm. Nếu sản phẩm gồm hai hoặc nhiều loại sợi mà không loại sợi nào đạt tỷ lệ 85% tổng trọng lượng thì trên mã hiệu ít nhất cũng phải ghi tỷ lệ của hai loại sợi quan trọng nhất, kèm theo tên các loại sợi khác đã được sử dụng. Nếu các sản phẩm không ghi đúng như vậy thì không được bán trên thị trường bất cứ nước EU nào.EU ngày nay được xem như là một "đại quốc gia" ở châu Âu chính sách thương mại chung của EU cũng giống như chính sách thương mại của một quốc gia. Nói một cách chung nhất, tác động trực tiếp của chính sách bảo hộ nói trên là đem lại lợi ích cho nhà sản xuất, còn người tiêu dùng của EU thì bị đánh thuế. Tuy nhiên, sự bảo hộ như vậy chỉ là bề ngoài vì nó phụ thuộc không chỉ vào các mức thuế linh hoạt và các chính sách, công cụ khác. Đây chỉ là hình thức bảo hộ danh nghĩa vì các mức thuế linh hoạt và các chính sách, công cụ khác còn phụ thuộc vào các yếu tổ tiền tệ tỷ giá hối đoái nữa. Do các mức giá nói trên được tính bằng EURO trong khi giá thế gới nhìn chung lại được tính bằng USD, nên khi USD lên giá so với EURO thì các mức đó sẽ giảm xuống hoặc ngược lại. Có chế giá cả và kiểm soát đối với từng sản phẩm cũng có tác động đến quan hệ thương mại với các nước ngoài EU. Lý do là vì cơ chế này ảnh hưởng không chỉ tới nhu cầu nhập khẩu và lượng hàng hoá dành cho xuất khẩu. Do các cơ chế kiểm soát nói trên làm mức giá nội địa cao hơn mức giá trên thị trường thế giới cho nên sản xuất có xu hướng gia tăng, và tiêu dùng có xu hướng giảm sút. Kết quả là nhập khẩu của EU có xu hướng giảm trong mức cung xuất tăng lên. Tuy mức giá chung cao hơn mức giá thế giới. Nhưng nhập khẩu lại có xu hướng giảm sút vì tác dụng của các mức thuế quan linh hoạt, còn xuất khẩu được khuyến khích bởi cơ chế tài chính, thuế quan. Nên có khuynh hướng tăng lên. 2.5 Biện pháp thể chế, quản lý nhập khẩu Các công cụ hành chính khác nhằm quản lý nhập khẩu: hiện nay để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong thương mại và để khắc phục với những trở ngại trong buốn bán với thế giới thứ ba, EU còn ban hành chính sách chống bán phá giá (anti - dumping), chống trợ cấp xuất khẩu và áp dụng thuế "chống xuất khẩu bán phá giá". Trong khi đó, các biện pháp chống hàng giả của EU lại cho phép ngăn chặn không cho nhập khẩu những sản phẩm đánh cắp bản quyền. và trên cơ sở các chỉ tiêu nhân đạo và bảo vệ môi trường, EU cũng cấm nhập khẩu lông thú động vật bị gãy bằng các dụng cụ đúc bằng thép từ (1/121979). Ngoài những công cụ hành chính quản lý nhập khẩu, EU còn phân biệt hai nhóm nước: nhóm áp dụng cơ chế kinh tế thị trường (nhóm I) và nhóm có nền thương nghiệp quốc doanh (nhóm II). (trong đó có Việt Nam) chịu sự quản lý chặt và thường phải xin phép trước khi nhập khẩu vào thị trường EU. Đây là một sự phân biệt đối xử bất lợi cho hàng Việt Nam xuất khẩu sang EU trong suốt một thời gian dài. Cho đến ngày 14/5/2000, EU mới chính thức "công nhận Việt Nam áp dụng kinh tế thị trường". 