Đề tài Phân tích rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính tại Công ty Cổ phần Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam

Năm 2008: Do chính sách thắt chặt tín dụng của Chính Phủ nhằmkiềm chế lạm phát đã khiến cho lãi suất ngân hàng có thời điểm lên đến 21%. Mặc dù Công ty đã giảm các khoản nợ vay ngắn hạn từ 48.169.586.770 năm 2007 xuống còn 39.467.069.333 ở năm 2008 nhưng lãi suất vay ngân hàng bình quân cho các khoản vay của Công ty vào thời điểm này lại lên đến 13,09% làm chi phí lãi vay tăng lên đột biến từ 1.974.130.124 lên tới 6.499.293.184 đã làm cho lợi nhuận trước thuế chỉ còn 332.838.654. Lúc này hiệu quả kinh doanh RE chỉđạt 6.41% nhỏ hơn lãi suất vay bình quân làm hiệu quả tài chính chỉ đạt 0,89%. Năm 2009:Khi nền kinh tế đã bớt khủng hoảng, lạm pháp giảm còn 6,88% thì lãi suất vay ngân hàng cũng đã đã giảm. Bên cạnh đó, để hỗ trợ cho các doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn có chi phí rẻ để hạ giá thành sản phẩm, Chính phủ đã thực hiện nhiều chính sách điều chỉnh vĩ mô và chính sách kích cầu nhằm giảm suy thoái kinh tế trong đó có giảm lãi vay, hỗ trợ vốn ưu đãi cho doanh nghiệp nên lãi suất vay bình quân năm nay giảm xuống chỉ còn 11,44%. Công ty đã tăng nguồn vốn vay ngắn hạn của mình lên 13% so với năm 2008 (từ 39.467.069.333 năm 2008 lên 44.710.708.767 năm 2009) để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của Công ty nhưng chi phí lãi vay mặc dù còn cao nhưng đã giảm 42,63% so với năm 2008 (từ 6.499.293.184 xuống còn 3.728.704.170 ). Hiệu quả tài chính tăng lên đạt 14,94% Điều này cho thấy Công ty đã giảm được độ nhay cảm lãi suất trong năm.

pdf91 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 21/06/2014 | Lượt xem: 10572 | Lượt tải: 30download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phân tích rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính tại Công ty Cổ phần Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
u còn chưa tốt, Công ty chưa có nguồn nguyên liệu ổn định như Đức Thành nên việc ảnh hưởng của Công ty đến người bán trong việc quyết định giá mua bán là rất thấp do đó ảnh hưởng của biến động giá cả đối với Công ty ở mức cao. Giá cả nguyên vật liệu biến động bất thường mà Công ty không dự đoán được nên giá bán đầu ra của các sản phẩm không cao. Đồng thời khách hàng chủ yếu là lâu năm nên việc tăng giá bán có phần bị hạn chế. Bên cạnh đó tỷ trọng chi phí/ doanh thu trong đó gỗ (nguyên vật liệu chính) còn ở mức cao. Những điều này đã làm tăng tác động của việc biến động giá cả tới hoạt động của Công ty trong giai đoạn vừa qua. Do đó mức độ nhạy cảm với giá cả của Công ty cao làm rủi ro tài chính tăng. Kết luận: Công ty có mức độ nhạy cảm với lãi suất, tỷ giá và biến động giá cả cao. Khi lãi suất, tỷ giá và giá cả biến động theo chiều hướng bất lợi sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận, làm rủi ro tài chính của Công ty tăng cao. Công ty nên đề ra và thực hiện tốt công tác quản trị loại rủi ro này trong thời gian tới. 2.3 Nhận xét chung về rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính của Công ty 2.3.1 Những thế mạnh của Công ty − Công ty đã có hơn 25 năm kinh nghiệm trong việc trồng và sản xuất đồ gỗ ngoại thất xuất khẩu với đội ngũ công nhân lâu năm có tay nghề cao và qui trình sản xuất tiên tiến là những điều kiện nền tản rất tốt để Công ty ngày càng phát triển về sau. − Công ty có lợi thế hơn các Công ty cùng ngành khi nắm giữ diện tích rừng trồng rộng lớn (4100 hecta) là cơ sở để đảm bảo nguồn nguyên liệu và phát triển bền vững. − Công ty nhận được những ưu tiên từ Nhà nước trong lĩnh vực trồng rừng, tiếp cận nguồn vốn vay để trồng rừng cũng như những ưu đãi khi gặp khó khăn. − Công ty có những mối quan hệ tốt với những đối tác là khách hàng truyền thống ở khu vực châu Âu. 63 − Đơi với ngân hàng và các tổ chức khác, Công ty có uy tín cao và hình ảnh Công ty đang ngày càng được nâng cao. − Công ty có vị trí gần cảng Tiên Sa, giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển hàng với chi phí thấp. − Công ty là thành viên của HAWA, Công ty có thể nhờ sự giúp đỡ của tổ chức này để có thêm nhiều điều kiện, cơ hội tốt hơn để phát triển. 2.3.2 Những điểm yếu mà Công ty cần khắc phục để né tránh và giảm bớt rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính. − Công ty chỉ tập trung vào xuất khẩu và thị trường châu Âu nên chịu rủi ro nhiều hơn những công ty khác vừa tiêu thụ nội địa vừa phát triển xuất khẩu vào nhiều thị trường khác nhau. − Công ty chỉ sản xuất hàng ngoại thất nên bị mất cơ hội tăng doanh thu và gặp nhiều rủi ro hơn những doanh nghiệp kinh doanh đồ nội, ngoại thất. − Việc quản trị các khoản phải thu của Công ty chưa được thực hiện tốt làm vốn bị chiếm dụng và khả năng thanh toán của Công ty yếu hơn các công ty cùng ngành. − Công tác phân tích tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu cũng như phân tích rủi ro của Công ty chưa được thực hiện tốt. − Việc quản lý chi phí của Công ty chưa chặt chẽ, tỷ trọng chi phí/doanh thu còn ở mức cao và không ổn định. − Cơ cấu nợ của Công ty ở mức cao gây nên rủi ro tài chính cao cho Công ty. − Công ty chưa sử dụng các công cụ tài chính phái sinh để giảm bớt ảnh hưởng của những rủi ro kiệt giá tài chính. − Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty còn ở mức thấp. 64 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO KINH DOANH VÀ RỦI RO TÀI CHÍNH Ở CÔNG TY CỔ PHẦN LÂM DẶC SẢN XUẤT KHẨU QUẢNG NAM 3.1 Tình hình công tác phân tích, đánh giá rủi ro tại Công ty. Vào đầu mỗi năm, Công ty luôn đặt ra kế hoạch hoạt động và dự báo những khó khăn có thể gây trở ngại cho hoạt động kinh doanh và có những hướng giải quyết, khắc phục những khó khăn, hạn chế rủi ro cho Công ty. Công ty chủ động lập ra Bộ phận kiểm soát để kiểm tra giám sát hoạt động ở các Xí nghiệp và toàn Công ty. Tiếp đó vào cuối năm, Ban giám đốc thường xuyên có những cuộc họp đánh giá tổng quan và phân tích về tình hình hoạt động cả năm từ đó rút ra những yếu tố tác động đến kết quả hoạt động của Công ty bao gồm cả những yếu tố bất lợi gây nên rủi ro. Mặc dù việc đánh giá này chỉ ở mức độ sơ lược nhưng đã giúp cho Công ty phần nào có những kế hoạch phù hợp hơn trong năm tiếp theo. Tuy nhiên Công ty chưa thực sự nhìn nhận thấy tầm quan trọng của việc phân tích đánh giá rủi ro là công việc cần thiết mà mọi doanh nghiệp đều phải thực hiện trong môi trường kinh doanh biến đổi không ngừng như hiện nay. Công ty chưa đưa ra được một quy chế đánh giá rủi ro cụ thể nên chưa đưa ra và đánh giá rủi ro ảnh hưởng như thế nào đến từng hoạt động của mình. Hiện nay, Công ty chỉ mới chú trọng đến hiệu quả, làm sao đạt doanh thu như kế hoạch, tính toán hiệu quả để đưa ra kế hoạch cho kỳ sau nhưng chưa đi sâu vào tìm hiểu những nhân tố hạn chế hiệu quả, gây nên rủi ro cho Công ty. Công ty chưa quan tâm đúng mức đến phương pháp đánh giá rủi ro qua phân tích báo cáo tài chính. Do đó, rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính của Công ty qua những năm trước cao hơn những Công ty cùng ngành. 