Đề tài Quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam

MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Hoạt động cho vay là một trong các hoạt động truyền thống và chủ yếu của các Ngân hàng thương mại. Trên thực tế, đối với hầu hết các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay cơ cấu tài sản chủ yếu là các khoản vay. Chính vì vậy, chất lượng của các khoản vay đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các Ngân hàng thương mại. Quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay trở thành yêu cầu cấp thiết trong tình hình thị trường tài chính đầy biến động khi Việt Nam gia nhập WTO, nhất là khi những yếu tố và nguyên nhân gây ra rủi ro trong hoạt động cho vay ngày càng đa dạng và phức tạp. Do những nguyên nhân trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam” Mục đích nghiên cứu o Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về rủi ro trong hoạt động cho vay và quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại các Ngân hàng thương mại. o Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay và quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam. o Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu o Đối tượng nghiên cứu là hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam o Phạm vi nghiên cứu là quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam năm 2005,2006, 2007 và những tháng đầu năm 2008. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu được sử dụng xuyên suốt luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp định lượng như phân tích kinh tế, thống kê và một số phương pháp khác. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn bao gồm những nội dung chính sau: o Chương 1: Những vấn đề cơ bản về rủi ro trong hoạt động cho vay và quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại. o Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam. o Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam. Tác giả xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn, PGS.TS. Đinh Thị Diên Hồng- Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đã giúp đỡ hoàn thành luận văn này.

doc87 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 13/05/2013 | Lượt xem: 3754 | Lượt tải: 35download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nay, hệ thống kế toán không hướng dẫn cụ thể hạch toán kế toán cho các hộ kinh doanh cá thể hơn nữa chưa có chế tài xử phạt đối với các doanh nghiệp chưa hạch toán kế toán theo quy định, chưa thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc đối với các báo cáo tài chính. Điều này làm cho các NHTM khó khăn trong việc phân tích thông tin khách hàng. Thứ tư, thị trường tài chính thứ cấp chưa phát triển, chưa hình thành các điều kiện để các NHTM có thể chứng khoán hoá tài sản tăng tính thanh khoản để cơ cấu lại danh mục khoản vay hợp lý. Thị trường chứng khoán của Việt Nam mới bước đầu phát triển và đang trong giai đoạn điều chỉnh, những biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam chưa phải là thước đo sự phát triển của doanh nghiệp; thị trường bảo hiểm khoản vay còn mới manh nha và Nhà nước chưa có các quy định về chứng khoán hóa khoản vay. Nguyên nhân chủ quan: Thứ nhất, Techcombank chưa có hệ thống nhận dạng RRTCV một cách rõ ràng, chưa có chuẩn mực cụ thể để đánh giá rủi ro cho một khoản vay cụ thể và đánh giá rủi ro cho một ngành nghề, một loại hình cho vay trên danh mục đầu tư. Thứ hai, Techcombank chưa lượng hóa được RRTCV, hiện tại, rủi ro của một khoản vay được đánh giá dựa vào các tiêu thức định tính. Các tiêu thức này được đưa ra trên hệ thống xếp hạng khách hàng với phương pháp cho điểm theo trọng số. Hệ thống xếp hạng khách hàng này chỉ có ý nghĩa trong việc quyết định cho vay hay từ chối cho vay mà chưa dự báo được mức rủi ro dự kiến của một khoản vay để từ đó tính toán các chi phí của khoản vay một cách hợp lý. Thứ ba, hệ thống thông tin nội bộ hạn chế cả về lượng và về chất (i) hệ thống thông tin chưa đầy đủ, chi tiết theo từng danh mục đầu tư, lĩnh vực cho vay (ii) thiếu thông tin chuyên ngành phân tích đánh giá tổng hợp về mặt hàng, lĩnh vực kinh tế và chính sách vĩ mô đối với từng vùng, từng địa phương để trợ giúp việc hoạch định chính sách và cơ cấu danh mục cho vay (iii) hệ thống thông tin chi tiết khoản vay chưa đầy đủ, chưa có thông tin về người bảo lãnh, số lần nhắc nợ, chưa nhận biết được nhóm khách hàng liên quan (iv) hệ thống mạng nội bộ thường xuyên có sự cố, các máy tính đôi khi quá lỗi thời ảnh hưởng đến hiệu quả công tác của các bộ phận. Thứ tư, lực lượng cán bộ làm công tác cho vay, hỗ trợ và kiểm soát cho vay vừa thiếu vừa yếu về chất lượng. Hiện nay số lượng các giấy tờ yêu cầu trong hồ sơ cho vay của Techcombank ngày càng nhiều, hoạt động cho vay đòi hỏi những thay đổi liên tục để thích nghi với biến động vĩ mô của nền kinh tế nên phát sinh rất nhiều rủi ro tiềm ẩn không lường trước được trong khi đó trình độ của các cán bộ liên quan trong hoạt động cho vay còn hạn chế. Các chuyên viên khách hàng cốt cán có năng lực thiếu do phần lớn chuyển sang các Ngân hàng khác nắm giữ các vị trí lãnh đạo, số lượng chuyên viên có kinh nghiệm ít trong khi các chuyên viên mới vào thường không có kinh nghiệm xử lý thực tế làm phát sinh nhiều rủi ro tác nghiệp. Cũng tình trạng này, đội ngũ cán bộ kiểm soát sau của Techcombank cũng rất mỏng, thường xuyên biến động và thiếu kinh nghiệm làm cho việc phát hiện rủi ro thường chậm, thậm chí khi xảy ra rủi ro mới có những biện pháp giải quyết mang tính chất tình thế. Trình độ của các nhân viên nhắc nợ còn hạn chế, lại không nắm rõ được đặc điểm của từng khoản vay cụ thể, chỉ nhắc nợ về mặt hình thức nên khi khách hàng phàn nàn thường đưa ra những giải thích chưa thấu đáo, gây bức xúc cho khách hàng. Thứ năm, hệ thống quy trình hướng dẫn của Techcombank còn chồng chéo, chưa rõ ràng và mang tính ổn định nhất quán, quá nhiều điều chỉnh dẫn đến những sai sót trong quá trình nhận thức, thực hiện. CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM Quan điểm định hướng chiến lược về quản trị rủi ro nói chung và quan trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại Techcombank Định hướng hoạt động kinh doanh của Techcombank Định hướng phát triển kinh doanh trong hoạt động cho vay là một phần của định hướng chiến lược kinh doanh chung của toàn Ngân hàng, Định hướng hoạt động cho vay được ban hành trong từng giai đoạn trên cư sở chiến lược kinh doanh chung của Techcombank và được thể hiện bằng các mục tiêu cụ thể cho phù hợp với tình hình thị trường và tình hình hoạt động thực tế của Techcombank. Trong giai đoạn 2007-2010 nội dung chính trong định hướng phát triển kinh doanh