Đề tài Phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

Rủi ro tín dụng có thểxảy ra với bất cứngân hàng nào và với đối với NHNT mà cụthểlà VCB Nam Sài Gòn cũng không phải là một ngoại lệ. Trong thời gian qua, ngân hàng đã tiến hành nhiều biện pháp hữu hiệu cộng với sựnỗlực, quyết tâm rất cao do đó đã đạt được những kết quảrất đáng khích lệtrong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, góp phần đưa hoạt động của ngân hàng đi vào ổn định, vững vàng trên thịtrường và tiếp tục phát triển. Mặc dù vậy, hậu quảcủa rủi ro tín dụng vẫn còn khá lớn, vẫn còn ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

doc95 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 18/11/2013 | Lượt xem: 3624 | Lượt tải: 32download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đến năm 2015 đạt 80-100 triệu USD và năm 2020 đạt 170-200 triệu USD; tỷ lệ thu ngân sách chiếm khoảng 20% từ GDP vào năm 2015 và khoảng 22% vào năm 2020. - Phát triển Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo thành một trong những trung tâm giao lưu hàng hoá, dịch vụ của vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ với các nước, các vùng lãnh thổ trên tuyến hành lang kinh tế Đông-Tây. - Thực hiện các hình thức kêu gọi đầu tư phù hợp xây dựng cảng Mỹ Thuỷ. Tiếp tục nghiên cứu phát triển Khu kinh tế Đông-Nam và đảo Cồn Cỏ khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về thành lập khu kinh tế theo quy định. 3.1.2. Tác động của các yếu tố môi trường - Tác động của các vùng kinh tế + Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung: Gồm 5 tỉnh, thành phố là TT-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định; với tổng diện tích là 22.877 km2, chiếm 8,4% diện tích cả nước. Hiện Vùng được xem là đầu tàu trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực miền Trung và Tây Nguyên, là cửa ngõ giao lưu kinh tế-xã hội thuận lợi với các nước trong khu vực và trên thế giới, có hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối phát triển, đã và đang tiếp tục được đầu tư và mở rộng. Cơ cấu kinh tế của Vùng năm 2010, hiện đã chuyển sang cơ cấu công nghiệp-thương mại với tỷ trọng công nghiệp-xây dựng chiếm khoảng 49,4%; ngành thương mại dịch vụ chiếm 35,3%. Mức GDP/người năm 2010 của Vùng đạt khoảng 7,3 triệu đồng/người (giá cố định 1994) tương ứng 625 USD/người, gấp 1,9 lần so với mức của vùng đã đạt được năm 2005 là 362 USD. Phương hướng phát triển kinh tế-xã hội của Vùng trong đó: Đà Nẵng, Quãng Ngãi và Quy Nhơn sẽ là những đầu tàu, có vai trò là những trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ và giao dịch quốc tế của khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Với vị trí địa lý cách Đà Nẵng gần 270 km về phía Nam, hứa hẹn khi khu vực này phát triển sẽ tạo ra hiệu ứng lan toả, kéo nền kinh tế tỉnh Quảng Trị nói riêng và các tỉnh khác trong khu vực nói chung phát triển theo. + Vùng kinh tế Bắc Trung Bộ : Gồm 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, có diện tích khoảng 51.552 km2, với dân số khoảng 10.668.300 người. Vùng có thế mạnh về khoáng sản như chiếm khoảng 60% trữ lượng quặng sắt, 80% thiếc, 100% Cronit, 40% đá vôi so toàn quốc. Trong vùng có một số mỏ khoáng sản có giá trị như mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh), mỏ crômit Cổ Định (Thanh Hoá), mỏ thiếc Quỳ Hợp (Nghệ An). Ngành lâm nghiệp vùng Bắc Trung Bộ quản lý 3436,86 ngàn ha, đất có rừng 1633,0 ngàn ha, trữ lượng gỗ 134.737 triệu m3 gỗ; 1466,49 triệu cây tre nứa. Bắc Trung Bộ có khoảng 670 km bờ biển, trữ lượng cá khoảng 620.000 tấn, tôm 2750 tấn, mực 5000 tấn... Kinh tế Bắc Trung Bộ tăng trưởng ở mức khá, đạt 8,4%/năm. Cơ cấu kinh tế vùng có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng nông nghiệp trong các năm giảm 14,3% (trung bình mỗi năm giảm 1,3%). Tuy nhiên, trong cơ cấu kinh tế của vùng, ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn (37,8%). Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra chậm. Là Vùng có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, thị trường tiềm năng chưa được khai thác hết. Khi hệ thống các trục giao thông được nâng cấp, mở rộng như hệ thống cao tốc đường bộ, đường sắt sẽ giúp cho việc cung cấp nguyên liệu sản xuất, tiêu thụ sản phẩm diễn ra thuận lợi, tốc động lực thúc đẩy công nghiệp của tỉnh phát triển. + Hành lang kinh tế Đông-Tây Quảng Trị với tuyến đường 9 nối với trục đường Xuyên Á qua cửa khẩu Lao Bảo hứa hẹn khi hoàn thành sẽ thu hút nhiều hàng hoá thông thương qua lại, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh. Với vị trí giao thông thuận lợi là cơ hội để các sản phẩm công nghiệp của tỉnh tiến sâu vào thị trường nội địa các nước như Lào, Thái Lan, Myanma; đồng thời nguồn cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp với chi phí rẻ hơn là lợi thế để nâng cao sức cạnh tranh. Đây cũng là cơ hội để tỉnh thu hút đầu tư FDI, nhất là FDI vào công nghiệp khi mà cơ sở hạ tầng của tỉnh cũng ngày một hoàn thiện hơn. - Xu thế hội nhập Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN năm 1995, APEC năm 1998 và năm 2006 Việt Nam gia nhập chính thức WTO đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của nền kinh tế Việt Nam tham gia vào thị trường thế giới. Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho cả nền kinh tế nói chung và ngành công nghiệp nói riêng. Mức độ cạnh tranh sẽ trở nên gay gắt hơn, các rào cản về tiêu chuẩn kỹ thuật sẽ khắt khe hơn, .v.v. trong khi năng lực sản xuất và chất lượng, chủng loại sản phẩm trong nước còn hạn chế sẽ tác động không nhỏ đến các hoạt động sản xuất công nghiệp trong thời gian đến. - Khả năng chuyển dịch đầu tư và các nguồn vốn đầu tư nước ngoài Mặc dù môi trường đầu tư của Việt Nam vẫn còn một số điểm yếu so với một số nước khác trong khu vực. Nhưng nhờ thể chế chính trị ổn định, nhân công rẻ, tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi... Việt Nam vẫn là một địa điểm hấp dẫn đầu tư với các nước, với luồng vốn FDI liên tục tăng cao trong những năm qua. Đặc biệt, trong bối cảnh sự lệ thuộc quá mức đối với Trung Quốc trong việc đầu tư, thiết đặt nhà máy sản xuất. Các chủ đầu tư đã nghĩ đến chính sách “ Trung Quốc+1”. Đây được xem là cơ hội hiếm có, để các ứng viên như Việt Nam, Thái Lan,... nắm lấy luồng dịch chuyển vốn này. - Bối cảnh kinh tế-xã hội trong nước và trên thế giới Bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay hết sức ảm đạm, sự sụp đổ của các đế chế tài chính khổng lồ của Mỹ bắt nguồn từ thị trường bất động sản, cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu lan sang các nước khác làm giảm niềm tin của các