2.6. Chính sách tỷ giá hối đoái Khu vực các nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu là một nhóm các quốc gia thành viên của Liên minh Châu Âu sử dụng đồng Euro làm đơn vị tiền tệ chính thức của mình. Các thành viên chính thức Khu vực Euro: Khu vực Euro (17) Những quốc gia thuộc Liên Âu quy định sẽ phải gia nhập hệ thống Euro(8) Quốc gia thuộc Liên Âu có quyền rút khỏi hệ thống Euro(1) Quốc gia Liên Âu dự định mở cuộc trưng cầu dân ý về việc gia nhập hệ thống Euro nhưng với quyền rút khỏi hệ thống(1) Khu vực ngoài khối Liên Âu dùng Euro theo thỏa hiệp riêng(5) Khu vực ngoài khối Liên Âu dùng Euro mà không có thỏa hiệp(4) Các nước hay lãnh thổ ngoài Liên minh châu Âu nhưng sử dụng đồng Euro được tô đậm bằng đường gạch màu xanh. Có 17 nước sau đây đã đưa đồng Euro làm tiền tệ chính thức vào lưu hành: Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Cyprus, Đức, Hà Lan,Hy Lạp, Ireland, Luxembourg, Malta, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha,Ý, Slovenia, Slovakia, Estonia. Tháng 11 năm 2004, Hy Lạp đã không thỏa mãn đủ các điều kiện gia nhập theo thời điểm quy định trong Hiệp định Masstricht. Hơn nữa Hy Lạp đã che dấu vụ thâm hụt ngân sách quốc gia và báo cáo giả mạo các số liệu cho Ủy ban châu Âu. Tuy nhiên sự việc này không có hậu quả pháp lí vì các hiệp định đều không đề cập đến những trường hợp kể trên. Một vài quốc gia khác đã tham gia vào liên minh tiền tệ với thành viên trong vùng Euro và vì vậy cũng đưa đồng Euro vào sử dụng như là tiền tệ chính thức. Các quốc gia này là: Monaco, San Marino, Toà thánh Vatica. Thành viên không chính thức Bên cạnh các thành viên chính thức, một số quốc gia hay địa phận khác cũng đã tự quyết định chọn Euro làm tiền tệ chuẩn (không có quyết định của EU): Andorra (có ý định phát hành tiền kim loại Euro, cho đến nay vẫn không có sự đồng ý của EU), Kosovo, Montenegro . Các thành viên không chính thức này đã từ bỏ tiền tệ riêng hay từ bỏ một trong số những tiền tệ trước đây và thay vào đó là dùng Euro, vì thế mà (về mặt đồng Euro) các thành viên này không còn độc quyền tiền tệ nhưng lại không có ảnh hưởng đến chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung ương châu Âu. Các quốc gia có tỷ giá hối đoái cố định với Euro Hai quốc gia trong vùng Euro, Hà Lan và Pháp, có địa phận ở hải ngoại. Tiền tệ của các địa phận thuộc Hà Lan (đồng Florin của Aruba và đồng Gulden của Antillen) đã và vẫn đang gắn với đồng Đô la Mỹ và không bị tác động bởi việc đưa đồng Euro vào lưu hành tại Hà Lan cũng như trong các nước thành viên khác. Tại các địa phận thuộc Pháp phải phân biệt giữa các khu hành chính hải ngoại (tiếng Pháp: Départements d’Outre-Mer) bao gồm Guyane thuộc Pháp, Guadeloupe, Martinique, Réunion, và các lãnh thổ đặc biệt (tiếng Pháp: Collectivités Territoriales) là Saint Pierre và Miquelon và Mayotte. Trong tất cả các địa phận nói trên đồng Euro có giá trị từ ngày 1 tháng 1 năm 1999. Các départements được "tự động" bao gồm trong việc đưa đồng Euro vào lưu hành thông qua các hiệp định với Pháp. Các collectivités territoriales đã phải cần đến một quyết định riêng của hội đồng hành chính (quyết định của hội đồng vào ngày 31 tháng 12 năm 1998 về các quy định tiền tệ trong các lãnh địa thuộc Pháp Saint-Pierre và Miquelon và Mayotte). Các quốc gia châu Phi dùng đồng CFA-Franc có tỷ giá cố định với Euro Thêm vào đó, đồng Euro đã trở thành một ngoại tệ quan trọng trong nhiều nước như là một sự lựa chọn khác thay cho đồng Đô la Mỹ. Một vài loại tiền tệ trước đây gắn liền với các tiền cũ trước Euro nay có tỷ giá hối đoái cố định với Euro: • Bosna và Hercegovina, 1 EUR = 1,95583 Mark Bosna và Hercegovina (đồng mark chuyển đổi), tương ứng với tỷ giá của đồng Mark Đức. • Bulgaria, 1 EUR = 1,95583 BGN, tương ứng với tỷ giá của đồng Mark Đức. • CFA-Franc, 1 EUR = 655,957 XAF/XOF (tương ứng với tỷ giá của đồng Franc Pháp cũ trước 1960). • CFP-Franc, 1 EUR= 119,2529826 XPF • Cabo Verde, 1 