của Ngân hàng là tiếp tục đẩy mạnh việc phát triển khách hàng tại các khu vực thị trường mục tiêu của Ngân hàng thông qua việc tiếp thị các sản phẩm hiện có. Việc cho vay/cho vay các nhân nên được quản lý theo dạng danh mục để những chiều hướng xấu cũng như những điểm yếu tiềm tàng trong danh mục sớm được phát hiện giúp Techcombank có thể tiến hành các biện pháp điều chỉnh kịp thời. Đối với cho vay tiêu dùng: Tiếp tục phát triển các nhóm khách hàng dân cư tại các đô thị, đặc biệt là nhóm khách hàng có thu nhập từ trung bình trở lên, trẻ tuổi và thành đạt; Thúc đẩy việc bán các sản phẩm cho vay tiêu dùng hiện có, trong đó chú trọng đặc biệt vào các sản phẩm thẻ và tài trợ mua nhà và mua ô tô trả góp. Đối với cho vay đầu tư cá nhân: Phát triển các nhóm khách hàng dân cư tại các đô thị lớn, đặc biệt là nhóm khách hàng có thu nhập cao, trẻ tuổi và thành đạt; Thúc đẩy việc cho vay đầu tư chứng khoán niêm yết và cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hóa; Phát triển các nhóm khách hàng kinh doanh cá thể tại các đô thị lớn, đặc biệt là nhóm khách hàng có hoạt động ổn định, kinh nghiệm kinh doanh lâu đời; Thúc đẩy việc cho vay bằng sản phẩm ứng tiền nhanh; Phát triển các nhóm khách hàng hoạt động trong các ngành nghề có tiềm năng phát triển tốt. Trong đó đặc biệt chú trọng đến các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ có hoạt động xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong các khu công nghiệp,các tổng công ty 90,91 và các công ty tài chính trực thuộc các tổng công ty này, các doanh nghiệp nhà nước nhỏ va vừa đã thực hiện cổ phần hóa, các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động hiệu quả có tổng doanh thu từ 0.5 đến 100 tỷ, vốn chủ sở hữu nhỏ hơn hoặc bằng 30 tỷ, thúc đẩy việc cung cấp cho vay để tài trợ xuất nhập khẩu, các hoạt động sản xuất, chế biến tạo giá trị gia tăng loắn thông qua các sản phẩm cho vay hiện có như: Cho vay vốn lưu động theo món hoặc theo hạn mức, thấu chi doanh nghiệp và các hình thức cấp cho vay đầu tư trung dài hạn. Sản phẩm hiện tại, thị trường mới: Mở rộng thị trường hoạt động thông qua việc mở rộng mạng lưới hoạt động của Ngân hàng tại các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước trong đó chú trọng vào các thành phố lớn và các vùng phụ cận. Hoàn thiện và mở rộng tuyến sản phẩm hiện tại: Hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ và quy trình cung cấp các sản phẩm dịch vụ hiện có thông qua việc tăng cường ứng dụng và khai thác công nghệ thông tin nhằm đơn giản hoá thủ tục xử lý công việc, từ đó đáp ứng một cách nhanh nhất yêu cầu của khách hàng. Quan điểm quản trị rủi ro trong cho vay của Techombank Hệ thống chấm điểm khách hàng: Tất cả mọi khoản vay đều phải được cập nhật thông tin về chấm điểm xếp hạng khách hàng vay tại thời điểm xét duyệt khoản vay. Techcombank luôn duy trì và cải tiến hai hệ thống chấm điểm khách hàng, khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân, hướng theo tiêu chuẩn quốc tế nhưng phải thể hiện tính đặc thù và phát triển của thị trường Việt Nam. Hệ thống chấm điểm khách hàng là cơ sở để xây dựng chính sách khách hàng với những điều kiện khi cung cấp cho vay và quản trị danh mục khách hàng của Techcombank trong từng thời kỳ tương ứng với định hướng kinh doanh của Ngân hàng. Cải tiến hoặc điều chỉnh thay đổi hệ thống chấm điểm khách hàng tuân thủ hiện thực hóa nguyên tắc quản trị danh mục khách hàng hướng tới mục đích giảm thiểu rủi ro, theo đó Techcombank sẽ nghiên cứu, đánh giá về khả năng, tiềm năng phát triển của từng khách hàng và các lĩnh vực kinh doanh, hoạt động của khách hàng. Trên cơ sở đánh giá đó, Techcombank sẽ đưa ra các tỷ lệ cấp cho vay phù hợp với điều kiện danh mục khách hàng, ngành nghề kinh doanh phải thường xuyên được cập nhật, rà soát, điều chỉnh phù hợp với thực tế, diễn biến và xu hướng của thị trường. Việc chấm điểm lại sẽ được thực hiện ngay khi khách hàng có những thay đổi lớn liên quan tới các tiêu chí chấm điểm khách hàng. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng liên quan đến khoản vay và kết quả chấm điểm/xếp hạng lại khoản vay, Ngân hàng yêu cầu phải tiến hành lập dự phòng để tránh thiệt hại có thể xảy ra. Việc trích lập dự phòng phải đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật và các quy định của Techcombank trong từng giai đoạn cụ thể. Thẩm quyền phê duyệt Thẩm quyền phê duyệt của Techcombank được chia thành các cấp như sau: Hội đồng quản trị; Hội đồng cho vay Hội sở; Ban Tổng giám đốc; Hội đồng cho vay khu vực, Hội đồng cho vay Trung tâm kinh doanh Hội sở/ Hội đồng cho vay Chi nhánh; Ban giám đốc Trung tâm kinh doanh Hội sở/ Ban giám đốc Chi nhánh; Trưởng/phó phòng giao dịch;Các chuyên viên cho vay cao cấp có đủ năng lực và kinh nghiệm trong lĩnh vực cho vay;Các đối tượng khác được HĐQT đồng ý. Mức phán quyết Mức phán quyết trong cơ cấu phân quyền phê duyệt của Techcombank được phân bổ từ thấp lên cao theo trật tự từ cấp Phòng giao dịch, Chi nhánh lên đến Hội đồng quản trị. Mức phán quyết của Tổng giám đốc do Hội đồng quản trị xác định. Mức phán quyết của các cấp dưới cấp của Tổng giám đốc do Tổng giám đốc quy định theo năng lực về nhân sự, quy mô của Chi nhánh và chất lượng cho vay của Chi nhánh đó. Nguyên tắc xây dựng thẩm quyền phê duyệt: Cơ cấu phân quyền phê duyệt của Techcombank được xây dựng dựa theo cơ cấu tổ chức hoạt động cho vay, định hướng phát triển của Ngân hàng và quy định của pháp luật. Nguyên tắc sử dụng thẩm quyền phê duyệt Các cấp phê duyệt chỉ được phép phê duyệt trong phạm vi thẩm quyền của mình do Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc Ngân hàng quy định. Techcombank yêu cầu tất cả các cấp có thẩm quyền phê duyệt phải nắm vững cơ cấu và nội dung phân quyền của Ngân hàng để đảm bảo tính tuân thủ, kiểm soát rủi ro và hiệu quả trong giải quyết công việc. Theo dõi và kiểm soát: Techcombank thiết lập hệ thống và quy trình kiểm soát cho vay, cho phép theo dõi tình hình tài chính của khách hàng và kiểm soát dư nợ trong hạn mức cho phép. Quá trình thực hiện theo dõi: Các khoản cho vay phải được phê duyệt đáp ứng các điều kiện trước khi giải ngân; Hồ sơ cho vay và tài sản đảm bảo phải hoàn chỉnh trước khi giải ngân; Đảm bảo thiết lập hệ thống phù hợp nhằm kiểm soát dư nợ nằm trong hạn mức cho phép; Tài sản đảm bảo được quản lý an toàn và việc định giá được thực hiện đầy đủ, thích đáng; Các khế ước nhận nợ và các điều kiện tài chính khác nếu có phải được thể hiện trong hồ sơ vay và được tuân thủ; Tình trạng tài chính của khách hàng và của danh mục cho vay được theo dõi thường xuyên với việc đánh giá các báo cáo tài chính và các dữ liệu khác. Tần suất theo dõi phải được xác định cho