3.2 Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro kinh doanh 3.2.1 Giải pháp tăng trưởng doanh thu Công ty ổn định Trong những năm vừa qua, doanh thu của Công ty biến động mạnh tăng giảm thất thường không có xu hướng ổn định đã làm lợi nhuận biến thiên mạnh. Doanh thu của Công ty phụ thuộc rất nhiều vào sự biến động của nền kinh tế thế giới. Nguyên nhân là do: − Công ty có đăc điểm là hoạt động sản xuất theo đơn đặt hàng mà khách hàng chủ yếu là các nước thuộc EU, thị trường rất tiềm năng nhưng lại luôn chịu ảnh hưởng mạnh của khủng hoảng kinh tế thế giới khiến nhu cầu tiêu thụ không ổn định. 65 − Chỉ chú trọng vào một số khách hàng truyền thống thuộc các nước EU, chưa mở rộng sang các thị trường tiềm năng khác trên thế giới vì thế chưa nâng cao được doanh thu tiêu thụ cũng như khó tăng được giá sản phẩm bán ra. − Công ty chưa quan tâm nhiều đến thị trường tiêu thụ nội địa, bỏ lỡ cơ hội nâng cao doanh thu, mặc dù thị trường trong nước hiện nay được đánh giá khá tiềm năng được nhiều doanh nghiệp nước ngoài quan tâm. Sau đây là một số giả pháp giúp doanh thu Công ty tăng trưởng ổn định, tránh những biến động bất lợi: 3.2.1.1 Mở rộng thị trường tiêu thụ:  Đối với thị trường xuất khẩu: Hiện nay, Công ty chỉ có khoảng 4 đến 5 khách hàng truyền thống thuộc thị trường EU như Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha… Vì chỉ tập trung phục vụ chủ yếu các khách hàng truyền thống này nên khả năng tăng giá bán sản phẩm đối với những khách hàng này là không cao trong khi các chi phí đầu vào đều tăng. Công ty nên mở rộng thị trường tiêu thụ sang các thị trường tiềm năng mới như Mỹ, Nga, Ấn Độ, Trung Đông… Những năm trước Công ty đã có kế hoach thâm nhập vào hai thị trường tiềm năng là Úc, Mỹ nhưng chưa làm được. Hai thị trường này được đánh giá là khá tiềm năng nhưng không dễ thâm nhập do có rất nhiều tiêu chuẩn khắc khe. Công ty cần chuẩn bị một kế hoạch chu đáo để thâm nhập vào hai thị truường này. Để thành công và khẳng định được thương hiệu trong thị trường mới rất khó khăn đòi hỏi Công ty phải:  Đẩy mạnh công tác xúc tiến xuất khẩu: Ngoài việc chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành để tăng sức cạnh Công ty phải nâng cao công tác Marketting, tăng cường thực hiện các hoạt động xúc tiến xuất khẩu. Công ty phải chủ động, tích cực tìm đối tác, khách hàng thông qua việc tham gia các hội thảo triển lãm, hội chợ được tổ chức ở trong và ngoài nước. Công ty phải tìm hiểu nghiên cứu thị trường xuất khẩu mới qua các kênh thông tin, phòng thương mại Việt Nam để biết được các chính sách kinh tế, thương mại, qui định xuất nhập khẩu, nhu cầu, tập quán tiêu dùng và thị hiếu của thị trường về các sản phẩm của Công ty. Công ty cần tăng cường quản bá hình ảnh, thương hiệu sản phẩm của mình ở các nước xuất khẩu hoặc có ý định thâm nhập thị trường. Công ty có thể dành một khoản kinh phí để thuê gian hàng của trung tâm xúc tiến thương mại Việt Nam tại thị trường xuất khẩu của Công ty để làm nơi giao dịch, tìm kiếm bạn hàng, trưng bày, giới thiệu sản phẩm. Ngoài ra, Công ty có thể thuê một công ty tư vấn nước ngoài để thuận tiện cho việc xâm nhập thi trường mới.  Thực hiện chiến lược thương mại bán lẻ: 66 Công ty nên xem xét đưa sản phẩm của mình vào các hệ thống bán lẻ có sẵn trên thị trường các nước xuất khẩu để tận dụng các ưu điểm, thuận lợi của các hệ thống này. Khi khách hàng đã biết đến Công ty thì đầu tiên Công ty nên chấp nhận tiếp cận với hình thức thương mại bán lẻ, có nghĩa là các đại lý nhỏ lẻ của các nước này biết đến Công ty muốn đặt hàng với số lượng nhỏ, không chắc thời gian quan hệ lâu dài thì Công ty nên coi đó là bước thành công đầu tiên khi thâm nhập thị trường mục tiêu. Sau đó Công ty phải luôn đảm bảo chất lượng sản phẩm được duy trì để dần dần tiến đến những đơn đặt hàng lớn, giá trị cao và thương hiệu gắn liền với sản phẩm xuất khẩu. Nếu làm được điều này coi như Công ty đã thành Công trong việc thâm nhập thị trường mới.  Đối với thị trường tiêu thụ nội địa: Để đảm bảo doanh thu tăng trưởng ổn định, Công ty cần chú trọng hơn thị trường trong nước. Nền kinh tế thế giới bị khủng hoảng nặng thì EU là thị trường bị thu hẹp nhiều nhất, khi đó phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu là nguyên nhân chính khiến doanh thu Công ty bị sụt giảm mạnh. Trong khi đó, thị trường nội địa được đánh giá tiềm năng lại bị Công ty lãng quên để các nước Trung Quốc, Đài Loan thâm nhập chiếm lĩnh thị trường. Việc chú trọng hơn thị trường trong nước sẽ giúp Công ty phần nào thoát khỏi sự đe dọa của khủng hoảng kinh tế, không bỏ qua cơ hội kinh doanh, tạo sự phát triển cho Công ty. Muốn phát triển thị trường nội địa, Công ty phải tăng cường công tác tiếp thị. Hiện nay, Công ty đang là thành viên của Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ HAWA. HAWA đang thực hiện hàng loạt các chính sách xúc tiến thương mại để quảng bá sản phẩm đến khách hàng. Công ty nên tận dụng những cơ hội này đồng thời tìm đến các hội chợ triển lãm để quảng bá hình ảnh Công ty, điều tra thị trường để nắm bắt tâm lý khách hàng… Công ty có thể xây dựng các văn phòng trưng bày sản phẩm ở một số địa điểm cần thiết như Đà Nẵng, Hội An, và các nơi xa hơn như Quy Nhơn, Bình Định, Khánh Hòa để mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa. Trong thời gian đầu mở rộng thị trường nội địa Công ty sẽ có thể chịu lỗ, Công ty cần phải kiên trì, lấy doanh thu xuất khẩu bù đắp. Ngoài ra, để cạnh tranh với các đối thủ trong khu vực như Công ty cổ phần Cẩm Hà, Vinafor Đà Nẵng… Công ty phải lấy chất lượng, mẫu mã làm hàng đầu đông thời phải xây dựng một chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ nội địa, chiến lược cạnh tranh hợp lý để Công ty có thể phát triển ổn định, giảm tránh các rủi ro. 3.2.1.2 Mở rộng loại hình kinh doanh: Hoạt động kinh doanh của Forexco chủ yếu là sản xuất theo đơn dặt hàng của khách hàng, hoạt động của Công ty mang tính mùa vụ chủ yếu từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Các tháng còn lại ít đơn dặt hàng nên Công ty ít sản xuất, chủ yếu 67 tập trung vào nguyên liệu giấy (loại này không cần sản xuất, chỉ thu mua và bán cho Vijachip) vì thế lãng phí nhân công, công suất máy móc thiết bị. Vì vậy, Công ty nên mở rộng hoạt động kinh doanh sang một số lĩnh vực khác ở những tháng ít đơn dặt hàng để tận dụng nhân công và công suất máy móc thiết bị.  