EUR = 110,265 CVE. • Comores, 1 EUR = 491,9677 KMF. • Latvia, 1 EUR= 0,702804 LVL. • Litva, 1 EUR = 3,4528 LTL. Các thành viên EU như Đan Mạch, Estonia, Latvia, Litva gắn kết đồng nội tệ vào đồng Euro thông qua Cơ chế Tỷ giá hối đoái II (ERM II), quy định khoảng dao động của các đồng nội tệ này so với đồng Euro. Đồng Kroon của Estonia được gắn kết với đồng Mark Đức từ trước khi có Euro và vì thế đã gắn kết với đồng Euro trước khi gia nhập Cơ chế Tỷ giá hối đoái II. Các quốc gia này đã thực hiện bước đầu tiên để có thể đưa tiền tệ chính thức của cộng đồng vào lưu hành ngay từ năm 2006. Các quốc gia trong EU tạm thời không sử dụng đồng Euro Anh, Đan Mạch và Thụy Điển đã quyết định không dùng tiền tệ mới và vẫn giữ tiền tệ chính thức của quốc gia. Ngày 14 tháng 9 năm 2003, qua một cuộc trưng cầu dân ý, Thụy Điển từ chối không tham gia Liên hiệp Kinh tế và Tiền tệ châu Âu. Theo hiệp định gia nhập vào EU của Thụy Điển, đất nước này phải đưa đồng Euro vào lưu hành như là tiền tệ chính thức và như thế là thật ra không có khả năng lựa chọn. Thụy Điển hiện thời đang ngăn trở việc đưa đồng Euro vào sử dụng bằng cách không hoàn thành việc gia nhập vào Cơ chế Tỷ giá hối đoái II. Ngược lại Anh và Đan Mạch có quyền dứt khoát không tham gia đã được thỏa thuận trong hiệp định. Các quốc gia Ba Lan, Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Latvia, Litva, Malta, Slovakia, Slovenia và Cộng hòa Síp gia nhập EU ngày 1 tháng 1 năm 2004, Bulgaria và Romania mới gia nhập EU vào ngày 1 tháng 1 năm 2007. Các quốc gia EU mới này không có khả năng từ chối đồng Euro như Anh và Đan Mạch, nhưng lại chỉ có thể gia nhập vào Liên minh Kinh tế và Tiền tệ châu Âu sau khi thỏa mãn được các điều kiện hội tụ (qua 2 năm là thành viên của Cơ chế Tỷ giá hối đoái II và các điều kiện khác). Sau khi thỏa mãn các điều kiện, Slovenia là nước đầu tiên được chấp nhận vào khu vực Euro, từ ngày 1 tháng 1 năm 2007, Malta, Cộng hòa Síp từ ngày 1 tháng 1 năm 2008, và mới đây nhất là Slovakia từ ngày 1 tháng 1 năm 2009. Như vậy, tính tại thời điểm tháng 1 năm 2009, có 11 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu sau đây vẫn chưa tham gia vào khu vực đồng Euro:Anh , Ba Lan, Bulgaria, Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Hungary, Latvia, Litva, Romania, Thụy Điển. Việc sử dụng đồng Euro ngoài khu vực Trong 13 quốc gia của 25 nước thuộc EU, Euro là tiền tệ chính thức. Ngoài ra cũng có thể trả bằng tiền Euro tại nhiều nước khác trong châu Âu như tại Cộng hòa Séc, Ba Lan, Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ và Thụy Sĩ. Nhưng điều này thường là có hai bất lợi: Một là giá bán thường hay được tính chuyển thành đồng Euro với một tỷ giá hối đoái không hấp dẫn và hai là tiền thối lại thường là tiền bản xứ, vì thế nếu thời gian cư trú không quá ngắn nên dùng tiền bản xứ để thanh toán. CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT HƯỚNG ĐI CHO XUẤT KHẨU VIỆT NAM Vai trò của xuất khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế là cực kì quan trọng và nó được coi là phương tiện để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Chính vì thế, Nhà nước đã và đang có những biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hướng về xuất khẩu nhằm tận dụng hết những ích lợi của nó. Tháng 12/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO. Đây là một cột mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam từ trước đến nay. WTO mang