phù hợp với từng chủng loại khách hàng, quy mô khoản vay và mức độ rủi ro liên quan đến khoản vay. Việc kiểm tra các khoản cho vay bao gồm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay, kiểm tra việc thực hiện phương án kinh doanh, kiểm tra và phải được lưu đầy đủ trong hồ sơ cho vay. Kết quả kiểm tra đối với khoản cho vay phải được thể hiện trong phiếu theo dõi sau khi cho vay/ biên bản kiểm tra và phải được lưu đầy đủ trong hồ sơ cho vay. Việc theo dõi sau khi cho vay phải tập trung vào việc phát hiện và theo dõi các dấu hiệu báo động về khả năng chất lượng của khoản vay có thể bị xấu đi. Quản lý các khoản vay có vấn đề: Khi phát hiện khoản vay có vấn đề, chuyên viên cho vay quản lý khoản vay phải ngay lập tức yêu cầu hạ thấp loại/ điểm đánh giá của khoản cho vay khi có yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới chất lượng cho vay của khách hàng và giải thích rõ ràng nguyên nhân. Khi khoản cho vay xuống loại, Chuyên viên khách hàng phải đề xuất ngắn gọn phương hướng xử lý/phương án khắc phục và biện pháp xử lý. Phương hướng xử lý, phương án khắc phục phải tính đến sự khác biệt giữa các vấn đề khác nhau, đặc thù của từng vấn đề đối với từng khách hàng cụ thể, không áp dụng một lộ trình chung cho tất cả các khách hàng. Các khoản cho vay có vấn đề sẽ phải được rà soát và báo cáo thường xuyên hơn và cập nhật thông tin tối thiểu 02 lần/năm. Ban điều hành phải được thông tin về các trường hợp này và trong trường hợp đối với khoản cho vay lớn, Ban điều hành phải trực tiếp tham gia vào quá trình đưa ra quyết định, đặc biệt đổi với các khoản nợ xấu (3-5). Tất cả các khoản nợ xấu phải được báo cáo cho bộ phận quản lý rủi ro để báo cáo lên cấp có thẩm quyền. Quản lý và phân tích danh mục cho vay: Techcombank thực hiện việc quản lý và phân tích nhằm đa dạng hóa danh mục cho vay, tránh tập trung rủi ro và nhận diện các xu hướng, khả năng bất lợi cho danh mục cho vay để có các biện pháp xử lý kịp thời, hạn chế tối đa rủi ro. Việc rà soát danh mục cho vay được thực hiện hàng tháng thông qua Ủy ban ALCO. Bộ phận quản lý rủi ro có trách nhiệm phân tích, đánh giá và quản lý danh mục cho vay, liên quan tới một số ngành công nghiệp đặc thù như hàng không, tàu biển, bất động sản, viễn thông, ngân hàng và bảo hiểm, danh mục thẻ cho vay, danh mục theo các thị trường; ra soát theo từng quốc gia và liên quốc gia. Hàng quý, bộ phận quản lý rủi ro có trách nhiệm báo cáo Ban điều hành về xu hướng phát triển của danh mục cho vay kèm theo giải thích về xu hướng phát triển/thu hẹp; Phân tích theo ngành công nghiệp; phân chia thành danh mục cho tiêu dùng và thương mại; Phân tích về nợ xấu và các khoản đự phòng để đạt tới mức dự phòng thích hợp; Phân tích các rủi ro ngoại bảng, bao gồm rủi ro đối với kinh doanh ngoại tệ và các sản phẩm nguồn vốn. Quản lý rủi ro cho vay lớn: Việc quản lý rủi ro cho vay lớn được thực hiện phù hợp với chính sách của Techcombank và các quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Việc quản lý rủi ro cho vay lớn nhằm đảm bảo tổng mức cho vay cho từng khách hàng, nhóm khách hàng, khu vực đại lý, ngành nghề kinh doanh không vượt quá tỷ lệ trên vốn của Techcombank, đáp ứng yêu cầu của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Techcombank áp dụng các biện pháp quản lý khác nhau đối với (a) các ngân hàng và tổ chức cho vay và (b) các khách hàng khác – và áp dụng cho từng nước và vùng lãnh thổ, ngành công nghiệp và khu vục địa lý. Các giới hạn sẽ do Tổng giám đốc đề xuất để Hội đồng quản trị hoặc Cấp được Hội đồng quản trị ủy Quyền phê chuẩn. Bộ phận liểm soát rủi ro cá trách nhiệm báo cáo thường xuyên về các rủi ro lớn lên Ban Điều hành. Thông tin cho vay: Cung cấp vốn và tư vấn việc sử dụng vốn vay cho khách hàng là một dịch vụ quan trọng của Techcombank. Việc chia sẻ thông tin cho vay cả các cá nhân tham gia vào hoạt động cho vay phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây (i) Bảo vệ lợi ích của Ngân hàng, tránh đặ Ngân hàng vào các tình thế bất lợi (ii) Đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, tuy nhiên phải tuân thủ mọi quy định của Ngân hàng (iii)Phải cung cấp thông tin, tư vấn cho khách hàng một cách đầy đủ kịp thời. Chia sẻ thông tin cho vay chung trong hệ thống để phục vụ cho công việc (iv) Tuân thủ các quy định Techcombank trong việc cung cấp thông tin cho bên thứ ba. Giải pháp quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam Định dạng rủi ro trong hoạt động cho vay: Một trong những hạn chế có thể nhìn thấy được trong hoạt động quản lý RRTCV của Techcombank là khả năng định dạng rủi ro chưa cao, chủ yếu là đến khi xảy ra rủi ro hoặc sắp xảy ra rủi ro mới có phát hiện và mọi biện pháp đưa ra thường tương đối bị động, mang tính tình thế. Vì vậy, một vấn đề cốt yếu là phải xây dựng một hệ thống căn cứ chuẩn để định dạng rủi ro. Để nâng cao hơn nữa năng lực định dạng rủi ro trong hoạt động cho vay, Techcombank cần phải tiến hành đồng bộ các hoạt động sau đây: Lập bảng câu hỏi nghiên cứu: Đây là một bảng câu hỏi do các chuyên gia quản trị rủi ro cho vay và các chuyên gia phê duyệt thống nhất đặt ra nhằm có những định hướng tốt trong việc nhận định rủi ro đối với một khoản vay và làm cơ sở đề ra các giải pháp phòng ngừa khắc phục khi có rủi ro xảy ra. Đẩy mạnh hoạt động cung cấp, thu thập và lưu trữ giữ liệu: Nhanh chóng hoàn thiện hệ thống báo cáo chi tiết trên phần mềm Globus, giám sát chặt chẽ việc cập nhật dữ liệu thông tin khách hàng lên hệ thống. Hiện tại, việc cung cấp thông tin của khách hàng vay vốn thường được kế toán nhập vào theo các thông tin kê khai trên mẫu mở tài khoản. Các thông tin này thường chưa đầy đủ và toàn diện đối với một khoản vay ( VD: địa chỉ liên lạc thường là địa chỉ trên Giấy chứng minh nhân dân của người vay, không phải là địa chỉ thực; số điện thoại thường là số di động, dễ thay đổi, không có thông tin về những người bảo lãnh, người thân của khách hàng vay vốn...). Hiện nay, tuy Trung tâm thu nợ đã lập một bản báo cáo chi tiết về tình hình nhắc nợ của khách hàng nhưng báo cáo này chỉ phù hợp với các cấp lãnh đạo cao nhất trong khi những người trực tiếp quản lý khách hàng chưa được thông báo để phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra đối với những khoản nợ bị nhắc nhiều lần với tuổi thọ quá lâu. Để khắc phục tình trạng này, Techcombank cần phải có một bảng hồ sơ khách hàng rõ nét hơn, tích hợp những thông tin cần thiết trên cùng một bảng hồ sơ như : Khách hàng vay, địa chỉ hiện tại, số điện thoại di động và cố định của khách hàng, số điện thoại của người bảo lãnh, người thân, các thông tin về khoản vay, thông tin về nhắc nợ vay...