Đề tài Thực địa địa lý kinh tế - Xã hội tổng hợp Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh

MỞ ĐẦU I. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA THỰC ĐỊA KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Mục đích Thực địa là một học phần bắt buộc đối với sinh viên trường Đại học Sư phạm nói chung và khoa Địa lí nói riêng và nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chương trình đạo tạo hệ cử nhân của khoa Địa lí. Thực địa kinh tế - xã hội không nằm ngoài nội dung đó. Học phần này được thực hiện sau khi sinh viên có kiến thức cơ bản về Địa lí kinh tế - xã hội đại cương và Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam. Thông qua việc khảo sát và nghiên cứu không gian kinh tế - xã hội trong thực tế sinh viên có cơ hội để củng cố, cập nhật và vận dụng những kiến thức đã được tích lũy qua giáo trình, thông tin đại chúng vào trong thực tế. Qua đó sinh viên đưa ra những nhận định riêng về không gian lãnh thổ nghiên cứu dựa trên kiến thức đã tích lũy. Việc tiếp cận các đối tượng kinh tế - xã hội giúp cho sinh viên thấy được mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các thành phần tự nhiên, kinh tế và xã hội trong một không gian nhất định, Bên cạnh đó, thực địa kinh tế - xã hội giúp sinh viên làm quen với việc thu thập tài liệu, số liệu trong quá trình nghiên cứu và khảo sát các đối tượng. Đặc biệt sinh viên biết vận dụng các phương pháp luận khi nghiên cứu các đối tượng kinh tế - xã hội trên lãnh thổ nào đó. Mặt khác, sinh viên có dịp vận dụng những kiến thức đã học để giải thích sự phân bố, quá trình phát sinh, phát triển và sự thay đổi của các đối tượng kinh tế - xã hội. Thực địa không chỉ giúp sinh viên hoàn thành tốt về chuyên môn mà quan trong giúp cho sinh viên biết trân trọng giá trị cuộc sống của người lao động, tình yêu quê hương đất nước, sinh viên có hành vi tích cực nhằm đóng góp sức lực của mình vào công cuộc xây dựng quê hương đất nước. 2. Yêu cầu. Để đạt được mục đích trong quá trình thực địa đòi hỏi mỗi cá nhân phải có tính kỉ luật cao, ý thức trách nhiệm trong công việc, tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh khó khăn.

doc39 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 07/01/2013 | Lượt xem: 2090 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thực địa địa lý kinh tế - Xã hội tổng hợp Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ ĐẦU I. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA THỰC ĐỊA KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Mục đích Thực địa là một học phần bắt buộc đối với sinh viên trường Đại học Sư phạm nói chung và khoa Địa lí nói riêng và nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chương trình đạo tạo hệ cử nhân của khoa Địa lí. Thực địa kinh tế - xã hội không nằm ngoài nội dung đó. Học phần này được thực hiện sau khi sinh viên có kiến thức cơ bản về Địa lí kinh tế - xã hội đại cương và Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam. Thông qua việc khảo sát và nghiên cứu không gian kinh tế - xã hội trong thực tế sinh viên có cơ hội để củng cố, cập nhật và vận dụng những kiến thức đã được tích lũy qua giáo trình, thông tin đại chúng vào trong thực tế. Qua đó sinh viên đưa ra những nhận định riêng về không gian lãnh thổ nghiên cứu dựa trên kiến thức đã tích lũy. Việc tiếp cận các đối tượng kinh tế - xã hội giúp cho sinh viên thấy được mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các thành phần tự nhiên, kinh tế và xã hội trong một không gian nhất định, Bên cạnh đó, thực địa kinh tế - xã hội giúp sinh viên làm quen với việc thu thập tài liệu, số liệu trong quá trình nghiên cứu và khảo sát các đối tượng. Đặc biệt sinh viên biết vận dụng các phương pháp luận khi nghiên cứu các đối tượng kinh tế - xã hội trên lãnh thổ nào đó. Mặt khác, sinh viên có dịp vận dụng những kiến thức đã học để giải thích sự phân bố, quá trình phát sinh, phát triển và sự thay đổi của các đối tượng kinh tế - xã hội. Thực địa không chỉ giúp sinh viên hoàn thành tốt về chuyên môn mà quan trong giúp cho sinh viên biết trân trọng giá trị cuộc sống của người lao động, tình yêu quê hương đất nước, sinh viên có hành vi tích cực nhằm đóng góp sức lực của mình vào công cuộc xây dựng quê hương đất nước. 2. Yêu cầu. Để đạt được mục đích trong quá trình thực địa đòi hỏi mỗi cá nhân phải có tính kỉ luật cao, ý thức trách nhiệm trong công việc, tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh khó khăn. II. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG THỰC ĐỊA 1. Thời gian: Từ ngày 12/09/2009 đến 19/09/2009 - Từ ngày 12/09/2009 đến ngày 14/09/2009: khảo sát tại thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) - Từ ngày 15/09/2009 đến ngày 17/09/2009: khảo sát tại thành phố Hạ Long (Quảng Ninh) - Từ chiều ngày 17/09/2009 đến ngày sáng 19/09/2009: khảo sát tại thị trấn Cát Bà (Hải Phòng). 2. Lộ trình thực địa: Từ Thành phố Hà Nội qua đường Phạm Văn Đồng – quốc lộ 18 qua Quế Võ (Bắc Ninh) – Chí Linh (Hải Dương) – Đông Triều – Uông Bí – Yên Hưng – Hạ Long – Cẩm Phả - Vân Đồn (Quảng Ninh) – Cát Bà (Hải Phòng). 3. Địa bàn thực địa: - Thị xã Cẩm Phả: Công ti cổ phần Cao Sơn, công ti than Thống Nhất, công ti tuyển than Cửa Ông, cảng Cửa Ông, thăm di tích lịch sử đền Cửa Ông. - Huyện Vân Đồn: Khu du lịch Việt – Mĩ, cảng Cái Rồng. - Thành phố Hạ Long: Cảng Cái Lân, Khu du lịch Tuần Châu, phường Bãi Cháy. - Thi trấn Cát Bà: Vườn quốc gia Cát Bà, trung tâm thị trấn Cát Bà, bãi tắm Cát Cò 1, Cát Cò 2 và Cát Cò 3. 4. Nội dung thực địa Nghiên cứu thể tổng hợp kinh tế - xã hội Hà Nội – Quảng Ninh – Hải Phòng với một số khía cạnh chính: - Công nghiệp: Khai thác, chế biến và tiêu thụ than - Kinh tế biển: du lịch, thủy sản và giao thông vận tải biển. - Tổ chức sản xuất theo lãnh thổ. III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 1. Phương pháp điều tra thực địa Thu thập thông tin cần thiết từ các cơ quan chức năng kết hợp với quan sát thực tế các đối tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội tại địa bàn nghiên cứu. 2. Phương pháp bản đồ. Sử dụng những bản đồ hiện có như là tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu. Thành lập các bản đồ chuyên đề về nội dung nghiên cứu cho báo cáo thực địa. 3. Phương phân tích, đánh giá tổng hợp trong phòng. Xử lý các thông tin thu thập được từ điều tra thực địa và các tài liệu, số liệu cần thiết từ các nguồn khác nhau kết hợp với việc tham khảo tài liệu liên quan. Phân tích, đánh giá tổng hợp các thông tin thu thập được để đưa ra các kết quả nghiên cứu nghiên cứu chính thức theo mục đích và nội dung báo cáo. 4. Phương pháp sử dụng hệ thống thông tin địa lí (GIS). Sử dụng hệ thống các phần mềm để thu thập thông tin lưu trữ và quản lí các thông tin, phân tích và xử lí thông tin, triết xuất và hiện thị thông tin theo mục đích và nội dung nghiên cứu của báo cáo. Các phần mềm chính có thể sử dụng trong quá trình thực hiện báo cáo là Word, Mapinfo… PHẦN NỘI DUNG Chương I: MỘT SỐ NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH QUẢNG NINH. I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ. Quảng Ninh là một tỉnh biên giới, nằm phía đông bắc của Tổ quốc. Quảng Ninh vừa có phần đất liền rộng lớn, vừa có vùng hải đảo bao la với hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ nhấp nhô trên biển. Quảng Ninh là một cửa ngõ quan trọng của nước ta, theo quốc lộ 18A và các cảng Cửa Ông, Hồng Gai, Cái Lân có thể dễ dàng vào vùng đồng bằng sông Hồng. hay ra thế giới bên ngoài như các nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản… Quảng Ninh có tọa độ địa lí từ 20040’ (đảo Hạ Mai, xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn) đến 21044’ vĩ độ Bắc (thôn Mỏ Tòng – xã Hoành Mô – huyện Bình Liêu) và từ 106005’ (thôn Vân Đông – Đông Triều) đến 108005’ kinh độ Đông (mũi Sa Vĩ – bán đảo Trà Cổ). Về mặt vị trí địa lý, Quảng Ninh tiếp giáp với 4 tỉnh, thành phố, đặc biệt tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc (132km), phía nam với Thành phố Hải Phòng (78km), phía đông giáp vịnh Bắc Bộ với đường bờ biển dài trên 200km, phía tây một phần tiếp giáp với miền núi đồi trùng điệp của Lạng Sơn (58km), phần còn lại giáp với Băc Giang (71km) và với vùng đồng bằng phì nhiêu của Hải Dương (21km). Về kinh tế, Quảng Ninh nằm trong vùng tam giác phát triển kinh tế phía Bắc của nước ta, có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Ngoài ra, Quảng Ninh có vị trí thuộc vùng kinh tế hai hành lang và một vành đai của Việt Nam và Trung Quốc. Với vị trí như trên, Quảng Ninh giữ vai trò quan trọng để chuyển tải hàng hóa xuất nhập khẩu, đồng thời còn có khả năng thiết lập mối quan hệ hàng hải, hàng không với các nước trong khu vực Đông Á, Đông Nam Á và thế giới. Quảng Ninh là một tỉnh lớn với diện tích 5938 km2. Về mặt địa giới hành chính, Quảng Ninh có 2 thành phố (thành phố Hạ Long và thành phố Móng Cái), có 2 thị xã (Thị xã Cẩm Phả và thị xã Uông Bí), có 10 huyện: Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, Đông Triều, Tiên Yên, Yên Hưng, Hoành Bồ, Ba Chẽ, Vân Đồn và Cô Tô với 11 thị trấn, 45 phường và 130 xã. Quảng Ninh với vịnh Hạ Long được công nhận 2 lần là di sản của thế giới, với hàng trăm di tích lịch sử, văn hóa là một trung tâm du lịch biển hàng đầu của Việt Nam. Với vị trí địa lí mang lại Quảng Ninh có những điều kiện vô cùng thuận lợi để thu hút vốn đầu tư cho sự phát triển kinh tế - xã hội. II. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN. 1. Địa hình. Vùng đất Quảng Ninh có lịch sử địa chất trẻ hơn các khu vực khác. Đây là nơi tiếp giáp giữa miền nền và địa máng, lại thuộc nhiều đới kiến tạo có đặc điểm phát triển khác nhau nên cấu trúc địa chất của lãnh thổ phức tạp. Là một tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc, Quảng Ninh có đầy đủ các dạng địa hình đồi núi, đồng bằng ven biển và cả hệ thống đảo và thềm lục địa. Diện tích tự nhiên của Quảng Ninh là 5938km2, trong đó đồi núi và núi thấp là một bộ phận quan trọng nhất chiếm tới 80% diện tích, đồng bằng ven biển chỉ chiếm khoảng 18% còn lại là diện tích đồi núi đá vôi. Địa hình của Quảng Ninh có sự thay đổi rõ rệt cụ thể ở phía Tây Bắc là vùng đồi núi thấp, tiến đến là dãy núi cao – cánh cung Đông Triều, phía nam và đông nam là miền đồng bằng ven biển, ngoài khơi là hàng nghìn đảo nhỏ đá vôi hoặc sa, diệp thạch, tạo thành bức bình phong chắn gió cho đất liền. Đồi núi và vịnh đảo chạy song song, đối xứng nhau qua bờ biển. Có thể chia địa hình Quảng Ninh thành các khu vực sau đây: - Vùng cánh cung Đông Triều – Móng Cái: Vùng này chạy theo hướng tây – đông ở phía nam và hướng đông bắc – tây nam ở phía bắc. Nó có vai trò quan trọng trong việc hình thành các yếu tố tự nhiên ở hai sườn bắc – na. Cánh cung Đông Triều gồm hai dải núi chính, phía nam là dải núi Nam Mẫu, phía Bắc là dải núi Bình Liêu. Giữa hai phần trên là bộ phận núi thấp với những con sông cắt qua, đó là vùng đồi Tiên Yên – Ba Chẽ. - Phía nam của cánh cung Đông Triều chạy từ Đông Triều đến thị xã Cẩm Phả theo hướng tây – đông, có độ cao không quá 1000m, trừ đỉnh Yên Tử có độ cao 1068m và đỉnh Am Váp 1094m. Dải đồi thấp nam Đông Triều – Mông Dương có độ cao từ 200 đến 400m là miền sụt võng trước núi vào đại Trung Sinh. Đó là bể than antraxit lớn nhất nước ta. Bộ phận phía Bắc của cánh cung Đông Triều có nhiều núi cao trên 1000m nằm rải rác, không tạo thành một sơn hệ. Ở Bình Liêu có núi Cao Xiêm cao 1330m, Quảng Hà có Cao Đông Châu 1089m...Địa hình ở đây bị phân cách mạnh, sườn dốc, thung lũng hẹp và sâu. - Vùng đồi duyên hải là một dải đồi có độ cao sàn sàn nhau từ 25m đến 50m, chỗ rộng nhất khoảng 15km đến 20km, chạy dọc theo bờ biển từ thị xã Cẩm Phả đến thị xã Móng Cái. - Địa hình đồng bằng của tỉnh Quảng Ninh chiếm diện tích nhỏ, bao gồm một dải hẹp ven biển từ Móng Cái đến Tiên Yên và vùng phía nam Đông Triều, Uông Bí, Yên Hưng. Đây là những đồng bằng nhỏ hẹp được bồi đắp phù sa của các sông suối trong tỉnh và hệ thống sông Thái Bình. Riêng đồng bằng ở Yên Hưng và Đông Triều do được bồi đắp của một phần phù sa sông Thái Bình là những vùng đồng bằng khá lớn. Tiếp nối phần đồng bằng ra biển là các bãi sú, vẹt có diện tích rộng. Biển và địa hình bờ biển là dạng địa hình đặc trưng và quan trọng nhất của tỉnh Quảng Ninh. Vùng biển Quảng Ninh rộng tới 6000km2 là phần phía tây bắc của vịnh Bắc Bộ. Đây là một vịnh nông với nhiều đảo và quần đảo chắn phía ngoài nên rất kín gió và sóng lặng. Trên vịnh có rất nhiều đảo, đây là vùng biển có nhiều đảo nhất Việt Nam tới 3000 đảo lớn nhỏ. Những đảo lớn nhất là Cái Bầu, Vĩnh Thực, Ngọc Vừng, Cô Tô...Các núi đá trên đảo có độ cao trung bình từ 150m đến 200m. Đỉnh cao nhất là núi Nàng Tiên cao 470m trên đảo Cái Bầu. Ngoài ra các đảo lớn, còn có hàng nghìn đảo nhỏ xếp thành hai dãy nối đuôi nhau từ núi Ngọc đến nam Hạ Long. Đó là khu vực núi đá vôi cổ ngập nước biển. Đây là vùng caxtơ sót điển hình có các vách đá dốc đứng, sắc nhọn, nhiều hang động. Đường bờ biển của Quảng Ninh dài 250km, bị chia cắt mạnh bởi đồi núi ăn ra sát biển và bởi các vịnh đảo, cửa sông. Đoạn từ Móng Cái đến Cửa Ông tương đối bằng phẳng được bồi tụ, mài mòn tạo nên các bãi triều rộng, sú vẹt mọc trên diện tích lớn (80 nghìn ha), đứng thứ hai của cả nước (sau Cà Mau). Riêng bờ biển Trà Cổ sóng mạnh, tạo nên các bãi ven biển dựng, nhiều hốc mòn ở chân núi đá vôi. Ven biển có nhiều bãi biển đẹp thuận lợi cho phát triển kinh tế biển. 2. Khí hậu Khí hậu Quảng Ninh mang đặc tính chung của khí hậu các tỉnh miền bắc với đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, nhưng chịu ảnh hưởng mạnh nhất của gió mùa Đông Bắc và ảnh hưởng ít hơn của gió mùa Đông Nam so với các địa phương khác. Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc mạnh nhất nên nhiệt độ mùa đông ở đây thấp hơn các khu vực khác cùng vĩ độ từ 10c đến 30c. Nhiệt độ trung bình năm của Quảng Ninh là 210c. Mùa đông ở Quảng Ninh kéo dài từ 4 – 5 tháng, từ tháng VI năm trước đến tháng III năm sau. Mùa hạ từ tháng V đến tháng IX, nóng và mưa nhiều, với gió thịnh hành hướng Đông Nam do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam, của dải hội tụ nhiệt đới và của các xoáy thuận nhiệt đới. Chế độ mưa của Quảng Ninh mang đặc điểm chung của các tỉnh Bắc Bộ là mưa nhiều, mưa tập trung chủ yếu vào mùa hạ từ tháng VII và tháng VIII. Lượng mưa mùa hạ chiếm tới 85% lượng mưa cả năm. Mùa đông lượng mưa khoảng từ 150 đến 400mm. Tháng nhiều bão nhất là tháng VII và tháng VIII. Trung bình mỗi năm Quảng Ninh chịu ảnh hưởng của 5 – 6 cơn bão, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất của các ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh. 3. Thủy văn. Do đặc điểm địa hình, các sông của Quảng Ninh phần lớn là nhỏ, ngắn, dốc, có tính chất cuồng lưu, khả năng điều tiết yếu và chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều. Các sông này vừa mang tính chất của sông miền núi, vừa mang tính chất của sông ven biển. Phù hợp với chế độ mưa, chế độ sông ngòi cũng có 2 mùa rõ rệt. Mùa lũ từ tháng V đến tháng X, tập trung vào các tháng VI. VII, VIII. Mùa cạn từ tháng IX đến tháng IV, cạn nhất là tháng III. Tuy sông suối ngắn và nhỏ, nhưng do đặc điểm của địa hình và do đường bờ biển dài nên sông suối của Quảng Ninh cũng có những đặc điểm riêng và chia thành ba hệ thống sông: Các sông đổ ra sông Bạch Đằng, đều bắt nguồn từ khu vực sườn nam của vùng đồi núi thuộc dãy Yên Tử như các sông Đá Bạc, sông Sinh và sông Kinh Thầy. Sông Bạch Đằng với đoạn chảy qua Yên Tử dài 20 km là con sông nối liền sông Lục Nam với sông Thái Bình. - Hệ thống sông đổ ra cửa Lục – vịnh Hạ Long, chảy từ vùng núi Hoành Bồ, đều là những sông nhỏ, dốc không có khả năng bù đắp phù sa ở hai bên bờ. Đó là sông Thác Cát, Diễn Vọng, sông Trới… - Hệ thống sông Tiên Yên – Móng Cái, gồm một số sông lớn của tỉnh. Đó là các sông Tiên Yên, sông Phố Cũ, sông Ba Chẽ, sông Đầm Hà… Quảng Ninh không có những hồ tự nhiên lớn, nhưng lại nhiều hồ, đập nhỏ. Toàn tỉnh có 75 hồ, đập trong đó có nhiều hồ có giá trị trong sản xuất và sinh hoạt. 4. Đất đai. Đất đai ở Quảng Ninh có đặc tính chung là giàu oxyt sắt, tầng mùn mỏng, ít chất dinh dưỡng dễ tiêu. Loại đất này chiếm diện tích lớn nhất là đất feralit vàng đỏ và feralit thứ sinh phát triển ở địa hình đồi, núi thấp. - Đất feralit vàng đỏ có mùn trên núi có ở những vùng núi cao trên 700m thuộc cánh cung Đông Triều. Loại đất này chiếm khoảng 7.8% diện tích tự nhiên. - Đất feralit vàng đỏ trên vùng đồi, núi thấp (dưới 700m) phân bố hai sườn của cánh cung Đông Triều với diện tích 440.000 ha. Loại đất này phổ biến ở vùng đồi Hoành Bồ, tây Tiên Yên, Quảng Hà, Bình Liêu. - Đất phù sa cổ có diện tích 40.105 ha phân bố ở Đầm Hà, Hà Cối, Móng Cái. Vùng đất phù sa trồng lúa tập trung ở Yên Hưng, Đông Triều, Quảng Hà và lưu vực các sông, suối, thung lũng thuộc Tiên Yên, Ba Chẽ. - Đất mặn ven biển phân bố dọc ven biển và ven sông Bạch Đằng, Đá Bạc..chiếm diện tích khoảng 50.900ha. Một số vùng được khai thác để trồng cói, làm ruộng muối, nuôi thủy sản và rừng sú vẹt. - Đất cát và cồn cát ven biển với diện tích 6087 ha phân bố ven biển, ven các đảo, nhiều nơi là những bãi cát trắng, nguyên liệu tốt để làm thủy tinh. - Đất vùng đồi đá vôi ở các đảo, quần đảo có diện tích là 46627 ha. Trên các đảo đất như Tuần Châu, đảo Ngọc Vừng được cấu tạo bởi đá phiến thạch có đất feralit màu vàng đỏ. 5. Sinh vật. Rừng Quảng Ninh phân bố ở những địa hình thấp, dễ khai thác. Rừng nguyên sinh hầu như không có mấy, mà chủ yếu là kiểu rừng thứ sinh. Độ che phủ rừng hiện nay chỉ còn 32%, chủ yếu là rừng thứ sinh và rừng trồng. Quảng Ninh còn có rừng ngập mặn đứng thứ hai của nước ta sau rừng ngập mặn ở Cà Mau với các loài cây điển hình như sú, vẹt, đước. Loại rừng này mọc phổ biến từ Móng Cái – Tiên Yên. Ở các đảo và quần đảo, rừng còn bảo tồn, như ở đảo Ba Mùn có rừng nguyên sinh chạy dài trên 20 km, rộng 1,5 km với hai tầng thực vật cao thấp. Tầng nguyên sinh là các loại cây gỗ quí hiếm như nghiến, sến, táu…Tầng thứ sinh có nhiều cây thuốc quý như ngũ gia bì, tam thất… Động vật biển của Quảng Ninh vô cùng phong phú với nhiều loài có giá trị kinh tế cao như sò huyết, bào ngư, hải sâm, tôm hùm, cá song, cá thu… 6. Khoáng sản. Quảng Ninh là một trong những tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản nhất cả nước gồm than, quặng sắt, đá chứa dầu và các loại vật liệu xây dựng. Bể than Quảng Ninh là bể than lớn nhất nước ta, có trữ lượng 12 tỉ tấn chiếm tới 90% trữ lượng than của cả nước. Bể than này phân bố thành một dải không liên tục từ Đông Triều, Uông Bí, Hồng Gai, Cẩm Phả. Dải này này kéo dài khoảng 130 km, rộng 20 – 30 km, độ dày tầng chứa than có nơi đến 2km, có nhiều mỏ lộ thiên dễ khai thác, có khả năng khai thác 18 – 20 triệu tấn/năm. Chất lượng than của Quảng Ninh có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của nhiều ngành kinh tế. Than Quảng Ninh chủ yếu là than antraxit cho nhiệt lượng cao, ít tro, khói và sunfua. Quảng Ninh có nhiều mỏ vật liệu xây dựng như đá vôi, cát thủy tinh ở Vân Hải, đất sét ở Giếng Đáy, Móng Cái, Đông Triều… Ngoài tài nguyên khoáng sản, Quảng Ninh còn nổi tiếng là tỉnh giàu tiềm năng du lịch nhất cả nước, đặc biệt là di sản tự nhiên thế giới vịnh Hạ Long, cùng rất nhiều danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội truyền thống. Những tiềm năng lớn về du lịch cộng với vị trí địa lí thuận lợi đã tạo cho Quảng Ninh có một lợi thế so sánh quan trọng so với các tỉnh khác, là tiền đề cho Quảng Ninh trở thành một tỉnh có nền kinh tế công nghiệp, du lịch phát triển. III. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI. 1. Dân cư và nguồn lao động. 1.1. Dân cư Quảng Ninh là một trong những tỉnh có dân số đông. Dân số Quảng Ninh là 1.144.381 người (năm 2009), trong đó nữ có 558.793 người. Tỷ lệ dân số sống ở khu vực thành thị của Quảng Ninh đứng thứ 3 trên toàn quốc (sau TP Hồ Chí Minh và TP Đà Nẵng), dân số thành thị là 496.6 nghìn người (chiếm tỷ lệ 44,6%); Dân số ở khu vực nông thôn là 616,9 nghìn người (chiếm tỉ lệ 55,4%). Phần lớn các đô thị của tỉnh nằm trên trục quốc lộ 18, 10, 4B. Sự phát triển của đô thị đã thu hút dân cư tập trung theo quốc lộ, hình thành dải dân cư ven biển. Quảng Ninh thuộc diện tỉnh có số dân trung bình trong cả nước. Tỷ lệ tăng dân số bình quân từ năm 1999 đến 2009 là 1,3% (trung bình cả nước là 1,2%). Mật độ dân số trung bình Quảng Ninh năm 2008 là 182 người/km2 thấp hơn so với mật độ dân số trung bình của cả nước (260 người/km2) và đứng hàng thứ 4 trong các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Dân cư phân bố không đồng đều giữa các miền, giữa các huyện. Phần phía tây chỉ chiếm 41,52% diện tích, kéo dài từ Đông Triều đến thị xã Cẩm Phả bao gồm cả thành phố Hạ Long, tập trung tới 68,7% dân số của toàn tỉnh. Ngược lại phần phía đông với 58.48% diện tích, nhưng dân số chỉ có 31.3%. Dân số tập trung đông đúc các đô thị ven biển ngược dân số thưa thớt tại các vùng sâu trong tỉnh. 1.2. Nguồn lao động Nguồn lao động 606.5 nghìn người, trong đó số lao động tham gia vào các hoạt động kinh tế chiếm trên 90%. Dân số tập trung chủ yếu các ngành như nông, lâm, ngư nghiệp (274.2 nghìn người); khai thác mỏ (70.6 nghìn người); sửa chữa xe động cơ (78,1 nghìn người). Do ngành khai thác mỏ năm qua tương đối phát triển nên đã thu hút nhiều lao động nam từ các tỉnh khác và trở thành đội ngũ lao động đông đảo cho tỉnh Quảng Ninh. Quảng Ninh là tỉnh có cơ cấu dân số trẻ: 51,4% dân số dưới 24 tuổi, tỉ lệ 0 – 14 tuổi trên 30%, tỉ lệ trên 60 tuổi là 7,2%. Như vậy Quảng Ninh có lực lượng lao động dồi dào. Đây là lợi thế cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Về thành phần dân tộc: Quảng Ninh có 21 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Việt chiếm trên 80% tổng số dân, ngoài ra còn có người Dao, Tày, Sán Chay, Sán Chỉ, Cao Lan, Hoa…Sự đa dạng về truyền thống sản xuất và văn hóa cua các dân tộc là một tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, cần phải có chính sách giúp đỡ, tạo điều kiện cho các dân tộc ít người để nhanh chóng giảm bớt sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa giữa các dân tộc. 2. Cơ sở hạ tầng Mặc dù hệ thống cơ sở hạ tầng ở Quảng Ninh còn thiếu đồng bộ và nhiều mặt còn yếu kém, nhưng đã bước đầu đã hình thành một hệ thống cơ sở sản xuất công nghiệp, các trung tâm kinh tế thương mại, du lịch, các đô thị và hệ thống giao thông điện, nước, thông tin liên lạc phục vụ sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của cư dân. Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 4 quốc lộ: QL 10. QL 18. QL 4B. QL 279, có 8 tuyến đường tỉnh lộ với chiều dài 178km. Dọc bờ biển có các cảng quốc gia như Hòn Gai, Cái Lân, Cửa Ông và hàng loạt các cảng biển, bến bãi do địa phương quản lí Quảng Ninh có nhiều nguồn lực và lợi thế để phát triển kinh tế với cơ cấu ngành đa dạng bao gồm cả công nghiệp, nông – lâm – ngư nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ, xứng đáng là một cực thu hút trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. 3. Chính sách. Đường lối chính sách có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong những năm qua Quảng Ninh luôn luôn được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Nhờ những chính sách hiệu quả mà kinh tế - xã hội của Quảng Ninh đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Quảng Ninh đang tích cực có những chính sách thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước đặc biệt những ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh. Có thể coi đường lối, chính sách như kim chỉ nam định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Sau đây là mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020: TT  Loại chỉ tiêu  Năm 2005  Năm 2010  Năm2020   1  Dân số(nghìn người)  1.069,9  1.124,1  1.237,3   2  GDP( tỷ đồng)               - Theo giá so sánh 1994  6.229,2  11.375,2  43.065,1      -Theo giá hiện hành  15.346,0  36.341,3  167.405,0   3  Cơ cấu GDP(%- giá hiện hành)  100,0  100,0  100,0      -Công nghiệp, xây dựng  49,7  46,3  48,5      Dịch vụ  44,0  49,7  50,1      -Nông,lâmnghiệp,thuỷ sản  6,2  4,0  1,4   4  GDP/người(USD)               -Theo giá so sánh 1994  352,9  950,0  3.127,8      -Theo giá hiện hành  869,3  1.757,1  6.292,7   Nguồn: Chương 2: HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH QUẢNG NINH. I. KHÁI QUÁT CHUNG Nền kinh tế Quảng Ninh được phát triển dựa trên việc khai thác tổng hợp của sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực kinh tế - xã hội. Với thế mạnh ấy Quảng Ninh đã xây dựng được một cơ cấu ngành kinh tế tương đối đa dạng, hoàn thiện và điển hình ở nước ta, trong đó có những ngành mũi nhọn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của tỉnh như công nghiệp, du lịch. Các ngành nông nghiệp, thương mại, dịch vụ giao thông vận tải và thông tin liên lạc cùng các ngành khác, đang khởi sắc và có những đóng góp không nhỏ. Giá trị tổng sản phẩm của tỉnh chiếm khoảng 5% (năm 2007) giá trị tổng sản phẩm của cả nước, 12% giá trị tổng sản phẩm của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2000 – 2008 là 13,3%. GDP bình quân theo đầu người đạt 869,3 USD (năm 2005). Biểu đồ thể hiện tổng sản phẩm và chỉ số phát triển giai đoạn (2003 – 2007) Giá trị so sánh 1994  Cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch đáng kể, thể hiện bằng sự tăng đàn tỉ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng của các ngành kinh tế khác. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng khoảng 14%/năm, dịch vụ tăng 13%/năm, nông – lâm – ngư nghiệp tăng 5,9%/năm. Như vậy mức tăng và đóng góp vào GDP của tỉnh Quảng Ninh chủ yếu là khu vực II và khu vực III. Cơ cấu sản phẩm theo khu vực kinh tế: Kinh tế nhà nước đóp góp tới trên 70% tổng sản phẩm GDP của tỉnh và đang có xu hướng giảm; khu vực kinh tế tư nhân đóng góp trên 20% tổng sản phẩm GDP và có xu hướng giảm, còn lại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. II. SẢN XUẤT CỦA CÁC NGÀNH KINH TẾ 1. Ngành công nghiệp. Công nghiệp được coi là thế mạnh của nền kinh tế Quảng Ninh. Thế mạnh ấy được dựa trên một nguồn tài nguyên giàu có bao gồm khoáng sản, nông, lâm, thủy sản. Trên cơ sở đó phát triển một ngành công nghiệp đa dạng về cơ cấu ngành, gồm cả công nghiệp nặng lẫn công nghiệp nhẹ, công nghiệp truyền thống và công nghiệp hiện đại. Giá trị sản xuất công nghiệp của Quảng Ninh đứng thứ 3 ở các tỉnh Bắc Bộ sau Hà Nội và Hải Phòng. Năm 2007 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 37985,5 tỉ đồng. Giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng liên lục trong những năm gần đây, chiếm 2,58% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước vào năm 2007. 