nhà đầu tư, cùng với lạm phát, giá tiêu dùng tăng cao làm cho thị trường tiêu thụ sụt giảm đẩy các doanh nghiệp sản xuất vào cảnh đình trệ, hoạt động cầm chừng. Lạm phát trong nước thời gian qua liên tục tăng cao, cơ cấu kinh tế bất ổn, tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm, hiệu quả đầu tư thấp, tình hình nợ công có chiều hướng gia tăng,.v.v. đang là thực trạng khiến cho tình hình trong nước không mấy sáng sủa, tiêu dùng giảm kéo theo sự suy giảm trong sản xuất. - Chu kỳ sản phẩm công nghệ ngày càng rút ngắn Sản xuất công nghiệp là hoạt động gắn liền với các dây chuyền thiết bị, máy móc và công nghệ. Tuy nhiên với sự phát triển vượt bậc của KHCN, đã thúc đẩy chu kỳ sống của chúng diễn ra nhanh chóng, các dây chuyền, thiết bị hay các sản phẩm mới liên tục ra đời, khiến chúng dễ dàng trở nên lạc hậu trong khi vốn đầu tư ban đầu rất lớn. Do đó, khi đầu tư trong sản xuất công nghiệp phải hết sức chú trọng đến. 3.1.3. Xu thế biến động của các yếu tố nguồn lực - Dân số: Trong cơ cấu dân số theo độ tuổi, tuổi từ 0-59 tuổi chiếm khoảng 90,9%, chỉ tiêu này cho thấy tỉnh có cơ cấu dân số trẻ, trong đó: dân số dưới 15 tuổi hiện chiếm tới 37,9%, đây chính là lực lượng lao động dự trữ dồi dào của tỉnh trong thời gian tới - Đất đai: Hiện quỹ đất chưa sử dụng còn khá lớn, khoảng 53.829 ha chiếm 11,3% là một thuận lợi cho phát triển các ngành kinh tế-xã hội trong tương lai. - Dự trữ tài nguyên thiên nhiên: Do năng lực thăm dò, khai thác và chế biến còn hạn chế nên các nguồn tài nguyên thiên nhiên của tỉnh vẫn còn khá dồi dào, đủ khả năng đáp ứng trong thời gian tới. Các nguồn nguyên liệu cho sản xuất xi măng, cát thạch anh làm vật liệu xây dựng, mỏ khí đốt ngoài khơi đảo Cồn Cỏ,.v.v. có trữ lượng lớn và sẽ mang lại hiệu quả nếu được thăm dò và khai thác. - Nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến: + Cây công nghiệp hàng năm: năm 2010, diện tích gieo trồng cây công nghiệp hàng năm toàn tỉnh có gần 5.030 ha. Dự kiến, năm 2020 diện tích cây công nghiệp hàng năm của tỉnh sẽ được mở rộng lên 11.500-12.000 ha. + Cây công nghiệp lâu năm: hiện diện tích cây công nghiệp lâu năm có gần 23.030 ha; phấn đấu đến năm 2015, diện tích trồng cao su khoảng 19.000-20.000 ha và tiếp tục nghiên cứu mở rộng thêm lên 21.000-22.000 ha trong giai đoạn đến năm 2020. Đẩy mạnh hợp tác trồng cao su với nước bạn Lào. Năm 2020, ổn định diện tích cây cà phê khoảng 5.000 ha, tập trung chủ yếu ở Hướng Hoá. Tập trung phát triển hồ tiêu tại các huyện Gio Linh, Vĩnh Linh với quy mô 3.000 ha. + Cây lương thực, thực phẩm: hiện toàn tỉnh có 48.030 ha trồng lúa và 3.562 ha trồng ngô. Dự báo đến năm 2020, diện tích trồng lúa toàn tỉnh sẽ duy trì 46.000-47.000 ha, diện trồng ngô khoảng 6.000 ha. + Nguyên liệu từ chăn nuôi: Sản lượng thịt hơi các loại xuất chuồng năm 2010 đạt khoảng 24.736 tấn. Dự báo, đến năm 2015, đạt khoảng 48.000 tấn và 74.000 tấn năm 2020. + Nguyên liệu gỗ và lâm sản: hiện toàn tỉnh có 42.800 ha đất đồi chưa sử dụng. Phấn đầu hàng năm trồng mới khoảng 4.000-4.500 ha rừng tập trung các loại. Khai thác gỗ, lâm sản: ổn định khai thác khoảng 150.000 m3/năm trong giai đoạn 2011-2015 và khoảng 180.000m3/năm giai đoạn 2016-2020. + Nguyên liệu thuỷ, hải sản: sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản các loại năm 2010 đạt gần 24.670 tấn. Trong giai đoạn tới, diện tích nuôi trồng thuỷ sản được quy hoạch lên khoảng 5.500 ha vào năm 2015 và lên 6.500 ha năn 2020. Phấn đấu tổng sản lượng thuỷ sản đạt 38.000 tấn năm 2020. - Điều kiện cơ sở hạ tầng: Việc hoàn thành xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng quan trọng về giao thông, thuỷ lợi, hạ tầng kỹ thuật phục vụ Khu kinh tế Đông-Nam Quảng Trị, các khu, CCN, cảng biển...là một trong những giải pháp chủ yếu, đồng thời cũng là những nhân tố hỗ trợ tạo bước đột phá trong việc phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới. Dự kiến, sau năm 2015 tuyến quốc lộ 1A mở rộng , cùng với tuyến 9D tránh thành phố về phía Nam được hoàn thành sẽ là tiền đề quan trọng để tăng khối lượng vận chuyển hàng hoá qua cung đường Lao Bảo-Savanakhet Lào. Đề xuất phát triển đường sắt thuộc tuyến đường sắt Liên Á, nối đường sắt Bắc-Nam, chạy song song quốc lộ 9 qua cửa khẩu Lao Bảo đi Savanakhet Lào. Xây dựng ga chính và kho bãi ở khu vực phía Đông Bắc Cửa khẩu Lao Bảo, đảm nhận chức năng kết hợp giữa ga và kho bãi cảng cạn đường bộ. Về thuỷ lợi, tiếp tục củng cố và nâng cấp các công trình thuỷ lợi tích nước cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt. Trong giai đoạn 2016-2020, Cảng Cửa Việt được mở rộng, nâng công suất xếp dỡ lên 800.000 tấn/năm, đáp ứng nhu cầu vận tải đang gia tăng. Theo Quy hoạch phát triển điện lực chung cả nước, năm 2011-2015, xây dựng mạch 2 tuyến 220KV Huế-Đồng Hới và bổ sung máy 2 (1x125MVA) tại trạm biến áp Đông Hà, nâng tổng công suất lên 2x125MVA. Từ năm 2016-2020, xây dựng đường dây 220kV nhánh rẽ Cửa Tùng và lắp đặt trạm biến áp 220 KV Cửa Tùng. Như vậy, với mạng lưới các cơ sở hạ tầng được cải tạo, đầu tư trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới, đã cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và công nghiệp của Quảng Trị đến năm 2020. 3.2. Phương hướng phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Trị đến năm 2020 Ngành công nghiệp sẽ là động lực chính để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH. Vì vậy, phải đặt mục tiêu phát triển công nghiệp lên hàng đầu để thu hẹp khoảng cách chênh lệch kinh tế so với các địa phương xung quanh và trong vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung. Phát triển công nghiệp với tốc độ cao, trong khoảng thời gian dài, bền vững, thân thiện với môi trường trên cơ sở huy động sức mạnh tổng hợp của nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Tập trung đầu tư và phát triển Khu kinh tế Đông –Nam Quảng Trị là hạt nhân phát triển công nghiệp và trong mối liên hệ chặt chẽ với các Khu kinh tế trong vùng. Hình thành các vùng kinh tế công nghiệp động lực khác để tạo dựng mối liên kết giữa các vùng nguyên liệu chế biến với cơ sở sản xuất. Tập trung ưu tiên đầu tư vào nơi có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, nguồn nguyên liệu và dịch vụ công nghiệp. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh như: công nghiệp chế biến nông lâm sản thực phẩm, công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, VLXD, hoá chất, phân bón... Phát huy hiệu quả các cơ sở công nghiệp hiện có, khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất và tích cực đầu tư thu hút các dự án mới, nhất là dự án có quy mô lớn, xây dựng và phát triển một số sản phẩm công nghiệp chủ lực có sức cạnh tranh và có khả năng phát triển ổn định trong thị trường khu vực. Tập trung đầu tư, đổi mới công nghệ trong các ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh. Các công trình công nghiệp mới cần mạnh dạn đầu tư thẳng vào công nghệ, thiết bị hiện đại. Ưu tiên ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất, xử lý môi trường ở khu kinh tế và các khu công nghiệp. Đẩy mạnh áp dụng công nghệ tiên tiến để sản xuất sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu trong các lĩnh vực chế biến nông,lâm, thuỷ sản; khai thác và chế biến khoáng sản; sản xuất VLXD... Hoàn thành từng bước hệ thống cơ sở hạ tầng các khu, CCN đã quy hoạch và hình thành trong giai đoạn 2001-2010 để thu hút các cơ sở sản xuất công nghiệp. Sắp xếp lại lực lượng sản xuất trên địa bàn, tạo điều kiện phát triển tiểu thủ công nghiệp (TTCN), làng nghề để thúc đẩy các khu vực khó khăn phát triển, cải thiện chênh lệch kinh tế giữa thành thị và nông thôn. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển công nghiệp-TTCN theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Đa dạng hoá các sản phẩm công nghiệp. Tạo môi trường thuận lợi cho phát triển công nghiệp của tỉnh gắn với thị trường khu vực và thế giới. 3.2.1. Phương hướng phát triển một số ngành công nghiệp chủ yếu - Công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản Phát triển ngành khai thác khoáng sản đáp ứng nhu cầu cho các ngành, sản phẩm chế biến trên địa bàn tỉnh như: sản xuất VLXD, hoá chất, phân bón, đồ uống, que hàn, ... Đa dạng hoá quy mô khai thác và chế biến khoáng sản với quy mô và công nghệ thích hợp theo hướng tiết kiệm, hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường sinh thái, có sự kiểm soát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước. Chú trọng công tác tìm kiếm,điều tra cơ bản về khoáng sản để làm căn cứ xây dựng kế hoạch đầu tư khai thác và chế biến hiệu quả. - Công nghiệp chế biến: Phát triển một số ngành công nghiệp chế biến mũi nhọn, có lợi thế nguồn nguyên liệu tại địa phương, có thị trường tiêu thụ và xuất khẩu như: + Chế biến nông sản: Tiếp tục ổn định sản xuất các sản phẩm: xay xát lương thực, tinh bột sắn, cà phê, cao su, hồ tiêu... Tiến tới sắp xếp các hộ chế biến chuyển thành một số cơ sở chế biến tập trung để giải quyết việc xử lý môi trường và tăng chất lượng sản phẩm. Đa dạng hoá sản phẩm chế biến, nâng cao chuỗi giá trị sau thu hoạch. Tăng cường các cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi từ các sản phẩm nông nghiệp, các phế phụ phẩm với quy mô nhỏ và vừa. + Chế biến thuỷ sản: Kêu gọi đầu tư, khôi phục ngành chế biến thuỷ sản. Sắp xếp lại tổ chức, đổi mới công nghệ các doanh nghiệp đang gặp khó khăn để củng cố và khôi phục năng lực chế biến xuất khẩu. + Công nghiệp chế biến gỗ, giấy Đẩy mạnh trồng rừng kinh tế, khai thác gỗ và lâm sản hợp lý. Phấn đấu hàng năm trồng khoảng 3.000 ha rừng sản xuất, từng bước hình thành vùng rừng nguyên liệu theo hướng thâm canh, tập trung. Phát triển ngành khai thác và chế biến gỗ, giấy trên cơ sở sản lượng gỗ khai thác hàng năm đạt khoảng 150.000m3/năm trong giai đoạn 2011-2015 và khoảng 1800.000m3/năm trong giai đoạn 2016-2020. Sản lượng khai thác nhựa thông khoảng 2.000 tấn/năm vào năm 2015 và 3.000 tấn/năm vào năm 2020. Trong tình hình nguyên liệu gỗ khai thác từ tự nhiên ngày càng khan hiếm, việc nhập khẩu gỗ nguyên liệu chịu sự kiểm soát chặt chẽ từ các quy định quốc tế và giá tăng cao, khuyến khích các doanh nghiệp chế biến gỗ tham gia trồng rừng, phát triển vùng nguyên liệu tại địa phương. + Công nghiệp sản xuất VLXD Phát triển công nghiệp VLXD trên cơ sở nguồn tài nguyên sẵn có tại địa phương gắn với hiệu quả kinh tế, tiết kiệm nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái. Tập trung phát triển sản xuất xi măng, gạch ngói..xem đây là hướng đầu tư chính của ngành sản xuất VLXD của tỉnh trong giai đoạn tới. Chú trọng phát triển các loại VLXD mới phục vụ cho xây dựng đô thị, khu CCN. Quan tâm phát triển một số VLXD giá thành thấp phục vụ phát triển nông thôn như vật liệu xây, lợp nhà, vật liệu xây dựng đường sá, kênh mương thuỷ lợi... + Công nghiệp hoá chất phân bón Khai thác hiệu quả công suất của các nhà máy sản xuất phân bón NPK, săm lốp xe máy và mở rộng quy mô sản xuất phù hợp. Tuỳ theo tiến độ điều tra, thăm dò và khai thác các mỏ khí đốt ngoài khơi vùng biển Quảng trị, nghiên cứu xây dựng tổ hợp khí điện đạm và chế biến các sản phẩm khác từ khí đốt trên địa bàn tỉnh. - Công nghiệp sản xuất và phân phối điện-nước Cải tạo mạng lưới phân phối điện, nâng cấp mới các đường dây trung áp và hạ áp để cấp điện ổn định và an toàn cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt ngày càng tăng trên địa bàn. Khuyến khích phát triển thuỷ điện nhỏ, điện mặt trời, điện gió... với nhiều hình thức đầu tư thích hợp để khai thác tiềm năng, lợi thế ở những nơi có điều kiện. Đối với ngành sản xuất và phân phối nước: đầu tư mở rộng hệ thống phân phối của các nhà máy cấp nước hiện có trên địa bàn tỉnh để khai thác tối đa công suất các nhà máy. Đầu tư nhà máy nước công suất 20.000m3/ngày đêm (giai đoạn 1) lấy nước từ hồ sông Nhùng (kết hợp thuỷ điện) phục vụ nhu cầu phát triển của khu Kinh tế Đông –Nam Quảng trị. Từng bước xây dựng các đường ống cấp nước đến các khu chức năng trong khu kinh tế. 3.2.2. Phương hướng phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp Tập trung đầu tư và hoàn chỉnh đồng bộ hạ tầng kỹ thuật chủ yếu cho 03 KCN là KCN Nam Đông Hà (99ha), KCN Quán Ngang (205ha), KCN Tây Bắc Hồ Xá (294ha) nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh, thu hút các dự án phát triển công nghiệp trên địa bàn. Phấn đấu hoàn thành cơ bản kết cấu hạ tầng và lấp đầy 100% diện tích KCN Nam Đông Hà và 70-80% diện tích KCN Quán Ngang (giai đoạn 1) trong giai đoạn đến năm 2015; giai đoạn 2011-2015, phát triển hạ tầng KCN Tây Bắc Hồ Xá (giai đoạn 1:157,6ha), phấn đấu tỉ lệ lấp đầy đạt 50%. - Khu kinh tế Đông Nam Quảng trị Sẽ được quy hoạch đầu tư theo 03 giai đoạn: Giai đoạn từ nay đến năm 2015: xây dựng quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết các phân khu chức năng; xây dựng kết cấu hạ tầng quan trọng trong và ngoài khu kinh tế; Giai đoạn 2016-2020: tiếp tục đầu tư kết cấu hạ tầng của khu kinh tế; quy hoạch chi tiết và đầu tư hệ thống hạ tầng các KCN trong phạm vi khu kinh tế; Giai đoạn sau năm 2020: tiếp tục điều chỉnh bổ sung và hoàn thiện quy hoạch phát triển chung toàn khu kinh tế. - Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo Ổn định về quy mô diện tích các CCN tại trung tâm khu kinh tế với diện tích 10ha và CCN Tân Thanh với diện tích 60ha. Điều chỉnh giảm CCN Tây Bắc Lao Bảo từ 47ha xuống còn 27ha. Quy hoạch và phát triển thêm CCN tại thị trấn Khe Sanh với diện tích 15ha để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển công nghiệp trong khu kinh tế trong giai đoạn đến năm 2020 và đến năm 2025. 