đảm bảo những người quản lý và những người trực tiếp theo dõi khách hàng có thể truy cập và cập nhật dữ liệu khi cần thiết. Bên cạnh đó, Techcombank cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc áp dụng các phương pháp tiên tiến để phân tích số liệu, xây dựng một khung chương trình phân tích dữ liệu để kịp thời chỉ ra rủi ro tiềm tàng đối với danh mục khoản vay hiện có để nhanh chóng có các biện pháp hữu hiệu phân tán rủi ro. Tiến hành thường xuyên và hiệu quả hơn nữa các hoạt động đánh giá cho vay Đưa ra những khuyến cáo rõ ràng và mang tính thực tiễn hơn trong các báo cáo kết luận của các bộ phận liên quan, đồng thời, theo dõi sát sao các hoạt động khắc phục và chỉ đạo của Ban Tổng giám đốc đảm bảo báo cáo kịp thời các phát sinh trong quá trình thực hiện. Khi phát hiện thấy rủi ro mang tính hệ thống, thực hiện tổng kết nghiên cứu để có thể đưa vào chính sách cho vay trong thời gian sớm nhất. Để có thể làm yêu cầu này, Techcombank phải cung cấp đủ nguồn lực về con người và kỹ thuật để Khối quản lý cho vay và quản trị rủi ro cũng như Khối pháp chế và kiểm soát tuân thủ có thể tiến hành các hoạt động này tốt hơn. Thường xuyên rà soát lại các quy trình hướng dẫn cho vay hiện có Lấy ý kiến từ phía bộ phận tiếp xúc khách hàng trực tiếp để nhận dạng rủi ro phát sinh từ đó có các điều chỉnh phù hợp, hạn chế rủi ro. Áp dụng mô hình đánh giá để lượng hóa rủi ro trong hoạt động cho vay: Techcombank hiện tại sử dụng hệ thống xếp hạng nội bộ như một thước đo đánh giá rủi ro của các khoản cho vay. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xếp hạng khách hàng chỉ để đưa ra quyết định cho vay hay từ chối cho vay mà chưa thực sự phục vụ công tác đánh giá và quản trị RRTCV. Một giải pháp được giới thiệu dưới đây là công thức lượng hóa rủi ro dựa trên IRB (hệ thống cơ sở tín dụng đánh giá nội bộ) – quy định trong Basel II. Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể ước tính được tính toán dựa trên công thức: EL = PD x EAD x LGD Trong đó: a. PD - xác suất không trả được nợ: Cơ sở của xác suất này là các số liệu về các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được. Theo yêu cầu của Basel II, để tính toán được nợ trong vòng một năm của khách hàng, ngân hàng phải căn cứ vào số liệu dư nợ của khách hàng trong vòng ít nhất là 5 năm trước đó. Những dữ liệu được phân theo 3 nhóm sau: Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũng như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên quan đến trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng trưởng của ngành,… Nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo hiệu khả năng không trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi… Từ những dữ liệu trên, ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn, từ đó tính được xác xuất không trả được nợ của khách hàng. Đó có thể là mô hình tuyến tính, mô hình probit… và thường được xây dựng bởi các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp. b. EAD: tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ. Đối với khoản vay có kỳ hạn, EAD được xác định không quá khó khăn. Tuy nhiên, đối với khoản vay theo hạn mức tín dụng, tín dụng tuần hoàn thì vấn đề lại khá phức tạp. Theo thống kê của ủy ban Basel, tại thời điểm không trả được nợ, khách hàng thường có xu hướng rút vốn vay tới mức gần xấp xỉ hạn mức được cấp. Do đó, ủy ban Basel II yêu cầu tính EAD như sau: EAD = Dư nợ bình quân + LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân Với LEQ - là tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng có nhiều khả năng sẽ được khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ. “LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân” chính là phần dư nợ khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ ngoài mức dư nợ bình quân. Việc xác định LEQ - tỷ trọng phần vốn rút thêm có ý nghĩa quyết định đối với độ chính xác của ước lượng về dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả được nợ. Cơ sở xác định LEQ là các số liệu quá khứ. Điều này dẫn đến những khó khăn lớn trong tính toán. Ví dụ, khách hàng uy tín, trả nợ đầy đủ thường hiếm khi rơi vào tình trạng này, do đó, không thể tính chính xác được LEQ của một khách hàng tốt. Ngoài ra, một số vấn đề dẫn đến sự phức tạp của LEQ có thể còn gồm: loại hình kinh doanh của khách hàng, khả năng khách hàng tiếp cận với thị trường tài chính, quy mô hạn mức tín dụng, tỷ lệ dư nợ đang sử dụng so với hạn mức,… c. LGD: tỷ trọng tổn thất ước tính - đây là tỷ trọng phần vốn bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ. LGD không chỉ bao gồm tổn thất về khoản vay mà còn bao gồm các tổn thất khác phát sinh khi khách hàng không trả được nợ, đó là lãi suất đến hạn nhưng không được thanh toán và các chi phí hành chính có thể phát sinh như: chi phí xử lý tài sản thế chấp, các chi phí cho dịch vụ pháp lý và một số chi phí liên quan. LGD = (EAD - Số tiền có thể thu hồi)/EAD. Trong đó, số tiền có thể thu hồi bao gồm các khoản tiền mà khách hàng trả và các khoản tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp, cầm cố. LGD cũng có thể được coi là 100% - tỷ lệ vốn có thể thu hồi được. Theo thống kê của ủy ban Basel, tỷ lệ thu hồi vốn thường mang giá trị rất cao (70% - 80%) hoặc rất thấp (20 - 30%). Do đó, chúng ta không nên sử dụng tỷ lệ thu hồi vốn bình quân. Theo nghiên cứu của ủy ban Basel, hai yếu tố giữ vai trò quan trọng nhất quyết định khả năng thu hồi vốn của ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ là tài sản bảo đảm của khoản vay và cơ cấu tài sản của khách hàng. Cơ cấu tài sản của khách hàng được nhắc đến ở đây với ý nghĩa thứ tự ưu tiên trả nợ khác nhau của các khoản phải trả trong trường hợp doanh nghiệp phải phá sản. Trên thực tế, khi một doanh nghiệp phá sản, tỷ lệ thu hồi vốn từ các khoản vay của ngân hàng thường cao hơn tỷ lệ thu hồi vốn từ trái phiếu bởi ngân hàng có quyền được ưu tiên trả nợ trước các nhà đầu tư trái phiếu. Bên cạnh đó, khi kinh tế trong tình trạng suy thoái, tỷ lệ thu hồi vốn cũng sụt giảm. Ngành nghề kinh doanh cũng ảnh hưởng nhất định đến tỷ lệ thu hồi vốn: các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nặng thường cho tỷ lệ thu hồi vốn cao hơn các khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ. Hiện nay, tồn tại ba phương pháp chính để tính LGD: Market LGD - tỷ trọng tổn thất căn cứ vào thị trường. Phương pháp này được sử dụng khi các khoản tín dụng có thể được mua bán trên thị trường. Ngân hàng có thể xác định tỷ trọng tổn thất của một khoản vay căn cứ vào giá của khoản vay đó một thời gian ngắn sau khi nó được xếp vào hạng không trả được nợ. Giá này được tính trên cơ sở ước tính của thị trường bằng phương pháp hiện tại hóa tất cả các dòng tiền có thể thu hồi được