Đề tài Quá trình cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

PHẦN MỞ ĐẦU Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đã có một quá trình hơn 20 năm với những kinh nghiệm rất phong phú ở nhiều thời kì. Trong môi trường kinh doanh mới, với không ít khó khăn nhưng nhiều doanh nghiệp đã trụ được tại Việt Nam , vượt qua thử thách và thành công. Khi chính sách Đổi mới bắt đầu được áp dụng, với những chính sách mới về đầu tư nước ngoài không ngừng được cải thiện của Chính phủ, Việt Nam được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao về tính ổn định và độ an toàn. Những yếu tố này đang thực sự quan trọng đối với những khoản đầu tư lớn và dài hạn. Không phải ngẫu nhiên mà thời gian gần đây, sự chú ý của doanh nghiệp quốc tế tăng cao đối với Việt Nam . Với mức tăng trưởng GDP rất cao trong khu vực, cùng với các ổn định về chính trị xã hội thì rõ ràng đây là những điều kiện thuận lợi cho đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam . Trong giai đoạn phát triển, hiện nay đang diễn ra cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau và với doanh nghiệp nước ngoài. Trong cuộc cạnh tranh này, môi trường đầu tư mà Nhà nước tạo ra là yếu tố tiên quyết. Chính phủ Việt Nam đã làm tất cả để môi trường Đầu tư ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện, thông thoáng, minh bạch hơn và cạnh tranh hơn. Tuy nhiên, Việt Nam hiện còn gặp nhiều khó khăn, thách thức liên quan đến hạ tầng kinh tế còn nhiều yếu kém, chi phí sản xuất gia tăng trong bối cảnh giá cả gia tăng chưa có dấu hiệu suy giảm; khan hiếm lao động có tay nghề và cán bộ có trình độ quản lý tiên tiến, tổ chức và cán bộ ở các địa phương còn nhiều bất cập, thủ tục hành chính còn nhiều phức tạp, gây phiên hà, nhũng nhiễu nhà đầu tư và doanh nghiệp. Trước những khó khăn còn tồn tại thì Chính Phủ đã có những biện pháp gì để cải thiện môi trường đầu tư. Từ đó em quyết định lựa chọn nghiên cúu đề tài: “ Quá trình cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam ” Đề tài gồm ba chương: Chương I: Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài và môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chương II: Thực trạng quá trình cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Chương III: Một số giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam . Thông qua đề tài này em mong muốn có thể góp một phần nhỏ những kiến thức của mình cho công cuộc đổi mới và phát triển của nền kinh tế nước nhà. Với vốn hiểu biết và kinh nghiệm còn hạn hẹp, em mong nhận được những đánh giá, nhận xét, và cho ý kiến của các thầy cô nhằm hoàn thiện đề tài nghiên cứu này.

doc81 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 21/05/2013 | Lượt xem: 1598 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Quá trình cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nghiệp có vốn ĐTNN, Việt Nam đó từng bước hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật có trình độ cao, có tay nghề, từng bước tiếp cận được với khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao và có tác phong công nghiệp hiên đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức, kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Hoạt động của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam cũng đó thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước không ngừng đổi mới công nghệ, phương thức quản lý để nâng cao hơn chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường trong nước và quốc tế. Đặc biệt, một số chuyên gia Việt Nam làm việc tại các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đó dần thay thế các chuyên gia nước ngoài trong đảm nhiệm các vị trí quản lý doanh nghiệp cũng như điều khiển các quy trình công nghệ hiện đại. - ĐTNN góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới: ĐTNN đó góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ cấm vận của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hóa và đa dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư. Đến nay, Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO. Nước ta cũng đó ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định tự do hoá, khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản. Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện. * Về mặt môi trường. Theo kết quả điều tra năm 2002 (của Viện Quản lý kinh tế trung ương), đa số các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam và có kết quả môi trường tốt hơn so với số đông các doanh nghiệp trong nước (có 77% doanh nghiệp có kết quả về các thông số gây ô nhiễm môi trường thấp hơn tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam). Đáng chú ý là 60% doanh nghiệp ĐTNN trong lĩnh vực chế biến thực phẩm đó lắp đặt thiết bị xử lý nước thải đúng tiêu chuẩn (so sánh với tỷ lệ 10% của các doanh nghiệp trong nước). Không có doanh nghiệp ĐTNN nào được điều tra vi phạm tiêu chuẩn môi trường Việt Nam. 2.2.3.2. Mặt hạn chế. * Chưa cân đối ngành nghề, vùng lãnh thổ. Mục đích khi tiến hành các hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư đó là lợi nhuận. Do đó những lĩnh vực, ngành, dự án có tỷ suất lợi nhuận cao đều được các nhà đầu tư quan tâm, còn những dự án, lĩnh vực mặc dù rất cần thiết cho dân sinh, nhưng không đưa lại lợi nhuận thỏa đáng thì không thu hút được đầu tư nước ngoài. Các nhà ĐTNN trong khi lựa chọn địa điểm để triển khai dự án đầu tư thường tập trung vào những nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuận lợi, do đó các thành phố lớn, những địa phương có cảng biển, cảng hàng không, các tỉnh đồng bằng là nơi tập trung nhiều dự án ĐTNN nhất. Trong khi đó, các tỉnh miềm núi, vùng sâu, vùng xa, những địa phương cần được đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, mặc dù chính phủ và chính quyền địa phương có những ưu đói cao hơn nhưng không được các nhà đầu tư quan tâm. Tình trạng đó đó dẫn đến một nghịch lý, những địa phương có trình độ phát triển cao thì thu hút được ĐTNN nhiều, do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt quá tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước. Trong khi đó, những vùng có trình độ kém phát triển thì cứ ít dự án ĐTNN, tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn thấp. Đối với các ngành nghề cũng xảy ra tình trạng tương tự, các nhà ĐTNN chỉ đầu tư vào các ngành có khả năng sinh lợi cao, rủi ro thấp, còn các ngành, lĩnh vực có khả năng sinh lời thấp, rủi ro cao không được sự quan tâm của các nhà ĐTNN. * Tranh chấp lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa được giải quyêt kịp thời. Các tranh chấp lao động là khó tránh, đặc biệt trong những thời điểm doanh nghiệp mới bắt đầu hoạt động, hoặc khi doanh nghiệp gặp khó khăn về sản xuất kinh doanh. Nhìn chung người chủ thường trả công cho người lao động thấp hơn cái mà họ đáng được hưởng, không thỏa đánh với nhu cầu