1.1. Công nghiệp khai thác than. Quảng Ninh là tỉnh khá giàu khoáng sản, trong đó nổi bật là tài nguyên than với trữ lượng 12 tỉ tấn chiếm trên 90% trữ lượng than của cả nước. Ngành khai thác than của Quảng Ninh bắt đầu khai thác từ thực dân Pháp. Năm 1882, xí nghiệp khai thác than đầu tiên của chính quyền được mở trên đất Quảng Ninh. Thời kì thực dân pháp đô hộ, công nghệ khai thác than chủ yếu là thủ công và bán cơ khí theo hai phương thức lộ thiên và hầm lò. Sản lượng than thấp, trong suốt hơn 60 năm (1889 – 1954) sản lượng than chỉ đạt khoảng 40 triệu tấn. Sau năm 1954 nhiều mỏ than ra đời và hoạt động như Hà Tu, Tân Lập, Thống Nhất, Đèo Nai, Cọc Sáu, Mông Dương. Từ năm 1990 tới nay việc sản xuất ngành than có nhiều biến động song đang dần đi vào ổn định. Bảng 1: Sản lượng than Quảng Ninh giai đoạn 1995 – 2007(Đơn vị: triệu tấn) Năm  1995  1996  1997  1998  2000  2001  2002  2003  2004  2006  2007   Sản lượng  7,5  9,4  10,8  11,3  11,0  12,6  14,5  14  27,3  36.8  40   Ngành công nghiệp khai thác than đóng vai trò quan trọng đối với tỉnh Quảng Ninh. Đó là ngành mang lại thu nhập chính cho tỉnh đồng thời cùng thu hút nhiều lao động trong tỉnh cũng như ngoài tỉnh. Thời gian gần đây do nhu cầu trong và ngoài nước về than ngày càng nhiều làm cho giá trị của than ngày càng tăng. 1.1.1 Cơ cấu tổ chức ngành than. Ngành công nghiệp than của Quảng Ninh không phải do tỉnh quản lí mà do Bộ công thương trực tiếp quản lí bởi Tập đoàn than – khoáng sản Việt Nam. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có: Công ty than Cẩm Phả, Công ty than Quảng Ninh, Công ty than Hòn Gai. - Công ty than Uông Bí: phạm vi khai thác kéo dài từ Bãi Cháy đến hết Đông Triều, phương thức khai thác chủ yếu là hầm lò. Sản lượng khai thác than của công ty năm 2008 là 2,37 triệu tấn than. Mục tiêu phấn đấu của công ty trong những năm tới là nâng sản lượng khai thác  than của các mỏ thuộc vùng than Uông Bí lên 10-12.5triệu tấn than vào năm 2010 và từ 13- 14.6triệu tấn vào năm 2015. Với 7 công ty thành viên, hiện nay công ty đang quản lý , thực hiện 7 dự án khai thác mỏ vừa và nhỏ được phê duyệt với công suất từ 100.000- 600.000 tấn /năm. - Công ty than Hồng Gai: Địa bàn khai thác từ Đèo Bụt đến phà Bãi Cháy. Với các mỏ lớn là Hà Lầm, Hà Tu và Tân Lập. - Công ty than Cẩm Phả: là công ty than lớn nhất Quảng Ninh với gần 40.000 công nhân và 6 mỏ sản xuất than có 3 mỏ khai thác theo phương thức hầm lò: Thống Nhất, Mông Dương, Khe Chàm, 3 mỏ khai thác theo hình thức lộ thiên: Đèo Nai, Cọc Sóc, Cao Sơn. Bảng 2: Các khu vực khai thác than chủ yếu của Quảng Ninh TT  Tên Mỏ  Quy mô công suất dự kiến đến năm 2010 (1000 tấn/năm)   1  Mỏ Cao Sơn  1.500   2  Mỏ Đông Cao Sơn  1.200   3  Mỏ Cọc Sáu  1.500   4  Mỏ Đèo Nai  1.500   5  Mỏ Thống Nhất  1.500   6  Mỏ Mông Dương  850   7  Mỏ Khe Chàm I  600   8  Mỏ Bắc Khe Chàm  300   9  Mỏ Nam Khe Chàm  1.500   10  Mỏ Ngà Hai  1.500   11  Mỏ Hà Tu  1.000   12  Mỏ Núi Béo  1.500   13  Mỏ Hà Lầm  1.500   14  Mỏ Giáp Khẩu  800   15  Mỏ Vàng Danh  1.800   16  Mỏ Mạo Khê  2.000   17  Mỏ Nam Mậu  1.200   Nguồn: Danh mục các mỏ ban hành theo theo quyết định 20/2003 QĐ-TTg phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam năm 2003 – 2010” của Thủ tướng chính phủ ban hành 29/01/2003 1.1.2 Phương thức khai thác: Về công nghệ khai thác than chủ yếu tiến hành theo hai phương thức đó là khai thác lộ thiên và khai thác hầm lò. a. Khai thác lộ thiên: Đây là hình thức khai thác chủ yếu ở Quảng Ninh hiện nay nó chiếm tới 60 đến 70% tổng sản lượng than khai thác được. Khai thác lộ thiên được tiến hành khi hệ số bốc đất đá thấp (dưới 4m3 đất đá/tấn than), trong đó thế giới là 9m3/tấn than. Sơ đồ công nghệ khai thác than lộ thiên. Khai thác lộ thiên đem lại năng suất cao hơn so với năng suất khai thác hầm lò và giá thành cũng hạ hơn, vì khai thác lộ thiên chỉ cần bóc đất đá để xúc than. Tuy nhiên, khai thác lộ thiên ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, làm thay đổi địa hình, ô nhiễm nguồn nước, không khí… Công ty cổ phần than Cao Sơn. Công ty cổ phần Cao Sơn được thành lập 06/06/1974. Đoàn thực địa khảo sát tại Công ty cổ phần Cao Sơn vào sáng ngày 13/10/2009. Năm 2005, công ty đã vinh dự được Đảng Và Nhà nước phong tặng “ Anh hùng lao động” vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kì đổi mới 1995 – 2004 góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. - Vị trí: Công ty than Cao Sơn thuộc phường Cẩm Sơn, thị xã Cẩm Phả. Mỏ than nằm cách trung tâm công ty khoảng 10km ở vùng núi cao 406m có tên là Cao Sơn. Mỏ than giáp mỏ than Cọc Sáu, Đèo Nai, Khe Chàm, Thống Nhất. Về mặt tài nguyên: Mỏ than Cao Sơn là một trong 3 mỏ than lộ thiên lớn nhất thị xã Cẩm Phả. Tổng trữ lượng trên 70 triệu tấn than, năng suất mỗi năm trên 2 triệu tấn than. - Sản lượng khai thác: Sản lượng khai thác than của công ty liên tục tăng trong những năm gần đây. Giai đoạn đầu khi mới thành lập vào những năm 1977 – 1980 sản lượng đạt 83,24 tấn. Năm 2008 sản lượng khai thác đạt 3,1 triệu tấn chiếm 7,5% sản lượng than của Tổng công ty than Việt Nam (41 triệu tấn), bóc đi một lượng đất đá 23.8 triệu m3 năm 2008. Dự kiến năm 2009 sản lượng khai thác sẽ đạt 3,2 triệu tấn. Sản phẩm than được bán cho các nhà máy sang tuyển, cơ sơ sản xuất xi măng, nhà máy phân đạm. Doanh thu của công ty đạt 1540 tỉ đồng vào năm 2009. b. Khai thác hầm lò: được tiến hành khi hệ số bóc đất đá trên cao (trên 4m3/tấn than) vỉa mỏng và nằm sâu trong lòng đất. Để khai thác theo kiểu hầm lò, người ta phải đào lò: lò bằng và lò giếng, dùng gỗ hoặc bê tong để chống đỡ. Các mỏ than khai thác theo công nghệ hầm lò là Vàng Danh, Hà lầm, Mạo Khê, Thống Nhất. Khai thác theo hình thức này chủ yếu là thủ công nên năng suất thấp giá thành than bao giờ cũng cao hơn so với khai thác lộ thiên do chi phí cao hơn. Việc khai thác theo hình thức này cần sử dụng vật liệu chống lò như gỗ, bê tong và chống thủy lực. Công ty than Thống Nhất. - Vị trí: Công ty than thống nhất nằm trung tâm thị xã Cẩm Phả, hiện đang quản lí hai khu mỏ Lộ Trí và Yên Ngựa thuộc địa bàn phường Cẩm Tây và phường Mông Dương. Tổng diện tích khai thác của mỏ là 4 km2 . - Về mặt tài nguyên: Khu mỏ Lộ Thí có trữ lượng khoảng 28.292.900 tấn, khu Khe Chàm II có trữ lượng khoảng 2.200.000 tấn. - Sản lượng khai thác: sản lượng khai thác than của công ty liên tục tăng cụ thể: năm 2006 đạt 1.300 nghìn tấn, năm 2007 đạt 1.500 nghìn tấn, năm 2008 đạt 1.600 nghìn tấn. Doanh thu của công ty không ngừng tăng lên, năm 2008 doanh thu của công ty đạt 606,402 tỷ đồng. 1.1.3 Chế biến