Gia công sản phẩm: Gia công sản phẩm gỗ là hình thức chế biến sản phẩm gỗ một hoặc nhiều giai đoạn trước khi sản phẩm được đóng bao bì theo yêu cầu của các công ty khác. Hiện nay loại hình này đang khá phổ biến. Để được chọn làm đối tác nhận gia công cho các Công ty khác yêu cầu là phải có kinh nghiệm làm hàng xuất khẩu, chất lượng sản phẩm tốt, đạt yêu cầu của khách hàng, giá cả gia công phù hợp và tiến độ giao hàng đúng hạn. Với kinh nghiệm khá lâu trong ngành chế biến gỗ xuất khẩu, Công ty hoàn toàn đáp ứng được những yêu cầu này. Do đó, Công ty có thể kinh doanh theo hình thức này. Công ty phải cân đối và tính toán lại cong suất của từng xí nghiệp vào những tháng ít đơn đặt hàng để có căn cứ nhận gia công theo mức phù hợp với công suất của mình. Tuy nhiên Công ty phải đặt biệt lưu ý chỉ nhận gia công khi đảm bảo được năng suất máy móc thiết bị là phù hợp, không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất chính của Công ty. Nếu tận dụng được hình thức kinh doanh này sẽ đảm bảo đem lại thêm nguồn thu nhập cho Công ty về lâu dài. Công ty phải tích cực, chủ động tìm kiếm các đơn đặt hàng gia công thông qua các mối quan hệ với các Công ty cùng ngành, với các khách hàng, đối tác và qua công tác marketing.  Đa dạng hóa sản phẩm: Hiện nay, trong quá trình sản xuất sản phẩm của Công ty luôn có những nguyên vật liệu thừa, không dùng được vì lý do nào đó như: kích thước không đủ hay trong quá trình cưa xẻ bị hư hỏng không đủ tiêu chuẩn dùng để sản xuất các mặt hàng có kích thước lớn. Công ty có thể tận dụng những nguyên vật liệu thừa này để sản xuất những hàng gia dụng có kích thước nhỏ như: chày, thớt, ghế đẩu, kệ sách… các đồ chơi trẻ em phục vụ nhu cầu bán lẻ thông qua các kênh phân phối như đại lý, siêu thị, các cửa hàng lớn… Việc mở rộng thêm việc kinh doanh này không khó do Công ty đã có sẵn các thiết bị, máy móc. Đồng thời việc sản xuất các mặt hàng này không yêu cầu kỹ thuật cao, chỉ qua vài công đoạn và không tốn nhiều thời gian. Thực tế cho thấy đã có nhiều doanh nghiệp cùng ngành đã tận dụng tốt hình thức này thậm chí tạo nên thương hiệu cho những sản phẩm này như Công ty Đức Thành, doanh nghiệp Phú Long và một số doanh nghiệp có quy mô nhỏ khác. Nếu thực hiện tốt, Công ty sẽ tạo ra thêm ngồn doanh thu ổn định, thêm nhiều lựa chọn cho khách hàng và góp phần quảng bá thương hiệu của Công ty. 68 Các mặt hàng chính của Công ty là đồ gỗ ngoại thất. Tuy nhiên, hiện nay thị trường thế giới cũng như thị trường nội địa nhu cầu tiêu dùng đồ gỗ nội thất ngày càng tăng. Với các cơ sở, máy móc thiết bị có sẵn, kinh nghiệm lâu năm, công nhân có tay nghề Công ty hoàn toàn có thể mở rộng hình thức kinh doanh về đồ gỗ nội thất. Thực tế Công ty cũng đã có dự định chuyển một xí nghiệp sản xuất đồ gỗ ngoài trời sang đồ gỗ nội thất. Đây là hướng đi đúng, Công ty nên nhanh chóng triển khai thực hiện. Với các sản phẩm nội thất, Công ty có thể dựa trên các kênh phân phối đã có sẵn, các mối quan hệ của mình để đưa các sản phẩm này vào thị trường tiêu thụ. Công ty sẽ có thêm nguồn thu nhập mới, tạo hướng phát triển mới. 3.2.1.3 Thực hiện tốt Công tác phân tích tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu và Công tác phân tích, đánh giá rủi ro: Công ty luôn lập kế hoạch doanh thu vào đầu mỗi năm cho từng quý, từng mùa. Khi thu thập được số liệu thực tế vào cuối mỗi quý, mỗi năm Công ty đánh giá việc thực hiện doanh thu có đạt kế hoạch hay không. Tuy nhiên, công việc chỉ dừng lại ở đó. Công ty chưa tiến hành phân tích cụ thể mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến doanh thu do đó không biết được nguyên nhân chính khiến doanh thu hoàn thành hay không so với kế hoạch, để từ đó đưa ra phương hướng giải quyết phù hợp cho kỳ sau. Công ty nên lập bảng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến giá bán bao gồm sản lượng, giá bán. Nếu nhân tố nào ảnh hưởng không tốt đến doanh thu, Công ty nên tìm hiểu rõ nguyên nhân và đưa ra các giải pháp khắc phục cho kỳ sau. Với việc thực hiện tốt công tác phân tích tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu, Công ty sẽ nhanh chóng, kịp thời phát hiện các nguyên nhân gây nên rủi ro kinh doanh tác động đến Công ty từ đó đưa ra các biện pháp né tránh hoặc tận dụng các cơ hội do rủi ro mang lại. Như đã nêu ở phần 3.1 (tình hình công tác phân tích, đánh giá rủi ro tại Công ty), Công tác phân tích đánh giá rủi ro chỉ được thực hiện ở bề nổi chưa có chiều sâu và chưa được quan tâm đúng mức. Công ty phải thường thuyên thực hiện Công tác phân tích, đánh giá rủi ro để tìm ra được nguyên nhân cũng như dự báo trước những rủi ro để Công ty có thể né tránh hoặc giảm bớt các thiệt hại. Công ty có thể lập một nhóm nhỏ khoảng 3, 4 nhân viên để thực hiện nhiệm vụ phân tích, đánh giá rủi ro vào hàng quý. 3.2.2 Giải pháp kiểm soát chi phí cho Công ty: Chính sự biến động không ổn định của chi phí đã tác động lớn đến lợi nhuận, là nguyên nhân giải thích cho sự biên động mạnh của lợi nhuận trong thời gian vừa qua. Do đó, nếu tỉ trọng chi phí/ doanh thu thấp và có xu hướng ổn định qua các năm sẽ giúp Công ty hạn chế được rủi ro đối với sự biến động của kết quả kinh doanh. 