của người lao động. Điều đó dẫn đến mâu thuẫn giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, dẫn đến tình trạng đình công làm thiệt hại cho doanh nghiệp. ĐTNN ở nước ta đó thu hút được hàng nghìn doanh nghiệp của các nước và vũng lãnh thổ khắp thế giới. Điều đó cho thấy tính hấp dẫn của môi trường đầu tư ở Việt Nam, đồng thời cũng thể hiện tính đa dạng của các nền văn hóa trong quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong các doanh nghiệp ĐTNN. * Sự hạn chế trong chuyển giao công nghệ. Nhìn chung công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp ĐTNN thường cao hơn mặt bằng công nghệ cùng ngành và cùng loại sản phẩm tại nước ta. Tuy vậy, một số trường hợp các nhà ĐTNN đó lợi dụng sơ hở của pháp luật Việt Nam, cũng như sự yếu kém trong kiểm tra giám sát tại các cửa khẩu nên từ đó nhập vào Việt Nam một số máy móc thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu của các nước khác. Tính phổ biến của việc nhập máy móc thiết bị là giá cả đươc ghi trong hóa đơn thường cao hơn giá trung bình của thị trường thế giới. Nhờ vậy một số nhà ĐTNN có thể lợi dụng để khai tăng tỷ lệ góp vốn trong các liên doanh với Việt Nam. Việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam được thực hiện thông qua các hợp đồng và được cơ quan quản lý nhà nước về khoa học công nghệ chuẩn y. Tuy vậy, đây là một hoạt đông cực kỳ khó khăn đối với các nước tiếp nhận đầu tư nói chung, kể cả Việt Nam, bởi khó có thể đánh giá chính xác giá trị thực của từng loại công nghệ trong những ngành khác nhau, đặc biệt trong những ngành công nghệ cao. Do vậy, thường phải thông qua thương lượng theo hình thức mặc cả đến khi hai bên có thể chấp nhận được, thì ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ. 2.3. Đánh giá môi trường đầu tư tại Việt Nam. 2.3.1. Trước khi gia nhập WTO. 2.3.1.1. Thành tựu đã đạt được Đánh giá về môi trường đầu tư của Việt Nam trong giai đoạn này, có thể đưa ra một số nhận xét sau đây: Một là, môi trường đầu tư Việt Nam hiện tại được coi là tương đối hấp dẫn, an toàn và có lợi thế lâu dài trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương: - Việt Nam có môi trường chính trị - xã hội ổn định, đáp ứng được nhu cầu làm ăn lâu dài của các nhà đầu tư, Việt Nam cũng có lợi thế về vị trí địa lý vì nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang phát triển năng động, đã tham gia Hiệp định CEPT/AFTA với quy mô thị trường 500 triệu người; đã tham gia chương trình thu hoạch sớm (EHP) của Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc, có đường biên giới chung với các tỉnh phía nam Trung Quốc. - Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam cũng từng bước hình thành thể chế kinh tế thị trường, duy trì được môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong cả thập kỷ 90 là 7,2%, cao hơn mức tăng trưởng bình quân cùng kỳ của các nước trong khu vực là 3,7%. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sau 15 năm (1991-2006) tỷ trọng GDP của ngành công nghiệp, dịch vụ tăng lên, còn tỷ trọng ngành nông nghiệp đã giảm đi đáng kể. - Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào, có trí thức và tương đối trẻ. với số dân 80 triệu, đứng thứ 13 trên thế giới, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, Việt Nam được đánh giá là một nước có tiềm năng về thị trường lao động và thị trường hàng hoá. Về chất lượng nguồn nhân lực, chỉ số phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam đang ở mức cao hơn trình độ phát triển kinh tế, có khả năng tiếp thu và thích nghi nhanh với hoạt động chuyển giao công nghệ, điều này cũng phản ánh những ưu thế của lao động Việt Nam xét về dài hạn (hiện tại Việt Nam đứng thứ 5 trong số các nước ASEAN về chỉ số phát triển con người, sau Singapore, Malaysia, Thailand, Philippines). Chi phí sử dụng lao động của kỹ sư và công nhân Việt Nam cũng được đánh giá là có lợi hơn so với các nước lân cận (lương trả chỉ bằng 60-70% của Trung Quốc, Thái Lan; 18% của Singapore; 3-5% của Nhật Bản). Hai là, công cuộc đổi mới, cải cách nền kinh tế theo hướng hội nhập, mở cửa cả bên trong và bên ngoài đã tạo môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp: - Thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam đã từng bước được hình thành, phát triển và được thúc đẩy theo hướng tự do hoá thương mại và đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hợp tác và cạnh tranh bình đẳng, huy động được nhiều nguồn lực hơn vào phát triển kinh tế xã hội. Quá trình cải cách trên các lĩnh vực tài chính, tiền tệ cũng được đẩy mạnh thông qua việc cơ cấu lại hệ thống các ngân hàng, điều chỉnh tỷ giá hối đoái linh hoạt, cải cách hệ thống thuế, đổi mới thu chi ngân sách Nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính... ngày càng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước phát triển sản xuất kinh doanh. - Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hợp tác và cạnh tranh bình đẳng hơn; huy động được thêm nhiều nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Việc phát huy mạnh mẽ nguồn nội lực trong thời gian qua cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài. - Việc Nhà nước đầu tư đáng kể cho phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội như hệ thống đường sá, cầu cảng, hệ thống thông tin liên lạc, điện nước....đẩy mạnh cải cách hành chính để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong những năm qua đã cải thiện rõ rệt điều kiện và môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp , góp phần tiết kiệm các chi phí trung gian, hạ giá thành sản phẩm cho các doanh nghiệp - Việc tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá cũng tạo điều kiện mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam, Đến nay Việt Nam đã có quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại với trên 150 nước và vùng lãnh thổ, tham gia tích cực vào cơ cấu hợp tác khu vực và thế giới như ASEAN, ASEM, APEC và WTO. Việc ký kết các Hiệp định CEPT/AFTA, Hiệp định thương mại  Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản (2003), sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản (12/2003)... đã làm tăng thêm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư của Việt Nam. Ba là, chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước của Việt Nam có nhiều ưu đãi, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài kinh doanh có hiệu quả: So với Luật đầu tư nước ngoài của nhiều nước, Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam được đánh giá là khá thông thoáng. Đặc biệt là sau khi ban hành Luật doanh nghiệp 2005 và Luật đầu tư 2005, Việt Nam đã có nhiều chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ các khó khăn nhằm giúp các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài kinh doanh có hiệu quả. Cụ thể: - Các nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, được