lại cho Việt Nam một “sân chơi” khổng lồ với hơn 5 tỷ người tiêu thụ, nhưng bên cạnh cơ hội mở rộng quan hệ kinh tế, giao lưu với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam cũng phải đương đầu với rất nhiều thách thức. Để thúc đẩy phát triển xuất khẩu, Việt Nam cần học tập các nước phát triển và xây dựng 1 chính sách xuất khẩu hoàn thiện hơn và cạnh tranh hơn. Sau khi phân tích chính sách xuất khẩu của EU, chúng em xin đưa ra một số biện pháp và kiến nghị nhằm đổi mới chính sách xuất khẩu ở Việt Nam như sau: 1. Các biện pháp nhằm khuyến khích đầu tư. 1.1 Các biện pháp khuyến khích đầu tư trong nước. Chủ trương khuyến khích phát triển hàng xuất khẩu cần được thể hiện đầy đủ và rõ nét hơn trong luật khuyến khích đầu tư trong nước theo nguyên tắc “sản xuất hàng xuất khẩu phải được đặt ở vị trí ưu tiên số một, các hình thức ưu đãi cao nhất phải được dành cho sản xuất hàng xuất khẩu ”. Do vậy, cần đưa đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu về nhóm ưu tiên một. Bên cạnh đó cũng cần xem xét tới sự phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài Nhằm mục đích khuyến khích mạnh mẽ việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu và thay đổi tỷ trọng hàng chế biến trong cơ cấu hàng xuất khẩu, xin kiến nghị việc sửa đổi luật khuyến khích đầu tư trong nước làm cho tính định hướng xuất khẩu rõ nét hơn và khuyến khích việc xuất khẩu hơn, có tỷ trọng chế biến cao. Cụ thể, để khuyến khích theo hướng này nên có những sửa đổi sau: Nâng thời gian miễn thuế lợi tức cho các cơ sở mới thành lập tại các vùng không phải đối tượng chính sách lên 3 năm. Các cơ sở này được miễn giảm 50% thuế lợi tức trong 3 đến 5 năm tiếp theo tuỳ theo đó là cơ sở chế biến nông hay sâu. Nâng thời gian miễn thuế lợi tức cho các cơ sở đầu tư đổi mới công nghệ. Cụ thể, nếu chỉ mở rộng quy mô một cách thông thường ( chỉ dẫn tới sự thay đổi về lượng mà không dẫn tới sự thay đổi về chất ) thì chỉ được miễn thuế lợi tức cho phần lợi nhuận tăng thêm trong vòng một năm. Nếu có đổi mới công nghệ, nâng cao được cấp độ chế biến hàng hoá thì tuy theo từng mức độ sẽ được miễn thuế lợi tức cho phần lợi nhuận tăng thêm trong vòng từ 2 đến 3 năm. 1. 2 Các biện pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.2.1 Đa dạng hoá các hình thức thu hút vốn nước ngoài. Nghiên cứu để đa dạng hoá các hình thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài với các điều kiện thích hợp nhằm mở thêm các kênh mới thu hút vốn nước ngoài. Thí điểm việc cho các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của các doanh nghiệp trong nước hoặc cùng với doanh nghiệp trong nước thành lập công ty cổ phần với tỷ lệ khống chế nhất định. Nghiên cứu và sửa đổi cơ chế cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát hành cổ phiếu, trái phiếu để thu hút vốn và mở rộng quy mô đầu tư. Cần cân nhắc việc tham gia thị trường trái phiếu quốc tế để cải thiện tình hình nợ của đất nước, khuyến khích từng bước như đầu tư chứng khoán ở thị trường chứng khoán trong nước với mức độ bảo hiểm nhất định để tránh đổ vỡ tiềm tàng. Sớm ban hành các quy chế về cầm cố, thế chấp, bảo lãnh để đẩy nhanh việc giải ngân vốn vay của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có quy định cụ thể về hoạt động của các quỹ đầu tư. 1.2.2 Tiếp tục ban hành các cơ chế, chính sách nhằm cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư. a. Tạo cơ sở pháp lý cho việc tiến tới xây dựng