69 Chi phí kinh doanh của Công ty phụ thuộc vào những yếu tố khách quan cũng như chủ quan: − Sự biến động của nền kinh tế tác động rất lớn đến các chi phí đầu vào chủ yếu là chi phí nguyên vật liệu ảnh hưởng đến lợi nhuận của Công ty. Đó là do nguồn nguyên liệu gỗ (chiếm tỷ trọng cao nhất trong chi phí nguyên vật liệu) rất khan hiếm và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lạm phát, tỷ giá hối đoái… Bên cạnh đó, sự tác động của môi trường kinh doanh cũng ảnh hưởng đến các chi phí sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của Công ty. − Công tác kiểm soát, quản lý chi phí của Công ty chưa tốt dẫn đến những biến động của chi phí ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận. Nếu khắc phục được những nhân tố này sẽ giảm rủi ro cho Công ty. 3.2.2.1. Giải pháp hạn chế sự biến động chi phí do tác động của môi trường kinh doanh  Chủ động nguồn nguyên liệu gỗ để hạn chế sự biến động chi phí nguyên vật liệu Công ty có một xí nghiệp không thực hiện chức năng sản xuất mà chủ yếu là đầu tư trồng rừng và cung cấp nguồn gỗ nguyên liệu giấy cho công ty liên doanh VIJACHIP, còn nguồn nguyên liệu gỗ dùng để sản xuất hàng mộc thì Công ty mua từ các công ty cung cấp gỗ trong nước và khoảng 20% là nhập khẩu. Giá cả nguồn nguyên liệu gỗ này chịu ảnh hưởng rất lớn khi nền kinh tế biến động. Loại gỗ chủ yếu Công ty đang dùng là gỗ bạch đàn và keo lá tràm. Công ty nên tiếp cận thêm đến nguồn gỗ cao su, có giá cả tương đối ổn định vì Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu gỗ cao su hàng đầu khu vực, có nhiều nông trường trồng cao su lớn, luôn cung cấp nguồn gỗ ổn định và hợp pháp. Nếu dùng nguồn gỗ này Công ty vừa đảm bảo có gỗ tiêu chuẩn FSC hợp pháp, vừa có nguồn cung cấp gỗ ổn định trong nước lại có giá rẻ hơn so các loại gỗ khác. Theo thống kê, các tỉnh Duyên hải miền Trung là khu vực có diện tích gỗ cao su lớn thứ 3 trog cả nước. Các tỉnh có khả năng cung cấp gỗ cao su lớn như Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huế. Tiếp cận với nguồn nguyên liệu này không những giúp công ty tiếp cận nguồn nguyên liệu với giá rẻ mà còn tiết kiệm được chi phí vận chuyển thay vì phải mua gỗ ở các tỉnh xa như Quảng Bình, Quảng Trị… Công ty có thể liên hệ với Tổng Công Ty Cao Su Việt Nam để được tư vấn và nếu thuận lợi Công ty sẽ được hỗ trợ rất nhiều. Công ty phải xây dựng chiến lược đầu tư dài hạn để phát triển nguồn nguyên liệu. Công ty đang quản lý 2400 ha rừng trồng keo các loại, thông nhựa và 1000 ha rừng trồng bằng hình thức đầu tư cho vay vốn. Công ty có thể tăng cường hình thức đầu tư cho vay vốn để tăng diện tích rừng trồng của mình. Hiện nay, Chính phủ đang có những chính sách cho doanh nghiệp thuê đất trồng rừng, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án trồng rừng, có những ưu đãi trong việc tiếp cận nguồn vốn 70 tín dụng để trồng rừng. Ngoài ra, tỉnh Quảng Nam là một trong những tỉnh có diện tích đồi trọc lớn. Vì vậy, Công ty nên tận dụng những cơ hội này để tăng cường cho các hộ dân vay vốn trồng rừng cung cấp nguyên liệu gỗ cho Công ty. Việc này sẽ giúp Công ty giảm số lượng gỗ nhập khẩu và thu mua trong nước với giá cả cao và nguồn cung không ổn định, tạo nên nguồn gỗ hợp pháp của chính Công ty cung cấp cho hoạt động sản xuất chế biến gỗ xuất khẩu.  Giải pháp cho những rủi ro thiên tai Công ty nằm trong khu vực thường xuyên gánh chịu thiên tai như bão, lũ lut…Đây là những rủi ro bất khả kháng nằm ngoài tầm kiểm soat của Công ty và gây nên cho Công ty rất nhiều hậu quả. Để hạn chế những rủi ro này Công ty phải mua bảo hiểm cho các tài sản của mình như nhà xưởng, hàng hóa vận chuyển đường biển… Đối với loại rủi ro này thì ý thức phòng ngừa là trên hết. Nếu thiên tai xảy ra thì Công ty sẽ được công ty bảo hiểm giám định tổn thất và bồi thường. Khi mua bảo hiểm, Công ty nên lựa chọn kỹ để mua loại bảo hiểm thích hợp. Công ty cũng phải thực hiện đúng theo hợp đồng bảo hiểm để khi xảy ra thiệt hại do thiên tai gây ra thì được nhận bồi thường từ công ty bảo hiểm. 3.2.2.2 Giải pháp về quản lý, kiểm soát chi phí của Công ty Công tác quản lý, kiểm soát chi phí chưa tốt chính là nguyên nhân khiến rủi ro kinh doanh của Công ty cao trong thời gian vừa qua. Vì vậy, việc thiết yếu là phải kiểm soát chi phí của Công ty thật tốt.  Kiểm soát chi phí biến đổi ∗ Chi phí nguyên vật liệu: Để tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu ngoài việc chủ động nguồn nguyên liệu để giảm bớt các chi phí đầu vào (đã được trình bày ở trên) thì trong quá trình sản xuất Công ty phải kiểm soát chặt chẽ và thực hành nhiều chính sách tiết kiệm nguyên vật liệu sản xuất. − Công ty phải thường xuyên kiểm soát giá đầu vào, lựa chọn những đối tác tin cậy, có uy tín với giá cả hợp lý và chất lượng bảo đảm. Tổ chức thu mua nguyên vật liệu, vật tư trực tiếp với các đơn vị sản xuất hoặc nhập khẩu, hạn chế tối thiểu mua qua các tổ chức, cá nhân trung gian. Phải đảm bảo các nhân viên bộ phận cung ứng phải có khả năng thương thuyết tốt để có được giá tốt nhất với chất lượng cao. Giá mua phải sát với giá thị trường, phải ngăn chặn hiện tượng “gửi giá’’ khi mua nguyên vật liệu, hàng hóa để tư lợi. − Chi phí vận chuyển gỗ chiếm tỷ trọng không nhỏ trong chi phí mua hàng do đó Công ty phải lựa chọn các phương tiện vận chuyển hợp lý và tính toán quảng đường đi sao cho tiết kiệm chi phí. Đồng thời phải lựa chọn các hãng vận tải dựa trên uy tín, có mức giá phải chăng. 71 − Công ty phải củng cố hệ thống kho hàng, quản lý chặt việc xuất nhập vật tư, nguyên liệu, công tác bảo vệ nhằm giảm đến mức tối thiểu hao hụt, mất mát trong quá trình thu mua, vận chuyển, bảo quản và phải đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu luôn được đảm bảo. − Mỗi xí nghiệp nên có một tổ kiểm soát thường xuyên để theo dõi, quản lý công nhân trong quá trình đưa nguyên liệu vào sử dụng; khi tiến hành cắt xẻ gỗ phải chọn những công nhân có tay nghề cao để tránh hư hỏng, tổn thất nguyên liệu. Công ty phải xây dựng ý thức tiết kiệm cho công nhân. Đồng thời Công ty cũng phải có chế độ khen thưởng cho các công nhân làm sản phẩm đạt chất lượng, không hao tổn nguyên liệu, vật tư tạo động lực cho công nhân làm việc với năng suất cao, giảm bớt hư hỏng nguyên vật liệu − Công ty phải thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các định mức nguyên vật liệu ở các xí nghiệp, so sánh thực hiện định mức giữa các Xí nghiệp từ đó rút ra những ưu nhược điểm. Đồng thời phân tích các nguyên nhân chủ yếu và đề ra giải pháp khắc phục hoặc phương hướng phát huy để các chỉ tiêu định mức này càng tiên tiến. Từ đó, đưa ra các bài học kinh nghiệm cho các Xí nghiệp trong việc quản lý nhằm đạt mục tiêu giá đầu ra sản phẩm phải cạnh tranh nhưng chất lượng và khách hàng hài lòng. − Máy móc thiết bị phải thường xuyên được bảo trì, tránh trường hợp máy móc lạc hậu hư hỏng gây nên tổn thất nguyên vật liệu. Công