của khoản vay trong tương lai. Workout LGD - tỷ trọng tổn thất căn cứ vào việc xử lý các khoản tín dụng không trả được nợ. Ngân hàng sẽ ước tính các luồng tiền trong tương lai, khoảng thời gian dự kiến thu hồi được luồng tiền và chiết khấu các luồng tiền này. Việc xác định lãi suất chiết khấu phù hợp là vấn đề mấu chốt và nan giải nhất. Implied Market LGD - xác định tỷ trọng tổn thất căn cứ vào giá các trái phiếu rủi ro trên thị trường. d. Ứng dụng của phương pháp này: Làm căn cứ đánh giá kết quả công tác của chuyên viên khách hàng: gắn tăng trưởng cho vay với đảm bảo chất lượng khoản vay. Xây dựng hiệu quả hơn Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng: Hiện nay, theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các TCTD, các ngân hàng Việt Nam đa phần vẫn áp dụng việc trích lập dự phòng theo “tuổi nợ”, nhờ định lượng rủi ro cho vay mà việc trích lập dự phòng sẽ chính xác hơn đối với bản thân Techcombank. Nâng cao được chất lượng việc giám sát và tái xếp hạng khách hàng sau khi cho vay từ đó điều chỉnh ngược trở lại với các tiêu chí xếp hạng khách hàng hiện đang áp dụng tại Techcombank. Xác định chính xác được giá trị khoản vay, phục vụ hiệu quả cho việc thực hiện quy trình swap tín dụng, hay chứng khoán hóa các khoản vay của Techcombank sau này. Hiện đại hóa hệ thống thông tin trong hoạt động cho vay: a. Techcombank cần phải hiện đại hóa hệ thống thông tin trong quản lý bằng việc thực hiện các biện pháp sau: Tích cực đổi mới hoạt động của các Phòng nghiên cứu phát triển sản phẩm Doanh nghiệp và sản phẩm bán lẻ theo hướng chuyên sâu nghiên cứu và phân tích, đánh giá tổng hợp và dự báo về biến động thị trường tương lai của một mặt hàng, một ngành nghề, một lĩnh vực kinh tế trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương , định kỳ (có thể là hàng năm) đưa ra các báo cáo phân tích ngành cụ thể để trợ giúp cho các cấp lãnh đạo trong việc đưa ra các chính sách cho vay nói chung đồng thời để dự đoán những rủi ro tiềm ẩn có thể có để đưa ra các biện pháp phòng ngừa thích hợp. Để đạt được mục đích này, việc thu thập thông tin thị trường và thông tin ngành cũng như thực tế biến động của nền kinh tế phải được cập nhật ổn định và phải có được sự hỗ trợ của hệ thống công nghệ quản lý hiện đại để thu thập lưu trữ và tìm kiếm dữ liệu kịp thời (sao lưu các bài báo, tạp chí tin tức trong và ngoài nước theo chủ đề, từ khóa, theo ngày và được lưu trữ dưới dạng dữ liệu điện tử dễ tìm kiếm, truy nhập), tránh làm việc thủ công để nâng cao hiệu quả công việc. Ban hành Quy chế thông tin nội bộ, xác định rõ thẩm quyền truy cập hệ thống của từng Chi nhánh, từng vị trí công tác đồng thời quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các Chi nhánh/ Đơn vị kinh doanh trong việc cung cấp và sử dụng thông tin, có chế tài thưởng phạt rõ ràng đối với công tác cung cấp và sử dụng thông tin một cách hợp lý. Nỗ lực tìm kiếm các nguồn thông tin phân tích, dự báo ngành từ các tổ chức trung gian trong và ngoài nước và các Bộ, Ngành bằng cách lập các hợp đồng trả phí thường niên để có được nguồn thông tin cập nhật và toàn diện hơn giúp việc định hướng cho vay chính xác hơn. b. Techcombank cần phải hiện đại hóa công nghệ tin học bằng việc thực hiện các biện pháp sau: Tiếp tục thực hiện Dự án hiện đại hóa công nghệ tin học, áp dụng những công nghệ mới nhất vào phân tích và đánh giá rủi ro, thiết lập mạng lưới thông tin rộng khắp và liên tục đảm bảo việc truy nhập và cập nhật thông tin được diễn ra liên tục, nâng cao chất lượng của công tác cho vay cũng như nhu cầu quản lý và hòa nhập với các Ngân hàng trong nước và quốc tế. Trang bị máy móc tin học bao gồm máy tính cá nhân, máy chủ, hệ thống cáp mạng nội bộ, cáp quang hóa đường mạng internet theo dự kiến phát triển nhân sự cho từng Chi nhánh/ Đơn vị kinh doanh đảm bảo đầy đủ trang thiết bị cho cán bộ làm việc. Thiết lập hệ thống quản lý thông tin nội bộ hiện đại hơn, đảm bảo mọi thông tin về chính sách, định hướng, chỉ thị và bài học cho vay đều được lưu trữ trên hệ thống và mọi người đều có thể truy cập, tìm hiểu dễ dàng thông qua hệ thống công cụ tìm kiếm có sẵn. Cải thiện khả năng lưu trữ và chuyển giao dữ liệu trên hệ thống thư điện tử và mạng giao tiếp nội bộ (chat) của Ngân hàng. Thiết lập hệ thống lưu trữ hồ sơ cho vay điện tử: Mọi giấy tờ hồ sơ cho vay phải được lưu dưới dạng bản cứng và bản mềm để tránh tình trạng thất lạc hồ sơ và phải được lưu trữ một cách thống nhất theo các quy ước dễ truy suất tìm hiểu. Các thông tin điện tử dạng này đòi hỏi phải có quyền truy cập mới có thể xem xét được. Trung tâm Công nghệ thông tin cần phải hỗ trợ kịp thời các yêu cầu truy suất báo cáo và có các hướng dẫn hạch toán cụ thể khi có sự thay đổi về điều kiện, thời hạn, lãi suất cho vay để các thông tin này được phản ánh chính xác trên hệ thống, hạn chế tối đa lỗi truy cập quá tải do hệ thống gây ra. Mặt khác, cần định kỳ có bộ phận backup kịp thời không để mất dữ liệu thu thập được. Để đạt được điều đó, Techcombank cần phải đầu tư hệ thống máy chủ ổn định, đào tạo các chuyên viên phần mềm và phần cứng của Trung tâm công nghệ cũng như cung cấp đủ người, phương tiện để Trung tâm công nghệ có thể tiến hành cài đặt từ xa cũng như giải quyết trực tiếp các vấn đề phát sinh tại các Chi nhánh/ Đơn vị kinh doanh khi có yêu cầu. Nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động thu hồi và xử lý nợ: a. Chi tiết hoá việc phân loại nợ căn cứ theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN theo các tiêu chí : Tài sản đảm bảo và Tình trạng pháp lý của khoản nợ theo đó tiến hành xử lý nợ theo các cách sau: Đối với loại nợ có tài sản đảm bảo không liên quan đến các vụ án nên thực hiện việc rao bán ngay tài sản để thu hồi vốn nhanh nhất. Trường hợp tài sản chưa có đủ hồ sơ pháp lý Techcombank có thể linh hoạt các biện pháp thúc đẩy nhanh thủ tục pháp lý cho tài sản. Đối với loại nợ có tài sản đảm bảo có liên quan đến các vụ án: Cần phối hợp với các cơ quan liên quan, cơ quan có thẩm quyền để đôn đốc, xử lý hoặc chuyển giao tài sản về Techcombank sau đó tiến hành các bước xử lý tiếp theo. Đối với loại nợ không có tài sản đảm bảo và không liên quan đến các vụ án: Techcombank phải làm việc với khách hàng để xác định khả năng mất vốn: Nếu khách hàng có khả năng và thiện chí trả nợ trong tương lai thì áp dụng biện pháp tái cơ cấu lại nợ ( giãn nợ, khoanh nợ, chuyển nợ thành vốn góp...) Nếu khách hàng có thiện chí nhưng không có khả năng trả nợ thì tiến hành biện pháp bán nợ cho các tổ chức chuyên mua bán nợ hoặc có thể đề nghị Tòa án làm thủ tục phá sản. Nếu khách hàng không có thiện chí trả nợ thì sử dụng biện pháp Kiện ra Tòa án. Đối với các loại nợ không có tài