một luật đầu tư chung: Hoàn chỉnh hệ thống pháp lý chung về kinh tế, tạo lập môi trường kinh doanh hoàn thiện, sớm ban hành các luật về ngân hàng, hải quan, chống độc quyền, luật kinh doanh bất động sản.. Nghiên cứu xoá bỏ dần sự phân biệt về chính sách đầu tư có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài. Tiến tới thực hiện chính sách thống nhất đối với đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. b. Nghiên cứu sửa đổi, bổ xung luật pháp, chính sách và thủ tục, tạo thận lợi cho hoạt động FDI. Nghiên cứu ban hành các văn bản pháp luật cho phép khu vực dân doanh được góp vốn liên doanh trong những khu vực không cấm khu vực tư nhân đầu tư. Nghiên cứu xem xét việc điều chỉnh các quy định về thuế như: thuế thu nhập cao, thuế chuyển lợi nhuận về nước, xây dựng chính sách thuế khuyến khích nội địa hoá và đẩy mạnh sản xuất phụ tùng ở Việt nam. Rà soát và hệ thống hoá toàn bộ các văn bản pháp luật có liên quan đến đầu tư nước ngoài làm cơ sở cho việc hướng dẫn, tuyên truyền luật pháp, chính sách sâu rộng, trong các doanh nghiệp và các địa bàn vận động đầu tư. 1.2.3 Nâng cao hiệu quả và năng lực điều hành hoạt động FDI. Đổi mới công tác vận động và xúc tiến đầu tư. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch liên quan đến công tác FDI. Xử lý kịp thời các vướng mắc của các nhà đầu tư để thúc đẩy nhanh quá trình xem xét cấp giấy phép đầu tư và triển khai dự án. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động FDI. 2. Các biện pháp về tài chính tín dụng. Khuyến khích các vệ tinh của các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu qua thuế: Cụ thể, các cơ sở sản xuất nguyên phụ liệu đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu cũng có thể được coi là cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu và cũng được miễn thuế doanh thu. Giảm thuế để khuyến khích xuất khẩu dịch vụ: Xuất khẩu dịch vụ và xuất khẩu sản phẩm trí tuệ còn là việc mới, nhưng trên thực tế kim ngạch xuất khẩu của loại hình này theo những con số không chính thức ngày càng tăng. Trước mắt cần có sự thay đổi về thuế để khuyến khích phát triển công nghiệp gia công, sản xuất phần mềm tin học. Các loại hình dịch vụ và các sản phẩm trí tuệ khác, nếu xuất khẩu thu được ngoại tệ thì cũng nên xem xét cho miễn giảm các loại thuế như đối với hàng hoá thông thường. Quỹ bảo hiểm (hay quỹ phòng ngừa rủi do): Nhà nước nên khuyến khích các hiệp hội ngành hàng tự nguyện thành lập các quỹ bảo hiểm ( phòng ngừa rủi do) cho ngành mình, nhất là trong những ngành quan trọng có khối lượng xuất khẩu tương đối lớn như gạo, cà phê, cao su. Các quỹ này sẽ không lấy nguồn từ ngân sách Nhà nước để tránh các quy định không thuận lợi của WTO về vấn đề trợ giá. Quỹ bảo hiểm có trách nhiệm giúp đỡ các thành viên của hiệp hội khi giá cả của thị trường biến động thất thường, cơ chế hoạt động sẽ do từng hiệp hội tự xác định, nhưng nhìn chung nên đặt ra một mức giá bảo hiểm cho người sản xuất thu hồi được vốn đầu tư, trang trải được chi phí và có lợi nhuận thoả đáng. Các ưu đãi về tín dụng: Mặc dù Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ra thông tư về việc các ngân hàng thương mại quốc doanh có trách nhiệm ưu tiên về mức vốn cho vay đối với các đơn vị sản xuất và thu mua hàng xuất khẩu. Tuy nhiên thông tư lại không quy định rõ ràng và cụ thể chỉ nói chung chung “ khuyến khích tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn ”. Do vậy, việc cần