ty phải thường xuyên nâng cao tay nghề công nhân để họ sử dụng máy móc thiết bị và nguyên vật liệu hiệu quả. Khuyến khích công nhân viên nghiên cứu, đưa ra các sáng kiến áp dụng trong sản xuất kinh doanh để đạt hiệu quả tối đa. − Công ty phải tìm mọi biện pháp để tận dụng tối đa nguyên vật liệu, không bỏ sót, lãng phí phần nào để đem lại thêm nguồn thu cho Công ty hiệu quả nhất. ∗ Chi phí nhân công trực tiếp Con người là nguồn lực quan trọng nhất trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh do đó Công ty phải quản lý hiệu quả loại chi phí này. − Công ty phải bố trí hợp lý lao động trong từng vị trí tránh trường hợp những người không đủ năng lực làm ở vị trí đòi hỏi nhiều kỹ năng dẫn đến tăng chi phí nhân công mà hiệu suất lao động lại thấp. Đồng thời Công ty phải tạo môi trường làm việc tốt để công nhân có điều kiện phát huy hết khả năng, hiệu suất lao động của mình. Khi môi trường kinh doanh rơi vào trạng thái xấu như khủng hoảng, suy thoái hay đơn đặt hàng ít, Công ty có thể áp dụng chế độ chờ việc, cho công nhân nghỉ với mức lương thấp như vậy sẽ không bị thiếu công nhân cho mùa sau vừa tiết kiệm được chi phí. Công ty cũng phải thực hiện tốt hơn nữa các chính sách đãi ngộ đối với công nhân để thu hút các công nhân có tay nghề cao vừa nâng cao hình ảnh của Công ty. 72 − Muốn nâng cao năng suất lao động thì Công ty phải thường xuyên nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân bằng các lớp tập huấn nghề, truyền đạt kinh nghiệm. Các nhà quản lý phải gần gũi để hiểu rõ công nhân của mình để có biện pháp quản lý, giúp đỡ các công nhân, phải thường xuyên kiểm tra để tránh thái độ làm việc lơ đễnh, đối phó, năng suất kém. Đồng thời Công ty phải đặt ra chế độ thưởng phạt nghiêm nhân để công nhân tích tích cực làm việc, đạt năng suất cao. ∗ Biến phí sản xuất chung: Hiện nay chi phí sản xuất chung phát sinh ở Công ty chủ yếu là chi phí tiền điện, chi phí sữa chữa máy móc thiết bị, chi phí nhiên liệu, tiếp khách… trong đó tiền điện chiếm tỷ trọng lớn nhất. Công ty phải đưa ra và áp dụng các giải pháp tiết kiệm điện hiệu quả hơn nữa. Công ty có thể phân ca cho công nhân tránh các giờ cao điểm như điều chỉnh giờ vào ca sớm hơn, giờ về trễ hơn, bố trí giờ nghỉ trưa vào giờ cao điểm. Mở rộng hay lắp thêm các cửa sổ, cửa kính để tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên, sử dụng các thiết bị tiết kiệm điện, bố trí không gian hợp lý để tạo sự thoáng mát… Xây dựng ý thức tiết kiệm, thiết lập nội quy sử dụng điện để cho mọi công nhân viên có ý thức tự giác đảm bảo việc tiết kiệm điện vào nề nếp, ổn định, lâu dài. Ngoài ra, Công ty cũng phải quản lý chặt các chi phí chung khác sao cho vừa tiết kiệm vừa hiệu quả. ∗ Biến phí bán hàng Chi phí này ở Công ty chủ yếu là chi phí vận chuyển, lệ phí hải quan... Công ty nằm gần Cảng Tiên Sa nên có nhiều thuận lợi hơn tuy nhiên Công ty không nên chủ quan mà vẫn nên thường xuyên kiểm soát chặt chi phí này thông qua dự toán và phân tích biến động, tránh trường hợp bị khai khống, chọn phải người vận chuyển không tốt. ∗ Biến phí quản lý doanh nghệp Văn phòng Công ty là nơi phát sinh chủ yếu chi phí này, bao gồm chi phí điện thoại, văn phòng phẩm, tiếp hách, phí công tác… Việc quản lý không tốt chi phí này đã góp phần không nhỏ làm lợi nhuận của Công ty không cao trong thời gian qua. − Công ty có thể kiểm soát loại chi phí này tốt hơn thông qua trung tâm chi phí. Trung tâm chi phí là nơi giúp xác định, tập hợp chi phí và gắn với một đơn vị tính phí. Trung tâm quản lý chi phí có thể là một phòng ban, một nơi làm việc, một dây chuyền máy, một người hay một bộ phận cụ thể. Việc phân chia chi phí thành nhiều trung tâm quản lý chi phí sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thập thông tin. Trung tâm quản lý chi phí ở đây không có nghĩa là tập hợp toàn bộ các bộ phận, phòng ban trong doanh nghiệp làm trung tâm quản lý chi phí, chỉ bộ phận nào Công ty muốn tính và kiểm soát chặt hoạt động của nó thì mới nên thành lập trung tâm 73 quản lý chi phí. Cuối mỗi tháng, quý công ty sẽ tổng hợp được loại chi phí nào phát sinh nhiều nhất và phòng ban nào tiêu tốn nhiều chi phí nhất. Từ đó sẽ đưa ra những biện pháp kiểm soát phù hợp cho từng loại chi phí và từng phòng ban. − Công ty phải tạo được ý thức tiết kiệm cho nhân viên, đưa ra các chế độ thưởng phạt hợp lý. Ban giám đốc phải là tấm gương trong việc có ý thức kiểm soát mọi loại chi phí. Đồng thời, Công ty phải khuyến khích nhân viên đưa ra các sáng kiến nhằm tiết kiệm chi phí trong bộ phận của họ và toàn Công ty.  Kiểm soát chi phí cố định Để hạn chế rủi ro kinh doanh của Công ty thì phải kiểm soát tốt chi phí cố định. Do chi phí cố định tính cho một sản phẩm được xác định bằng cách lấy tổng chi phí cố định chia cho số lượng sản phẩm sản xuất ra. Khi sản lượng tăng thì chi phí cố định tính cho từng đơn vị sản phảm sẽ giảm và khi tận dụng tối đa công suất của máy móc thiết bị thì chi phí cố định của Công ty sẽ ở mức thấp nhất. ∗ Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định − Thường xuyên phân loại tài sản cố định, thể hiện việc đánh giá, sử dụng tài sản cố định để có thể nắm vững tình hình hoạt động của chúng trong điều kiện đảm bảo hoạt động kinh doanh bình thường để từ đó có kế hoạch sử dụng ngày càng hiệu quả. − Xác định lại giá trị tài sản, thường xuyên kiểm kê tài sản cố định để có thể đánh giá chính xác từ đó xác định giá trị hao mòn phù hợp. Đây cũng là một biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định − Xem xét những tài sản đã lạc hậu, hỏng hoặc có giá trị sử dụng thấp không đáp ứng nhu cầu kinh doanh để tiến hành thanh lý nhượng bán một cách triệt để, nhằm giảm chi phí sữa chữa , tu bổ và tạo điều kiện mua sắm những tài sản cố định mới, hiện đại để hiệu quả sử dụng cao hơn. − Khi mua sắm máy móc thiết bị thì phải lựa chon thật kĩ những máy móc nào thật sự cần thiết cho hoạt động kinh doanh của Công ty, không nên mua những thiết bị quá hiện đại, phụ tùng thay thế khan hiếm trên thị trường mà giá quá cao. Không nên đầu tư tràn lan, tránh tình trạng khi đã đi vào sản xuất thì không sử dụng hết công suất máy móc thiết bị. Những máy móc thiết bị không thường xuyên phục vụ cho hoạt động của Công ty thì Công ty có thể tính toán đến việc đi thuê, khi đó sẽ tiết kiệm được vốn tong việc mua sắm tài sản cố định. ∗ Cắt giảm chi phí cố định khi nhu cầu giảm Chi