quyền chủ động lựa chọn các hình thức đầu tư, địa điểm, đối tác đầu tư, quy mô dự án; được trực tiếp tuyển dụng lao động; được khuyến khích, ưu đãi đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao. - Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được quyền mua bán ngoại tệ ở các ngân hàng thương mại để đáp ứng các giao dịch vãng lai. Chính phủ bảo đảm cân đối ngoại tệ cho các dự án quan trọng, bỏ khống chế lãi suất trần đối với các khoản vay về ngoại tệ và các khoản vay nước ngoài. - Nhà nước thực hiện giảm giá các dịch vụ cung cấp điện nước, bưu chính viễn thông: thực hiện từng bước thống nhất một loại giá dịch vụ, không phân biệt doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, áp dụng chính sách không hồi tố đối với những ưu đãi đã quy định trong giấy phép đầu tư, đồng thời cho phép các doanh nghiệp được hưởng các ưu đãi ở mức cao hơn các chính sách được ban hành. 2.3.1.2. Hạn chế còn tồn tại. Môi trường đầu tư của Việt Nam hiện còn một số tồn tại, hạn chế: - Mặc dù đã có những bước phát triển mạnh mẽ song về cơ bản Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp, quy mô của nền kinh tế còn nhỏ bé, các cơ sở công nghiệp và trình độ kỹ thuật - công nghệ còn thấp, cơ cấu kinh tế còn chuyển biến chậm, hiệu quả đầu tư chưa cao, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn chưa đáp ứng được các yêu cầu phát triển. - Hệ thống luật pháp về kinh tế của Việt Nam còn đang trong quá trình hoàn thiện, chưa đảm bảo tính bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, tính ổn định và minh bạch chưa cao, mức độ rủi ro pháp luật còn lớn và khó dự báo, hệ thống văn bản pháp luật còn nhiều bất cập... - Quá trình cải cách hành chính còn chuyển biến chậm, các thủ tục liên quan đến hoạt động đầu tư còn phức tạp, nạn tham nhũng còn phổ biến và chưa có biện pháp ngăn chặn, loại bỏ hữu hiệu, các chi phí dịch vụ về cơ sở hạ tầng hỗ trợ kinh doanh, chi phí trung gian, chi  phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp còn lớn so với các nước trong khu vực. Sự phối hợp trong các hoạt động cải cách cơ cấu kinh tế, cải cách thế chế với chiến lược hội nhập kinh tế quổc tế còn chưa nhịp nhàng, động bộ. - Hệ thống thị trường các yếu tố sản xuất như thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường đất đai, thị trường khoa học - công nghệ... còn chưa đồng bộ và kém phát triển. Hệ thống dịch vụ tài chính - ngân hàng cũng chưa phát triển mạnh. Quá trình cải cách hệ thống tài chính - ngân hàng tiến hành chậm; hệ thống ngân hàng dễ bị tổn thương do tỷ lệ nợ xấu còn cao, rủi ro lãi suất và tỷ giá lớn và khả năng giám sát, quản trị rủi ro yếu; hệ số tín nhiệm đối với với hoạt động của hệ thống tài chính - ngân hàng còn thấp. Theo đánh giá của Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO). Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng mức độ cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam vẫn chậm hơn so với các nước khác trong khu vực. 2.3.2. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO. 2.3.2.1. Những thuận lợi sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Sau hơn 2 năm trở thành thành viên chính thức của WTO, môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam năm 2008 tiếp tục có những biến chuyển tích cực với việc thực thi hiệu quả nhiều luật kinh tế quan trọng như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Luật kinh doanh bất động sản … cùng các nghị định hướng dẫn thi hành qua đó tạo môi trường pháp lý ngày càng thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư. Trong năm 2007, Việt Nam đã vươn lên trở thành 1 trong 10 nền kinh tế có triển vọng thu hút đầu tư nhất trên thế giới theo đánh giá của diễn đàn thương mại và phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD). Theo báo cáo môi trường kinh doanh 2008 do WB công bố, Việt Nam xếp thứ 91/178 về mức độ thuận lợi trong môi trường kinh doanh, tăng 13 bậc so với năm 2006. Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO cũng đã và đang mở ra những cơ hội mới trong thu hút đầu tư nước ngoài. Cụ thể là: - Trước hết, việc gia nhập WTO đã tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ và được đối xử bình đẳng hơn trong việc thâm nhập thị trường quốc tế, góp phần khắc phục trở ngại về thị trường mà lâu nay các doanh nghiệp Việt Nam, kể cả doanh nghiệp có vốn ĐTNN gặp phải. Điều đó đã tạo điều kiện thu hút nhiều hơn các nhà ĐTNN đến đầu tư tại Việt Nam để xuất khẩu ra thế giới. - Thứ hai, Việt Nam cam kết mở cửa 11/12 ngành dịch vụ, gồm 110 phân ngành theo qui định của WTO, trong đó có một số ngành quan trọng như: Các dịch vụ viễn thông, phân phối, bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán.. Điều đó đã tạo điều kiện thu hút ĐTNN vào lĩnh vực kinh doanh dịch vụ tại Việt Nam và tạo điều kiện cho các nhà ĐTNN yên tâm đầu tư lâu dài tại Việt Nam. - Thứ ba, việc gia nhập WTO cũng đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục xây dựng môi trường pháp lý hoàn chỉnh và minh bạch hơn. Việt Nam đã cam kết kể từ khi gia nhập WTO sẽ tuân thủ  toàn bộ các Hiệp định quan trọng của WTO liên quan đến chính sách tài chính, tiền tệ, doanh nghiệp nhà nước, quyền kinh doanh, trợ cấp, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, tuân thủ nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO, loại bỏ toàn bộ các biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu, bãi bỏ trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp có liên quan đến nội địa hóa, bãi bỏ chế độ hai giá, bãi bỏ áp dụng tỉ lệ xuất khẩu bắt buộc đối với các doanh nghiệp có vốn ĐTNN… Điều này sẽ thúc đẩy mở cửa các ngành kinh tế và tăng tính hấp dẫn của Việt Nam đối với ĐTNN. - Thứ tư, việc gia nhập WTO tạo điều kiện thúc đẩy nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế của doanh nghiệp và của sản phẩm Việt Nam. Đồng thời, việc sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO cũng tạo long tin cho các nhà đầu tư nước ngoài tịa Việt Nam. Có thể khẳng định rằng, việc Việt Nam trở thành thành viên chính chức của WTO tiếp tục có tác động lớn làm cho dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ tiếp tục tăng trưởng trong các năm tới. Các dự án đầu tư mới sẽ hướng dần đến các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn, gia tăng xuất khẩu, tạo việc làm, các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng. Tuy nhiên để đón nhận tiếp tục làn sóng đầu tư mới, Chính phủ Việt Nam đang đẩy mạnh đầu tư, kể cả thu hút ĐTNN nhằm cải thiện mạnh mẽ cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tìm các biện pháp thúc đẩy mạnh mẽ việc giải ngân để nâng cao khả năng hấp thụ vốn ĐTNN của nền kinh tế nhằm phát huy tối đa hơn nữa vai trò tích cực của ĐTNN đối với sự nghiệp CNN, HĐH đất nước. 2.3.2.2. Những hạn chế và thách thức sau khi gia nhập WTO. Việc gia