làm là phải quy định cụ thể một tỷ trọng vốn vay dài hạn và trung hạn trên tổng dư nợ và một khung lãi suất cố định theo từng thời kỳ nhằm làm việc tiếp cận nguồn vốn tí dụng ngân hàng của các cơ sở sản xuất và kinh doanh hàng xuất khẩu dễ dàng hơn, tránh gây mập mờ dễ gây tiêu cực. Thành lập quỹ hộ trợ tín dụng xuất khẩu: Thành lập quỹ này để cấp tín dụng ưu đãi và bảo lãnh tín dụng cho hoạt động xuất khẩu. Nhà nước nên thành lập ngân hàng xuất khẩu Việt Nam: Việt Nam chúng ta nên thành lập một ngân hàng chuyên doanh mang tên là ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam với mục đích hỗ trợ nguồn vốn cho xuất khẩu, bảo hiểm tín dụng cho các ngân hàng, doanh nghiệp tham gia tài trợ xuất khẩu Về hỗ trợ tài chính: Để giảm nhẹ gánh nặng hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước thông qua trợ cấp, trợ giá Chính phủ nên tăng cường sử dụng các biện pháp hỗ trợ tài chính gián tiếp. cụ thể là: + Gắn chỉ tiêu nhập khẩu một số mặt hàng có tỷ suất lợi nhuận cao ( như CKD xe máy, kính xây dựng, đường...) với khả năng xuất khẩu. + Cải tiến chế độ thu và hoàn lại thuế giá trị gia tăng. Chính sách tỷ giá hối đoái: Một nước có nhiều bạn hàng buôn bán cho nên đưa chỉ số giá cả nước ngoài vào tính toán tỷ giá hối đoái cần phải cân nhắc kỹ, đặc biệt đối với những bạn hàng thương mại quan trọng. Cách định giá tỷ giá hối đoái rất quan trọng đối với nền kinh tế,chính sách tỷ giá hối đoái cần linh hoạt, phù hợp với tình hình thị trường trong nước và trên thế giới. Chính sách đa lãi suất: Để khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu những mặt hàng chưa thiết yếu, có thể áp dụng lãi suất đối với vốn vay cho xuất khẩu bằng 50% mức lãi suất vốn vay để nhập khẩu (hai quốc gia Hàn Quốc và Đài Loan đều đã làm trong thời kỳ đầu phát triển kinh tế ). Chính sách bán ngoại tệ: Mọi ngoại tệ thu được tử xuất khẩu nên bán cho ngân hàng. Sau khi bán, doanh nghiệp sẽ được cấp một hoá đơn đặc biệt xác nhận lượng ngoại tệ đã bán. Nếu doanh nghiệp cần mua ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá thì có thể xuất trình hoá đơn này để mua lượng ngoại tệ tương ứng với tỷ giá ưu đãi. Tất cả các doanh nghiệp không có hoá đơn này đều phải mua với tỷ giá cao hơn. 3. Biện pháp đa dạng hoá chủ thể kinh doanh. Tính năng động và tính hiệu quả của nền kinh tế là yếu tố hết sức quan trọng gần như mang tính quyết định tới sự thành công của quá trình hội nhập trong xu thế tự do hoá thương mại. Việc đa dạng hoá chủ thể tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu hoàn toàn không trái với chủ trương của Đảng. Hiện nay, các doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu đã được xuất khẩu hoặc nhận uỷ thác xuất khẩu cả những mặt hàng nằm ngoài ngành hàng đã đăng ký trong giấy phép kinh doanh, trừ những mặt hàng quản lý theo cơ chế riêng. Đề nghị Chính phủ nên bãi bỏ giấy phép kinh doanh xuất khẩu đối với những mặt hàng mà nhà nước không cần phải quản lý. Khi đó tất cả các doanh nghiệp được thành lập hợp pháp, thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền trực tiếp xuất khẩu các mặt hàng này bất kể là hàng do doanh nghiệp sản xuất hay mua trên thị trường miễn là đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. 