than. Than nguyên khai được các nhà máy sơ chế phân loại tuyển tại nơi sản xuất sau khi được chuyển các nhà máy sàng tuyển. Than sau khi sàng tuyển sẽ chuyển đến tiêu thụ trên thị trường. Trên địa bàn Quảng Ninh có các nhà máy sàng tuyển than Cửa Ông, Cột Tám (Hạ Long), ngoài ra trong kế hoạch còn có nhà máy sàng tuyển Uông Thượng với công suất dự kiến 700.000 tấn/năm. Công ty than Cửa Ông. - Về vị trí: Công ty tuyển than Cửa Ông thuộc phường Cửa Ông, thị xã Cẩm Phả. Phía bắc giáp huyện Vân Đồn, phía nam giáp phường Cẩm Thịnh, phía đông giáp vịnh Bái Tử Long, phía tây giáp phường Mông Dương. - Về quy mô: Công ty tuyển than Cửa Ông có 3 nhà máy sàng tuyển, có thể sàng tuyển 12 triệu tấn/ năm, 30 đầu máy Điezen, hàng nghìn toa tầu chở than, có cảng Cửa Ông dài 600m. Quy trình sàng tuyển bao gồm hai khâu cơ bản: sàng sơ bộ bằng lưới để loại kích thước, làm sạch than bằng môi trường thuyền phù và khí nén. Khi than được chuyển đến nhà máy, nhà máy tiếp nhận những loại than có kích thước 100mm. Những loại than có kích thước lớn hơn 100mm sẽ được đập vỡ sau đó đưa vào sàng tuyển thu được sản phẩm chính có kích thước: 0 – 6mm, 0 – 10mm, 0 – 15mm. Than sau khi được sàng tuyển sẽ được chuyển bằng băng tải ra bãi tập kết, tại đây than được cung cấp trên thị trường chủ yếu cho mục đich xuất khẩu. 1.1.4 Tiêu thụ than. Than được dùng làm nguyên liệu cho nhà máy nhiệt điện, vật liệu xấy dựng, công nghiệp hóa chất…Nhu cấu than là rất lớn, nhưng việc tiêu thụ than phụ thuộc vào nhu cầu thị trường và chất lượng sản phẩm. Sau khi, Việt Nam sử dụng công nghệ sàng tuyển của Nhật Bản sản phẩm than đã đáp ứng nhu cầu của nhiều khách hàng trên thế giới. Than của Quảng Ninh chủ yếu xuất khẩu sang Nhật Bản, Trung Quốc và các nước Tây Âu. Hiện nay nhu cầu tiêu thụ than có xu hướng giảm trong giai đoạn gần đây. Nguyên nhân là do sự xuất hiện của một số nguồn năng lượng mới như dầu mỏ, khí đốt. Nhiều nước đã sử dụng dầu, khí đốt cho công nghiệp nhiệt điện. Nhu cầu tiêu thụ than tăng trong khi sản lượng khai thác than tăng đã gây không ít những khó khăn cho sự phát triển ngành than của Việt Nam nói chung và của Quảng Ninh nói riêng, đặc biệt đời sống của người công nhân. 1.1.5. Hạn chế của khai thác than. Khai thác than, đặc biệt là khai thác lộ thiên làm thay đổi địa hình mặt đất, tính chất địa chất thủy văn, phá hoại thảm thực vật. Công nghiệp khai thác than cũng gây ra những hậu quả xấu đối với môi trường không khí, môi trường nước biển do các khí độc CO, CO2, NO2, bụi, các vật liệu trên cạn bị cuốn trôi ra biển làm ô nhiễm nghiêm trọng tới khu sinh thái vườn Quốc gia Bái Tử Long. Ngoài ra, khai thác than làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người. Do làm việc trong môi trường độc hại: nhiệt độ, ánh sáng không thích hợp, tiếp xúc các khí độc vượt qua tiêu chuẩn cho phép của con người. Kết quả những người công nhân bị mắc các bệnh như ung thư phổi, viêm mắt… Vì vậy, phát triển công nghiệp than đi đôi với việc bảo vệ tài nguyên, môi trường, giải quyết mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp than và sự phát triển của các ngành kinh tế khác nhất là phát triển ngành du lịch là một vấn đề đặt ra trong việc sử dụng hợp lí tài nguyên tỉnh Quảng Ninh. 1.2. Các ngành công nghiệp khác. Ngoài công nghiệp than, Quảng Ninh còn có thế mạnh để phát triển các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, thực phẩm, hóa chất….đặc biệt là công nghiệp vật liệu xây dựng và chế biến thực phẩm. 1.2.1 Công nghiệp điện năng. Góp phần đáng kể vào ngành công nghiệp của Quảng Ninh là công nghiệp điện năng. Quảng Ninh có nguồn than đá rất giàu có, đây chính là cơ sở để phát triển công nghiệp nhiệt điện. Những năm gần đây, ngành công nghiệp nhiệt điện có bước chuyển biến rõ rệt, những vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có các nhà máy nhiệt điện Uông Bí với công suất 300MW, nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả với công suất dự kiến 600MW năm 2010. 1.2.2 Công nghiệp cơ khí. - Cơ khí tàu thuyền Lợi thế của sự phát triển trong mối liên hệ chặt chẽ với Hải Phòng. Phương hướng dần hình thành cụm cơ khí tàu biển lớn nhất miền bắc với năng lực đóng tàu từ 400 đến 3000 tấn, tiến tới đóng tàu 5000 tấn, 10000 tấn. Kết hợp với sửa chữa tàu cá và các tàu chuyên dụng khác. Cơ sở chính là nhà máy đóng tàu Hạ Long, hiện đang bổ sung máy móc thiết bị mới để có khả năng đóng tàu container 2000 tấn. - Cơ khí mỏ. Mở rộng và hiện đại hóa ngành cơ khí mỏ để phục vụ không chỉ ngành than mà còn toàn bộ ngành khai thác mỏ nói chung của vùng Bắc Bộ. Sắp xếp hợp lí các nhà máy hiện có, đầu tư chiều sâu mở rộng và đổi mới thiết bị công nghệ cho một số cơ sở cơ khí. 1.2.3 Công nghiệp vật liệu xây dựng. Đây là một ngành có nhiều điều kiện để sản xuất, như đá vôi, đất sét và trên thực tế ngành này có bước phát triển đáng kể. Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có các nhà máy gạch Giếng Đáy, gạch Uông Bí, đá vôi Hồng Gai, sứ Đông Triều, cát thủy tinh Vân Hải (Vân Đồn), đặc biệt gần đây hình thành nhà máy xi măng Cẩm Phả. Nhà máy xi măng Cẩm Phả có công xuất 2,3 triệu tấn/năm. Xi măng Cẩm Phả được sản xuất bằng lò quay theo phương pháp khô, thiết bị công nghệ sản xuất thuộc loại tiên tiến nhất hiện nay với mức độ tự động hoá cao, tiết kiệm nhiên liệu và không gây ô nhiễm môi trường. Toàn bộ dây chuyền thiết bị này được cung cấp bởi các nhà thầu quốc tế nổi tiếng như Kawasaki (Nhật Bản), FAM, Loeche, Haver & Boeker, Siemens (Cộng hoà liên bang Đức), FCB (Cộng hoà Pháp) và ABB (Thụy Sĩ). Nhà máy xi măng Cẩm Phả còn được đầu tư hệ thống cảng biển hiện đại có thể tiếp nhận tàu có trọng tải đến 15.000 tấn vào bốc dỡ hàng hoá, phát huy tối đa lợi thế vận tải thuỷ của dự án. 1.2.4 Công nghiệp chế biến thực phẩm. Quảng Ninh có nhiều lợi thế để phát triển ngành công nghiệp thực phẩm. Tuy nhiên ngành này vẫn còn giá trị khiếm tốn: chiếm 9,5% GDP của toàn ngành (năm 2008) Sản phẩm của ngành phục vụ tiêu dùng cho các trung tâm công nghiệp, đô thị, du lịch. Hiện nay đang đầu tư xây dựng một số cơ sở sản xuất chế biến hiện đại tại các khu vực cảng Cái Lân, Cẩm Phả, với những sản phẩm chính: thịt, hải xuất khẩu, rau quả, bia giải khát những hàng đồ uống có thương hiệu như nước khoáng Quang Hanh, bia Hạ Long. 2. Ngành nông – lâm – ngư nghiệp. Song song việc phát triển ngành công nghiệp, Quảng Ninh cũng rất chú trọng phát triển ngành nông – lâm – ngư nghiệp. 