nhập WTO đã tạo ra cho đất nước nhiều cơ hội mới, song đi kèm với đó là những thách thức không nhỏ vì cơ hội và thách thức là hai mặt có quan hệ hữu cơ của mọi quá trình phát triển. Cơ hội mới xuất hiện khi tình hình thay đổi mà nếu biết tận dụng tốt sẽ có thể tạo ra bước đột phá, thúc đẩy quá trình phát triển, ngược lại, nếu chần chừ, thiếu chủ động thì sẽ đánh mất cơ hội, gây nên tình trạng trì trệ, dễ lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Thách thức luôn xuất hiện trong bối cảnh tình hình mới, do đó cần được đánh giá đúng và chủ động đề ra giải pháp để đối phó, nếu không nhận biết kịp thời, thách thức sẽ trở nên nghiêm trọng và khi đó, việc đối phó sẽ gặp nhiều khó khăn hơn, nhưng nếu vượt qua được thách thức thì sẽ tạo ra được những cơ hội mới. * Cơ hội mới đối với Việt Nam khi gia nhập WTO chính là việc cải cách thể chế, tạo lập môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh do thực hiện nguyên tắc MFN và NT, tạo điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. * Thách thức lớn nhất là năng lực cải cách thể chế theo hướng tự do hóa thương mại và đầu tư mà sự chậm trễ đã bộc lộ trong quá trình rà soát hệ thống pháp lý, chính sách, quy định của chính quyền các cấp; năng lực cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp và quốc gia chưa được nâng lên tương ứng với yêu cầu của tình hình mới, nguồn nhân lực đang là trở ngại lớn trong việc tiếp nhận các dự án FDI công nghệ cao, các chuyên gia giỏi, nhà quản lý có năng lực còn thiếu so với nhu cầu phát triển, tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, sáng chế, bản quyền, kinh doanh hàng giả, hàng nhái diễn ra ngày càng phổ biến mà chưa có giải pháp khắc phục. Năm 2007, năm đầu tiên trở thành thành viên chính thức WTO, nền kinh tế Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng 8,46%, cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây: tổng GDP đạt 71,3 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 835 USD, tiếp cận ngưỡng của nước có thu nhập trung bình thấp; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, với nông nghiệp chiếm tỷ trọng 20% GDP, còn lại là công nghiệp và dịch vụ; kim ngạch xuất khẩu đạt gần 50 tỷ USD, nhưng nhập siêu cũng gia tăng, đạt 14,12 tỷ USD, bằng 29% kim ngạch xuất khẩu. Làn sóng FDI mới bắt đầu từ vài năm trước tiếp diễn với nhịp độ nhanh hơn, với kết quả khả quan về vốn đăng ký của cả năm đạt 21,3 tỷ USD và vốn thực hiện đạt hơn 8 tỷ USD. Báo Malaysia Star viết: “Việt Nam đã trở thành viên nam châm với rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài - những người muốn tham dự vào tiến trình bùng nổ kinh tế của đất nước. Từ các hãng xây dựng cho đến những nhà đầu tư phát triển bất động sản và công nghiệp, dịch vụ, cơ hội là quá nhiều đối với những ai tìm kiếm mảnh đất đầu tư trong triển vọng của kinh tế Việt Nam”. - Vốn FDI đăng ký trong năm 2008 đạt trên 64 tỷ USD, mức tăng kỷ lục kể từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài đến nay, tăng hơn 3 lần năm 2007. Thực tiễn ĐTNN vào Việt Nam trong giai đoạn vừa qua cũng đã bộc lộ một số tồn tại và hạn chế ở cả môi trường đầu tư và tình hình đầu tư. Sự tăng trưởng mạnh mẽ, mang tính đột biến của nguồn vốn FDI vào Việt Nam đã làm cho những mặt hạn chế vốn có nhưng chưa được hoặc chậm được khắc phục của môi trường đầu tư của nước ta ngày cành bộc lộ rõ nét và trở nên gay gắt hơn. Bên cạnh đó,  một số vấn đề mới phát sinh cũng đang bắt đầu có những tác động tiêu cực đến môi trường đầu tư làm hạn chế khả năng thu hút và sử dụng vốn đầu tư của nền kinh tế. * Về luật pháp và chính sách. Hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư vẫn còn một số điểm thiếu đồng bộ và nhất quán giữa các luật chung và các luật chuyên ngành. Vì vật trên thực tế vẫn tạo ra các cách hiểu khác nhau gây rất nhiều khó khăn cho việc xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư cũng như hướng dẫn các doanh nghiệp xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai dự án, cụ thể: - Yêu cầu hợp pháp hóa lãnh sự đối với hồ sơ của nhà ĐTNN không phù hợp với thực tế khi luật Công chứng 2006 đã cho phép các giấy tờ nước ngoài chỉ cần chứng thực tại địa phương. - Các văn bản hướng dẫn về cơ chế hậu kiểm, giám sát, quản lý đối với dự án FDI theo luật Đầu tư 2005 và nghị định 108 đến nay chưa được ban hành làm cho các cơ quan quản lý địa phương gặp nhiều lúng túng trong việc thực thi chức năng quản lý nhà nước của mình. - Qui định đối với một số ngành, lĩnh vực đầu tư có điều kiện còn chưa rõ ràng. Điển hình là hướng dẫn đối với FDI trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Chính phủ đã chỉ đạo sủa đổi, bổ sung nghị định số 06/2000/NĐ-CP, Nghị định số 18/2001/NĐ-CP và Nghị định 165/2005/NĐ-CP, nhưng đến nay Bộ giáo dục và Đào tạo là đơn vị chủ trì vẫn chưa có được dự thảo cuối cùng. Do vậy các cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài rất khó áp dụng qui định tương ứng với tưng loại hình doanh nghiệp. * Về công tác qui hoạch Công tác qui hoạch lãnh thổ, ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm còn yếu và thiếu, đặc biệt trong bối cảnh phân cấp triệt để việc cấp phép và quản lý đầu tư về các địa phương, dẫn đến tình trạng mất cân đối chung. Nhiều địa phương cấp phép tràn lan, khai tăng vốn đăng ký của dự án để có thành tích, để cạnh tranh nhau, dẫn đến cùng cấp quá nhiều giấy phép cho các dự án có cùng một lọa sản phẩm mà khồn tính đến khả năng thị trường dưa thừa, lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp. * Về cơ sở hạ tầng. - Sự yếu kém của hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào là nhân tố quan trọng gây tâm lý lo ngại của các nhà đầu tư. Thông thường các nhà đầu tư có tính toán, thực hiện tiến độ xây dựng công trình dự án theo tiến độ xây dựng xây dựng công trình hạ tầng ngoài hàng rào để tránh tình trạng công trình dự án xây dựng xong không đưa vào vận hành được do hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào không đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là hệ thống cấp điện nước, đường giao thông, cảng biển phục vụ nhu cầu sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hóa. - Nổi cộm nhất hiện nay là hệ thống đường giao thông ở khu vực vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cần được nâng cấp mở rộng để đáp ứng nhu cầu vận chuyển và xuất khẩu hàng hóa trong khu vực đang tăng nhanh, cụ thể là đường 51 nối hệ thống cảng ở khu vực Cái Mép – Thị Vải tới các khu công nghiệp và các khu đô thị trong toàn vùng… - Hệ thống kết cấu hạ tầng ở các khu kinh tế mới được thành lập gần đây như Chân Mây, Nhơn Hội, Nam Phú Yên … phát triển quá chậm so với nhu cầu đầu tư phát triển các dự án FDI đang gây quan ngại cho các nhà đầu tư nước ngoài và đang cản trở việc giải ngân triển khai dự án FDI lớn trong các khu kinh tế này. - Tình trạng thiếu điện