4. Các vấn đề chất lượng, thị trường và xúc tiến thương mại. 4.1 Nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu. Một yếu tố quyết định tới việc liệu hàng hoá Việt Nam có thâm nhập được vào thị trường nước ngoài hay không đó là yếu tố chất lượng. Chất lượng hàng xuất khẩu có thể được nâng cao, tạo uy tín và sức cạnh tranh cho hàng hoá Việt Nam bằng cách kiểm tra bắt buộc về chất lượng của một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn như hàng dệt may, đồ điện tử, đồ điện, thực phẩm chế biến, tạp hoá tiêu dùng. 4.2 Thành lập trung tâm xúc tiến thương mại Việt nam. Một kinh nghiệm quan trọng trong việc thúc đẩy xuất khẩu là thành lập các trung tâm xúc tiến thương mại. Đây là tổ chức phi lợi nhuận có chức năng cung cấp thông tin và tổ chức xúc tiến các hoạt động thương mại, tiến hành nghiên cứu thị trường và tổ chức đưa hàng hoá Việt Nam ra thị trường thế giới trong đó quan trọng nhất là giúp các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào hệ thống phân phối hàng hoá ở các nước. Trung tâm này sẽ có một ngân hàng dữ liệu về các thị trường nước ngoài, về những nhà cung ứng và người mua hàng trong và ngoài nước. 4.3 Quỹ khen thưởng xuất khẩu. Quỹ khen thưởng xuất khẩu được thành lập nhằm kịp thời động viên khuyến khích các doanh nghiệp và người sản xuất hàng xuất khẩu. Hiện nay, một số nước khác trong khu vực cũng có những biện pháp thưởng xuất khẩu. 4.4 Thương mại cân bằng qua thương lượng. Chính phủ nên có các phương án đàm phán với một số nước hiện đang xuất siêu vào Việt Nam để đòi mở cửa thị trường cho hàng xuất khẩu nước ta tương ứng với việc Việt Nam nhập hàng của họ. 5. Cải cách thủ tục hành chính. 5.1 Khuyến khích đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp, bằng thủ tục và dịch vụ một cửa. Các khu chế xuất và khu công nghiệp tập trung với lợi thế về công nghiệp và tài nguyên sẽ có điều kiện để phát triển mạnh mẽ sản xuất hàng xuất khẩu. Do vậy, việc đơn giản hoá thủ tục hành chính sẽ giúp cho khu vực này có sức hấp dẫn hơn không chỉ nvowis đầu tư nước ngoài mà cả đối với đầu tư trong nước. Đề nghị Chính phủ nên cho phép áp dụng thí điểm cơ chế “ thủ tục và dịch vụ một cửa” cho một khu chế xuất hay một khu công nghiệp tập trung. Nếu thành công sẽ áp dụng cho các Khu chế xuất, Khu công nghiệp khác. 5.2 Đơn giản hoá thủ tục gia công. Để khuyến khích việc gia công hàng xuất khẩu nên bãi bỏ việc hạn chế chủng loại, số lượng, mặt hàng gia công, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng gia công hàng dệt, may mặc, giầy dép, đồ chơi trẻ em.. xoá bỏ việc xét duyệt hợp đồng gia công và đơn giản hoá hơn nữa. Những trường hợp gia công theo phương thức mua đứt bán đoạn thì được coi như đầu tư chế biến sẽ được hưởng các chính sách đối với đầu tư chế biến. 5.3 Công khai hoá các văn bản pháp luật. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định về việc đăng công báo mọi văn bản có liên quan đến quản lý của các cơ quan nhà nước ( trong vòng 15 ngày kể từ ngày ban hành). Đề nghị Chính phủ nên có chỉ thị nhắc nhở việc này và chỉ đạo các cơ quan hữu quan giúp văn phòng Chính phủ ra công báo nhanh hơn, cập nhật hơn. 5.4 Rà soát các thủ tục hành chính. Tiếp tục rà soát các thủ tục hành chính có liên quan đến việc thực hiện cấp giấy phép đầu tư, thủ tục cấp giấy phép kinh doanh, thủ tục hưởng các chính sách ưu đãi.. mà luật đã quy định, thủ tục khai báo và kiểm hàng hoá xuất khẩu tại các cửa khẩu để bảo đảm thông thoáng, kịp thời, nhanh chóng... Xử lý nghiêm những trường hợp gây khó khăn phiền hà, chậm trễ đối với hoạt động kinh doanh, nghiên cứu áp dụng cơ chế bồi thường, bù đắp thiệt hại cho các doanh nghiệp