Đề tài Tâm lý du khách Mỹ - Nga - hàn

Nằm trên bán đảo Triều Tiên, trải dài 1.100km từ Bắc tới Nam, Bán đảo Hàn Quốc nằm ở phần Đông Bắc của lục địa châu Á, và lượng nước trên bán đảo này có pha trộn của lượng nước ở phía Tây của Thái Bình Dương. Biên giới phía Bắc của bán đảo tiếp giáp với Trung Quốc và Nga. Phía Đông của bán đảo là biển Đông, cùng với nước láng giềng là Nhật Bản. Ngoài bán đảo này chính, Hàn Quốc còn có hơn 3000 đảo nhỏ. Với diện tích 222.154 km2, cùng diện tích với Anh hoặc Romania. 45% diện tích lãnh thổ này, khoảng 99.000 km2, là diện tích nông nghiệp, trong đó có cả diện tích đất khai hoang. Diệntích khu vực núi chiếm hai phần ba diện tích toàn lãnh thổ. Xét về mặt sông suối, Hàn Quốc có số lượng sông suối tương đối lớn, đóng vài trò quan trọng lối sống của người dân và trong quá trình công nghiệp đất nước. Hai con sông dài nhất là Amnokgang (Yalu, 790km) và Tuman-gang (Tumen, 512km). Hai con sông này đều bắt nguồn từ ngọn núi Paektusan rồi đổ xuống miền Tây và miền Đông tạo nên biên giới phía Bắc của bán đảo. Bao quanh ba mặt của bán đảo, đại dương đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của người dân Hàn Quốc từ thời cổ đại, đóng góp vào những phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu và kỹ thuật hàng hải.

pdf69 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/06/2014 | Lượt xem: 4708 | Lượt tải: 9download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tâm lý du khách Mỹ - Nga - hàn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g thân thiết và càng lâu dài thì giá trị, mối liên hệ giữa món quà với cá nhân người tặng quà và mức độ tỷ mỷ khi chọn quà càng phải cao. Hoa luôn là món quà thích hợp, nhưng nhớ phải chọn số bông lẻ. Số bông chẵn chỉ được dùng để viếng tang. Hoa màu vàng và trắng còn có nghĩa liên tưởng tới đau thương và mất mát. - Tục chúc sức khỏe Khi một Nga thấy người khác bị hắt hơi, họ có thói quen nói với anh ta “Budte zdorovy!” (chúc sức khỏe). Với người Nga hắt hơi được coi là điềm lành. Người ta cho rằng, nếu như hắt hơi, tức là anh ta sẽ khỏe, còn mong muốn của anh ta thành sự thật. Nếu như một người nói điều gì đó, và anh ta hắt hơi, có nghĩa là điều anh ta nói là thật. Nếu như ai đó hắt hơi sau bữa tối, có nghĩa là: con người hạnh phúc hắt hơi cho sự xuất hiện của một người mới trong nhà, còn với người không hạnh phúc, ngược lại, là ai đó chết hoặc đi xa. Nói “Bud zdorov!” cũng cho cả những con vật – chó và mèo. - Tiếp đãi khách: Người Nga thường hay tiếp đãi các vị khách quan trọng bằng bánh mỳ-muối. Tục lệ đón khách bằng bánh mỳ và muối đã quen thuộc với người dân Nga từ rất lâu rồi. Sự kết hợp của bánh mỳ và muối đóng vai trò quan trọng đặc biệt về biểu tượng: Bánh mỳ thể hiện mong muốn giàu có và sung túc, còn muối là sự bảo vệ con người khỏi những ảnh hưởng và sức mạnh của kẻ thù. Tiếp đãi khách bằng bánh mỳ và muối tức là mối quan hệ giữa khách và chủ nhà là thân thiện và đầy tin cậy. Nếu từ chối thì nó như một sự sỉ nhục. - Giao tiếp trong công việc: Trong doanh nghiệp Nga, người đứng đầu ít khi ủy quyền cho cấp dưới. Vì thế, muốn đàm phán có kết quả thật sự, bạn nên tìm cách đàm phán trực tiếp với người đứng đầu này. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 49 Nếu đối tác của bạn là nữ đôi khi chỉ cần gật đầu chào là đủ, trong khi bắt tay đối tác nam giới chặt và lâu. Nhưng tập tục này đang có chiều hướng thay đổi vì ngày càng có nhiều phụ nữ Nga đảm nhận cương vị quản lý quan trọng. Xưng hô với người Nga bằng tên gọi của họ đi kèm với tên của người cha. Ví dụ, tên gọi của đối tác là Sergej, tên gọi của người cha là Oskar, thì gọi đối tác là Sergej Oskarovitsh. Các chức danh cấp cao thì mới sử dụng trong xưng hô, chẳng hạn như Tổng Giám đốc hay Bộ trưởng. Một điều đáng lưu ý, muốn làm ăn với người Nga, các đối tác nên phải biết tiếng Nga hoặc ít nhất phải có phiên dịch giỏi. Bởi, nhiều người Nga ứng xử giống như người Mỹ: nói ngôn ngữ của chúng tôi hoặc chẳng nói ngôn ngữ nào hết. - Những điều kiêng kỵ: Người Việt chúng ta thường kiêng chụp ảnh 3 người, kiêng ăn thịt chó đầu tháng, kiêng nói những từ không hay vào ngày đầu tiên của năm. Những người đi biển thì kiêng lật cá khi ăn, sĩ tử trước khi đi thi thì kiêng ăn trứng hoặc chuối, thậm chí kiêng cả tắm...v.v. Người Nga cũng vậy, họ cũng có những điều kiêng kỵ riêng do đó cần phải lưu ý để tránh làm mất lòng họ.  Khi nói chuyện với người Nga nên tránh bàn về các đề tài Stalin, khơ – rut – sốp…, với phụ nữ thì không nên hỏi tuồi.  Người Nga rất không thích “khách không mời mà đến”, vì vậy trước khi đến thăm nhà, bạn cần phải thông báo trước nếu không họ sẽ không tiếp hoặc nếu có thì cũng rất miễn cưỡng.  Họ cũng rất kiêng kỵ việc bắt tay hay đưa tiền qua cánh cửa, cũng không thích ngồi ở góc bàn.  Khi một người Nga dẫm phải chân người khác sẽ tự động đưa chân ra cho đối phương dẫm nhẹ lên. Người kia buộc phải đồng ý nếu không kẻ phạm lỗi sẽ gặp xui. Còn một điều tương tự nữa là nếu bạn bước ngang qua một người (đang nằm phơi nắng trên biển) thì bạn sẽ phải bước lại chứ không được chỉ đi "1 chiều".  Phụ nữ Nga kiêng không dùng chung lược, của ai người nấy dùng, không mượn qua lại như phụ nữ VN.  Không tặng nhau khăn mù xoa.  Tặng ai cái ví nhất thiết bên trong phải có một đồng tiền (1 kop. cũng được), chứ tặng ví không lại là rủa người kia luôn nhẵn túi. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 50  Tặng hoa phải là số bông lẻ, đi viếng đám ma mang số bông chẵn.  Không được tặng người ốm chậu hoa cây hoa (có rễ mọc, lâu khỏi bệnh)  Kiêng ngửa tay khi rót rượu.  Rượu bia đã rót hết thì chai phải để ngay xuống sàn, không để trên bàn.  Không như ở Việt Nam, đàn ông Nga khi uống rượu bằng chai có thể chuyền tay nhau được nhưng bằng ly thì tuyệt đối không. - Một số thói quen giao tiếp khác  Dấu hiệu “O.K” là một cử chỉ mơ hồ ở Nga. Nếu như đối với các nước phương Tây nó thể hiện “Tốt” hay “Được” thì đối với nhiều vùng của Nga đó được xem là một cử chỉ tục tĩu, khiếm nhã.  Khi ăn họ cầm dao bằng tay phải và nĩa bằng tay trái. Họ không có thiện cảm với hành động để tay lên đùi trong khi ăn. Cổ tay luôn được đặt trên bàn trong bữa ăn của họ.  Bước vào tiệm ăn và để gọi hầu bàn, 2 cách phổ biến người Nga dùng là một cái gật đầu nhẹ hoặc giơ một bàn tay lên cao.  