dẫn tới cắt điện luân phiên, cắt điện không theo lịch khiến cho các doanh nghiệp gặp khó khăn không nhỏ trong việc điều hành và hoàn thành kế hoạch sản xuất. * Về nguồn nhân lực. - Tình trạng thiếu hụt nguôn nhân lực đã qua đào tạo, đặc biệt là công nhân kĩ thuất và kỹ sư ngày càng rõ rệt, không chỉ xảy ra ở các khu kinh tế mới hình thành như Chân Mây, Dung Quất, Nhơn Hội… mà còn xảy ra ở cả những trung tâm công nghiệp như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương… Mặt hạn chế này đã tồn tại từ các giai đoạn trước nhưng trong 2 năm trở lại đây càng trở nên bức xúc hơn trong điều kiện như dự án ĐTNN, đặt biệt là các dự án lớn đi vào triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, chương trình đào tạo của các cơ sở giáo dục đào tạo trong nước quá lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp. - Tình trạng đình công đang diễn ra với qui mô ngày cành lớn và trở thành áp lực đáng kể đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động. Điều này phần lớn do lạm pháp trong những tháng đầu năm 2008 ở mức cao, đặc biệt là giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng cao khiến đời sống nhân dân, đặc biệt là  đội ngũ công nhân ngày càng khó khăn. Bên cạnh đó, đình công tại các khu công nghiệp tập trung đang có diễn biến phức tạp và trở nên khó kiểm soát, có cuộc đình công có tổ chức và không có yêu cầu gì đối với người sử dụng lao động. * Vấn đề đất đai và giải phóng mặt bằng. - Công tác giải phóng mặt bằng là mặt hạn chế chậm được khắc phục của môi trường đầu tư của ta. Trên thực tế, công tác qui hoạch sử dụng đất đã được các địa phương quan tâm nhưng vẫn  còn thiếu và chưa đồng bộ với qui hoạch ngành, chưa đáp ứng đựơc yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói chung và thu hút sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI nói riêng. - Việc đền bù thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và xây dựng các công trình hạ tầng ngoài hàng rào kết nối vào khu vực dự án đầu tư đang là khó khăn lớn nhất đối với việc triển khai một số dự án FDI qui mô lớn hiện nay, đặc biệt đối với dự án 100% vốn nước ngoài. - Vấn đề qui mô vốn và diện tích sử dụng đối với một số dự án FDI qui mô lớn cũng đang là vấn đề đặt ra và cần phải được xem xét một cách nghiêm túc. Việc đơn giản hóa các thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư theo Luật Đầu tư 2005, trong đó đặc điệt là không qui định phải thẩm tra năng lục tài chính của nhà đầu tư mà thay vào đó là việc để nhà thầu tự đăng kí và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về vốn đăng ký. Điều này tạo thuận lợi hơn trong quá trình xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư, tuy nhiên cũng đã xuất hiện những dấu hiệu cho thấy một số dự án có sự kê khai vốn đăng ký và nhu cầu sử dụng đất lớn hơn so với nhu cầu thực tế. * Vấn đề phân cấp trong quản lý đầu tư nước ngoài. - Chủ trương phân cấp trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực FDI là đúng đắn, tuy nhiên trong điều kiện hệ thống qui hoạch chưa đồng bộ, kịp thời, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ nhà nước trong lĩnh vực FDI tại một số địa phương còn yếu, thiếu và chưa đồng bộ nên đã nảy sinh vấn đề cạnh tranh thiếu lành mạnh trong việc thu  hút FDI, thiếu sự liên kết vùng khu vực, ảnh hưởng đến cơ cấu ngành, lĩnh vực đầu tư. Một số địa phương không thẩm tra kỹ về năng lực của các nhà đầu tư trong các dự án qui mô lớn hàng tỷ USD. Do vậy, khả năng triển khai các dự án này sẽ rất khó khả thi theo đúng cam kết của nhà đầu tư. - Với chủ trương phân cấp như hiện nay, vịêc cung cấp thông tin FDI kịp thời của các địa phương lên trung ương, để phục vụ công tác quản lý, điều hành, phân tích và dự báo các biến động, các xu thế đầu tư vào Việt Nam của Chính phủ chưa được qui định rõ ràng. Việc thu thập tình hình hoạt động của các doanh nghiệp FDI hiện đang là khó khăn lớn nhất đối với các cơ quan quan lý đầu tư các cấp, kể cả Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong khi cơ sở vật chất và nhân lực phục vụ công tác thông tin kinh tế còn thiếu và yếu so với nhu cầu. * Vấn đề môi trường. Việc xử lý chất thải của các dự án ĐTNN tập trung tại các khu công nghiệp tập trung thuộc vùng kinh tế trọng điển đã và đang ảnh hưởng nhất định đến môi trường tự nhiên cũng như xã hội, trong đó đặc biệt là đối với các dự án sản xuất qui mô lớn. Thực tế thời gian gần đây các cơ quan chức năng đã phát hiện một số hành vu phạm pháp luật bảo vệ môi trường với các hành vi cố ý rất tinh vi của một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là vấn đề cần được các cấp các ngành đặc biệt quan tâm ở tất cả các khâu từ thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư, đến triển khai thực hiện dự án cũng như quá trình triển khai hoạt động của dự án đầu tư. * Về xúc tiến đầu tư. - Công tác xúc tiến đầu tư trong thời gian qua còn nhiều bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa thực sự hiệu quả, nội dung và hình thức chưa phong phú, còn chồng chéo, mâu thuẫn gây lãng phí nguồn lực. Nguyên nhân là do ta chưa có một chiến lược tổng thể về xúc tiến đầu tư, làm cho công tác xúc tiến đầu tư thiếu một tầm nhìn dài hạn, có tính hệ thống. Trình độ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư còn hạn chế, thiếu cơ sở vật chất và điều kiện hoạt động. Công tác quản lý nhà nước và cơ chế phối hợp giữa các bộ ngành, địa phương trong công tác xúc tiến đầu tư chưa thực sự hiệu quả, nhiều nội dung chưa được xác định rõ ràng do còn thiếu một văn bản pháp luật qui định cụ thể về vẫn đề này. CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG TÍNH HẤP DẪN CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 3.1. Định hướng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và cải thiện môi trường đầu tư 3.1.1. Dự báo về tình hình FDI tại Việt Nam 2 năm 2009-2010. 