2.1. Nông nghiệp. Những năm gần đây, ngành nông nghiệp của Quảng Ninh đã có bước tiến rất đáng kể. Giá trị sản lượng nông nghiệp đặt mức tăng 5%. Sản lượng lúa năm 2001 là 193.800 tấn nhưng đến năm 2006 đạt 202.600 tấn. Năng suất lúa tăng đáng kể năm 2006 là 42.9 tạ/ha so với năm 1995 là 27.8 tạ/ha. Bình quân lương thực theo đầu người 324 kg/người (năm 2006). Trong cơ cấu ngành nông nghiệp giá trị sản xuất của ngành trồng trọt chiếm tỉ lệ cao nhất với 54,9% (năm 2006), sau đó giá trị trị ngành chăn nuôi (42.9%) và dịch vụ nông nghiệp (2.1%). Ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm tăng nhanh, nhất là ngành chăn nuôi lợn và chăn nuôi bò. Đến năm 2005 472 nghìn con, trong đó đàn lợn chiếm 79.4% tổng số lượng đàn gia súc và gia cầm. Biểu đồ cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo thành phần kinh tế Phướng phát triển ngành nông nghiệp của tỉnh đến năm 2010 là chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu sản xuất nông nghiệp sang nền sản xuất hàng hóa theo hướng đa dạng hóa các sản phẩm và đa dạng hóa cơ cấu kinh tế nông thôn. 2.2. Ngành lâm nghiệp. Ngành kinh tế lâm nghiệp của Quảng Ninh phát triển mạnh mẽ vơi ngành khai thác gỗ và chế biến lâm sản. giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá trị thực tế không ngừng tăng lên nhanh chóng. Năm 2005 đạt giá trị 170.724 triệu đồng, đến năm 2006 đạt 226.581 triệu đồng; trong đó giá trị trồng và nuôi rừng chiếm giá trị cao nhất. Diện tích rừng có sự chuyển biến đáng kể, nhất là diện tích rừng trồng ngày càng mở rộng với 86.987 ha (năm 2006). Phát triển ngành lâm nghiệp có vai trò cung cấp nguồn nguyên liệu cho sản xuất hàng tiêu dùng và tham gia xuất khẩu. Ngoài ra, phát triển ngành lâm nghiệp có vai trò quan trọng bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển ngành du lịch. Tuy nhiên, trữ lượng rừng tự nhiên ngày càng bị suy giảm, môi trường sinh thái bị đe dọa nghiêm trọng. Ví thế, cần có biện pháp khai thác, bảo vệ hợp lí, đẩy mạnh trồng rừng thâm canh, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. 2.3. Ngành ngư nghiệp. Hiện nay. Quảng Ninh nằm trong 4 ngư trường lớn của Việt Nam. Dọc chiều dài 250km bờ biển, Quảng Ninh có trên 40.000 ha bãi biển, 20.000 ha eo vịnh và hàng chục ngàn ha vũng nông ven bờ là môi trường thuận lợi để nuôi trồng, đánh bắt hải sản. Nguồn lợi thủy hải sản của Quảng Ninh hết sức phong phú. Đáng chú ý hơn cả là sự phong phú của các loại hải sản Quảng Ninh với nhiều loài có giá trị kinh tế cao như cá chim, cá thu, sò huyết, mực, ốc…Phát huy lợi thế này Quảng Ninh đã xác định ngành thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh góp phần quan trọng vào thực hiện hiện đại hóa kinh tế của tỉnh. 2.3.1 Khái quát chung. Ngành thủy sản Quảng Ninh được phát triển từ lâu, đã có thời kì là tỉnh có nghề cá phát triển nhất khu vực phía Bắc (trước 1975). Từ sau đổi mới, ngành thủy sản Quảng Ninh có sự chuyển biến mạnh mẽ, tận dụng lợi thế của mình ngành thủy sản thể hiện qua: sản lượng thủy sản không ngừng tăng lên (từ 17,6 nghìn tấn năm 1995 đến 66.3 nghìn tấn năm 2007). Đáng chú ý là sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng lên vượt bậc so với sản lượng thủy sản khai thác. Giá trị sản xuất theo giá trị thực tế tăng nhanh với 730.912 triệu đồng. Tiềm năng khai thác thủy sản của Quảng Ninh còn rất lớn, trong tương lai gần cần có biện pháp hữu hiệu thúc đẩy nghề cá đồng thời cần chú trọng tới bảo vệ môi trường khai thác. 2.3.2. Khai thác đánh bắt thủy sản. Phát huy về lợi thế ngành thủy sản của mình. Quảng Ninh đã đang đẩy mạnh ngành khai thác thủy sản. Sản lượng khai thác thủy sản không ngừng tăng lên, sản lượng khai thác năm 2007 là 40.1 nghìn tấn gấp 2.62 lần năm 1995 (15.3 nghìn tấn). Tuy nhiên, phương thức đánh bắt còn thô sơ, tàu trọng tải nhỏ, thiếu phương tiện ki thuật hiện đại, số lượng tàu đánh bắt xa bờ còn rất ít. Đây cũng được coi là một trong những hạn chế của ngành thủy sản của tỉnh. 2.3.3. Nuôi trồng thủy sản. Ngành nuôi trồng thủy sản Quảng Ninh chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây do việc khai thác ngày càng khó khăn cũng như nhu cầu khách du lịch, công nghệ chế biến thực phẩm…Tuy nhiên, ngành nuôi trồng vẫn chưa phát huy hết tiềm năng lớn của tỉnh. Việc nuôi trồng tập trung chủ yếu ở các vùng dưới triều, vùng rừng ngập mặn, vùng cửa sông. Sản phẩm nuôi trồng tập trung chủ yếu vào nuôi ngọc trai, tôm, cá…Đẩy mạnh ngành nuôi trồng thủy sản có ý nghĩa vô cùng quan trọng trọng việc phát triển ngành thủy sản của tỉnh. 2.3.4. Định hướng phát triển ngành thủy sản của tỉnh. Quảng Ninh đã đưa ra một số định hướng phát triển ngành thủy sản như sau: - Tiến hành điều tra khảo sát cụ thể nguồn lợi thủy sản, quy hoạch và đề ra chiến lược phát triển. - Đẩy mạnh chương trình đánh bắt xa bờ, chú ý đầu tư tàu có trọng tải lớn được trang bị thiết bị hiện đại. - Nâng cao trình độ của ngư dân, áp dụng các biện pháp khai thác truyền thống lẫn phương pháp hiện đại. - Tăng cường ngành nuôi trồng thủy sản đặc sản mang lại giá trị kinh tế cao. - Phát triển ngành thủy sản đi liền với công tác bảo vệ môi trường sinh thái. 3. Ngành dịch vụ. 3.1. Giao thông vận tải. Là một tỉnh công nghiệp, lại vị trí sát biên giới, giao thông vận tải biển Quảng Ninh vừa có ý nghĩa kinh tế vừa có ý nghĩa quốc phòng. 3.1.1. Về giao thông đường bộ: Quảng Ninh hiện có 2494 km trong đó quốc lộ 18A (225km) từ ranh giới Hải Dương qua Hạ Lọng đến cầu Bắc Luân. Đây là tuyến đường chạy suốt chiều dài của tỉnh. Ngoài ra còn có quốc lộ số 10 (15km) từ Hải Phòng đến Biểu Nghi, quốc lộ 4B (17km) từ Tiên Yên đến Lạng Sơn, đường 279 đi Hà Khẩu qua Bắc Giang. Đây là tuyến đường nối liền Quảng Ninh với các tỉnh phụ cận và các cửa khẩu quốc tế quan trọng. Khối lượng vận tải hành khách đường bộ liên tục tăng: năm 2005 (6.750 nghìn người) đến năm 2006 (7.193 nghìn người). Trong tương lai, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là tuyến vận tải ô tô duyên hải phía bắc. Hiện nay các dự án nâng cấp các quốc lộ 10 và quốc lộ 18 đang được nâng cấp. 3.1.2. Về đường thủy: Quảng Ninh có 250 km bờ biển, thuận lợi cho giao thông nội thủy và viễn dương. Tổng chiều dài đường thủy là 695 km, trong đó có 112 km rất thuận lợi về mặt giao thông cho các phương tiện 180 tấn, cùng với 5 cảng lớn, trong đó chú ý nhất là cảng Cái Lân. Cảng Cái Lân là cảng nước sâu lớn nhất phía Bắc, có khả năng tiếp nhận tàu 40.000 tấn. Năm 2006 khối lượng hành khách vận chuyển là 1700 nghìn người và khối lượng hành khách luân chuyển là 131 triệu người/km. 3.1.3. Về đường sắt: Quảng Ninh có 116km đường sắt, trong đó có 64km khổ 0.8m chuyên dụng để chở than, 52km khổ 1.435 từ Đông Triều đến Bãi Cháy. Nhìn chung, giao thông vận tải Quảng Ninh hiện đang được chú trọng phát triển để đáp ứng nhu cầu của một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. 