sản đảm bảo liên quan đến các vụ án thì khả năng thu hồi nợ rất thấp, Techcombank nên sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để xử lý. b. Nâng cao hiệu quả của hoạt động thu nợ trực tiếp: Techcombank phải đưa ra chính sách xử lý nợ linh hoạt khuyến khích tất cả các đối tượng tham gia tiến trình xử lý nợ gồm cán bộ Ngân hàng và cá nhân, tổ chức khác có tham gia. Đồng thời, đưa ra cơ chế thưởng phạt rõ ràng, những người đóng góp trong việc xử lý nợ xấu sẽ được thưởng, những người gây ra sai phạm do lỗi chủ quan dẫn đến nợ xấu sẽ phải thu hồi được nợ, trong trường hợp không thu hồi được nợ phải tự bỏ tiền ra bù đắp hoặc phải chịu trách nhiệm pháp lý liên quan đến khoản vay. c. Tăng cường hoạt động của Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thuộc Techcombank: Mới được thành lập từ tháng 07/2007, Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thuộc Techcombank (TechcomAMC) tiền thân là Ban xử lý nợ của Ngân hàng cần phải hoàn thiện quy trình nghiệp vụ và thiết lập bộ máy hoạt động một cách chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu xử lý nợ ngày càng phức tạp của Ngân hàng. TechcomAMC cần ưu tiên đào tạo đội ngũ cán bộ các kiến thức cơ bản về xử lý nợ xấu, có thể cử cán bộ ra nước ngoài đào tạo chuyên sâu về xử lý nợ xấu, đồng thời có chính sách khuyến khích động viên các nhân viên xử lý nợ một cách hợp lý, nâng cao động lực công tác của đội ngũ nhân viên. TechcomAMC cần đa dạng hóa lĩnh vực hoạt động của mình như môi giới mua bán bất động sản, tư vấn cơ cấu lại các doanh nghiệp có triển vọng... nhằm chủ động trong các phương án xử lý nợ. Techcombank cần có cơ chế mua bán nợ với TechcomAMC, tính toán giá trị các khoản nợ hợp lý để khi xử lý được các khoản nợ một cách nhanh chóng TechcomAMC và Techcombank đều cùng có lợi. d. Nâng cao hiệu quả của việc trích lập dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng rủi ro: Techcombank cần có sự theo dõi đầy đủ hơn nữa về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro cũng như hoàn trích lập dự phòng trên toàn hệ thống. Đối với các đơn vị không trích lập đủ dự phòng rủi ro do nguyên nhân chủ quan (do lỗ) Techcombank tiến hành trích lập thay và ghi nợ và tạo chế tài cho các đơn vị trả nợ. Đối với các đơn vị cố tình không trích lập đủ dự phòng, có chế tài xử phạt và cảnh cáo nghiêm khắc trên toàn hệ thống. Đối với các đơn vị tiến hành thu hồi nợ hiệu quả, có biện pháp hoàn dự phòng rủi ro kịp thời và tiến hành khen thưởng thích hợp Không ngừng cải tiến, hoàn thiện hệ thống chính sách quy trình cho vay: Hệ thống chính sách, quy trình cho vay của Techcombank cần phải được điều chỉnh sao cho ngắn gọn và dễ áp dụng. Đối với một số quy trình cho vay đã cũ, đôi khi đã lạc hậu so với những biến động thực tế của nghiệp vụ và đã được cập nhật liên tục nhiều lần bằng các Quy định về sửa đổi bổ sung quy trình (Quy trình thực hiện sản phẩm thấu chi; Quy trình cho vay mua nhà; Quy trình cho vay mua ô tô…) cần thực hiện Ban hành quy trình mới duy nhất và hủy bỏ các Quy trình đi kèm với các Sửa đổi quy trình cũ để việc thực hiện được thống nhất, tránh những lỗi không tuân thủ do chưa cập nhật văn bản dẫn đến những rủi ro trong hoạt động cho vay. Bên cạnh đó, do mục tiêu không ngừng phát triển những sản phẩm mới, hệ thống Hướng dẫn thực hiện các tác nghiệp đối với một sản phẩm cho vay chi tiết, cụ thể hơn, đảm bảo tính thống nhất thực hiện trên toàn hệ thống, làm cơ sở đánh giá sửa đổi các sản phẩm và quy trình sản phẩm trong quá trình thực hiện ( Quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, Quy trình cho vay nhập khẩu sử dụng vốn ưu đãi…) Định kỳ, bộ phận chính sách và quy trình cho vay cần lấy ý kiến tham khảo từ các bộ phận hoạt động trực tiếp để có những điều chỉnh thích hợp trong chính sách và quy trình cho vay sao cho sát với thực tế và phù hợp với yêu cầu phục vụ khách hàng. Bên cạnh đó, Techcombank cần đào tạo cán bộ trong việc tìm hiểu và nắm chắc các nội dụng trong chính sách cho vay và quy trình cho vay của Ngân hàng, đảm bảo việc hiểu đúng và áp dụng đúng trong các trường hợp phát sinh bằng cách tăng cường kiểm tra kiến thức của chuyên viên khách hàng, lãnh đạo các bộ phận cho vay theo định kỳ và có chế độ thưởng phạt rõ ràng đối với kết quả kiểm tra của từng cá nhân. Chú trọng và đầu tư hơn nữa vào chính sách cán bộ: Công tác cán bộ bao giờ cũng là khâu quan trọng nhất góp phần tạo nên sự thành công của một tổ chức. Đối với lĩnh vực ngân hàng thì yếu tố con người càng có ý nghĩa quan trọng quyết định đến hiệu quả hoat động trên hai phạm trù, đó là trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức của người cán bộ ngân hàng. Vì vậy, để hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động quản lý RRTCV nói riêng có hiệu quả thì cần phải quan tâm đến việc đào tạo, đào tạo lại và giáo dục đôi ngũ cán bộ ngân hàng trên hai khía cạnh đó. Hoạt động cho vay và quản lý rủi ro trong cho vay yêu cầu kiến thức trên nhiều lĩnh vực khác nhau như phân tích tài chính, phân tích thị trường đồng thời đòi hỏi cán bộ phải có khả năng phản ứng linh hoạt trước các diễn biến của thị trường, trong khi đó đội ngũ cán bộ ngân hàng được đào tạo bài bản nghiệp vụ cho vay chưa nhiều, kinh nghiệm thực tế xử lý những rủi ro phát sinh do các sản phẩm cho vay mới còn thiếu. Do đó, việc đào tại các cán bộ cho vay và quản lý rủi ro cho vay là hết sức cần thiết. Có một thực tế hiện nay, các cán bộ ngân hàng giỏi, cán bộ chủ chốt hoặc được đào tạo bài bản đều có xu hướng sang làm việc tại các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, liên doanh tại Việt Nam, hoặc các NHTM cổ phần nhỏ mới thành lập. Lý do để các cán bộ này không tiếp tục làm việc tại Techcombank là xuất phát từ chính sách thu nhập và đãi ngộ đối với nhân viên còn hạn chế, chưa tạo động lực thu hút và khuyến khích người lao động. Đặc biệt là đội ngũ chuyên gia giỏi, Techcombank cần tạo lộ trình thăng tiến, có cơ chế ưu đãi riêng để cho họ gắn bó máu thịt với nơi công tác. Mặt khác để tránh hiện tượng “chảy máu chất xám” Techcombank cần có cơ chế khuyến khích đối với cán bộ như quản lý nhân viên theo đầu công việc, tăng lương cho người lao động, tạo cơ hội cạnh tranh, thăng tiến bình đẳng đối với cán bộ... Điều quan tâm trước tiên đối với Ban lãnh đạo Techcombank là xây dựng xong chương trình văn hoá Techcombank và tổ chức giáo dục đến từng cán bộ để hiểu đầy đủ về chương trình văn hoá đó. Ngoài ra, Techcombank nên tạo điều kiện cho các cán bộ có năng lực, có khả năng nghiên cứu được đi học tập trung dài hạn ở trong và ngoài nước, nhất là nghiên cứu thực tế tại các Ngân hàng hiện đại để tiếp thu các kiến thức, cá kinh nghiệm thực tế ứng dụng vào