3.1.1.1. Đánh giá khả năng thực hiện mục tiêu 2006-2010: Mặc dù được đánh giá rất cao về tiềm năng thu hút FDI, Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm để tiếp tục duy trì tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời thúc đẩy giải ngân các dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Trong bối cảnh đặc biệt hiện nay, giải ngân vốn FDI là quan trọng hàng đầu và là công việc khó khăn trong giai đoạn còn lại của kế hoạch 5 năm 2006-2010. Tuy nhiên, theo như kết quả thu hút và giải ngân nguồn vốn FDI đã đạt được, khả năng hoàn thành mục tiêu đề ra cho kế hoạch 5 năm2006-2010 là chắc chắn đạt được.  3.1.1.2. Một số thách thức đạt ra đối với FDI tại Việt Nam từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu: Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN ngày càng khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế Việt Nam như đã nêu, tuy nhiên trong bối cảnh tình hình diễn biến phức tạp ở trong nước và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, khu vực FDI cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như sau: - Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới sẽ làm cho nguồn vốn FDI toàn cầu sẽ bị thu hẹp lại và sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến Việt Nam trong thời gian tới. Các tập đoàn kinh tế toàn cầu (TNCs) đã và đang điều chỉnh chiến lược kinh doanh để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sự điều chỉnh chiến lược của các TNCs tác động đến cả những dự án đã đựơc cấp phép và các dự án tiềm năng. Chắc chắn nhiều TNCs phải tạm thời phải thu hẹp phạm vi và đình hoãn một số dự án đầu tư không có khả năng thu xếp các khoản tín dụng. Do vậy, nhiều dự án FDI đã được cấp phép có khả năng dãn tiến độ, thu hẹp qui mô hoặc không thực hiện, làm cho tỷ lệ vốn FDI thực hiện so với vốn FDI đăng ký giảm so với những năm trước. Đối với những nhà đầu tư tiềm năng, Việt Nam vẫn là thị trường hấp dẫn đối với họ nhìn tầm chung hạn và dài hạn. Họ sẽ đến nước ta tìm hiểu thị trường và cơ hội nhưng sẽ phải cân nhắc kĩ hơn, mất nhiều thời gian hơn để quyết định tiến hành dự án đầu tư, các ngân hàng cũng không dễ đưa ra quyết định cho vay các dự án lớn trong điều điện khủng hoảng tài chính toàn cầu. - Thu nhập thực tế của khá đông dân cư bị sụt giảm do ảnh hưởng lạm phát cao trong những tháng đầu năm 2008, hiện lại đang có nguy cơ một bộ phận lao động mất việc làm bởi một số doanh nghiệp sản xuất thu hẹp qui mô sản xuất do gặp phải khó khăn về đầu ra của sản phẩm. Điều này sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong thời gian tới. 3.1.1.3. Dự báo FDI 2 năm 2009-2010 * Vốn giải ngân. Với qui mô vốn đăng ký rất lớn trong nửa đầu kỳ kế hoạch, trong bối cảnh thuận lợi, vốn giải ngân trong 2 năm tới của kỳ kế hoạch có thể đạt 13-14 tỷ USD/năm. Với tổng số vốn đã giải ngân từ năm 2006 đến hết năm 2008 là 23,6 tỷ USD, đạt 94,4% mục tiêu đặt ra cho cả kỳ kế hoạch 5 năm 2006-2010. Việc thực hiện vượt mức mục tiêu ban đầu đặt ra là hoàn toàn khả thi. * Về vốn đăng ký trong 2 năm 2009-2010: Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới cũng như bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước đang có những biến động khó dự báo, dòng vốn FDI đăng ký cũng trở nên rất khó dự báo. Tuy nhiên, theo đánh giá từ phía các nhà tài trợ, chính sách thắt chặt tiền tệ, chính sách tỷ giá đã bước đầu phát huy tác dụng, giải pháp thắt chặt tài khoá nếu thực hiện kiên quyết sẽ phát huy tác dụng chậm hơn, vào các tháng cuối năm nay. Triển vọng đầu tư trung và dài hạn của Việt Nam hiện vẫn được coi là tốt, ước tính dòng vốn đăng ký trong 2 năm tới sẽ giảm đáng kể so với năm 2008 nhưng vẫn ở mức cao, khoảng trên 20 tỷ USD/năm, đưa tổng vốn đăng ký của 5 năm 2006-2010 có thể lên tới mức 135 tỷ USD, vượt 2,4 lần kế hoạch đề ra cho cả giai đoạn này. Việc những năm tiếp theo khó có thể duy trì thu hút được tốc độ thu hút FDI cao như năm 2007 và năm 2008 không có nghĩa là môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam kém hơn các năm trước. Trong giai đoạn tới cần tập trung thu hút đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng là công nghệ cao, phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực ... sẽ tạo động lực và góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế - xã hôi và thu hút mạnh FDI. 3.1.2. Định hướng cải thiện môi trường đầu tư. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, chất lượng, bền vững, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế gắn với cải thiện đời sống của nhân dân; phấn đấu vượt ngưỡng “nước đang phát triển có thu nhập thấp” trong năm 2008 là những mục tiêu không dễ thực hiện. Giải pháp được ưu tiên hàng đầu vẫn là tích cực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và tính bền vững của nền kinh tế. Cụ thể, các ngành, các cấp, các địa phương cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế thị trường, xây dựng các thể chế để tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường. Phải tiếp tục cải cách mạnh các thủ tục hành chính tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh đổi mới doanh nghiệp nhà nước, mà trọng tâm là cổ phần hoá, nhất là các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty của Nhà nước. Tích cực vận động và tạo mọi thuận lợi để thu hút mạnh đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhất là các dự án lớn, dự án đầu tư vào kết cấu hạ tầng và các dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao.  Ngoài ra, phải tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ, bảo đảm tốc độ tăng trưởng dịch vụ cao hơn mức tăng trưởng chung của nền kinh tế. Để ổn định được kinh tế vĩ mô, trước hết cần phải hoàn thiện chính sách tài chính và ngân sách nhà nước. Cụ thể, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống thuế theo hướng rà soát các chính sách, quy định về thuế trên cơ sở các cam kết quốc tế đã ký kết. Cải tiến hệ thống giảm thuế và hoàn thuế; tổ chức thực hiện tốt công tác quản lý thu ngân sách nhà nước; tăng cường các biện pháp quản lý thu, chống thất thu, nợ đọng thuế; chống gian lận thương mại, trốn thuế. Tiếp tục tăng cường phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước... 3.2. Những giải pháp cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn FDI Để tiếp tục thu hút, thúc đẩy giải ngân và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn FDI năm 2009 và 2010, Bộ kế hoạch và đầu tư trình Chính phủ và thủ tướng chính phủ 8 nhóm giải pháp cần ưu tiên triển khai như sau: 3.2.1. Nhóm giải pháp về luật pháp, chính sách. - Tiếp tục rà soát pháp luật, chính sách về đầu tư, kinh doanh để sửa đổi các nội dung không đồng bộ, thiếu nhất quán và loại bỏ các ưu đãi về đầu tư không phù hợp với cam kết của Việt Nam với WTO. - Sửa đổi các qui định không rõ ràng còn bất cập liên quan đến thủ tục đầu tư và kinh doanh. - Theo dõi, giám sát việc thực thi pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp để kịp thời phát hiện và xử lý các vướng mắc phát sinh. Nhanh chóng ban hàng các văn bản hướng dẫn các luật mới, nhất là các luật mới được Quốc hội thông qua trong năm 2006 có liên quan tới đầu tư, kinh doanh. - Ban hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư đối với các dự án xây dựng các công trình phúc lợi (nhà ở, bệnh viện, trường học, văn hoá, thể thao) cho người lao động làm việc trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế. - Thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân, không cấp phép cho các dự án công nghệ lạc hậu, dự án tác động xấu đến môi trường... 