phí cố định có thể chia làm 2 loại chi phí cố định bắt buộc và chi phí cố định tùy ý. Do đó đối với những chi phi cố định tùy ý, Công ty có thể tận dụng hoặc cắt giảm nếu có thể trong điều kiện nhu cầu tiêu thụ bị giảm. Hiện nay, Công ty có nhiều khoản chi phí được khoán theo định mức. Việc khoán chi phí này được đánh giá là phương pháp tốt tuy nhiên có nhiều khoản chi 74 phí được khoán quá cao không phù hợp với thực tế. Đó là các khoản như: chi phí tiếp khách, chi phí card điện thoại cho nhân viên, chi phí đồ dùng văn phòng phẩm, công tác phí cho nhân viên… Những chi phí này chiếm tỷ trong không nhỏ trong chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Vì vậy Công ty có thể cắt giảm các khoản chi phí này để giảm được chi phí cố định. 3.3 Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tài chính Rủi ro tài chính bị ảnh hưởng bởi các nhân tố chính: rủi ro kinh doanh, tỷ lệ nợ, sự biến động bất thường của lãi vay, tỷ giá hối đoái, chi phí đầu vào, khả năng thanh toán… Do đó nếu kiểm soát tốt các nhân tố trên sẽ hạn chế được rui ro tài chính. 3.3.1 Lựa chọn chính sách tài trợ hợp lý theo hướng giảm bớt tỷ lệ nợ Mặc dù sử dụng nợ thì chi phí rẻ hơn so với vốn chủ sở hữu và đòn bẩy tài chính cao sẽ nâng cao hiệu quả tài chính nhưng mặt trái của việc đòn bẩy tài chính cao là một cấu trúc tài chính không lành mạnh và mang lại nhiều rủi ro và việc sử dụng nợ cao trong tình hình kinh tế bất ổn, lạm phát cao sẽ gây nên nhiều rủi ro. Do đó, Công ty phải giảm tỷ lệ nợ để có đòn bẩy tài chính phù hợp. 3.3.1.1 Phát hành cổ phiếu Trong những năm qua sỡ dĩ Công ty luôn duy trì mức nợ cao như thế là do kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty thấp và không ổn định, việc huy động vốn bằng cổ phiếu là không thể nhưng giai đoạn sau này từ năm 2010 ngành gỗ đã dần phục hồi và tiếp tục phát triển, kết quả hoạt động của Công ty đã có phần khôi phục vì thế việc huy động thêm vốn từ cổ đông là điều có thể. Công ty có thể phát hành đợt cổ phiếu mới và bán tùy theo số tiền cần có. Sau đó mỗi kkhi muốn tăng vốn, Công ty có thể bán nốt số cổ phiếu còn giữ lại lúc đầu hay có thể phát hành mới tùy theo Hội đồng quản trị. 3.3.1.2 Huy động vốn trong nội bộ doanh nghiệp Công ty có thể phát hành tín phiếu nội bộ để gọi vốn, bên cạnh đó huy động thêm nguồn vốn nhàn rỗi nằm trong công nhân viên với mức lãi suất hợp lý. Nguồn vốn này sẽ giúp cho Công ty giảm bớt gánh nặng chi phí lãi vay, góp phần tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên, ngoài ra còn giảm áp lực thanh toán đến hạn. Nguồn vốn này còn dễ huy động do cán bộ công nhân viên là những người làm trong Công ty, biết rõ tình hình hoạt động của Công ty ngày càng phát triển sau khủng hoảng và có quyền hy vọng trong tương lai sự phát triển này sẽ tiếp tục 3.3.1.3 Quản lý chặt chẽ các khoản phải thu Quản lý khoản phải thu tốt sẽ góp phần đáng kể vào việc sử dụng vốn hiệu quả. Hiện nay công tác thu hồi nợ của Công ty còn kém. Nợ phải thu chiếm đến 30% trong tổng tài sản. Vì vậy cần có chính sách để đẩy nhanh quá trình thu nợ, tránh tình trạng nợ kéo dài. Việc truy đòi nhanh các khoản nợ phải thu còn giúp Công ty có tiền để thanh toán các khoản nợ, giúp tỷ lệ nợ giảm xuống. 75 − Công ty nên lập bảng theo dõi tình hình công nợ một cách chi tiết để biết rõ được khoản nợ nào đã được trả, khoản nào chưa, khoản nào quá hạn và quá hạn bao nhiêu ngày. Từ đó, Công ty lập kế hoạch xử lý các khoản nợ quá hạn như: gửi thông báo, nhắc nhở hách hàng qua các phương tiện thông tin. Nếu các khoản nợ đó quá lớn có thể nhờ sự can thiệp của pháp luật. Ngoài ra, khi ký kết hợp đồng Công ty phải quy định rõ thời gian trả nợ, nếu qua thời gian quy định mà chưa trả nợ thì sẽ phải chịu một mức lãi suất hay tiền phạt do làm sai hợp đồng. − Công ty có thể áp dụng chính sách chiết khấu để đẩy nhanh tốc độ thu hồi nợ. Hiện nay, Công ty mới chỉ áp dụng kỳ hạn tín dụng cho từng khách hàng. Công ty nên dùng chính sách chiết khấu ở nhiều đối tượng đặc biệt là khách hàng nội địa vì thời hạn thanh toán các khoản nợ của đối tượng này là lâu nhất. Khi chính sách chiết khấu thanh toán của Công ty phát huy tác dụng thì chi phí thu hồi nợ và các khoản nợ phải thu khó đòi sẽ giảm dần. Để đưa ra chính sách chiết khấu thanh toán cho khách hàng, khi xác định tỷ lệ chiết khấu, Công ty phải đảm bảo rằng chi phí cơ hội do chiết khấu phải nhỏ hơn lợi ích thu được từ chính sách chiết khấu. Với việc áp dụng chính sách chiết khấu, Công ty một mặt đã đẩy nhanh tốc độ thanh toán từ khách hàng, một mặt Công ty có được lượng tiền để thanh toán được các khoản nợ vay, làm hạn chế rủi ro tài chính. 3.3.1.4 Dự toán nhu cầu vốn lưu động của Công ty để chủ động trong việc huy động vốn Để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh thì cần phải có vốn và để đạt được một khoản doanh thu nào đó cần phải có một lượng vốn nhất định. Công ty phải xác định nhu cầu vốn lưu động hợp lý, chính xác để có kế hoạch tìm kiếm nguồn tài trợ hợp lý, nhằm giảm chi phí tài chính. Xác định nhu cầu vốn lưu động hợp lý, chính xác có ý nghĩa rất quan trọng: − Đảm bảo cho quá trình sản xuất và lưu thông của doanh nghiệp được tiến hành liên tục đồn thời tránh được tình trạnh ứ đọng, lãng phí vốn. − Là cơ sở để tổ chức các nguồn vốn hợp lý, hợp pháp đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn lưu động đối với Công ty. − Để sử dụng tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả nguồn vốn lưu động đồng thời là căn cứ để đánh giá kết quả công tác quản lý vốn lưu động trong Công ty. Do đó Công ty phải xác định được nhu cầu vốn lưu động chính xác, hợp lý góp phần làm giảm rủi ro tài chính. 