Một điều kiêng kỵ ở rạp chiếu là bạn quay lưng vào mặt những người đang ngồi để đến chỗ của mình, hãy luôn xoay mình và đi đối diện với họ. IV. NHỮNG THÓI QUEN, SỞ THÍCH CỦA NGƯỜI NGA KHI ĐI DU LịCH Như chúng ta đã biết, Nga là quốc gia có nền văn hóa lâu đời, người Nga có tính thật thà, đôn hậu, ham hiểu biết, ưa thích cuộc sống phóng khoáng, gần gũi với thiên nhiên. Họ giản dị trong sinh hoạt, đơn giản trong ăn uống và không cầu kì trong giao tiếp. Với du khách Nga, phương Đông ngày càng cuốn hút bởi sự độc đáo riêng, nền văn hóa và triết học lâu đời, những phong tục tập quán hay những truyền thuyết dân gian, và cả những cảnh quan thiên nhiên đặc sắc. Bên cạnh đó là tình hình an ninh chính trị của nhiều quốc gia phương Đông ổn định, đặc biệt là đối với khu vực Đông và Nam Á, kinh tế – xã hội đang ngày càng phát triển theo xu hướng hội nhập. Do vậy phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, bên cạnh đáp ứng nhu cầu tham quan nghỉ dưỡng của phần đông du khách Nga, còn có thể đáp ứng nhu cầu tìm kiếm thị trường và đối tác kinh doanh của một nhóm du khách khác của Nga. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 51 Với du lịch Việt Nam, du khách Nga là một thị trường tiềm năng. Vì khoảng tháng 11 đến tháng 3, du khách Nga bắt đầu những chuyến đi du lịch tránh đông, trong khi ở Việt Nam lại là mùa hè. Điều này, khiến Việt Nam trở thành lựa chọn hàng đầu, trong đó những bãi biển, resort ở khu vực miền Trung rất hấp dẫn du khách Nga. Hơn thế du khách Nga luôn là một trong những thị trường có tốc độ tăng trưởng mạnh, độ dài lưu trú và mức chi tiêu cao với tỷ lệ tăng bình quân từ 50 đến 80%/năm. Du khách Nga thích đi du lịch theo gia đình hoặc các nhóm bạn bè về các vùng quê hay thăm các danh lam thắng cảnh vào những ngày nghỉ. Khi du lịch nước ngoài du khách Nga thường đi theo đoàn (nhiều trường hợp là đi theo các phiếu nghỉ của Công đoàn nơi họ làm việc). Họ thích vui vẻ, hài hước và đàn hát. Nhu cầu về lưu trú của du khách Nga khá cao, nên hầu hết nơi ở họ chọn thường là khách sạn lớn. Một điều không thể thiếu của du khách Nga khi đến một xứ sở khác là mua sắm. Hàng hóa được họ chú ý nhiều nhất thường là hàng hóa cao cấp và hàng lưu niệm. Hầu hết các du khách Nga đều rất thích mua những thứ đặc trưng của nơi mình đến. Điều cần chú ý của hướng dẫn viên khi đón đoàn khách Nga là:  Bắt tay và giới thiệu tên khi gặp mặt.  Đầu mục chủ yếu của các buổi nói chuyện (gợi chuyện): hòa bình.  Người Nga giỏi tiếng Anh rất ít.  Quà nên tặng: Đồ jean, bút tốt, album nhạc, sách Người Nga thường có thói quen đi du lịch vào mùa hè, họ có nhu cầu đi du lịch biển và du lịch nghỉ ngơi an dưỡng cao. Phương tiện di chuyển chủ yếu mà du khách Nga ưa thích dùng trong du lịch là máy bay, xe lửa và ô tô, một số đông du khách Nga ( có khả năng chi trả cao) còn thích dùng thuyền. Ngoài ra họ còn thích khám phá, tìm hiểu bản sắc văn hóa, lịch sử, con người ở các vùng miền nơi họ đến. Khi đi du lịch, họ thích tham gia vào các loại hình thể thao như: bóng bàn, bóng đá, cầu lông, đua ngựa hoặc leo núi. Tính tập thể cũng như ý thức của du khách nga khá cao. Họ tập trung rất đúng giờ của chương trình hay theo lời hướng dẫn (trước khi ăn hoặc giờ tham quan). Khi ăn xong ở nhà hàng họ rời bàn thường cùng một lúc nên dễ tạo những tiếng động gây chú ý xung quanh. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 52 Dù du khách Nga không cầu kì trong ăn uống như du khách một số quốc gia khác, tuy nhiên họ cũng có những thói quen riêng, đặc trưng riêng trong bữa ăn của mình. Chính vì thế cần chú ý đến một số điểm nổi bậc trong khẩu vị của họ như:  Người Nga thường thích ăn những món lạnh, trong bữa ăn của họ luôn có bánh mì, sữa và bơ. Bữa sáng họ thường dùng cháo sữa, bánh mì bơ và trà đen.  Khai vị du khách Nga ưa chuộng món súp có lẫn thịt được chế biến từ bắp cải tím, củ cải đỏ, lá thơm (đặc biệt là súp củ cải đỏ, đây được xem như một món ăn truyền thống của Nga. Để chuẩn bị loại súp này cần chú ý chọn loại củ cải đỏ cả vỏ lẫn ruột thì khi chế biến mới có thể có được màu đặc trưng). Súp là món không thể thiếu trong bữa ăn trưa.  Họ thích ăn các món quay, các món nấu phải nhừ, hay các món thịt xay nhỏ, bỏ lò, rán hay om có nước sốt. Món chính trong bữa ăn của du khách Nga nhất thiết phải có cá hay thịt (thịt bò và thịt cừu được ưa chuộng hơn) nướng hay hầm, ăn kèm với rau hay trái cây. Ngoài ra còn có món thịt ướp muối hun khói. Du khách Nga thường không thích ăn các món tái và kiêng ăn chim bồ câu.  Các loại rau củ được họ ưa chuộng đầu tiên phải nói đến khoai tây. Ở Nga có đến khoảng 1000 món ăn chế biến từ khoai tây, từ đơn giản đến cầu kì. Ngoài ra cũng phải kể đến bắp cải, cà chua, dưa chuột, củ cải đỏ, xà lách (ăn kèm với các món thịt viên hay thịt ninh nhừ) và bắp cải muối chua.  Hai món ăn đặc biệt với người Nga (có thể hiểu như cơm trong bữa ăn với người Việt Nam) là bánh mì đen và salad Nga. Bánh mì đen được làm từ bột mì đen và ủ chua, tục ngữ người Nga so sánh bánh mì đen giống như cha của mỗi người. Riêng đối với salad Nga được chế biến từ giò, dưa chuột, cà chua, khoai tây luộc và thịt nạc luộc được thái vuông nhỏ sau đó trộn với mayonaise của Nga.  Trước bữa ăn, du khách Nga thích nhấp chút Voska, Whisky, Cognac hay một số loại khác. Trong thói quen phổ biến của du khách Nga thì rượi Voska đỏ được ưa thích nhiều hơn cả. Bên cạnh việc uống một ít rượi trước khi dùng bữa thì du khách Nga thường uống coffe (pha rất loãng), chocolate, ca cao hay hỗn hợp của chúng. Và hoa quả tươi hay nước uống đóng hộp. Họ sẽ tỏ ra thích thú nếu được mời cốc (to) nước chè đen nóng, có đường và một vài lát chanh. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 53  Món tráng miệng thường được du khách Nga dùng là coffe và bánh. Các loại bánh được làm từ bột mì, có nhân là mứt hoa quả hay pho-mát. Trong trường hợp vui vẻ hay liên hoan nên chuẩn bị cho bàn ăn của họ một chiếc bánh gatô và một chai Voska. Trong những năm gần đây, lượng du khách Nga đến Việt Nam có chiều hướng tăng mạnh. Các hãng hàng không của Việt Nam lẫn Nga đã và đang tăng các chuyến bay để kịp đáp ứng nhu cầu của du khách. Nơi thu hút du khách Nga nhiều nhất Việt Nam hiện nay có thể kể đến các vùng biển du lịch miền Trung như Bình Thuận, Phan Thiết, Nha Trang, Qui Nhơn. Du khách Nga thường chọn tour 2 tuần khi du lịch ở Việt Nam nhằm kết hợp vừa du ngoạn, tìm hiểu và nghỉ dưỡng. Khí hậu hay danh lam thắng cảnh của Việt Nam làm du khách rất hài lòng, từ những bãi biển dài, cát trắng, nước trong như Bình Thuận, Nha Trang đến những con đường phố cổ trầm mặc ở Hội An, Hà Nội. Các hệ thống Nhà hàng – Khách sạn cùng sự phục vụ của nhân viên, sự thân thiện của mọi người là những điểm cộng mà du khách Nga ưu ái dành cho Việt Nam. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 54 HÀN QUỐC I. TỔNG QUAN VỀ HÀN QUỐC. 1. Tổng quan về đất nước Hàn Quốc: a. Sơ lược về lịch sử hình thành Từ năm 1910 đến 1945 Triều Tiên bị Nhật Bản thống trị nặng nề mãi đến năm 1945, Triều Tiên bị chia cắt thành hai miền. Liên bang Xô viết chiếm đóng miền bắc cho đến vĩ tuyến 38 và Hoa Kỳ chiếm đóng từ vĩ tuyến 38 về nam. Hai miền Triều Tiên phát triển với hai chế độ chính trị khác hẳn nhau. Sau những bất đồng về đường lối chính trị thì đến thập niên 1970 quan hệ hai bên dần được cải thiện. Hai bên Triều Tiên công nhận chính phủ của nhau. Năm 1991 cả hai nước được cả hai phe công nhận để chính thức gia nhập Liên hiệp quốc cùng một lúc. Hàn Quốc (nam Triều Tiên) đã đầu tư kinh tế và là nước chủ yếu viện trợ lương thực, giúp người dân Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên vượt qua nạn đói thập niên 1990. Hiện nay dân tộc Triều Tiên là dân tộc còn lại duy nhất trên thế giới có đất nước bị chia cắt do ý thức hệ sau Chiến tranh Lạnh và là dân tộc đang cố gắng giải quyết trạng thái đối lập ý thức hệ bằng con đường hoà bình, hoà giải dân tộc. 2. HÀN QUỐC NGÀY NAY Đại Hàn, là một quốc gia thuộc Đông Á, nằm ở nửa phía nam của bán đảo Triều Tiên. Phía Bắc giáp với Bắc Triều Tiên. Phía Đông Hàn Quốc giáp với biển Nhật Bản, phía Tây là Hoàng Hải. Thủ đô của Hàn Quốc là Seoul, một trung tâm đô thị lớn thứ hai trên thế giới và là thành phố toàn cầu quan trọng. Hàn Quốc có khí hậu ôn đới và địa hình chủ yếu là đồi núi. Lãnh thổ Hàn Quốc trải rộng 100,032 km vuông. Với dân số 48 triệu người, Hàn Quốc là quốc gia có mật độ dân số cao thứ ba trên thế giới (sau Bangladesh và Đài Loan) Hàn Quốc từng được ví như một “con rồng” đang phát triển mạnh mẽ và có quan hệ hợp tác kinh tế - văn hoá sâu rộng với các nước trong đó có Việt Nam. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 55 Nằm trên bán đảo Triều Tiên, trải dài 1.100km từ Bắc tới Nam, Bán đảo Hàn Quốc nằm ở phần Đông Bắc của lục địa châu Á, và lượng nước trên bán đảo này có pha trộn của lượng nước ở phía Tây của Thái Bình Dương. Biên giới phía Bắc của bán đảo tiếp giáp với Trung Quốc và Nga. Phía Đông của bán đảo là biển Đông, cùng với nước láng giềng là Nhật Bản. Ngoài bán đảo này chính, Hàn Quốc còn có hơn 3000 đảo nhỏ. Với diện tích 222.154 km2, cùng diện tích với Anh hoặc Romania. 45% diện tích lãnh thổ này, khoảng 99.000 km2, là diện tích nông nghiệp, trong đó có cả diện tích đất khai hoang. Diệntích khu vực núi chiếm hai phần ba diện tích toàn lãnh thổ. Xét về mặt sông suối, Hàn Quốc có số lượng sông suối tương đối lớn, đóng vài trò quan trọng lối sống của người dân và trong quá trình công nghiệp đất nước. Hai con sông dài nhất là Amnokgang (Yalu, 790km) và Tuman-gang (Tumen, 512km). Hai con sông này đều bắt nguồn từ ngọn núi Paektusan rồi đổ xuống miền Tây và miền Đông tạo nên biên giới phía Bắc của bán đảo. Bao quanh ba mặt của bán đảo, đại dương đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của người dân Hàn Quốc từ thời cổ đại, đóng góp vào những phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu và kỹ thuật hàng hải. Khí hậu Hàn Quốc có bốn mùa rõ rệt. Mùa xuân và mùa thu khá ngắn, mùa hè nóng và ẩm ướt, mùa đông thì lạnh và khô và tuyết rơi nhiều. Với không khí khô lạnh và bầu trời trong xanh như pha lê, mùa thu là mùa mà tất cả người Hàn Quốc đều yêu thích. Phong cảnh nông thôn đẹp khác thường và và đa dạng sắc màu. Mùa thu là mùa gặt hái, đồng thời là mùa của những lễ hội dân gian bắt nguồn từ phong tục tập quán của nhà nông từ thời xa xưa. 3. Con người Tất cả người Hàn Quốc đều nói chung 1 ngôn ngữ, đây được coi là nhân tố quyết định trong việc tạo nên bản sắc dân tộc mạnh mẽ của họ . Với những đặc tính riêng về thể chất, người Hàn được coi là con cháu của một vài bộ lạc Mông Cổ từ vùng Trung Á di cư đến bán đảo Triều Tiên. Vào thế kỷ thứ 7, rất nhiều quốc gia của Bán đảo lần đầu tiên đã được thống nhất dưới thời vương quốc Silla (57 tr.CN - 935 s.CN). Sự đồng nhất như vậy đã làm cho người Hàn hầu như không bị vướng vào những vấn đề dân tộc và duy trì được tình đoàn kết vững chắc. Cũng giống như Việt Nam, người Hàn Quốc vẫn đề cao cuộc sống gia đình, hiếu nghĩa với tổ tiên, cha mẹ, Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 56 phục tùng người lãnh đạo. Trong bữa ăn, thứ tự chỗ ngồi là không được lẫn. Người đàn ông cao tuổi nhất sẽ ngồi ở vị trí trung tâm và là người mời khách hoặc bắt đầu bữa ăn. Mỗi người có bát cơm và bát canh riêng, còn những món khác được đặt chung ra giữa bàn để cùng ăn. Phần lớn các món ăn được tẩm rất nhiều gia vị. Đặc biệt, người Hàn Quốc rất thích ăn cay, nên ớt là thứ gia vị không thể thiếu trong các món ăn. Một khuynh hướng đáng chú ý trong nhân khẩu học của Hàn Quốc là dân số đang già đi theo từng năm. Con số thống kê cho thấy 7,0% tổng số dân số ở độ tuổi 65 hoặc già hơn vào năm 1999, trong khi đó số dân số này đã chiếm 7,1% trong tổng số dân số năm 2000. Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng trong những năm 60 và 70 đã kéo theo sự di chuyển của những người dân từ nông thôn tới thành phố, dẫn đến mật độ dân số dày đặc tại những khu vực này. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, số dân di chuyển sang vùng ngoại ô của Seoul đang dần dần tăng lên. (từ tài liệu Đai sứ quán Hàn Quốc tại VN) II. ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ VĂN HÓA HÀN QUỐC. Với cách nhìn tổng thể về văn hóa Hàn Quốc, chúng tôi khát quát thành ba nhóm chính: 1. Văn hóa tư tưởng a. Tôn giáo và hệ tư tưởng Văn hoá Hàn Quốc quy tụ nhiều yếu tố tôn giáo khác nhau, đây là một trong những cơ sở quan trọng hình thành nên cách suy nghĩ và ứng xử của người Hàn Quốc. Theo dòng lịch sử, những tôn giáo như đạo Shaman, đạo Phật, đạo Lão, đạo Khổng, đạo Thiên Chúa đã xâm nhập vào sâu trong đất nước Hàn Quốc với những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cảm quan của họ. Trong đó, đạo Khổng và đạo Phật là hai tôn giáo tác động lâu dài đến đời sống tâm linh của ngừơi Hàn Quốc, mà đạo Phật là tôn giáo chiếm nhiều tín đồ nhất trong cộng đồng tôn giáo (40% - theo điều tra năm 2005). Càng về sau, tôn giáo phương Tây du nhập vào Hàn Quốc ngày càng nhiều, trong đó đạo Tin Lành và đạo Thiên Chúa đứng thứ 2 và thứ 3 về số lượng tín đồ trong cộng đồng tôn giáo ở Hàn Quốc. Tuy nhiên các tôn giáo truyền thống như đạo Saman vẫn thấm sâu vào tâm hồn người Hàn Quốc thông qua hình thức dân gian như chuyện kể dân gian hay phong tục tập quán. Sự phát triển quá nhanh của đất nước trong vài thập kỷ đã làm tâm hồn người Hàn Quốc có nhiều bấp bênh, họ tìm kiếm sự bình an Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 57 trong tôn giáo. Cùng với luật pháp Hàn Quốc đảm bảo sự tự do tôn giáo nên số tín đồ tôn giáo ngày càng đông, các cơ sở tôn giáo dần thành những tổ chức xã hội có ảnh hưởng lớn. b. Quan điểm, lối sống Sự phát triển kinh tế mau chóng làm cuộc sống người Hàn Quốc hiện đại có nhiều thay đổi lớn. Nhưng nhiều người cho rằng, dù cho có rất nhiều nhà cao tầng nhưng Hàn Quốc vẫn là một trong những quốc gia mạng đạm dấu ấn Nho giáo nhất trên thế giới. Lối sống truyền thống của quá khứ và các phong tục được gìn giữ lâu đời, ảnh hưởng sâu sắc đến người Hàn Quốc. Ở Hàn Quốc, gia đình là nền tảng xã hội. Một gia đình tiêu biểu bao gồm nhiều thế hệ chung sống dưới một mái nhà. Đàn ông là người chủ gia đình, nắm giữ quyền lực, đưa ra mệnh lệnh, việc các thành viên còn lại tuân lệnh như là điều hiển nhiên, là đạo đức xã hội đáng được coi trọng. Hiếu đạo là đức tính cao quý trong xã hội, không chỉ với gia đình mà còn là trách nhiệm với cộng đồng xã hội. Ngày nay vai trò của phụ nữ ở Hàn Quốc càng được bênh vực và coi trọng. c. Nền giáo dục, ngôn ngữ và chữ viết Giáo dục là quốc sách hàng đầu tại Hàn Quốc, xem đó là phương tiện đề hòan thiện con người và động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Hệ thống giáo dục Hàn Quốc mô phỏng theo mô hình giáo dục Mỹ, là nền giáo dục có uy tín và chất lượng tại châu Á. Tin học và Anh ngữ là hai hành trang mà nhà trừơng Hàn Quốc trang bị kỹ lưỡng cho học sinh sinh viên của mình. Khoa học nhân văn được giáo dục Hàn Quốc coi trọng, khuyến khích học sinh trở thành những công dân quốc tế, không chỉ vững chắc văn hóa đất nước mà còn hiểu biết văn hóa các quốc gia trên thế giới. Hầu hất các dân tộc Hàn đều nói chung một ngôn ngữ nhằm hướng đến một bản sắc dân tộc thống nhất. Người Hàn Quốc có ngôn ngữ và hệ thống chữ cái duy nhất gọi là Hangeul. Hệ thống chữ cái này là mẫu chữ duy nhất của hệ thống chữ viết mà không bị ảnh hưởng bởi các mẫu chữ khác. Với 14 phụ âm và 10 nguyên âm, mang tính hệ thống và dễ tiếp thu, được đánh giá là một trong những hệ thống chữ viết khoa học nhất thế giới. Hàn Quốc cũng là một trong những quốc gia có tỷ lệ biết chữ cao nhất thế giới. d. Phong tục, nghi lễ Từ xa xưa, xã hội Hàn Quốc đã hình thành nên phong tục trong dòng họ. Người Hàn Quốc có mối quan hệ gắn bó giữa họ hàng và các thành viên trong họ tộc. Lòng tôn kính tổ tiên rất quan trọng đối với hệ thống gia tộc, nghi lễ tưởng nhớ được tổ chức hết sức nghiêm trang. Bên cạnh đó họ rất xem trọng lịch sử gia đình, ghi chép và giữ gìn gia phả rất cẩn thận. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 58 Là đất nước mang đậm văn hóa phương Đông, giữa Hàn Quốc và văn hóa Việt Nam có nhiều nét tương đồng. Trong năm tại Hàn Quốc cũng có nhiều ngày lễ gần gũi với Việt Nam và các nước châu Á khác như tết nguyên đán, rằm tháng giêng, mùng năm tháng năm, rằm tháng tám, lễ phật đản,… Bên cạnh đó là những nghi lễ đặc trưng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Hàn Quốc: Nghi lễ trưởng thành: Ở Hàn Quốc, những giai đoạn mà mỗi người phải trải qua trong cuộc đười và đánh dấu những thay đổi cơ bản thờng được gọi chung là "Gwanhongsangje", bao gồm lễ trưởng thành, lễ thành hôn, tang lễ,… Lễ trưởng thành, các chàng trai trưởng thành cuộn mái tóc dài thành búi trên đỉnh đầu và được tặng một chiếc mũ truyền thống của dân tộc Hàn Quốc làm từ đuôi ngựa còn các cô gái trưởng thành tết tóc thành hai bím và cài vào tóc đồ trang sức được gọi là binyeo. Lễ thành hôn được tổ chức tại gia đình cô dâu rất nghiêm trang và vợ chồng mới cưới thường nghỉ hai hay ba ngày tại gia đình cô dâu trước khi trở về nhà chú rể. Tang lễ được cử hành theo nghi thức truyền thống Hàn Quốc rất cầu kỳ, thời gian để tang kéo dài trong hai năm, sau hàng loạt các nghi lễ cầu khấn. Lễ Jongmyo: Vào ngày chủ nhật đầu tiên của tháng năm trong năm, hậu duệ của dòng tộc Jeonju Yi - hoàng tộc thười Joseon (1392-1910), làm lễ thờ cúng tổ tiên tại đền Jongmyo ở trung tâm Seoul. Mặc dù nghi lễ này được cử hành theo một nghi thức ngắn gọn rất nhiều so với trước, nhưng có tới 19 loại nhạc cụ cổ điển, bao gồm chùm chuông đá, chuông đồng, các loại trống, hòa nên âm thanh đặc biệt cho buổi lễ truyền thống. 3. Văn hóa nghệ thuật a. Hội họa Từ khi bắt đầu thời kỳ Ba vương quốc (57 trước CN) đã có những bức tranh tường trong những ngôi mộ cổ hết sức sống động và hết sức nhịp nhàng, là niềm tự hào cho hội họa Hàn Quốc. Hội họa cổ điển Hàn Quốc thỏa sức vì nghệ thuật. Sau này, các nghệ sĩ với nhận thức nghệ thuật phải chuyển tải được bức thông điệp về các vấn đề xã hội. Từ đó, hội họa dần chuyển sang các vấn đề trong xã hội tân thời và hậu tân thời. Trong xã hội Hàn Quốc ngày nay, hai xu hướng dân tộc và phương Tây đều được giảng dạy và được các nghệ sỹ theo đuổi, làm cho Hàn Quốc trở thành cộng đồng mỹ thuật linh hoạt nhất trên thế giới. Cùng song song tồn tại với hội họa chính thống là dòng tranh dân gian, có sức sống nghệ thuật mạnh mẽ trong lòng dân chúng. Tranh dân gian gồm những tác phẩm mà thường dân Hàn Quốc thời xa thường dùng để trang trí nhà ở, để thể hiện những mong ước của họ về đời sống hạnh phúc bền lâu. Tranh thường thể hiện những ý tưởng hài hước, đơn giản, ý nghĩ chất phác về cuộc sống bình dân và về thế giới. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 59 b. Kiến trúc Kiến trúc giống như một không gian thu nhỏ cho thấy văn hóa của mỗi nước. Người Hàn Quốc tự hào về không gian văn hóa của họ thể hiện qua kiến trúc với cố cung Gyeongbok, đền Ponghunsa, nhà cổ Hàn Quốc,… Kiến trúc cổ Hàn Quốc thường thấp, kết cấu vững chắc, chất liệu sử dụng đa phần bằng gỗ, hạn chế dùng đinh vít nối kết các mấu gỗ lại với nhau. Từ xa xưa trong thiết kế xây dựng ở Hàn Quốc đã kết hợp hài hòa với không gian tự nhiên, mềm mại và gần gũi với thiên nhiên. Riêng các công trình đền thờ, cung điện mang dấu ấn phong cách Trung Hoa. Kiến trúc hiện đại Hàn Quốc tương đối “sinh sau đẻ muộn”, tiếp thu nhiều thành tựu từ các quốc gia tiên tiến để phát triển vững mạnh. Ngày nay, kiến trúc Hàn Quốc mang tính tiện nghi và hiện đại, tổng thể hài hòa, sử dụng vật liệu trọng tải nhẹ. Phong cách thiết kế sử dụng những gam màu đa dạng nhưng màu chủ đạo vẫn là các gam màu sáng trang nhã như trắng, vàng nhạt…, chất liệu phong phú, mang tính thẩm mỹ cao. Bên cạnh đó vẫn không quên có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phong cách cổ điển và hiện đại. c. Âm nhạc Âm nhạc Hàn Quốc đã và đang “làm mưa làm gió” trên thị trừơng âm nhạc châu Á và lấn sân sang các châu lục khác. Hàn Quốc có nhiều danh tài trong lĩnh vực âm nhạc từ nhạc sĩ đến ca sĩ cùng các vũ đòa hỗ trợ. Thể loại Kpop của Hàn Quốc sôi động kết hợp cùng bước nhảy điêu luyện thực sự lôi cuốn cộng đồng âm nhạc thế giới. Âm nhạc Hàn Quốc mang tính hiện đại, được đầu tư công phu, kỹ lưỡng và là sản phẩm âm nhạc chất lượng cao. Nhiều album, ca sỹ, các nhóm nhạc Hàn Quốc được đánh giá cao. Các nhóm nhạc hay ca sĩ độc lập được đào tạo bài bản, khoa học cùng các công nghệ giải trí hiện đại tạo sự phát triển vững chắc cho thị trường âm nhạc Hàn Quốc. d. Điện ảnh Người Hàn Quốc được mệnh danh là “cha đẻ của nghệ thuật video”. Từ lâu, Hàn Quốc đã nổi tiếng về nghệ thuật làm phim cũng như về kỹ năng diễn xuất của các diễn viên. Đây là một trong số ít những nước ít bị ảnh hưởng bởi các sảm phẩm Hollywood, tỉ lệ các khán giả đến rạp xem phim trong nước cao hơn hẳn các tác phẩm điện ảnh nước ngòai. Ngành giải trí ở Hàn Quốc phát triển mạnh mẽ, có thể xem là một trong những “kinh đô điện ảnh”. Quá trình làm phim nghiêm túc, đầu tư cao về kỹ thuật đến nhân lực. Tại nhiều quốc gia trong khu vực phim Hàn Quốc tạo nhiều tác động đến quan niệm, lối sống của một bộ phận không nhỏ dân số. e. Võ thuật Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 60 Võ thuật Hàn Quốc đã xuất hiện từ thời kỳ cổ đại, trong đó nổi bật nhất đến ngày nay là Teakwondo. Teakwondo là một môn thể thao có mối liên hệ với tư tưởng và tinh thần, các động tác đặt việc luyện tập về mặt tinh thần lên trên cả sự khéo léo, đó là một nghệ thuật phòng thủ chứ không có tấn công. Đây là môn thể thao đã được cả thế giới biết đến và được công nhận là môn thể thao quốc tế, phát triển với hai hệ phái chính Chang Hon (tương đối nặng về tính chiến đấu và Kukkiwon (thiên hướng thể thao nhiều hơn). 4. Văn hóa đời sống a. Trang phục Hanbok là biểu tượng trang phục truyền thống của người Hàn Quốc.Trải qua thời gian dài tồn tại, Hanbok rất đa dạng về màu sắc, chất liệu vải cũng như cách may phù hợp với từng mùa và vị trí của người mặc. Vẻ đẹp của Hanbok thể hiện ở cái đẹp của sự đơn giản của các motif trang trí trên áo và ở váy cũng như sự hài hòa về đường nét và màu sắc. Áo hanbok của phụ nữ gồm có một váy dài "china" và một áo vét theo kiểu bôlêrô "Jeogori". Áo của đàn ông gồm có một áo khoác ngắn "Jeogori" và quần "baji". Cả hai bộ hanbok này đều có thể mặc với một áo choàng dài theo kiểu tương tự gọi là "durumagi". Ngày nay, người Hàn Quốc chủ yếu mặc Hanbok vào các dịp lễ tết hoặc các lễ kỉ niệm như ngày cưới hoặc tang lễ. b. Ẩm thực Đặc điểm nổi bật của ẩm thực Hàn quốc là mỗi vùng, miền và mỗi mùa xuân, hạ, thu, đông đều có những món ăn riêng, độc đáo. Việc chế biến, trình bày cũng lắm công phu, tinh tế và mang tính thẩm mỹ cao. Dường như người Hàn ăn bằng mắt. Rất nhiều món, nhiều kiểu chén đĩa, nhiều sắc màu được bày trên bàn ăn, nhưng mỗi thứ chỉ một ít. Ngoài ra, kim chi và tương đậu là hai món không thể thiếu trong bữa cơm truyền thống của người dân xứ Hàn. Bữa ăn tại nhà là thời điểm tụ tập cả gia đình. Theo truyền thống, người lớn tuổi nhất trong nhà cầm đũa bắt đầu bữa ăn thì những người khác mới lần lượt làm theo. Khi ăn phải ngồi ngay ngắn, nhai từ tốn, kín đáo và không nhấc bát lên khỏi bàn. Trên bàn ăn, cơm và canh được đặt lên trước, canh đặt bên phải bát cơm, thức ăn khác và món chấm được đặt ở giữa. Món ăn nóng và thịt ở bên phải, món ăn lạnh được làm từ rau được đặt bên trái. Đũa, thìa đặt bên phải bàn. Các món ăn đặc trưng: Kim Chi là một trong những món ăn điển hình của ẩm thực Hàn Quốc; ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII chỉ là một loại rau cải muối và cho tới ngày nay đã có hàng trăm loại khác nhau, nó là niềm tự hào của người dân xứ Hàn. Hay kimbap còn gọi là cơm cuốn Hàn Quốc, Kimbap là một trong những đặc sản nổi tiếng nhất của người Hàn Quốc, thường được làm trong các dịp Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 61 đi picnic hoặc trong các lễ hội ngoài trời của người Hàn Quốc. Nhân sâm cũng là một sản phẩm có thương hiệu của Hàn Quốc, nổi tiếng trên tòan thế giới về chất lượng cũng như công dụng của nó. c. Thủ công truyền thống Nghệ thuật gấp giấy thủ công: từ lâu sử dụng những loại giấy chất lượng tốt để gấp nên những chiếc hộp, chiếc bát có nắp đậy, những chiếc bát lớn, giỏ, túi lưới, bình và gạt tàn. Hầu hết các sản phẩm làm từ giấy đều được sơn bóng trên bề mặt làm tăng tính thẩm mỹ và độ bền đồng thười làm cho chúng có khả năng chống thấm. Loại sơn phủ thường được dùng là hỗn hợp nước quả hồng xanh và hồ gạo và dầu tía tô. Dangcheong: Hình trang trí trên các tòa nhà thể hiện vẻ đẹp và giá trị nghệ thuật đích thực, gồm năm màu: đỏ, xanh, vàng, đen và trắng. Dangcheong còn được dùng để bảo vệ bề mặt tòa nhà và che đi những vết thô ráp trong chất liệu được sử dụng, đồng thời nhấn mạnh đặc điểm và thể hiện phẩm cấp của tòa nhà hay đối tượng nào đó. Noa có ở hầu hết mọi tòa nhà truyền thống, cả đền chùa ở Seoul hay các tỉnh khác. Hoa văn: Các hoa văn họa tiết thường bắt nguồn từ những chữ viết cổ. Ban đầu chúng là công cụ để thể hiện những nhu cầu tình cảm về môi trường xung quanh con người, sau đó được phát triển thành một hình mẫu trang trí nghệ thuật. Các hoa văn truyền thống ở Hàn Quốc có hình con rồng và con phượng hoàng, và các hình gồm có hai hình đối lập tượng trưng cho âm và dương, bóng tối và ánh sáng, nam và nữ. Nhận xét: Hàn Quốc có một nền văn hóa đa dạng, bên cạnh việc giữ gìn văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc thì văn hóa Hàn Quốc không ngừng tiếp nhận tinh hoa văn hóa của các nước tiến bộ trên thế giới. Đặc điểm dễ nhận thấy trong văn hóa Hàn Quốc là có sự đổi khác giữa truyền thống và hiện đại. Nét truyền thống trong văn hóa Hàn Quốc mang tính tĩnh lặng, còn màu sắc văn hóa Hàn Quốc ngày nay hiện đại và năng động. Theo dòng chảy thời gian với nhiều biến cố, nhiều bước ngoặt văn hóa Hàn Quốc không ngừng phát triển và thay đổi. Ảnh hưởng thời đại len lõi ăn sâu vào tất cả các mặt trong đời sống, không loại trừ văn hóa. Do đó, đòi hỏi người tiếp nhận phải đặt vấn đề văn hóa vào bước vận động của xã hội, để có cách nhìn tòan diện hơn, nhìn thấy được những chuyển biến tích cực cũng như sự “thụt lùi” trong tiến trình phát triển của văn hóa Hàn Quốc. II. ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI HÀN Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 62 Để tìm hiểu về văn hóa trong giao tiếp của bất kỳ một quốc gia, dân tộc nào có rất nhiều vấn đề cần xem xét. Khi tiếp cận văn hóa giao tiếp của đất nước Hàn Quốc, chúng tôi tập trung vào những vấn đề trọng yếu sau đây: cách thức thái độ trong giao tiếp và quy tắc ứng xử xã hội. 1. Cách thức và thái độ trong giao tiếp Người Hàn Quốc rất coi trọng chức đanh, tước hiệu và địa vị xã hội, thường để ý đến cách thức làm quen và xưng hô. Trong xưng hô họ thường không sử dụng tên gọi và muốn được nhắc đến chức tước hay phẩm hàm mà họ có. Trong các công sở Hàn Quốc, người ta gọi nhau bằng các chức vụ nghề nghiệp. Cấp trên gọi cấp dưới bằng họ của người đó kèm với chức danh công việc, còn cấp dưới gọi cấp trên vẫn giống vậy nhưng cộng thêm hậu tố “lim” để thể hiện sự tôn trọng. (Điểm chú ý là vai trò của nhân viên nữ thường bị xem nhẹ hơn nhân viên nam). Khi một người Hàn Quốc muốn giới thiệu ai đó với người thứ ba họ thường dắt người đó đến gặp một người lớn tuổi hơn hay chức vị cao hơn. Khi gặp nhau, họ có thể thay cái bắt tay bằng cách cuối đầu chào. Trong lúc bắt tay họ thường lấy tay trái đỡ dưới cánh tay phải và không bắt quá chặt. Nếu một nhân viên gặp cấp trên của mình, người nhân viên sẽ cuối đầu chào trước, người cấp trên sẽ đưa tay ra bắt tay nhân viên của mình. Người Hàn Quốc đặt nặng danh dự, lòng tự trọng của mình. Họ cảm thấy hãnh diện khi lòng tự trọng được đánh giá cao, sẽ dễ dàng hơn để tạo được sự hòa hợp với họ (không có nghĩa là họ thích tâng bốc). Ngoài ra, họ đề cao tính tôn ti trật tự, phân biệt vai vế trên dưới một cách rõ ràng giữa cấp trên cấp dưới, ông bà cha mẹ với con cháu. Những người lớn tuổi, có nhiều quyền lực và địa vị xã hội sẽ được mọi người kính trọng và đối thoại bằng ngôn ngữ trang trọng. Khi muốn bắt chuyện với một người phải đoán biết địa vị xã hội, tuổi tác của họ để giao tiếp cho đúng nguyên tắc, luật lệ Trong giao tiếp, người Hàn Quốc không tỏ thái độ vồn vã hay quá thân thiết, nhất là với những người họ chưa thật sự tin tưởng. Nhưng khi đã tạo lập được mối quan hệ gắn bó thì họ đối với nhau rất thân tình, nồng hậu. Lúc đối thoại người Hàn Quốc rất thích đối phương cũng sử dụng ngôn ngữ của họ, đánh giá cao những người bày tỏ thiện chí, lời cảm ơn hay câu chào bằng chính tiếng Hàn Quốc (tuyệt nhiên đối phương không nên sử dụng tiếng Nhật Bản). Mặc khác, chữ tín cũng là một nguyên tắc được người Hàn Quốc đề cao. Họ coi trọng các cuộc hẹn và thường đến rất đúng giờ, điều này đã ăn sâu vào nếp sống của họ. Với người Hàn Quốc, không nên vô ý động chạm vào người khác. Họ quan niệm bàn chân là một bộ phận không sạch sẽ nên rất tránh chạm bàn chân vào người khác. Bên cạnh đó, họ xem việc đung đưa ngón tay cái hướng về phía mình là một hành động thô lỗ hay việc nhìn thẳng vào mắt nhau là một việc làm suồng sã bất lịch sự. 2. Quy tắc trong ứng xử xã hội Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 63 Muốn thiết lập quan hệ làm ăn với đối tác người Hàn Quốc không nên tiếp xúc trực tiếp mà cần sử dụng dịch vụ trung gian làm môi giới, người trung gian có quyền chức hoặc điạ vị xã hội càng cao thì càng có cơ hội tiếp xúc được với lãnh đạo cấp cao của đối tác người Hàn Quốc. Mối quan hệ cá nhân đóng vai trò quyết định, câu hỏi mà họ muốn được trả lời là “Tôi có thể tin tưởng vào bạn hay không?” chứ không phải ‘Sản phẩm của bạn như thế nào?”. Bên cạnh đó cần lưu ý đến đối thủ cạnh tranh của họ.Với người Hàn Quốc, tình cảm và lý trí trong kinh doanh thường chi phối lẫn nhau. Ngoài ra, khi đàm phán, họ thường nói đến những vấn đề lớn lao to tát còn chuyện cụ thể họ để cho người cấp dưới đảm nhận. Khi lần đầu gặp mặt người ta hay trao cho nhau danh thiếp. Khi trao hoặc nhận danh thiếp phải dùng cả hai tay. Nên nhớ không dùng danh thiếp kinh doanh bằng tiếng Nhật. Người Hàn Quốc thích được nhận quà tặng là vật phẩm truyền thống từ quốc gia của người tặng. Thực phẩm cũng là quà tặng được đánh giá cao. Một điều lưu ý là khi được người Hàn Quốc tặng quà, lúc đầu tốt nhất nên từ chối, chỉ khi người tặng cứ nhất định tặng thì mới nên nhận. Quà tặng cho nhân viên cấp dưới không bao giờ được có giá trị lớn hơn quà tặng cho người cấp trên. Nếu họ là người đi làm ở các công ty thì món quà đầu tiên có thể tặng là các vật dụng trên bàn làm việc. Họ rất kiêng kỵ những quà tặng là dao hay kéo. Lần đầu tới nhà người Hàn Quốc chơi, theo thói quen ứng xử nên đem đến cho họ một món quà nhưng chủ nhà sẽ không mở quà ra ngay hay nói gì về nó vì họ cho rằng việc làm đó trẻ con. Các bữa ăn trong ngày là thành phần quan trọng trong lối sống của người Hàn Quốc. Đối với lối sống trong các gia đình người Hàn hay hợp tác công việc làm ăn với họ đều không thể xao nhãng các bữa ăn. Không đem công việc vào các bữa ăn để bàn bạc, chỉ có ăn uống và nói chuyện vui. Đặc biệt, họ rất thích khi được khen về các món ăn truyền thống như kim chi, thịt nướng. Họ uống nhiều rượu nhưng không phiền nếu khách mời không uống được, tuy nhiên khách mời nên để cho họ rót chút rượu vào cốc. Với họ, trong các bữa ăn hay tiệc rượu là cơ hội tốt để tạo dựng mối quan hệ thêm thân thiết. Chủ đề trong các câu chuyện ít khi đề cập đến các vấn đề về chính trị. IV. NHU CẦU ĐI DU LỊCH CỦA NGƯỜI HÀN QUỐC. 1. Những nhu cầu chung khi đi du lịch nước ngoài của người Hàn Quốc Sống trong một nước công nghiệp phát triển, mức sống cao, nhịp sống khẩn trương, sử dụng thời gian làm việc hiệu quả và ít có thời gian rảnh