3.3. Các nhóm giải pháp cơ bản nhằm phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Trị 3.3.1. Tăng cường liên kết để nâng cao năng lực cạnh tranh Xuất phát từ thực trạng các đa số các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp của tỉnh có quy mô nhỏ, lẻ với năng lực sản xuất hạn chế. Do đó, tăng cường liên kết các doanh nghiệp trong sản xuất công nghiệp dựa trên cơ sở lợi ích về kinh tế là yêu cầu thiết thực để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, từ đó đáp ứng yêu cầu phát triển của thị trường. Để các hình thức liên kết tồn tại lâu dài thì cần có các cơ sở pháp lý ràng buộc rõ ràng, đầy đủ, đảm bảo các lợi ích kinh tế chung. Ngoài ra, thay đổi quan điểm của người lãnh đạo doanh nghiệp về liên kết cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng, khi mà tư tưởng làm ăn cá thể, tiểu chủ vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức. Khi mà đại đa số các doanh nghiệp hiện nay không chỉ trong địa phương mà trên cả nước đều tồn tại dưới dạng các có quy mô sản xuất hết sức nhỏ, lẻ nên không thể đáp ứng được các đơn đặt hàng với số lượng lớn, đòi hỏi khắt khe về chất lượng cũng như thời gian giao hàng từ đó làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn này cho thấy, liên kết các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất để giảm chi phí đầu tư ban đầu, gia tăng năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo vị thế cạnh tranh lớn hơn so với hoạt động sản xuất đơn lẻ. Các hình thức liên kết có thể bắt đầu từ dạng từ đơn giảm đến phức tạp như liên kết các công ty cùng chung ngành nghề hoạt động để đáp ứng nhu cầu của khách hàng hay phức tạp hơn là hình thành các tổ chức, các công ty vệ tinh cho chuyên cung cấp nguyên liệu đầu vào hoặc phân phối sản phẩm đầu ra cho các doanh nghiệp, tập đoàn lớn. Bên cạnh sự tích cực, chủ động của các doanh nghiệp trong việc lựa chọn cho mình một mô hình liên kết thích hợp nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của chính các doanh nghiệp thì nhà nước cũng đóng một vai trò quan trọng. Nhà nước vừa là cơ quan quản lý đồng thời là cơ quan ban hành các chính sách, quy định hướng dẫn các doanh nghiệp tham gia xây dựng hình thành các mô hình liên kết, đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia. 3.3.2. Thu hút lao động trong công nghiệp Về nguyên tắc vấn đề chưa sử dụng hết lao động liên quan tới cả hai mặt cung và cầu. Tuy nhiên, trong thực tế người lao động luôn muốn tìm kiếm công ăn việc làm, do đó chỉ có thể điều chỉnh chút ít về mặt cung ứng lao động thông qua giải pháp giảm mức tăng dân số quá mức, đồng thời nên cần có nhiều chính sách tập trung giải quyết về nhu cầu việc làm. Các chính sách về tiền lương, phát triển công nghiệp, giáo dục, dân số đều có vai trò quan trọng đối với vấn đề việc làm. Một trong những động lực mạnh mẽ để người lao động khi chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp chủ yếu là do thu nhập trong lĩnh vực công nghiệp thường cao và ổn định hơn các lĩnh vực khác. Do đó, có hai cách để gia tăng số lao động làm việc trong công nghiệp là gia tăng sản lượng, nâng cao năng suất từ đó đẩy tiền lương lên cao tạo sức hấp dẫn đối với lao động hoặc là cố gắng tăng số lao động để đảm bảo được một sản lượng nhất định. Bên cạnh lực hút thì vẫn còn lực đẩy rất lớn là lao động chưa có trình độ chuyên môn phù hợp trình độ công nghệ. Đối với các nước đang phát triển, công nghệ nhất là công nghệ trong sản xuất công nghiệp thường đi sau các nước phát triển và đòi hỏi hỏi một chi phí vốn ban đầu rất lớn nếu muốn trang bị các công nghệ này trong khi nguồn lưc hiện có lại hạn chế. Do đó, muốn trình độ lao động phù hợp với trình độ công nghệ thì có thể thực các giải pháp sau. Một là, có thể nhập khẩu công nghệ từ bên ngoài nhưng cải tiến những công nghệ đó sao cho phù hợp với trình độ của lực lượng lao động hiện tại hoặc tự nghiên cứu những công nghệ phù hợp với điều kiện của mình. Hai là, phải tăng cường mở rộng mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề để nâng cao trình độ cho người lao động. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề theo đơn đặt hàng, theo hướng xã hội hoá, đa dạng hoá hình thức đào tạo một cách linh hoạt. Để thu hút lao động trong công nghiệp đạt hiệu quả cao, lâu dài, tránh tình trạng lãng phí nguồn nhân lực, mất cân đối giữa các lực lượng lao động rất cần tỉnh có chiến lược và quy hoạch phát triển nguồn lực từ nay cho đến các giai đoạn tiếp theo. Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển công nghiệp cần ưu tiên phát triển những ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như sản xuất hàng tiêu dùng, may mặc, gia công lắp ráp sản phẩm,.v.v. rồi sau đó mới chú trọng phát triển các ngành đòi hỏi nguồn lao động chất lượng cao. Tăng cường các hoạt động hỗ trợ trực tiếp để người lao động có thể tìm được việc làm như: mở ra các trung tâm giới thiệu việc làm, tổ chức hội chợ việc làm, sản giao dịch việc làm, tăng cường thông tin việc làm trên các phương tiện truyền thông đại chúng như báo, đài truyền hình, các trang mạng internet,.v.v. Do sự phân bố cơ sở sản xuất công nghiệp thường tập trung nên lao động trong công nghiệp cũng tập trung trong một không gian lãnh thổ nhất định. Do đó, để đảm bảo điều kiện sống và giữ chân người lao động cần phải có sự hỗ trợ từ phía nhà nước và trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc giải quyết về nhà ở, không gian sinh hoạt văn hoá, bệnh viện, trường học cho công nhân. 3.3.3. Đi sâu khai thác các tiềm năng lợi thế sẵn có Trong những năm qua nhiều tiềm năng, lợi thế sẵn có của tỉnh vẫn chưa được khai thác một cách có hiệu quả, chưa thể hiện hết vai trò của mình trong quá trình phát triển công nghiệp của địa phương. Tuy tỉnh có vị trí giao thông hết sức thuận lợi nhưng hiện tại chưa thật sự trở thành điểm nhấn trên các tuyến đường này. Với lợi thế đó tỉnh nên quy hoạch nơi đây trở thành một trung tâm trung chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với các nước trên tuyến hành lang kinh tế Đông Tây. Để làm được điều đó, tỉnh cần chú trọng phát triển dịch vụ Logistics trở thành một thế mạnh của tỉnh. Giải pháp đầu tiên để phát triển dịch vụ Logistics là phải đầu tư hoàn thiện về cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hệ thống các cảng biển, kho bãi chứa hàng hoá theo tiêu chuẩn trong khu vực và quốc tế. Thứ hai, tập trung đổi mới, mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho công tác vận chuyển, xếp dỡ, kiểm soát hành trình, xuất nhập hàng hoá. Đặc biệt là áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến, hiện đại, tự động hoá trong công việc này. Thứ ba, phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức không chỉ dừng lại ở phương thức vận tải bằng đường bộ, đường sắt mà tiến tới mở rộng phương thức vận tải bằng đường hàng không và đường biển. Mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết với các công ty vận tải đa quốc gia để khai thác thêm nhiều tuyến vận tải đi và về. Thứ tư, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển dịch vụ logistics đáp ứng đủ cả về số lượng lẫn chất lượng. Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các trường đẩy mạnh công tác đào tạo với nhiều hình thức linh hoạt, cần tranh thủ tài trợ và hợp tác đào tạo từ nước ngoài. Hiện tại, nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên có tiềm năng phát triển vẫn chậm được thăm dò khai thác. Do đó, trong thời gian tới cần kêu gọi các công ty có kinh nghiệm trong lĩnh vực thăm dò khai thác các mỏ khoáng sản, dầu mỏ tiến hành thăm dò và đánh giá toàn diện trữ lượng các mỏ này để làm cơ sở cho việc tiến hành khai thác và chế biến đảm bảo mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường. Vì các hoạt động này được tiến hành trên phạm vi rộng, đòi hỏi nguồn kinh phí đầu tư ban đầu rất lớn với công nghệ tiên tiến, hiện đại nên có thể tiến hành thành lập các công ty liên doanh giữa nhà nước với các nhà đầu tư nước ngoài để đảm bảo hoạt động được tiến hành thuận lợi. 3.3.4. Tập trung phát triển vùng nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp Sản xuất công nghiệp gắn liền với đầu vào của nguyên liệu phải ổn định. Do đó, bên cạnh sự chủ động trong việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp, tỉnh cần có các chính sách hỗ trợ để doanh nghiệp tự phát triển vùng nguyên liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất của mình; sớm có các quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu và các cơ sở pháp lý gắn kết quyền lợi giữa nhà sản xuất và nhà cung cấp nguyên liệu. Để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp nhất là ngành công nghiệp chế biến đòi hỏi phải đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật nhất là công nghệ sinh học trong phát triển vùng nguyên liệu, tạo ta những tập đoàn giống cây con cho năng suất cao, phẩm chất tốt. Đẩy mạnh cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp, giảm sức lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời cũng tạo tiền đề cho công nghiệp phát triển. Các doanh nghiệp công nghiệp chế biến phải có quỹ bảo hiểm giúp người dân trong việc đầu tư giống nguyên liệu, cây trồng có giá bảo hiểm mua nguyên liệu, khi giá thị trường cao thì mua theo giá thị trường, khi giá thị trường thấp hơn giá bảo hiểm sẽ mua theo giá bảo hiểm. Khuyến khích người sản xuất nguyên liệu đóng góp cổ phần bằng giá trị nguyên liệu với nhà máy. Hướng dẫn nông dân áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong thu hái, sơ chế, bảo quản sau thu hoạch để nâng cao chất lượng nguyên liệu và hiệu quả sản xuất. Nhà nước cần tạo thuận lợi tối đa trong việc giao đất, giao rừng và cho vay vốn với lãi suất ưu đãi hoặc không cần thế chấp đối với các hộ trồng rừng, trồng cây công nghiệp. Tìm kiếm, mở rộng thị trường nguyên liệu từ các vùng lân cận, đặc biệt là các địa phương của CHDCND Lào. 3.3.5. Đổi mới dây chuyền, công nghệ sản xuất Đầu tư cho dây chuyền, trang thiết bị, máy móc trong sản xuất công nghiệp đòi hỏi nguồn vốn đầu tư ban đầu rất lớn. Do đó, tỉnh cần khuyến khích phát triển các tổ chức tư vấn công nghệ, hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm thị trường cung cấp công nghệ, chọn lựa công nghệ phù hợp, hỗ trợ đàm phán các hợp đồng chuyển giao công nghệ. Phát huy vai trò quản lý của nhà nước về khoa học công nghệ; khẩn trương xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường khoa học và công nghệ hoạt động; hỗ trợ cung cấp thông tin công nghệ cho các doanh nghiệp trước khi quyết định đầu tư; làm cầu nối giữa doanh nghiệp với các trường đại học, viện, trung tâm nghiên cứu trên địa bàn cả nước để triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật và đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động ứng dụng đổi mới công nghệ tiết kiệm năng lượng, xây dựng, xác lập và phát triển thương hiệu, đào tạo nhân lực, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, áp dụng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn tiên tiến, hiện đại tại các doanh nghiệp. Hỗ trợ vốn chuyển giao công nghệ cho các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, hỗ trợ chi phí đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, xây dựng quảng bá thương hiệu. Hỗ trợ miễn giảm thuế đối với những sản phẩm đang trong giai đoạn sản xuất thử nghiệm, sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu và sản phẩm xuất khẩu; miễn giảm thuế đối với phần kinh phí mà các cơ sở sản xuất dùng để đào tạo và đào tạo lại; thực hiện chế độ khấu hao nhanh nhằm đẩy nhanh tốc độ đổi mới công nghệ. Tập trung nguồn lực cho công tác nghiên cứu khoa học công nghệ như triển khai thành lập các quỹ phát triển khoa học công nghệ, tăng chi ngân sách đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cơ sở nghiên cứu, có chế độ đào tạo và đãi ngộ với nhân tài khoa học, đa dạng hoá phương thức hợp tác và đầu tư với nước ngoài về khoa học công nghệ, đổi mới phương thức quản lý về khoa học công nghệ. 3.3.6. Phát triển lĩnh vực thiết kế kiểu dáng công nghiệp Khi mà thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao, thì đòi hỏi sản phẩm không chỉ đa dạng về tính năng, đảm bảo chất lượng mà phải có mẫu mã đẹp. Vì vậy, trong thời gian tới cần mở rộng đào tạo ngành thiết kế kiểu dáng công nghiệp không chỉ đủ về số lượng mà còn đảm bảo về chất lượng, tiến tới xây dựng được đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực này. Thiết kế kiểu dáng công nghiệp là lĩnh vực đã tồn tại và phát triển mạnh mẽ ở các quốc gia phát triển nhưng lại là lĩnh vực tương đối mới mẽ ở các nước đang phát triển. Ngày nay, bên cạnh một sản phẩm có chất lượng đảm bảo, nhiều tính năng thì kiểu dáng của nó có ảnh hưởng rất lớn tới sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Với tầm quan trọng đó, nhà nước cần sớm xây dựng và thực hiện các chương trình đào tạo về lĩnh vực thiết kế kiểu dáng công nghiệp một cách bài bản, chuyên sâu. Chỉ có như vậy, sản phẩm công nghiệp của địa phương, đất nước làm ra mới đủ sức cạnh tranh lại với các sản phẩm khác trên thị trường thế giới. Cho phép các trường học, các cơ sở đào tạo nghề mở thêm chuyên ngành thiết kế kiểu dáng công nghiệp; hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận với các chuyên gia, trung tâm thiết kế có bề dày kinh nghiệm trên thế để học tập, trao đổi kinh nghiệm. Liên kết với doanh nghiệp tổ chức các cuộc thi ý tưởng thiết kế sản phẩm mang tính độc đáo, hiện đại, thân thiện với môi trường. 