nếu các cơ quan quản lý, kiểm tra, kiểm soát thi hành sai luật gây ra. 5.5 Quyền khiếu kiện. Đề nghị Chính phủ cho ban hành nghị định cho phép mọi công dân và tổ chức có quyền khiếu kiện các quyết định của tất cả các cơ quan tham gia quản lý xuất nhập khẩu trước toà hành chính ( hiện nay họ chỉ mới được quyền khiếu kiện các quyết định về thuế của Hải quan). Họ cũng được quyền khiếu kiện trong trường hợp bị gây phiền hà, chậm trễ, được quyền đòi bồi thường, bù đắp thiệt hại nếu chứng minh thiệt hại đó là do các cơ quan quản lý kiểm tra, kiểm soát sai luật gây ra. 5.6 Mã hàng hoá thuộc diện quản lý Hiện nay có sự bất đồng giữa cơ quan Hải quan và các doanh nghiệp về biểu thuế xuất nhập khẩu vì việc quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu không thống nhất theo tên gọi và mã số của chúng tại danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu Việt Nam hoặc tên gọi và mã số trong biểu thuế xuất nập khẩu. Để giải quyết sự không đồng nhất trên, cần có sự nhất trí của các cơ quan liên quan về mã số của đối tượng nộp thuế, coi đây là một khâu quan trọng trong quá trình cải cách quản lý nhà nước theo hướng chính quy, tạo điều kiện cho việc áp dụng tin học vào công tác quản lý thuế và công tác quản lý nhà nước nói chung. 5.7 Tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp. Tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu theo hướng thành lập các tổng công ty và các tập đoàn mạnh, từng bước tạo tên tuổi trên thị trường thế giới, tiến tới có những nhãn mác hàng hoá của Việt nam được thế giới biết đến và thừa nhận. Các công ty mạnh phải mở được chi nhánh ở nước ngoài để phục vụ công tác Marketing. Tóm lại, với mục đích tăng cường sản xuất hàng xuất khẩu với những chi phí thấp, tăng cường sức cạnh tranh của hàng hoá Việt nam, các chính sách và biện pháp được kiến nghị trên sẽ giúp hàng hoá Việt Nam chiếm lĩnh được thị trường nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước và xuất khẩu nói riêng. KẾT LUẬN Trong khuôn khổ của một bài tiểu luận, nhóm 18 chúng em đã tìm hiểu về một số những chính sách thương mại điển hình của Liên minh Châu Âu – EU, đặc biệt tìm hiểu sâu về những chính sách nhập khẩu đối với Việt Nam nói riêng. Những con số về thương mại giữa EU và Việt Nam có thể cho thấy, tiềm năng của thị trường này đối với Việt Nam là rất lớn. Chú trọng tới chính sách nhập khẩu của EU đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam là thiết yếu trong tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế. Đây không chỉ là những rào cản và thách thức mà còn là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao chất lượng hàng hóa, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, do kiến thức hạn chế của mình, chúng em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót trong khi làm bài tiểu luận này, rất mong nhận được sự góp ý và bổ sung của cô giáo. TÀI LIỆU THAM KHẢO -Giáo trình Kinh tế ngoại thương, GS.TS Bùi Xuân Lưu - PGS.TS Nguyễn Hữu Khải, NXB Thông tin và truyền thông 2009. -Báo cáo chính sách thương mại của EU năm 1995 - 1997 dịch từ tài trade policy review trên trang web : -Sách Quan hệ Việt Nam - Liên minh Châu Âu, TS. Trần Thị Kim Dung, NXB Khoa học Xã hội 2001. -Trang web : vi.wikipedia.org/wiki/liên_minh_châu_âu

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPhân tích các công cụ điều chỉnh xuất nhập khẩu của EU và đề xuất hướng đi cho xuất khẩu Việt Nam.doc
Luận văn liên quan