hoạt động của Techcombank, đồng thời gắn kết người lao động đối với Techcombank. Đối với các cán bộ lãnh đạo, Techcombank nên thường xuyên tổ chức các buổi học tập về kỹ năng quản lý, làm việc theo nhóm để nâng cao khả năng quản lý cho cán bộ lãnh đạo của Techcombank. Định kỳ hàng quý, hàng nằm Techcombank nên tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, tổng kết tập huấn nghiệp vụ để các cán bộ làm công tác cho vay và quản lý rủi ro trong cho vay có thể trao đổi, thảo luận những vướng mắc xuất phát từ thực tiễn công việc để từ đó rút kinh nghiệm nâng cao hiệu quả quản lý điều hành. Tiếp cận phương thức quản lý danh mục khoản vay hiện đại: Techcombank cần tiếp cận với việc quản trị danh mục khoản vay hiện đại theo hướng: cần phải xây dựng và thực hiện các tiêu chí cho vay đúng đắn cho các khoản vay, các cam kết ngoại bảng; thường xuyên phân tích đánh giá theo dõi kết quả thực hiện khoản vay theo RAROC (tỷ suất lợi nhuận trên vốn sau điều chỉnh rủi ro) và hệ thống chỉ số khác; xây dựng hệ thống tính điểm nội bộ theo rủi ro áp dụng cho tất cả các rủi ro trong cho vay có thể xác định được, kiểm tra mức độ chịu đựng rủi ro liên quan đến thanh khoản của các khoản cho vay; thiết lập các hệ thống theo dõi danh mục linh hoạt khi có dấu hiệu cảnh báo sớm về tình trạng giảm chất lượng tài sản từ đó có thể tăng dự phòng hợp lý để bảo đảm cho danh mục đầu tư đồng thời có những lựa chọn để xử lý khi rủi ro cho vay phát sinh như bán tài sản, ngừng cho vay hoặc tăng các biện pháp tự bảo hiểm rủi ro cho danh mục khoản vay.Techcombank cũng nghiên cứu áp dụng các công cụ hiện đại để quản lý danh mục tín dụng như mua bán nợ , chứng khoán hóa tài sản, áp dụng các hợp đồng phái sinh. Mua bán nợ và cho vay hợp vốn: Là biện pháp cơ cấu lại danh mục khoản vay trực tiếp nhất, bằng cách mua lại các khoản nợ của một nhóm nợ mà Techcombank đang có lợi thế trong quản lý và khai thác (có chỉ số RAROC cao) và bán lại những khoản nợ mà danh mục đã có những cảnh báo sớm về tình trạng giảm chất lượng tài sản Techcombank có thể lành mạnh hóa danh mục khoản vay của mình. Khi áp dụng biện pháp này cần đặc biệt chú trọng đến quyền miến truy đòi (nếu là Techcombank là Ngân hàng bán nợ) và quyền truy đòi (nếu Techcombank là Ngân hàng mua nợ) cũng như độ chính xác, minh bạch của thông tin do các bên liên quan cung cấp và diễn biến của kinh tế vĩ mô. Chứng khoán hóa tài sản : Là quá trình tập hợp và tái cấu trúc các tài sản thiếu tính thanh khoản nhưng lại có thu nhập bằng tiền cao trong tương lai như các khoản phải thu, các khoản nợ rồi chuyển đổi chúng thành trái phiếu và đưa ra giao dịch trên thị trường tài chính. Thông thường, kĩ thuật chứng khoán hóa được thực hiện trên 2 nhóm tài sản chủ yếu đó là: (1) các khoản vay được thế chấp bằng bất động sản và (2) các tài sản tài chính không được thế chấp bằng bất động sản. Như vậy, tương ứng với hai loại tài sản trên thì sau khi được chứng khoán hóa sẽ hình thành hai loại chứng khoán là: (1) Các chứng khoán dựa trên thế chấp bất động sản (Mortgage backed securites) và (2) các chứng khoán tài sản tài chính (Asset backed secuirities). Chứng khoán hóa tăng khả năng thanh khoản của các khoản nợ, sinh lời và là cơ sở định giá tốt hơn cho các khoản vay có tài sản thế chấp, cụ thể: Việc bán các chứng khoán này sẽ giúp TCTD giải phóng được một lượng tiền để tái cấu trúc danh mục khoản vay (tạo ra các khoản vay mới phù hợp với mục tiêu sinh lời và quản lý rủi ro của mình). Việc bán các chứng khoán có tính thanh khoản thấp này giúp TCTD giảm thiểu rủi ro vì trong trường hợp rủi ro xảy ra người cuối cùng phải chịu thiệt hại là những người mua chứng khoán này chứ không phải là các TCTD tạo ra khoản vay. Trong khi đó, bản thân việc chứng khoán hóa tài sản đã phân tán rủi ro cho rất nhiều nhà đầu tư nên bản thân rủi ro của khoản vay đã được phân tán. Các tổ chức phát hành chứng khoán loại này cũng thu được phí và các nhà đầu tư vẫn có thể kiếm lời từ việc mua đi bán lại chứng khoán này trên thị trường. Tuy nhiên, yêu cầu phải có một thị trường thứ cấp phát triển, tăng trưởng vĩ mô của nền kinh tế ổn định và một thị trường cho vay mua nhà, mua ô tô, thẻ tín dụng và các hình thức trả góp tiêu dùng khác rất phát triểnBài học từ khủng hoàng tài chính Mỹ 2007-2008 . Các hợp đồng phái sinh tín dụng và biện pháp tự đảm bảo rủi ro: Đây là hình thức sử dụng các hợp đồng hóan đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn...để tạo ra một vị thế vốn ổn định , có uy tín trên thị trường liên hàng nội địa cũng như toàn cầu và có thể tạo ra chi phí vay vốn tốt hơn. Tuy nhiên, công cụ này buộc Techcombank phải tuyển dụng và đào taọ đội ngũ nhân sự có kiến thức tốt và giàu kinh nghiệm để có thể đưa ra các quyết định đúng đắn. Áp dụng hình thức bảo hiểm cho vay để đảm bảo an toàn vốn cho các khoản vay có rủi ro cao: Techcombank hiện đã phối hợp với Bảo Việt nhân thọ tiến hành các tặng bảo hiểm nhân thọ cho các khoản vay dùng thẻ tín dụng, vay tín chấp mua hàng hóa. Tuy nhiên, rủi ro nhân thọ từ phía người vay không phải là nguyên nhân chiếm tỷ trọng lớn gây ra RRTCV. Vì vậy, trong tương lai, cần sớm nghiên cứu thực hiện các dự án bảo hiểm khoản vay với các đối tác nước ngoài ( VD: bảo hiểm vỡ nợ bất động sản, bảo hiểm vỡ nợ mua ô tô, bảo hiểm vỡ nợ tiêu dùng) để có thể tăng khả năng xử lý các khoản nợ xấu khi cần thiết. Một số kiến nghị với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước: Kiến nghị với Chính phủ: Hoạt động cho vay của các NHTM liên quan và phụ thuộc chặt chẽ vào tình hình phát triển kinh tế của đất nước và chiến lược, chính sách kinh tế của Nhà nước. Vì thế, một trong những giải pháp quan trọng, giúp các NHTM đạt mục tiêu hoạt động cho vay an toàn, hiệu quả và đạt chuẩn mực quốc tế là các giải pháp của Chính phủ. a. Một số biện pháp nhằm nâng cao, cải thiện môi trường kinh tế, pháp luật cho các thành phần kinh tế hoạt động và phát triển, nâng cao sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập: Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa(CPH) DNNN thông qua một số biện pháp sau: Cần có chuyển biến mạnh mẽ từ hình thức CPH nội bộ là hình thức bán cổ phần ra bên ngoài doanh nghiệp, kể cả việc bán cho các nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, diện doanh nghiệp CPH cũng cần phải được mở rộng, không cho các doanh nghiệp nhỏ mà cả các Tổng công ty lớn. Việc xác định giá trị doanh nghiệp cũng là một trong những khâu bức xúc nhất trong tiến trình CPH. Ban định giá bao gồm các chuyên gia từ nhiều bộ phận ngành hiện nay cần được thay bằng các đơn vị trung gian có kiến thức, kinh nghiệm trong công tác định giá để bảo đảm chính xác và khách quan, sát với thị