3.2.2. Nhóm giải pháp về qui hoạch - Cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng và phê duyệt các quy hoạch còn thiếu, rà soát để định kỳ bổ sung, điều chỉnh qui hoạch đã lạc hậu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc xác định và xây dựng dự án. - Quán triệt và thực hiện thống nhất các qui định mới của Luật đầu tư trong công tác qui hoạch, đảm bảo việc xây dựng qui hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm phù hợp với cam kết quốc tế. - Hoàn chỉnh qui hoạch sử dụng đất, công bố rộng rãi qui hoạch, tạo điều kiện để đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đâu tư... 3.2.3. Nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng - Tiến hành tổng rà soát, điểu chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Tăng cường công tác quy hoạch, thực thi các quy hoạch cũng như thu hút đầu tư vào các công trình giao thông, năng lượng. - Tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; ưu tiên các lĩnh vực cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường (xử lý chất thải rắn, nước thải.v.v.), hệ thống đường bộ cao tốc, trước hết là tuyến Bắc-Nam, hai hành lang kinh tế Việt Nam-Trung Quốc, nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt, trước hết là đường sắt cao tốc Bắc-Nam, đường sắt hai hành lang kinh tế Việt Nam-Trung Quốc, đường sắt nối các cụm cảng biển lớn, các mỏ khoáng sản lớn với hệ thống đường sắt quốc gia, đường sắt nội đô thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.v.v. - Trước mắt tập trung chỉ đạo, giải quyết tốt việc cung cấp điện, trong mọi trường hợp không để xảy ra tình trạng thiếu điện đối với các cơ sở sản xuất. Tăng cường nghiên cứu xây dựng chính sách và giải pháp khuyến khích sản xuất và sử dụng điện từ và các loại năng lượng mới như sức gió, thủy triều, nhiệt năng từ mặt trời. - Khẩn trương xây dựng và ban hành cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài nhà nước tham gia phát triển các công trình kết cấu hạ tầng trong đó có các công trình giao thông, cảng biển, các nhà máy điện độc lập. - Mở rộng hình thức cho thuê cảng biển, mở rộng đối tượng cho phép đầu tư dịch vụ cảng biển, đặc biệt dịch vụ hậu cần (logistic) để tăng cường năng lực cạnh tranh của hệ thống cảng biển Việt Nam; kêu gọi vốn đầu tư các cảng lớn của các khu vực kinh tế như hệ thống cảng Hiệp Phước-Thị Vải, Lạch Huyện.v.v. - Tập trung thu hút vốn đầu tư vào một số dự án thuộc lĩnh vực bưu chính-viễn thông và công nghệ thông tin để phát triển các dịch vụ mới và phát triển hạ tầng mạng. - Đẩy mạnh đầu tư vào các lĩnh vực (văn hóa-y tế-giáo dục, bưu chính-viễn thông, hàng hải, hàng không) đã cam kết khi gia nhập WTO. Xem xét việc ban hành một số giải pháp mở cửa sớm hơn mức độ cam kết đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà nước ta có nhu cầu. 3.2.4. Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực - Đẩy nhanh việc triển khai kế hoạch tổng thể về đào tạo nhằm nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 40% vào năm 2010. Theo đó, ngoài việc nâng cấp đầu tư hệ thống các trường đào tạo nghề hiện có lên ngang tần khu vực và thế giới, sẽ phát triển thêm các trường đào tạo nghề và trung tâm đào tạo từ các nguồn vốn khác nhau. - Nghiên cứu điều chỉnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. - Thực hiện các giải pháp nhằm đưa Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động vào thực tế cuộc sống để ngăn ngừa tình trạng đình công bất hợp pháp, lành mạnh hoá quan hệ lao động theo tinh thần của Bộ lao động, bao gồm: + Tiếp tục hoàn thiện pháp luật, chính sách vè lao động, tiền lương phù hợp trong tình hình mới, tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc chấp hành pháp luật về lao động đối với người sử dụng lao đông nhằm đảm bảo điều kiện làm việc và đời sống cho người lao động. + Nâng cao hiểu biết pháp luật về lao động thông qua phổ biến, tuyên truyền giáo dục cho người lao động, người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để đảm bảo chính sách, pháp luật về lao động và tiền lương được thực hiện đầy đủ nghiêm túc. 3.2.5. Nhóm giải pháp về giải phóng mặt bằng. Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành ngay các thủ tục thu hồi đất và thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án FDI không có khả năng triển khai hoặc chưa có kế hoạch sử dụng hết diện tích đất đã được giao để chuyển cho các dự án đầu tư mới có hiệu quả hơn. Đồng thời trong phạm vi thẩm quyền của mình, chủ động tổ chức việc đền bù giải toả và giao đất cho chủ đầu tư theo đúng cam kết, đặc biệt là các dự án qui mô lớn mà chủ đầu tư sẵn sàng giải ngân thực hiện dự án. Nghiên cứu đề xuất với Bộ KH và ĐT phương an xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai dự án, vượt quá thẩm quyền của mình, để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ. 3.2.6. Nhóm giải pháp về phân cấp, cải cách hành chính. Qua thực tế thực hiện việc phân cấp trong hơn 2 năm qua đã bộc lộ một số vấn đề bất cập, không phù hợp, ảnh hưởng đến quy hoạch phát triển kinh tế xã hội chung. Cần nghiên cứu để xem xét lại chủ trương phân cấp toàn diện như qui định hiện nay, có các biện pháp để tăng cường sự phối hợp giữa Trung ương và địa phương trong việc cấp phép và quản lý các dự án đầu tư nước ngoài. - Thực hiện tốt việc phân cấp quản lý nhà nước đối với ĐTNN, đặc biệt trong việc phê duyệt, cấp Giấy chứng nhận đầu tư, quản lý tốt các dự án ĐTNN, gắn với việc tăng cường hợp tác, hỗ trợ, phối hợp hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư. - Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại Luật Đầu tư và quy định mới về phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài. - Đơn giản hóa và công khai quy trình, thủ tục hành chính đối với đầu tư nước ngoài, thực hiện cơ chế "một cửa" trong việc giải quyết thủ tục đầu tư. Đảm bảo sự thống nhất, các quy trình, thủ tục tại các địa phương, đồng thời, phù hợp với điều kiện cụ thể. - Xử lý dứt điểm, kịp thời các vấn đề vướng mắc trong quá trình cấp phép, điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư . - Tăng cường cơ chế phối hợp quản lý đầu tư nước ngoài giữa Trung ương và địa phương và giữa các Bộ, ngành liên quan. 3.2.7. Nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư - Nghiên cứu đề xuất chính sách vận động, thu hút đầu tư đối với các tập đoàn đa quốc gia cũng như có chính sách riêng đối với từng tập đoàn và các đối tác trọng điểm như các quốc gia thành viên EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản... - Nhanh chóng hoàn thành việc xây dựng thông tin chi tiết về dự án đối với danh mục đầu tư quốc gia kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006 – 2010 để làm cơ sở cho việc kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài vào dự án này. - Các Bộ, ngành tiếp tục rà soát, cập nhật bổ sung danh mục kêu gọi đầu tư phù hợp với nhu cầu đầu tư và quy hoạch phát triển địa phương, ngành, lĩnh vực, sản  phẩm. - Thực hiện tốt chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia gia đoạn 2007 – 2010. Triên khai nhanh việc thành lập bộ phận XTĐT tại một số địa bàn trọng điểm. - Tăng cường công tác bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư nói riêng và quản lý đầu tư nói chung. Vận động và phối hợp với các tổ chức quốc tế hỗ trợ mở cửa các lớp đào tạo về xúc tiến đầu tư và quản lý ĐTNN. Phối hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến đầu tư – thương mại – du lịch, khânt trương triển khai việc thành lập các bộ phận xúc tiến đầu tư tại các địa bàn trọng điểm theo kế hoạch. 