3.3.7. Hoàn thiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng tuy đã sớm được đầu tư nhưng chủ yếu vẫn dựa vào ngân sách nhà nước nên thường diễn ra chậm, thiếu tính đồng bộ. Kêu gọi đầu tư vào cơ sở hạ tầng có ý nghĩa thiết thực trong việc giải quyết thực trạng này. Bằng các cơ chế và hình thức thích hợp như xây dựng-khai thác-chuyển giao (BOT); xây dựng-chuyển giao (BT),.v.v. là động lực mạnh mẽ để thu hút đầu tư trong lĩnh vực này. Đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng dự án. Chỉ tập trung nguồn vốn ngân sách vào các công trình trọng điểm, tạo cơ chế quản lý, giám sát để rút ngắn thời gian thi công các công trình. Có thể thành lập quỹ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của thành phố, tập hợp từ các nguồn vốn từ ngân sách địa phương, nguồn thu từ bán tài nguyên, nguồn vốn viện trợ ODA, thông qua phát hành trái phiếu trên địa bàn.v.v. nhằm đáp ứng nguồn lực cho mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật công nghiệp có quan hệ mật thiết, hữu cơ với kết cấu hạ tầng của đô thị. Do đó, trong quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng cho phát triển công nghiệp cần đồng bộ với quy hoạch phát triển đô thị. Đặc biệt chú trọng quỹ đất dành để xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ cho đời sống của người lao động làm việc trong các khu công nghiệp. Theo định hướng quy hoạch, không gian phát triển công nghiệp tỉnh sẽ được mở rộng về phía Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị. Do đó, cần tập trung kêu gọi các nhà đầu tư vào khu vực này, phát triển mạng lưới giao thông trong khu vực đấu nối với hệ thống đường giao thông của quốc gia và đường sắt, kết hợp với tuyến hành lang kinh tế Đông Tây tạo thành một hệ thống giao thông đồng bộ. Trong công tác quản lý và thực hiện giải phóng mặt bằng cần hài hoà lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và nhân dân. Nhà nước và nhà đầu tư có trách nhiệm tạo điều kiện cho nhân dân bị mất đất có đất để tái định cư, tái sản xuất, đảm bảo phúc lợi, thu hút lao động trong diện thu hồi ở mức độ phù hợp. Thực hiện tốt công tác dự báo nhu cầu phụ tải điện để kịp thời có kế hoạch xây dựng các trạm và đường dây theo quy hoạch đã duyệt. Ngành điện cần đầu tư nâng cấp, mở rộng lưới điện nhằm không ngừng nâng cao chất lượng điện, đảm bảo điện áp, hạn chế đến mức tối thiểu sự cố kỹ thuật. Từng bước tách lưới điện sinh hoạt và lưới điện phục vụ sản xuất công nghiệp. Lập kế hoạch cụ thể, bố trí vốn và giám sát tiến độ thực hiện các dự án cấp nước phục vụ các khu công nghiệp, cụm công nghiệp một cách đồng bộ với tiến độ đi vào hoạt động của các khu, cụm công nghiệp. 3.3.8. Cải cách thủ tục hành chính Hoàn thiện thủ tục hành chính sau giấy phép đầu tư Nhận được giấy phép đầu tư hay giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mới chỉ là bước đầu tiên trong việc triển khai dự án đầu tư. Các nhà đầu tư mong muốn thực hiện kế hoạch kinh doanh và thu được lợi nhuận. Vì vậy, Quảng trị cần hoàn thiện các thủ tục hành chính sau cấp giấy phép đầu tư để hỗ trợ các nhà đầu tư nhanh chóng đưa dự án vào triển khai. Các thủ tục sau cấp giấy phép đầu tư cần được cải cách theo hướng đơn giản hoá, công khai, minh bạch và giảm phiền hà, rút ngắn được thời gian cho doanh nghiệp bao gồm: thủ tục liên quan đến giao và cho thuê đất, thủ tục về xây dựng, thủ tục về quản lý môi trường, các thủ tục về cấp mã số thuế, mã số hải quan. Trong quá trình ban đầu, nhằm giảm thiểu tình trạng đầu cơ diện tích đất công nghiệp, đầu cơ Giấy phép đầu tư, làm kéo dài thời gian thực hiện dự án, kiên quyết thu hồi các giấy phép đầu tư của các dự án có thời gian không thực hiện kéo dài. Hoàn thiện các thủ tục hành chính trong sản xuất kinh doanh Các sở ban ngành trong tỉnh cụ thể hoá các quy định quản lý nhà nước của Trung ương vào điều kiện cụ thể của địa phương, đồng thời có sự phối hợp toàn diện và tích cực trong việc hỗ trợ và tháo gỡ các vướng mắc chứ không phải gây khó khăn cho các nhà đầu tư triển khai dự án và hoạt động sản xuất kinh doanh. - Về cải cách thủ tục hải quan: Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ công chức hải quan. Các thủ tục và quy trình thông quan phải thống nhất, đơn giản, minh bạch, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế nhằm đạt được kết quả tích cực là giảm bớt phiền hà và thời gian cho doanh nghiệp. Hiện đại hoá và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của ngành hải quan. - Về cải cách thủ tục thuế: Đẩy mạnh việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính thuế ở tất cả các khâu trong quy trình hoạt động của ngành thuế theo hướng giảm phiền hà và thời gian cho các đối tượng nộp thuế. Tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của ngành thuế. Xây dựng cơ sở dữ liệu về các đối tượng nộp thuế. Hoàn thiện và nâng cao hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ các đối tượng nộp thuế. Kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến lĩnh vực thuế cho các đối tượng nộp thuế với nhiều hình thức, trong đó chú trọng cung cấp tự động thông qua thư điện tử theo yêu cầu. Tăng cường công tác đối thoại với doanh nghiệp thông qua nhiều hình thức thích hợp. 3.3.9. Hoàn thiện chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp Các chính sách huy động vốn, đào tạo và sử dụng lao động, chính sách phát triển thị trường, chính sách đầu tư,v.v. là những chính sách quan trọng để thúc đẩy công nghiệp tỉnh phát triển trong thời gian tới. Các chính sách này hoàn thiện đến đâu, có tác dụng ra sao, đối tượng hưởng lợi như thế nào là những thước đo không thể thiếu để các nhà đầu tư, nhà sản xuất đưa ra quyết định. Tuy nhiên, bất cứ chính sách nào cũng có hai mặt nên công cụ này cũng đòi hỏi phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, tránh đem lại những tác động không mong muốn. Một số chính sách chủ yếu mà tỉnh cần ưu tiên xây dựng và hoàn thiện trong thời gian đến như: - Chính sách huy động vốn Áp dụng mọi hình thức khuyến khích để huy động vốn nhàn rỗi trong dân thông qua quỹ tiết