trường. Riêng các doanh nghiệp có giá trị tài sản dưới 20 tỷ VND được tự kê khai, tự định giá để cơ quan chức năng công bố giá trị doanh nghiệp tiến hành CPH. Tăng cường hiệu quả công tác quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp: Nhà nước cần có cơ chế quản lý hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thành lập nhằm kiểm soát doanh nghiệp hoạt động theo đúng quy định của Pháp luật. Nhà nước cần có biện pháp kinh tế buộc các doanh nghiệp phải chấp hành đúng Pháp lệnh kế toán thống kê, thực hiện tốt công tác duyệt quyết toán và kiểm tra theo chế độ qui định để đảm bảo tính pháp lý và nguồn số liệu cung cấp. b. Một số kiến nghị nhằm cải thiện môi trường hoạt động cho vay cuả các NHTM: Về chính sách đảm bảo tiền vay : Việc đăng ký giao dịch bảo đảm quyền sử dụng đất và tài sản trên đất: cần có văn bản hướng dẫn cụ thể quy định cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận về quyền sở hữu tài sản trên đất và đăng ký giao dịch bảo đảm tài sản trên đất khi thế chấp quyền sử dụng đất. Cần có quy định riêng về việc thế chấp cầm cố loại tài sản khi Nhà nước giao vốn DNNN trước đây mà không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu. Vấn đề phát mại tài sản thế chấp: Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan theo hành luật pháp phải đẩy nhanh tiến độ xét xử các vụ án liên quan đến tài sản thế chấp, tránh dây dưa, kéo dài, nâng cap hiệu lực của Cơ quan thị hành án nhằm thực hiện nghiêm túc, đúng quy định về cưỡng chế, buộc người vi phạm phải thi hành án. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước:. Về quản lý chặt chẽ hơn hoạt động của các NHTM đảm bảo tính an toàn của hệ thống: Ngày 12/03/2008 tiêu chuẩn đánh giá xếp hạng của NHNN được ban hành theo quyết định 06/2008/QĐ-NHNN yêu cầu các NHTM tự đánh giá theo tiêu chí vốn tự có, chất lượng tài sản , năng lực quản trị, kết quả hoạt động kinh doanh và khả năng thanh khoản. Tuy nhiên, cần có cơ chế giám sát để đảm bảo các NHTM tự chấm điểm một cách khách quan và tuân thủ các quy định của NHNN về chất lượng tài sản và phát triển cân đối dư nợ cho vay...Về lâu dài cần có một tổ chức độc lập tiến hành định hạng tín nhiệm của các NHTM để đảm bảo tính khách quan, và trên cơ sở định hạng tín nhiệm này, NHNN có thể đề ra những chính sách thích hợp cho từng nhóm NHTM. NHNN cần nâng cao hiệu lực thanh tra và quản lý của NHNN trong việc khắc phục những khuyết điểm, xử lý kiên quyết những sai phạm đã được phát hiện và chủ động có những giải pháp đồng bộ với các ngành có liên quan. NHNN cần ban hành, sửa đổi các quy định liên quan tới hoạt động cho vay của NHTM theo chuẩn mực quốc tế (Basel 1 và Basel 2) song bảo đảm phù hợp với điều kiện của Việt Nam như: giao dần quyền chủ động cho các NHTM trong việc trích lập sử dụng dự phòng rủi ro, chỉ tiêu phân loại khách hàng, xếp hạng khách hàng, tỷ lệ bảo đảm an toàn tài sản có… Về tạo lập tính minh bạch chính xác của thông tin trên thị trường cho vay: NHNN cần đổi mới toàn diện hoạt động cung cấp thông tin cho vay, cũng như cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ chế hoạt động của Trung tâm phòng ngừa rủi ro NHNN (CIC) nhằm đáp ứng được yêu cầu thông tin cho vay của cá NHTM được “kịp thời, chính xác, đầy đủ, chất lượng cao”. NHNN cần sớm xây dựng mạng thông tin 24/24 theo dõi các hoạt động trên thị trường tiền tệ, nhất là các hoạt động trên thị trường liên Ngân hàng. Về xử lý nợ quá hạn và phòng ngừa rủi ro: Đối với các khoản cho vay theo chỉ định của Chính Phủ: Đề nghị Ngân hàng nhà nước phối hợp với các Bộ ngành liên quan để thu hồi vốn giải quyết dứt điểm vấn đề nợ đọng. NHNN cần có hướng dẫn cụ thể trong trường hợp chuyển nợ vay Ngân hàng thành vốn góp trong doanh nghiệp cổ phần hoá. Phát triển các công cụ thị trường tiền tệ, mở rộng áp dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro theo thông lệ quốc tế. Trước mắt, có cơ chế thích hợp để quản lý và tạo điều kiện để các NHTM phát triển nghiệp vụ phái sinh lãi suất theo hướng NHNN không quy định cụ thể kỹ thuật giao dịch mà chỉ quy định những điều kiện và giới hạn cho NHTM thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất. Về nâng cao vai trò hoạt động của Hiệp hội Ngân hàng: NHNN cần có cơ chế để hoạt động của Hiệp hội Ngân hàng trở thành đúng như chức năng của nó đặc biệt là các vấn đề cần sự đồng thuận trong ứng xử và hành động của các Ngân hàng, ví dụ: Các vấn đề về tăng giảm lãi suất; các vấn đề về ứng xử đối với các khách hàng đã vay vốn trong các đơn vị thành viên của hiệp hội; Vấn đề cầu nối tháo gỡ những vướng mắc khó khăn cho các hội viên trong quan hệ với NHNN và Chính phủ KẾT LUẬN Quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay là một nội dung quan trọng góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững và thành công của một NHTM và một hệ thống NHTM của một quốc gia, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới toàn cầu của Việt Nam hiện nay. Đây cũng là một trong những vẫn đề then chốt quyết định sự tổn tại của hệ thống NHTM khi xảy ra khủng hoảng tài chính tiền tệ ( vấn đề mang tính chất chu kỳ của nền kinh tế thị trường). Việc hoàn thiện quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay một cách có hiệu quả để tận dụng tối ưu các nguồn lực hiện có nhằm mục đích vừa giảm thiểu rủi ro vừa gia tăng lợi nhuận cho các tài sản có đang là đòi hỏi vô cùng bức thiết đối với các NHTM nói chung và Techcombank nói riêng trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Trên cơ sở các vấn đề hiện tại của Techcombank, tác giả đã đưa ra các giải pháp có tính thực tiễn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay, đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh doanh, an toàn hoạt động và đảm bảo yêu cầu hội nhập. Quản trị rủi ro trong cho vay là vấn đề lớn, chịu tác động của rất nhiều yếu tố liên quan nên những giải pháp và kiến nghị trong luận văn chỉ phát huy tác dụng khi có sự kết hợp đồng bộ giữa các bộ phận trong ngân hàng các các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan trong quá trình thực hiện. Bên cạnh đó, do phạm vi của đề tài lớn, phức tạp với những biến động vĩ mô rất nhanh chóng trong thời điểm nghiên cứu, do quỹ thời gian hạn hẹp nên luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Tác giả xin chân thành cáo lỗi và mong muốn nhận được sự góp ý để luận văn có thể hoàn thiện hơn. Tác giả xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn, PGS.TS. Đinh Thị Diên Hồng- Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đã giúp đỡ hoàn thành luận văn này.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docQuản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam.doc
Luận văn liên quan