3.3.2 Hạn chế biến động của chi phí lãi vay Chi phí lãi vay không những phụ thuộc vào bản thân lượng vay nợ mà còn chịu ảnh hưởng của thị trường tiền tệ. Lãi vay luôn biến động thất thường. Khi thực hiện vay nợ Công ty phải phân tích khả năng trả nợ, lãi vay cũng như hiệu quả sinh 76 lời cũng như việc vay nợ có hiệu quả hay không từ đó đưa ra quyết định huy động vốn đúng đắn. Để hạn chế rủi ro lãi vay, Công ty có thể dùng các sản phẩm của thị trường tài chính phái sinh: ∗ Quyền chọn lãi suất: Cho phép người mua quyền chọn được mua quyền, nhưng không bắt buộc, để chốt cố định lãi suất một khoản vay/hoặc cho vay danh nghĩa với giá trị thỏa thuận vào/hoặc trước một ngày cụ thể trong tương lai. Bên mua quyền chọn phải trả phí cho bên bán. Công cụ quyền chọn cho phép khách hàng chọn lãi suất được đảm bảo và ngân hàng sẽ đảm bảo cho mức lãi suất này khi khách hàng yêu cầu. Khách hàng sẽ phải thanh toán khoản phí này cho ngân hàng trước. Việc thực hiện quyền chọn hoàn toàn phụ thuộc vào người mua quyền chọn, người bán ở thế bị động, phải thực hiện theo yêu cầu của người mua. Về nguyên tắc, tại thời điểm đáo hạn hợp đồng, nếu có lợi, người mua sẽ thực hiện quyền chọn, nếu bất lợi, người mua sẽ không thực hiện quyền chọn và xem phí hợp đồng là phí bảo hiểm rủi ro lãi suất. ∗ Hợp đồng kỳ hạn . Là một thỏa thuận trao đổi mang tính ràng buộc pháp lý để trao đổi khoản phải trả về lãi suất bằng cùng một đồng tiền từ lãi suất cố định lấy lãi suất thả nổi (hoặc ngược lại) hoặc từ loại lãi suất thả nổi này lấy loại lãi suất thả nổi khác. Trong hợp đồng hoán đổi lãi suất, một bên đồng ý trả lãi suất cố định, bên kia đồng ý nhận lãi suất cố định và trả lãi suất thả nổi, thông thường là lãi suất liên ngân hàng tại thị trường London. Hợp đồng không yêu cầu phải hoán đổi cả khoản vay gốc mà chỉ yêu cầu các bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch lãi suất thuần giữa lãi suất nhận về và lãi suất trả đi. Có thể lấy ví dụ sau: Công ty có khoản vay 10 tỷ đồng thời hạn 5 năm với lãi suất thả nổi kỳ hạn 6 tháng thay đổi lãi suất 1 lần. Điều này sẽ làm Công ty đối mặt với rủi ro là lãi suất sẽ tăng lên trong tương lai. Để tránh rủi ro, Công ty tham gia vào hợp đồng hoán đổi lãi suất để cố định mức lãi suất phải trả trong kỳ và tránh sự biến động của lãi suất thả nổi hay nói cách khác, Công ty muốn nhận lãi suất thả nổi và trả lãi suất cố định. Mức lãi suất cố định của hợp đồng hoán đổi lãi suất là 7%. Định kỳ khi thanh toán tiền lãi, nếu lãi suất thả nổi cao hơn 7% thì Công ty được nhận phần chênh lệch về lãi suất, ngược lại, nếu lãi suất thả nổi thấp hơn 7% thì Công ty phải trả phần chênh lệch về lãi suất. 3.3.3 Sử dụng hiệu quả nguồn vốn của Công ty Nguồn vốn được sử dụng hiệu quả có ý nghĩa quan trọng với việc nâng cao hiệu quả tài chính và hạn chế rủi ro tài chính. Công ty phải sử dụng hiệu quả nguồn vốn của mình với nhiều hình thức như tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất, hiệu 77 quả làm việc…Trong đó, một hệ thống sổ sách tài chính minh bạch cùng với mô hình quản lý tài chính khoa học, năng động là một trong những yếu tố góp phần làm nên thành công cho Công ty. Đồng thời, Công ty nên xây dựng bảng chi tiêu trong một thời gian nhất định, kế hoạch tài chính cụ thể sẽ giúp Công ty có kế hoạch vay vốn thích hợp, tránh trường hợp sử dụng vốn ồ ạt, tăng các khoản nợ vay. Kế hoạch tài chính gồm 2 loại: kế hoạch ngắn hạn và kế hoạch dài hạn. ∗ Kế hoạch tài chính dài hạn: Công ty dự tính về việc sử dụng vốn và khai thác các nguồn vốn theo từng năm trong phạm vi từ 3 đến 5 năm nghĩa là tổng hợp các chương trình dự kiến của Công ty. Mục đích chủ yếu của kế hoạch này là đảm bảo duy trì sự cân đối tài chính. Công ty phải xác định nhu cầu vốn và các nguồn vốn có thể tài trợ. ∗ Kế hoạch tài chính ngắn hạn: Sau khi lập kế hoạch tài chính ngắn hạn, Công ty sẽ tiên hành dự toán chi phí cho tất cả các hoạt động (hay còn gọi là xây dựn ngân sách) trong 12 tháng của năm (hoặc theo quý bao gồm: ngân sách bán hàng, ngân sách sản xuất, ngân sách marketing, ngân sách quản lý… để từ đó xác định ngân sách ngân quỹ là ngân sách phản ánh luồng tiền thu chi bằng tiền của Công ty qua từng tháng trong năm. Từ đó, Công ty sẽ lập được kế hoạch tài trợ ngắn hạn. 3.3.4 Giải pháp giảm rủi ro tỷ giá hối đoái: Đối với những công ty có hoạt động xuất nhập khẩu như Forexco thì rủi ro tỷ giá hối đoái là thường xuyên gặp phải và rất đáng lo ngại. Thay đổi tỷ giá làm thay đổi giá trị kỳ vọng của các khoản thu hoặc chi ngoại tệ trong tương lai làm phát sinh các khoản lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái và hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng đáng kể. Cụ thể, năm 2008, tỷ giá biến động thất thường đã làm chi phí tài chính (tính riêng cho phần lỗ do chênh lệch tỷ giá) của Công ty đã lên đến 2 tỷ, tác động giảm trực tiếp đến lợi nhuận của Công ty. Hiện nay, Công ty chưa có biện pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá nào. Công ty nên áp dụng một số giải pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá sau: ∗ Sử dụng các sản phẩm thị trường tài chính phái sinh: Hợp đồng kỳ hạn − Để bảo hiểm cho rủi ro liên quan đến khả năng giảm giá của ngoại tệ trong trường hợp xuất khẩu thì Công ty phải bán kì hạn ngoại tệ thu được từ việc xuất khẩu. − Để bảo hiểm cho rủi ro liên quan đến khả năng tăng giá của ngoại tệ trong trường hợp nhập khẩu thì Công ty phỉa mua kì hạn ngoại tệ với số lượng ngoại tệ cần thanh toán hàng nhập khẩu. Sau đây là ví dụ minh họa cho trường hợp Công ty xuất khẩu sang EU một lượng hàng trị giá là 100.000 USD được thanh toán sau 2 tháng. 78 Tỷ giá hiện tại 1USD = 20.000 VNĐ Tỷ giá kì hạn 2 tháng: 1USD = 20.500 VNĐ Vì sợ sự giảm giá của USD nên Công ty sẽ bảo hiểm bằng cách bán kì hạn 100.000 USD với thời hạn 2 tháng trên cho ngân hàng. Đến thời hạn trong hợp đồng (2 tháng sau), Công ty sẽ nhận được 100.000 USD từ người mua. Sau đó, Công ty giao 100.000 USD cho ngân hàng (theo hợp đồng kỳ hạn) và nhận được số tiền: 100.000 USD x 20.500 = 2.050.000.000 đ cho dù tỷ giá trên thị trường có biến động như thế nào đi nữa Nếu 2 tháng sau, tỷ giá USD/VNĐ ≤ 20.500 thì nhờ sử dụng hợp đồng kỳ hạn Công ty sẽ không bị lỗ. Chẳng hạn tỷ giá là 1 USD = 19.800 VNĐ thì nếu không sử dụng hợp đồng kỳ hạn Công ty sẽ bị lỗ: (20.000 – 19.800) x 100.000= 2.000.000đ Như vậy khi sử dụng hợp đồng kỳ hạn Công ty sẽ khóa chặt được khoản phải thu, phải trả từ đó sẽ chủ động đưa ra được những kế hoạch trong tương lai. Hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng bắt buộc yêu cầu các bên phải thực hiện khi đáo hạn bất chấp tỷ giá trên thị trường giao ngay lúc đó như thế nào. Điền này có mặt lợi là bảo hiểm được rủi ro ngoại hối cho Công ty nhưng đồng thời đánh mất đi cơ hội kinh doanh nếu như tỷ giá biến động trái với dự đoán của Công ty. Hợp đồng tương lai Giống như hợp đồng kỳ hạn nhưng hợp đồng tương lai được chuẩn hóa và được giao dịch trên các sàn giao dịch tập trung. Tuy nhiên khác với hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai cho phép các bên tham gia có