rỗi. Du khách Hàn Quốc thích thực hiện các tour du lịch xuyên quốc gia, trong chuyến du lịch đến Việt Nam họ thường kết hợp du lịch Lào, Campuchia, Thái Lan. Du khách Hàn Quốc đi du lịch thường có khả năng chi trả cao, họ thích sử dụng những dịch vụ sang trọng, các phương tiện công nghệ hiện đại, sản phẩm đảm bảo tốt về chất lượng và mấu mã. Cùng Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 64 với tâm lý ưa thích sự sạch sẽ, gọn gàng nên họ thường sử dụng các khách sạng sang trọng làm nơi lưu trú. %..và nơi mà họ đến cũng phải đáp ứng được nhu cầu cơ bản đó của họ. Bên cạnh đó, việc chọn lựa quốc gia đến cũng được du khách Hàn Quốc cân nhắc kỹ. những nơi họ đến phải là những quốc gia có nền chính trị ổn định, hòa bình để đảm bảo tính an toàn, thoải mái trong chuyến đi. Đó là những tiêu chuẩn cơ bản của một quốc gia mà du khách Hàn yêu cầu. Mặc khác, quốc gia đó phải có những nét đặc trưng là của riêng quốc gia đó, cho thấy sự khác biệt với quốc gia khác. Người Hàn rất thích được tìm hiểu văn hóa các dân tộc trên thế giới để so sánh với văn hóa đất nước họ..cũng như họ muốn đi nhiều biết nhiều điều đặc biệt ở các quốc gia trên thế giới, nhằm nâng tầm hiểu biết của mình. Tóm lại, một điểm đến sẽ là lựa chọn của du khách Hàn khi nó đảm bảo tinh an toàn, đáp ứng nhu cầu với dịch vụ tốt và đặc biệt là nét đặc biệt trong bản chất văn hóa của quốc gia đó. 2. Những nhu cầu khi đi du lịch tại Việt Nam của người Hàn Quốc: Du khách Hàn Quốc xem Việt Nam như điểm du lịch mới nổi trong khu vực Đông Nam Á, bên cạnh những điểm du lịch nổi tiếng ở Thái Lan, Singapore, Malaysia hay Indonesia. Không gian du lịch mới mẻ này đã sức hấp dẫn mạnh với du khách Hàn Quốc. Kết quả Hàn Quốc là nước đứng thứ 5 về số lượng khách du lịch đến Việt Nam, sau Trung Quốc, Mỹ, Đài Loan và Nhật Bản. Điều đó tạo động lực cho du lịch Việt Nam phấn đấu trong năm 2011 này Việt Nam sẽ tiếp tục đón 1 triệu lượt khách Hàn (công bố của Tổng cục du lịch). Vì mỗi quốc gia với chế độ chính trị và tình hình an ninh khác nhau nên điều đầu tiên mà bất cứ du khách nào đi du lịch nước ngoài luôn mong muốn không gì khác đó là sự đảm bảo an toàn trong chuyên đi. Tại Việt Nam mặc dù có trên 50 dân tộc, thành phần dân tộc phức tạp nhưng cùng chung sống chan hòa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Môi trường du lịch hòa bình này đã tạo được cảm giác an toàn, tin tưởng cho du khách đến Việt Nam. Bên cạnh đó, mỗi dân tộc có những nét đặc trưng trong đời sống kinh tế văn hóa xã hội, phong tục tập quán… kích thích sự hứng thú tìm hiểu, khám phá ở khách Hàn nói riêng cũng như du khách các nước nói chung. Du khách Hàn Quốc thích các loại hình du lịch biển, sông nước (đặc biệt là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long) và tìm hiểu đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng người Hàn ở thành phố Hồ Chí Minh. Khách du lịch Hàn Quốc bị chinh phục bởi vẻ đẹp của các danh lam thắng cảnh Kinh Thành Huế, Phố Cổ Hội An, thích thú nhất nét văn hóa du lịch đi tàu trên vịnh Hạ Long ngắm nhìn khung cảnh và thưởng thức rượu… Hay mê hoặc với cảnh sông nước hữu tình, vườn cây trái sum suê vùng Tây Nam Bộ. Đó là cái đẹp mà ở đất nước họ ko có, là cái họ muốn nhìn tận mắt, cảm nhận bằng chính Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 65 cảm giác thực chứ ko đơn thuần như khi nhìn qua sách báo, phim ảnh. Phong cảnh Việt Nam đẹp, còn nhiều vùng tự nhiên, hoang sơ, bên cạnh đó văn hoá Việt Nam và văn hóa Hàn Quốc có nhiều điểm tương đồng là những điều vừa mới lạ, vừa gần gũi cuốn hút du khách Hàn Quốc đến. Sau khi Chính phủ VN miễn visa cho khách Hàn Quốc tới VN, lượng khách tăng lên đáng kể. So với năm 2003, năm 2004 lượng khách Hàn tới VN của Asiana tăng 87%. Là dân tộc coi trọng những giá trị truyền thống, khi đến Việt Nam người Hàn Quốc còn có xu hướng thăm viếng các di tích lịch sử văn hóa như đình chùa hay tham gia các lễ hội truyền thống, trò chơi dân gian của người Việt và các dân tộc cùng chung sống trên đất nước Việt Nam, thưởng thức các loại hình đặc sắc của địa phương, tộc người. Chùa Một Cột, thánh địa Mỹ Sơn, lễ hội Chùa Hương,… là những điểm dừng chân khó có thể bỏ qua trong hành trình du lịch Việt Nam của du khách Hàn Quốc. Nhã nhạc cung đình Huế, quan họ Bắc Ninh hay múa rối nước, đua ghe ngo,… cũng thu hút rất nhiều sự quan tâm của khách Hàn. Khi được hỏi về ”điều gì thú vị ở Việt Nam hấp dẫn bạn?“ các du khách vô tư kể rất nhiều thứ từ ẩm thực đến con người Việt Nam. Ẩm thực Việt Nam hấp dẫn và phong phú, 3 miền 3 khẩu vị khác nhau với muôn vàn món ăn đặc sản thơm ngon lôi cuốn du khách, giữ chân du khách lại Việt Nam lâu hơn, cơ hội quay lại Việt Nam nhiều hơn. Viêt Nam nổi tiếng với những làng nghề thủ công mỹ nghệ như: làng gốm sứ, làng dệt, làng mây tre nứa,.... Tâm lý du khách thường thích mua đồ lưu niệm. Khách Hàn Quốc và du khách các nước rất thích hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam, phong phú, đa dạng, nhiều loại với nhiều màu sắc, kích cỡ, trong đó áo dài cũng là sản phẩm mà được người Hàn Quốc thích. Con người Việt Nam vui vẻ, thân thiện và hiếu khách, am hiểu phong tục tập quán và lịch sử của dân tộc mình. Các du khách nói rằng, người Việt Nam vui vẻ nhận lời mỗi khi được mời chụp hình làm kỉ niệm. Mặt khác như đã nói ở trên, du khách Hàn Quốc thường có nhu cầu sử dụng những dịch vụ tốt, thuộc hạng khá tốt trở lên. Do đó, khi đến Việt Nam, họ thích chọn lựa những sản phẩm dịch vụ sang trọng, tốt về chất lượng, đẹp về mẫu mã.. Theo Tổng cục du lịch, phân khúc thị khách quốc tế vào Việt Nam cho thấy: Nhiều khách đến từ những nước có mức sống cao nên chi tiêu của khách quốc tế tại Việt Nam đạt cao. khách Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc) chiếm tới 33%, châu Âu: 16%, Bắc Mỹ 13%, Úc và New Zealand chiếm 6% Thói quen ăn uống của giới trẻ Hàn Quốc hình thành trong nhịp xã hội nhanh và gấp nên khi du lịch Việt Nam cũng như các nước, thanh niên Hàn Quốc thường ăn các món phương Tây cho đơn giản, Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 66 tiện ích. Còn với đối tượng khách trung niên, họ thích thưởng thức các món ăn truyền thống của Việt Nam. Người Hàn Quốc khi đi du lịch đến Việt Nam cũng như đến các nước khác vẫn luôn giữ bản sắc dân tộc mình, thường tỏ ra kín đáo, lễ nghi, khó tiếp xúc. Tuy nhiên, họ thích