kiệm, tín phiếu, cổ phiếu, trái phiếu công trình...thực hiện cổ phần hoá rộng rãi, bán cổ phiếu những công trình xây dựng mới. Để thực hiện được điều này, trên địa bàn cần đạt được môi trường đầu tư thuận lợi, người dân tin vào hệ thống thực thi pháp luật. Thành lập Quỹ khuyến công, quỹ hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ để thu hút và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, trở thành vệ tinh phục vụ các dự án đầu tư trong các khu công nghiệp và khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị. Xây dựng các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng hình thức thuê mua tài chính với mức chi phí không cao hơn vốn vay và có thể thuê mua cùng một lúc tại nhiều nơi để tái đầu tư mở rộng công suất hoặc đổi mới công nghệ sản xuất. Tiếp tục thực hiện chính sách phát triển công nghiệp nhiều thành phần bằng cách đa dạng hoá hình thức sở hữu như thành lập các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, kinh tế tư nhân, cá thể, hợp tác xã...mở rộng các hình thức liên doanh liên kết trong tỉnh, trong và ngoài nước. Thực hiện chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất . Chống độc quyền, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế ngoài nhà nước tham gia đầu tư vào cả lĩnh vực hạ tầng: cung cấp điện nước, giao thông, đào tạo... - Chính sách đầu tư Một là, tạo môi trường đầu tư thuận lợi: Nhìn chung Quảng trị đã có khung pháp lý khá tốt cho môi trường đầu tư, tác động tốt đến tăng trưởng công nghiệp và thúc đẩy phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn. Tuy nhiên, để môi trường đầu tư hoàn toàn thuận lợi cần làm tốt công tác cải cách hành chính, cần sự phối hợp kịp thời và có hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn. Bộ máy quản lý nhà nước phải thực sự trở thành bộ máy dịch vụ hành chính thuận tiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế. Nâng cao năng lực của các cơ sở dịch vụ công như: hải quan, cảng vụ, kiểm tra thị trường, an toàn vệ sinh môi trường...để phục vụ ngày tốt hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lấy doanh nghiệp làm trọng tâm phục vụ. Ổn định và nhất quán trong thể chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng. Xây dựng cơ chế bảo hiểm đầu tư, bảo hộ bản quyền, chống hàng giả, hàng nhái trên địa bàn. Hai là, áp dụng chính sách đầu tư ưu đãi: Phân loại các hạng mục đầu tư cụ thể theo mức độ ưu tiên để có chính sách ưu đãi khác nhau. Mức độ 1, đầu tư hạ tầng; Mức độ 2, đầu tư công nghiệp; Mức độ 3, đầu tư dịch vụ. Xây dựng chính sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu kinh tế, cụm công nghiệp trên cơ sở quy hoạch hiện có để đẩy mạnh tiến độ hình thành các khu, cụm công nghiệp từ đó sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư xây dựng các nhà máy vào các khu cụm công nghiệp. Các ngành công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản được vay vốn ưu đãi để đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung. Ưu đãi đặc biệt đối với các doanh nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản có vốn đầu tư nước ngoài trong trường hợp doanh nghiệp đầu tư xây dựng, phát triển vùng nguyên liệu. - Chính sách đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực Nâng cao chất lượng của người lao động được xem là yếu tố then chốt trong việc đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp. Với đặc điểm của nền kinh tế thị trường hiện nay, người lao động phải tự đi tìm việc làm, nhà nước không thể giúp họ việc đó, nhưng đi tìm việc làm mà không có nghề trong tay thì sẽ rất khó khăn. Do đó, nhà nước cần có các chính sách tạo điều kiện cho người lao động được trang bị nghề trước khi đi tìm việc làm. Nhà nước cần tăng cường đầu tư cho công tác giáo dục thông qua mở rộng các cơ sở đào tạo, đa dạng hoá các hình thức đào tạo, tăng cường đội ngũ giáo viên, trang thiết bị cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo nghề trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa việc giảng dạy lý thuyết và thực hành công việc. Có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào sự nghiệp giáo dục của địa phương, hỗ trợ kinh phí học tập cho các học viên trong tỉnh theo học các ngành mà tỉnh đang có nhu cầu phát triển, đồng thời có kế hoạch sử dụng, tiếp nhận lực lượng này vào các cơ quan, đơn vị sản xuất trong tỉnh. Tạo điều kiện thường xuyên cho các cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật giao lưu trao đổi học hỏi với nước ngoài để cập nhật các thông tin thị trường, thông tin về thành tựu khoa học công nghệ trên thế giới và thông tin về các đối thủ cạnh tranh. Có các chính sách đãi ngộ phù hợp để lôi kéo và giữ chân đội ngũ các chuyên gia, các cán bộ quản lý có năng lực, kỹ sư có tay nghề cao khi muốn đến địa phương công tác và lập nghiệp như chính sách ưu đãi về nhà ở, tiền lương, điều kiện làm việc. Đây được xem là nguồn nhân lực chất cao đáp ứng cho nhu cầu phát triển một số ngành công nghiệp then chốt trong thời gian tới. - Chính sách về thị trường Chính sách thị trường không chỉ tập trung phát triển thị trường trong nước mà cả thị trường nước ngoài, thực hiện nền kinh tế mở cửa cho mọi thành phần kinh tế. Các chính sách của nhà nước về bảo hộ thị trường nội địa, hỗ trợ xuất khẩu sẽ bị hạn chế sử dụng rất nhiều sau năm 2006 do những ràng buộc bới AFTA và WTO. Vì vậy, cần khuyến khích và tạo thuận lợi cho việc thành lập và hoạt động của các Hiệp hội theo ngành nghề để các doanh nghiệp cùng sản xuất có điều kiện thống nhất tiếng nói, liên kết sức mạnh trong nỗ lực bảo vệ và phát triển thị trường trong và ngoài nước. Thành lập quỹ bình ổn giá nguyên liệu. Xây dựng chính sách phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, phục vụ cho phát triển các cơ sở công nghiệp lớn trong các khu công nghiệp. Hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục và hỗ trợ kinh phí cho các đơn vị sản xuất công nghiệp tham gia các hội chợ, triển lãm hàng hoá, đi nghiên cứu tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước. - Chính sách khoa học công nghệ Tỉnh hỗ trợ lãi suất vay vốn có thời hạn cho các doanh nghiệp có chương trình đổi mới công nghệ. Xây dựng các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới và sử dụng công nghệ hiện đại; ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ và xác lập quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Xây dựng các mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các cơ quan nghiên cứu khoa học để phát triển sản xuất. Dành một phần ngân sách hỗ trợ nghiên cứu triển khai áp dụng công nghệ mới. Có biện pháp hạn chế sử dụng các thiết bị, máy móc, phương tiện sản xuất quá cũ nát với trình độ công nghệ lạc hậu và tác động xấu cho môi trường. - Chính sách bảo vệ môi trường Xây dựng chính sách thưởng phạt nghiêm minh trong việc bảo vệ môi trường tự nhiên, để đảm bảo phát triển bền vững. Hỗ trợ kinh phí để sắp xếp, di dời các cơ sở sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm môi trường vào trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã được quy hoạch. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Phát triển công nghiệp là yêu cầu bức thiết để tỉnh Quảng Trị có tiến kịp với mức bình quân chung của cả nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Những năm qua cho thấy, công nghiệp ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, làm thay đổi bộ mặt đời sống kinh tế xã hội của tỉnh, là ngành có tốc độ phát triển nhanh, đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo ra giá trị thu nhập lớn. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển công nghiệp tỉnh vẫn còn những tồn tại, hạn chế làm kìm hãm sự phát triển; quy mô sản xuất công nghiệp của tỉnh còn nhỏ bé so với các địa phương khác trong cả nước, năng lực cạnh tranh thấp, lực lượng lao động tham gia vào khu vực công nghiệp còn ít, trình độ lao động thấp, công nghệ sản xuất còn đơn giản, sản phẩm làm ra chất lượng chưa cao, mẫu mã chưa hấp dẫn người tiêu dùng nên khả năng chiếm lĩnh thị trường thấp. Do đó trong thời gian để công nghiệp tỉnh Quảng trị phát triển theo kịp với nhịp độ của cả nước và khu vực đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa của các nhà quản lý, sự nỗ lực của các doanh nghiệp trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển công nghiệp đã đề ra. Để công nghiệp Quảng trị phát triển với tốc độ nhanh và bền vững thì trong thời gian tới tỉnh cần chú trọng khai thác các tiềm năng, lợi thế của mình nhất là lợi thế về vị trí giao thông để phục vụ cho nhu cầu phát triển. Tập trung phát triển vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước cho xây dựng cơ sở hạ tầng, có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực có trình độ tay nghề chuyên môn cao, cải tiến và đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực quản lý, hoàn thiện các chính sách thúc đẩy công nghiệp phát triển theo các định hướng đã đặt ra. 2. Kiến nghị Để công nghiệp Quảng trị phát triển theo hướng hiệu quả, bền vững kiến nghị với tỉnh một số vấn đề sau: Tiếp tục hoàn thiện và phân cấp quản lý các khu kinh tế, khu công nghiệp theo hướng gia tăng trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân tỉnh và Ban quản lý khu kinh tế của tỉnh nhằm giảm bớt các thủ tục hành chính không cần thiết phải qua các Bộ ngành Trung ương. Hỗ trợ đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp đến năm 2020 bao gồm Khu công nghiệp Nam Đông Hà, khu công nghiệp Quán Ngang và khu công nghiệp Tây Bắc Hồ Xá. Bổ sung Khu kinh tế Đông Nam Quảng trị vào quy hoạch phát triển hệ thống các Khu kinh tế Việt Nam đến năm 2020 và hỗ trợ kêu gọi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trong giai đoạn 2011-2020. Đề nghị quy hoạch Cửa khẩu Lao Bảo thành khu dịch vụ Logistics. Nghiên cứu xây dựng tuyến đường sắt trên tuyến hành lang kinh tế Đông Tây đoạn Lao Bảo-Cửa Việt đấu nối với tuyến đường sắt Bắc Nam. Tạo điều kiện để tỉnh được tiếp nhận là địa điểm thực hiện dự án chế biến nguồn khí đốt khai thác từ ngoài khơi vùng biển Quảng Trị (do tập đoàn Dầu khí Việt Nam thăm dò, khảo sát); trên cơ sở đó nghiên cứu xây dựng tổ hợp khí điện đạm trên địa bàn tỉnh Quảng trị. Ủng hộ, hỗ trợ tỉnh kêu gọi đầu tư các dự án lớn trên địa bàn như Trung tâm nhiệt điện Bắc miền trung, nhà máy đóng tàu,... Ban hành các Nghị định riêng về chính sách ưu đãi các doanh nghiệp đổi mới công nghệ thay cho các văn bản hiện hành theo hướng thật sự khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Với vai trò và vị trí quan trọng trên tuyến hành lang kinh tế Đông Tây, đề nghị Trung ương nghiên cứu đưa tỉnh Quảng Trị vào vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, tạo điều kiện cho tỉnh phát triển nhanh hơn và thúc đẩy hợp tác phát triển giữa các địa phương trong khu vực và quốc tế. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Bùi Quang Bình (2010), Giáo trình Kinh tế phát triển , NXB Giáo dục Việt Nam. [2] Lê Minh Đức (2006), Bàn về phát triển bền vững công nghiệp, Tạp chí công nghiệp số 428 [3] Hồ Lê Nghĩa (2010), Chất lượng tăng trưởng công nghiệp Việt Nam quan điểm và tiêu chí, Tạp chí công nghiệp số 1166 [4] Trần Anh Phương (2008), Một số khái niệm của lý thuyết kinh tế học phát triển đang được vận dụng ở nước ta hiện nay, Nguồn: [5] Vũ thị Ngọc Phụng (2005), Giáo trình Kinh tế học phát triển, NXB Lao động-xã hội, Hà Nội [6] Nguyễn Viết Thịnh (2005), Giáo trình Địa lý kinh tế-xã hội Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam [7] Niên giám thống kế Quảng Trị năm 2005 và 2010 [8] UBND tỉnh Quảng trị, Quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội tỉnh đến 2020, Quảng trị [9] Kenichi Ohno, Nguyễn Văn Thường (2005), Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia [10] Lê Thế Quảng (2009), Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quảng trị, Tạp chí kinh tế và dự báo [11] Viện nghiên cứu chiến lược-chính sách công nghiệp (2007), Bộ công nghiệp, Kỷ yếu hội thảo Chính sách công nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, Hà Nội [12] Quy hoạch hệ thống cảng biển đến 2020, định hướng 2030 số 2190/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2009 [13] Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI (2010), Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020; Hà Nội [14] Báo cáo thường niên của UBND tỉnh Quảng trị về tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh từ các năm 2005-2010; Quảng Trị [15] UBND tỉnh Quảng trị, Quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội tỉnh đến 2020 Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số thông tin trên các bài báo, bài nghiên cứu của các tác giả trên Tạp chí Cửa Việt; Tạp chí Khoa học và Công Nghệ, Đại học Đà Nẵng; Tạp chí Kinh tế và phát triển, Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội; Báo Quảng Trị, Cổng thông tin điện tử của Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch đầu tư, UBND tỉnh Quảng Trị,v.v.và một số luận văn thạc sĩ bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng trong thời gian qua liên quan đến đề tài phát triển công nghiệp ở địa phương..

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docĐỀ TÀI PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ.doc
Luận văn liên quan