thể sang nhượng lại hợp đồng ở bất kỳ thời điểm nào trước khi hợp đồng hết hạn. Hợp đồng tương lai được sử dụng như là một công cụ phòng ngừa rủi ro ngoại hối. Nguyên lý chung là khi Công ty có một khoản phải trả bằng ngoại tệ và lo sợ rằng ngoại tệ đó sẽ lên giá khi khoản phải trả đến hạn thì nên mua một hợp đồng tương lai ngoại tệ đó. Bằng cách này có thể tạo ra hai trạng thái ngoại tệ trái ngược nhau: trạng thái âm khi nợ một khoản phải trả và trạng thái dương khi mua hợp đồng tương lai với cùng loại ngoại tệ đó. Hai trạng thái ngoại tệ trái chiều nhau ấy sẽ tự hóa giải rủi ro. Trường hợp có một khoản phải thu, thay vì khoản phải trả, thì Công ty làm ngược lại. Hợp đồng quyền chọn Là một hợp đồng giữa người mua và người bán, theo đó người bán trao cho người mua quyền, chứ không phải là nghĩa vụ mua (call) hoặc bán (put) một số lượng nhất định một loại tiền tệ, vào một khoảng thời gian được xác định, với một giá nhất định (giá thực hiện). Đổi lại người mua phải trả cho người bán một khoản phí (gọi là phí Option). Người nắm giữ quyền chọn có thể thực hiện hoặc không thực hiện hợp đồng. Vì vậy khi rủi ro xảy ra, thị trường không theo đúng hướng dự 79 đoán của người nắm giữ quyền chọn thì lỗ được tối thiểu hoá chỉ ở mức giá của hợp đồng quyền chọn và được xem là chi phí bảo hiểm rủi ro. Khi có nhu cầu thanh toán ngoại tệ, Công ty có thể mua “Quyền chọn mua’’ để phòng ngừa rủi ro tỷ giá tăng lên vào thời điểm thanh toán ngoại tệ trong tương lai. Khi có nguồn thu bằng ngoại tệ, Công ty có thể có mua “Quyền chọn bán’’ để phòng ngừa rủi ro tỷ giá giảm xuống vào thời điểm nhận ngoại tệ trong tương lai. Hợp đồng hoán đổi Giao dịch hoán đổi là giao dịch hối đoái bao gồm đồng thời cả hai giao dịch: giao dịch mua và giao dịch bán cùng một số lượng đồng tiền này với đồng tiền khác, trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký hợp đồng Lợi ích của hợp đồng hoán đổi thể hiện ở chỗ Công ty thỏa mãn được nhu cầu ngoại tệ hoặc nội tệ của mình ở thời điểm hiện tại, tức là vào ngày hiệu lực, đồng thời cũng thỏa mãn nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ vào này đáo hạn. Điều này giống như hợp đồng kỳ hạn, do đó Công ty có thể phòng ngừa được rủi ro biến động tỷ giá. ∗ Sử dụng thị trường tiền tệ để bảo hiểm: − Để bảo hiểm trong trường hợp xuất khẩu, Công ty có thể vay ngay số ngoại tệ trên thị trường tiền tệ và bán ngay số tiền này để nhận nội tệ sau đó sẽ trả lại khoản vay ngoại tệ bằng lượng ngoại tệ xuất khẩu. − Để bảo hiểm trong trường hợp nhập khẩu Công ty có thể mua ngay số lượng ngoại tệ mà Công ty có nhu cầu nhập khẩu trong thời gian nhất định và gửi số ngoại tệ này trên thị trường tiền tệ. Trên đây là một số giải pháp giúp hạn chế rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính tại Công ty. Hy vọng phần nào giúp cho Công ty ngày càng phát triển trong quá trình sản xuất kinh doanh trong tương lai. 80 KẾT LUẬN ---.--- Mặc dù không ai muốn nhưng thực tế rủi ro vẫn cứ luôn song hành trong cuộc sống nói chung và trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty nói riêng đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới gặp nhiều khó khăn, bất ổn như hiện nay. Công ty luôn mong muốn sao cho với chi phí bỏ ra thấp nhất trong thời gian cho phép nhưng đạt được doanh thu cao nhất và lợi nhuận thu được ở mức tối đa, tức là đồng nghĩa với việc hạn chế thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra. Qua việc phân tích rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính tại Công ty, có thể nhận thấy rằng rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính của Công ty còn ở mức cao. Nguyên nhân chính của rủi ro kinh doanh là do Công ty chưa kiểm soát tốt chi phí và việc kinh doanh của Công ty chỉ tập trung xuất khẩu sản phẩm sang thị trường EU cho các khách hàng truyền thống nên khi thị trường EU biến động mạnh như hiện nay thì rủi ro kinh doanh của Công ty ở mức cao. Đối với rủi ro tài chính thì nguyên nhân chính làm cho rủi ro ở mức cao là do cấu trúc vốn của Công ty chưa hợp lý với việc sử dụng nợ vay quá nhiều. Đề tài cũng đã đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính tại Công ty. Công ty cần phải giải quyết nhanh chóng các vấn đề trên để hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn. Trong thời gian thực tập tại Công ty, em đã cố gắng vận dụng những kiến thức được học để thực hiện tốt đề tài. Tuy nhiên do trình độ kiến thức và khả năng trình bày còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất mong được sự chỉ bảo của thầy cô và các cô chú, anh chị trong phòng kế toán tại Công ty để em có thể hoàn thiện kiến thức bản thân và có được những kinh nghiệm quý giá trong công việc sau này. Qua đây em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo hướng dẫn thạc sĩ Nguyễn Bích Hương Thảo, em cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo công ty cùng các cô chú phòng kế toán của Công ty Cổ phần Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam đã giúp em hoàn thành đề tài này. Sinh viên thực hiện Trương Thạch Thảo 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Quản trị tài chính (năm 2007) do TS Nguyễn Thanh Liêm chủ biên 2. Quản trị rủi ro tài chính (năm 2007) do Nguyễn Thị Ngọc Trang chủ biên 3. Phân tích hoạt động kinh doanh - Phần2 (năm 2008) do PGS-TS Trương Bá Thanh chủ biên 4. Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, Phân tích tài chính doanh nghiệp, Quản trị rủi ro tài chính của trường Đại học Nha Trang. 5. www.google.com.vn 6. www.thesaigontimes.vn 7. www.scribd.com 8. www.vietrade.gov.vn 9. www.vnexpress.net NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN  Họ và tên SV : Trương Thạch Thảo Lớp : 50TC-1 Ngành : Tài Chính MSSV : 50131530 Tên đề tài : “Phân tích rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính tại Công ty cổ phần Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam”. .......................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... Kết luận: ................................................................................................................ .......................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... Nha Trang, ngày tháng năm 2012 Giáo viên hướng dẫn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfpha_n_ta_ch_ra_i_ro_kinh_doanh_va_ra_i_ro_ta_i_cha_nh_ta_i_c_4455.pdf
Luận văn liên quan