3.2. Thương mại. Giá trị tăng thêm của ngành dịch vụ tăng 18%, vượt kế hoạch đề ra (kế hoạch 16 – 17%). Các hoạt động thương mại nội địa diễn ra khá sôi động và đạt được tốc độ tăng trưởng cao. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội năm 2007 đạt 14.087 tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ, vượt kế hoạch đề ra là 15%. Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đạt khá, tổng thu ngoại tệ cả năm đạt 1.321 triệu USD, tăng 2,5% so với năm 2006, vượt kế hoạch đề ra về giá trị tuyệt đối (1.207 triệu USD) nhưng chưa đạt tốc độ tăng của kế hoạch là 10%. Trong đó xuất khẩu hàng hóa là 1.310 triệu USD, đạt 109% kế hoạch, tăng 2%; kinh doanh dịch vụ thu ngoại tệ ước đạt 11,74 triệu USD, tăng 80,6%. 3.3. Du lịch. 3.3.1. Khái quát chung. Quảng Ninh với tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng nhiều danh lam thắng cảnh từ lâu đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn với nhiều du khách. Quảng Ninh có vịnh Hạ Long là một trong những di sản thiên nhiên thế giới được 2 lần công nhận vào năm 1994 và năm 2000. Ngoài ra, Quảng Ninh có bãi tắm Trà Cổ, Bãi Dài (Vân Đồn), cùng nhiều di tích lịch sử, phong tục tập quán, lễ hội (Lễ hội Bạch Đằng, hội đền Cửa Ông, hội chùa Yên Tử…) đang được chú trọng phát triển du lịch. Phần phía tây của Quảng Ninh là khu vực đồi núi thấp, tạo điều kiện cho hoạt động du lịch có thể kết hợp giữa du lịch biển và du lịch núi. Về tài nguyên du lịch của Quảng Ninh có thể có nhiều hơn nữa nhưng đáng chú ý nhất ở Quảng Ninh là vịnh Hạ Long. Đối với người Việt Nam nói chung và người Quảng Ninh nói riêng, vịnh Hạ Long không chỉ là một thắng cảnh mà còn là một biểu tượng thiêng liêng trường tồn cùng dân tộc. Khó có lời lẽ nào có thể nói hết được vẻ đẹp vịnh Hạ Long thơ mộng. Tóm lại, tài nguyên du lịch của Quảng Ninh còn rất lớn nó là sự tổng hợp của các yếu tố địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn…của các đình chùa, lễ hội với tài nguyên du lịch này Quảng Ninh có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, thăm quan thắng cảnh… 3.3.2 Thực trạng phát triển ngành du lịch Quảng Ninh. Phát huy lợi thế so sánh nổi trội về nguồn tài nguyên du lịch, Quảng Ninh đã và đang từng bước đưa du lịch trở thành ngành mũi nhọn, tạo điều kiện phát triển kinh tế. Trong những năm vừa qua, đặc biệt từ khi vịnh Hạ Long được công nhận là di sản của thế giới hoạt động du lịch của Quảng Ninh ngày càng nhộn nhịp, khởi sắc mang lại doanh thu lớn cho tình. Số lượng khách du lịch của Quảng Ninh ngày một tăng, năm 1995 là số lượng khách du lịch đến Quảng Ninh là 502.768 nghìn người, thì đến năm 2006 con số này lên tới 3.115 nghìn lượt người. Số lượng hành khách du lịch sẽ còn tiếp tục còn tăng tăng trong thời gian tới khi Quảng Ninh nâng cấp các cơ sở phục vụ du lịch và có chương trình quảng bá rộng rãi. Bảng 3: Lượng hành khách thăm quan du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2000 – 2007 Đơn vị (nghìn lượt) Năm Lượng khách  2000  2002  2004  2005  2006  2007   Tổng số - Nội địa - Quốc tế  1500  2351  2675  2459  3115  3679    955  1442  1629  1453  1952  2230    545  909  1046  1006  1163  1449   Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh (năm 2007) Về khách du lịch giai đoạn từ năm 2000 – 2007 đã tăng lên 2179 nghìn lượt khách. Du khách du lịch đến Quảng Ninh vẫn chủ yếu là khách nội địa chiếm tới 60.6% (năm 2007) tổng số hành khách du lịch. Đáng chú ý là lượng khách du lịch quốc tế tăng nhanh chóng trong thời gian gần đây, đây là điếm sang cho du lịch của Quảng Ninh. Về doanh thu du lịch Quảng Ninh tăng lên đáng kể. Theo thống kê doanh thu du lịch Quảng Ninh năm 2006 đạt 1257 tỉ đồng tăng gấp 1.7 lần so với năm 2002 (746.1 tỉ đồng). Cùng với sự phát triển chung của ngành du lịch, số lao động trong lĩnh vực du lịch cũng tăng nhanh. Theo số liệu thống kê, năm 2002 số lao động trong lĩnh vực du lịch đạt khoảng 6.360 người, tăng lên 4331 người so với năm 1995. Chất lượng đội ngũ lao động cũng được cải thiện rõ rệt. Hiện nay, 1/2 số lao động đạt trình độ trung cấp trở lên. Năm 2000 số lượng đạt trình độ đại học chiếm 12%, đến năm 2003 con số này đã chiếm khoảng 15%. Đây là một tín hiệu đáng mừng của ngành du lịch Quảng Ninh bởi ngành đã từng bước được nâng cao. Về cơ sở lưu trú cũng có sự thay đổi đáng kể. Sự gia tăng đáng kể khách thăm quan du lịch đã kéo theo sự phát triển của các cơ sở lưu trú. Trong những năm gần đây, số lượng khách sạn và phòng nghỉ đạt chuẩn quốc tế không ngừng nâng cao. Năm 2000 tổng số khách sạn của Quảng Ninh là 224 với 2982 phòng, năm 2001 tăng lên 260 khách sạn với 3480 phòng. Năm 2004 có trên 300 khách sạn bao gồm 6300 phòng (trong đó có 3.500 đạt tiêu chuẩn quốc tế). Ở đây có nhiều khách sạn nổi tiếng như Hạ Long Plaza, Hạ Long Bay, Bạch Đằng… Về tuyến du lịch, Quảng Ninh có nhiều điểm, tuyến du lịch hấp dẫn với 3 dạng chính đó là du lịch vùng, du lịch liên vùng và du lịch quốc tế. Bảng 4: Các tuyến du lịch hiện nay Du lịch nội vùng  Yên Tử - Bãi Cháy – Trà Cổ - Móng Cái    Yên Tử - Bãi Cháy – Cẩm Phả - Cửa Ông    Vịnh Hạ Long    Vịnh Hạ Long – Vân Đồn – Cô Tô    Bãi Cháy – Vịnh Hạ Long – Bái Tử Long    Yên Tử - Cửa Ông    Bach Đằng – Quỳnh Lâm – Yên tử   Du lịch liên vùng  Hà Nội – Bắc Ninh – Phả Lại – Đông Triều – Hạ Long – Trà Cổ    Lào Cai – Hà Giang – Cao Bằng – Lạng Sơn – Móng Cái    Hạ Long – Cát Bà    Đồ Sơn – Cát Bà – Hạ Long – Bãi Cháy   Du lịch quốc tế  Hạ Long – Móng Cái – Trà Cổ - Trung Quốc    Quảng Ninh – Các nước ASEAN   Du lịch đang là một thế mạnh của Quảng Ninh và đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trong thời gian tới ngành này cần phát huy được mọi thế mạnh của mình xứng đứng đáng là ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh Quảng Ninh. Hoạt động du lịch trên các địa điểm nghiên cứu. a. Vân Đồn. Khu vực quần đảo Vân Đồn cách trung tâm thành phố Hạ Long khoảng 50km về phía đông, bao gồm 600 hòn đảo như những người lính đứng gác nơi tiền tiêu tổ quốc. Vân Đồn có một hệ thống di tích lịch sử - văn hóa và nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như khu du lịch Việt – Mĩ, đảo Minh Châu, đảo Quan Lạn…Vân Đồn có nhiều bãi tắm đẹp cùng quẩn thể sinh thái vườn quốc gia Bái Tử Long phong phú. Đoàn thực địa có dịp thăm khu du lịch sinh thái Việt – Mĩ. Đây là một khu du lịch hiện đại mới được xây dựng và tiếp tục hoàn thiện. Khi hoàn thiện chắc chắn đây sẽ là khu du lịch hấp dẫn thu hút được nhiều du khách bởi khô

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBáo cáo thực địa địa lý kinh tế - xã hội tổng hợp Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh.doc
Luận văn liên quan