3.2.8. Một số giải pháp khác. - Tiếp tục nâng cao hiệu quả việc chống tham nhũng, tiêu cực và tình trạng nhũng nhiễu đối với nhà đầu tư. Đề cao tinh thần trách nhiệm cá nhân trong xử lý công việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở các cơ quan quản lý nhà nước. - Tăng cường phối hợp với các bộ ngành, địa phương xử lý vấn đề môi trường, vấn đề đình công trái pháp luật của các doanh nghiệp FDI. - Triển khai tốt việc xây dựng hệ thống quản lý thông tin ĐTNN theo quyết định 43/2008/QĐ-TTg ngày 24/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ, đảm bảo thông tin phục vụ công tác quản lý, điều hành. Các kiến nghị cần cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh Để xác định những lĩnh vực cần cải thiện hơn nữa các doanh nghiệp tham gia điều tra được yêu cầu lựa chọn 3 biện pháp quan trọng nhất mà chính phủ cần làm để cải thiện môi trường kinh doanh. Biểu đồ dưới đây cho thấy thứ tự ưu tiên cải cách để cải thiện môi trường kinh doanh Việt Nam. Năm nay “Cải thiện soạn thảo luật lệ“ là lĩnh vực được phần lớn doanh nghiệp đề xuất (46%) phản ánh mối quan ngại ngày càng tăng về sự không rõ ràng và thiếu thực tiễn của luật lệ, tạo điều kiện cho việc diễn giải pháp luật tuỳ tiện và các hoạt động trục lợi. Doanh nghiệp vì vậy muốn nâng cao tính rõ ràng, minh bạch của môi trường pháp lý. Khi xây dựng các văn bản pháp luật cần tham vấn doanh nghiệp một cách toàn diện để đảm bảo các luật lệ khi được ban hành, phản ánh đầy đủ những ý kiến đóng góp từ thực tiễn doanh nghiệp, ngăn ngừa việc diễn giải luật chủ quan, thiếu nhất quán gay phức tạp trong quá trình thực hiện sau này. Năm nay các doanh nghiệp cũng đưa ra yêu cầu mạnh mẽ về cải cách nhằm “Bãi bỏ các giấy phép không cần thiết“ và “Ngăn chặn kiểm soát tham nhũng“ bằng những biện pháp nâng cao tính minh bạch và những giải trình của chính phủ ở các cấp trung ương và địa phương nhằm giảm thiểu tệ quan liêu, nhũng nhiễu doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất. Tuy nhiên điều tra lần này cũng cho thấy có sự khác biệt trong việc lựa chọn ưu tiên chính sách giữa doanh nghiệp nước ngoài và trong nước. Trong khi “Cải thiện việc soạn thảo luật lệ“ được doanh nghiệp trong nước lựa chọn là ưu tiên hàng đầu, thì các doanh nghiệp nước ngoài lại coi việc “Cải thiện cơ sở hạ tầng“ là hoạt động quan trọng nhất. Lý giải cho điều này có lẽ là do doanh nghiệp nước ngoài thường có qui mô hoạt động lớn hơn va tham gia vào các hoạt động xuất nhập khẩu nhiều hơn, do vậy chất lượng cơ sở hạ tầng yếu kém như thiếu hụt điện năng, tắc nghẽn cảng biển gây hậu quả nặng nề hơn cho các doanh nghiệp nước ngoài so với doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên cả hai nhóm doanh nghiệp đều nhất trí cho rằng “Ngăn chăn và kiểm soát tệ tham nhũng“ là một trong những lĩnh vực cần được ưu tiên xư lý hàng đầu, cho thấy đây là một vấn đề có tác động  tiêu cực mạnh mẽ tới hoạt động của cả doanh nghiệp trong và ngoài nước. Diễn đàn thương mại và phát triển liên hợp quốc (UNCTAD) đang xây dựng một báo cáo về “Chính sách đầu tư của Việt Nam“. Tại báo cáo này UNCTAD đã đánh giá: “Việt Nam đã thành công trong việc thu hút một số lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong hai thập kỉ vừa qua mặc dù vẫn còn một số hạn chế trong tiếp nhận đầu tư và “gánh nặng“ hành chính làm cản trở các nhà đầu tư. Việc Nam cũng đã thành công trong việc thu được những lợi ích quan trọng từ sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào phát triển kinh tế“. Theo UNCTAD việc gia nhập WTO trong năm 2007 là dấu mốc trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam và có vai trò quan trọng ngang với chủ trương đổi mới năm 2006. Điều này sẽ khiến Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài và làm tăng lợi ích tiềm năng phát triển của các dòng FDI đang ngày một tăng lên. KẾT LUẬN Môi trường đầu tư luôn giữ một vai trò quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư. Qua hơn 20 năm đổi mới, Chính Phủ Việt Nam cũng đã có nhiều biện pháp nhằm cải hiện môi trường đầu tư thông thoáng và hoàn thiện hơn. Môi trường đầu tư của Việt Nam được đánh giá là có xu hướng ngày càng tốt hơn. Đó là một tín hiệu đáng mừng, cho thấy khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đang ngày một tăng, báo hiệu những kết quả khả quan trong tương lai, và hứa hẹn sẽ mang lại nguồn lực mới cho đất nước. Việt Nam đã trở thành một trong những khu vực điểm nóng đầu tư trên thế giới có sức hấp dẫn nhất. Phát triển kinh tế của Việt Nam có hai ưu thế: tỷ lệ tài sản "xấu" trong lĩnh vực tài chính khá thấp. Hai là mặc dù xuất khẩu của Việt Nam chiếm tới 56% GDP, nhưng mức độ ảnh hưởng của sự tăng trưởng chậm lại của kinh tế thế giới đối với Việt Nam là rất nhỏ. Việt Nam có thể duy trì sự ổn định trong thu nhập từ xuất khẩu, bởi sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, chủ yếu là hàng tiêu dùng và sản phẩm công nghiệp nhẹ, không chịu ảnh hưởng lớn của biến động giá cả quốc tế. Ba là tình hình chính trị của Việt Nam ổn định, các chính sách đầu tư không chỉ duy trì tính nhất quán mà còn không ngừng được hoàn thiện. Từ đó có thể thấy, viễn cảnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam là rất tốt đẹp. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bài giảng “Đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ” : biên soạn và giảng dạy: TS. Đinh Đào Ánh Thuỷ. 2. Kỷ yếu 20 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. 3. Báo cáo điều tra cảm nhận môi trường kinh doanh. 4. Tạp chí tri thức và phát triển (Số 31/2004/Hội nhập và phát triển) 5. Tạp chí nghiên cứu kinh tế 6. Nguồn WTO- thách thức và hội nhập 7. Nguồn: Tác động của việc gia nhập WTO đến môi trường kinh doanh ở Việt Nam, Kiến nghị và giải pháp (TS. Nguyễn Hoàng Lưu) 8. Tạp chí cộng sản số phát hành 114 – 2006. 9. Báo Đầu tư nước ngoài 1/09 trang 34-35 10. Đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam (PTS. Vũ Trường Sơn) 11. Báo cáo phát triển thế giới 2005. Môi trường đầu tư tốt hơn cho mọi người 12. Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam (Ths. Nguyễn Văn Tuấn). 12. 20 năm đầu tư nước ngoài nhìn lại và hướng tới (1987 – 2007). Một số website 1.   Trang web Bộ kê hoach và đầu tư 2. Trang web Cục đầu tư nước ngoài 3. Web Tổng cục thống kê 4. 5. 6. 7. 8.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docQuá trình cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.doc
Luận văn liên quan