đi khắp nơi, tìm hiểu văn hóa Việt Nam, tìm hiểu những điều mới lạ của Việt Nam rồi so sánh với nền văn hóa đặc sắc và lâu đời của quê hương mình. Họ rất nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh mới, có tính tự chủ khá cao. Một phần không nhỏ khách Hàn kết hợp mục đích kinh doanh trong chuyến du lịch. Nhìn chung khách du lịch Hàn Quốc cũng như các nước khi đến Việt Nam mong muốn được tiếp cận với những đặc trưng mà chỉ ở Việt Nam mới có, điểm khác lạ đó tạo sức hấp dẫn lớn để “kéo” chân và giữ chân du khách. Bên cạnh đó, cũng như du khách các nước, khách Hàn cũng tỏ ra khó chịu khi du lịch tại Việt Nam bởi những hiện tượng hét giá, chặt chém tại những điểm mua bán, hay những gian hàng trong khu du lịch buôn bán chèo kéo khách đến mức quá đáng,… Giao thông Việt Nam khá lộn xộn, nhất là tại các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội môi trường ô nhiễm, cảnh quan mất vệ sinh,.... Du khách Hàn mỗi khi qua đường cảm giác không an toàn, họ phải đợi thật đông người rồi cùng đi qua đường.Trên đường phố còn rất nhiều trẻ em lang thang hay đi theo làm phiền du khách. Số lượng các khách sạn chất lượng cao chưa nhiều, chưa đủ phục vụ cho số đông các du khách có khả năng chi trả cao, trong khi đội ngũ phục vụ còn thiếu tính chuyên nghiệp. Sự không phong phú trong các loại hình hoạt động giải trí đã khiến cho khách đến thường “không biết làm gì ngoài việc ngồi đánh bài cho hết thời gian”. Nhiều khu mua sắm còn nghèo nàn, chủng loại hàng chưa phong phú. Tại các trung tâm thương mại lớn, đội ngũ nhân viên còn chưa thông thạo tiếng Hàn nên còn gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp với khách. Những điều đó tạo cảm giác không hài lòng cho khách Hàn – những du khách có yêu cầu cao trong du lịch. Những hạn chế này gây sự cản trở với việc thu hút khách du lịch Hàn Quốc đến Việt Nam, tạo ấn tượng không tốt về du lịch Việt Nam, nhiều du khách Hàn Quốc đã không trở lại Việt Nam lần thứ hai. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 67 NHỮNG ĐIỀU KHÔNG HÀI LÒNG CỦA DU KHÁCH NƯỚC NGOÀI KHI ĐẾN VIỆT NAM Khách nước ngoài đến Việt Nam tùy từng dân tộc với đặc điểm tâm lý và hoàn cảnh xã hội khác nhau mà có những cảm nhận khác nhau về đất nước và con người Việt. Nếu như khách Mỹ thích đến Việt Nam vì họ muốn “thăm lại chiến trường xưa”, thì người Hàn lại thích khám phá những miền quê sông nước của miền Tây Nam Bộ, hay khách Nga thì thích tận hưởng những kì nghỉ hè tại những bãi biển lý tưởng ở miền Trung. Song, một thực trạng đáng buồn hiện nay cho du lịch Việt Nam là chúng ta thường để lại cho du khách về cảm giác không hài lòng và “ngán ngẩm”. Có một điểm chung giữa các du khách nước ngoài về những bất cập mà họ gặp phải trên chuyến hành trình, từ việc cung cấp dịch vụ chưa tốt đến các tệ nạn ăn xin, chèo kéo du khách... + Bất cập đến từ các hãng lữ hành, các nhà cung cấp dịch vụ: - Trước hết phải kể đến sự không phong phú trong các loại hình hoạt động giải trí đã khiến cho khách đến thường “không biết làm gì ngoài việc ngồi đánh bài cho hết thời gian”. Các điểm mua sắm nghèo nàn, chủng loại hàng chưa phong phú. Số lượng các khách sạn chất lượng cao chưa nhiều, chưa đủ phục vụ cho số đông các du khách có khả năng chi trả cao. - Ngoài ra, trình độ của đội ngũ nhân viên phục vụ chưa đồng đều, không đủ đáp ứng nhu cầu của một số khách không dùng tiếng Anh. Chẳng hạn, tại các trung tâm thương mại lớn, đội ngũ nhân viên còn chưa thông thạo tiếng Hàn khiến du khách gặp nhìu khó khăn trong giao dịch, mua sắm. Hay vấn đề lực lượng hướng dẫn viên tiếng Nga còn hạn chế về chất lượng cũng như số lượng dẫn đến tình trạng du khách không được truyền đạt những thông tin như mong đợi (hoặc không được cảm nhận nhiều qua giới thiệu của hướng dẫn). Điều này đi ngược lại với tinh thần tìm hiểu, khám phá của người Nga trong du lịch. + Các tệ nạn xã hội Du khách có thể bỏ qua những thiếu sót về tiện nghi ăn uống, ngủ nghỉ. Song, họ không thể chấp nhận được một môi trường không an toàn khi đến đất nước chúng ta. Đó chính là nạn ăn xin và móc túi diễn ra phổ biến ở hầu hết các điểm tham quan. Ăn xin thì nước nào cũng có, nhưng thường chỉ những người mất sức lao động, già cả neo đơn, ngồi một chỗ mới làm nghề Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 68 này. Còn ở Việt Nam thì có cả một công nghiệp ăn xin: có tổ chức, được huấn luyện, có đầu nậu, có dịch vụ cho thuê; hình thành cả làng “cái bang” chuyên sống bằng nghề ăn xin. Bán hàng rong thì nước nào cũng có, nhưng loại kiêm cướp giật thì ở Việt Nam mới có. Khách du lịch quốc tế có thể thông cảm với dịch vụ kém của ta nhưng khó chấp nhận kiểu ăn xin và bán hàng rong đeo bám khách vì nó là một dạng “khủng bố về tâm lý”. Giao thông Việt Nam còn lộn xộn, số lượng xe máy nhiều nên môi trường ô nhiễm. Các du khách mỗi khi qua đường là một nỗi lo sợ. Họ phải đợi thật đông người rồi cùng đi qua đường. Trên đường phố còn rất nhiều trẻ em lang thang hay đi theo làm phiền du khách. Còn tại các điểm tham quan du lịch, những người Bán hàng tranh nhau chèo kéo khách, bị chặt chem. Kinh khủng nên các du khách rất sợ và nhiều khi không dám quay lại lần thứ hai…. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 69 KẾT LUẬN Như vậy, với điều kiện về địa lý, kinh tế, xã hội khác nhau đã hình thành nên những nhu cầu khác nhau khi đi du lịch của từng loại khách. Nếu người Mỹ có khả năng chi trả cao cho các chuyến thưởng ngoạn bằng du thuyền sang trọng thì người Hàn lại có xu hướng tìm đến những dịch vụ bình dân hơn. Nếu người Nga, người Hàn rất cởi mở và hòa đồng thì người Mỹ trong chừng mực vẫn có sự dè dặt trong lần gặp đầu tiên... Đây là một sự đa dạng thú vị, mang đến nhiều điều mới mẻ khi làm trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, đây cũng là một trở ngại lớn, gây không ít khó khăn cho người phục vụ. Làm sao để tạo nên một ấn tượng đẹp đẽ nhất cho du khách, làm cách nào để họ thật sự hài lòng với những dịch vụ mà ta mang lại? Câu trả lời sẽ khác nhau cho từng vị trí, từng vai trò. Nhưng, chắc chắn có một điểm chúng cho tất cả nhân viên hoạt động trong lĩnh vực này chính là phải nắm rõ về tâm lý du khách. Hiểu khách muốn gì thì ta sẽ có những sản phẩm phù hợp nhất với từng đối tượng khách. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfdldlk29_hddl_nhom6_bt1_2048.pdf
Luận văn liên quan