Đề tài Thực trạng nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu tại tập đoàn tài chính - Bảo hiểm bảo việt và một số giải pháp phát triển

Biên bản đánh giá mức độ giảm giá trị thương mại có sự tham gia của các bên có liên quan (đại diện chủ tàu, chủ hàng, bảo hiểm); + Biên bản xử lý, thanh lý hàng hóa bị hư hỏng có sự tham gia của bên có liên quan. - Đối với tổn thất đâm va cầu cảng, vật cố định: + Bản dự toán và quyết toán sửa chữa; + Biên bản giám định tổn thất - Về ô nhiễm dầu: + Quyết định phạt của chính quyền; + Hóa đơn, chứng từ về chi phí tẩy rửa, ngăn ngừa ô nhiễ m; + Các bằng chứng về thiệt hại, mất thu nhập do ô nhiễm; + Biên bản giám định.

pdf110 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/06/2014 | Lượt xem: 2152 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thực trạng nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu tại tập đoàn tài chính - Bảo hiểm bảo việt và một số giải pháp phát triển, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
c chủ tàu mới tham gia khai thác. Bảo hiểm tàu thủy nói chung và bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu nói riêng với tư cách là ngành dịch vụ gắn bó lâu dài và mật thiết với lĩnh vực vận tải biển, đứng trước những cơ hội rất lớn nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức không nhỏ. Cơ hội do tăng trưởng kinh tế kéo theo sự phát triển của ngành vận tải, thách thức do nguồn lực không đủ đáp ứng nhu cầu của ngành khi phát triển. 1. Cơ hội Chúng ta đã nhận được nhiều tín hiệu tốt từ ngành vận tải biển, lượng tàu tham gia vận chuyển đường biển tăng, có thể thấy rõ qua số lượng tàu đóng mới và mua mới. Nếu năm 2001, cả nước chỉ có khoảng 600 tàu với tổng trọng tải khoảng 1.800.000 DWT, đến cuối tháng 12 năm 2008, số tàu treo cờ Việt Nam đã tăng lên 1.496 tàu với tổng dung tích 3.321.670 GT và tổng trọng tải 5.327.823 DWT; đó là chưa kể trên 40 tàu có tổng trọng tải 615.000 DWT do các chủ tàu Việt Nam mua và treo cờ nước ngoài. Theo thống kê thì có 317 tàu đang được đóng mới trong nước và sẽ được bàn giao để đưa vào sử dụng ngay trong nửa cuối năm 2009. Tuy số lượng tàu tăng cao đột biến như vậy song vẫn còn cách rất xa so với nhu cầu thông thương hàng hóa hiện nay của Việt Nam.[33] 77 Với đà tăng trưởng này của đội tàu biển, nghiệp vụ bảo hiểm P&I sẽ có nhiều cơ hội mở rộng và phát triển nhanh hơn nữa. Bảo Việt với tư cách là một trong những nhà bảo hiểm hàng đầu của Việt Nam đang làm tốt vai trò của mình, không ngừng tìm kiếm khai thác mở rộng thị phần. Thêm vào đó, thị trường hàng hóa các nước trong khu vực cũng khá dồi dào trong khi năng lực các đội tàu biển các nước còn chưa kịp đáp ứng. Đây là cơ hội để chúng ta chia sẻ thị trường tiềm năng này. Hàng từ Thái Lan xuất khẩu đi các nước tăng cao nhưng đội tàu sẵn có của họ không đủ để vận chuyển. Indonesia, Philipines cũng vậy, lượng hàng nhập khẩu từ Việt Nam như gạo tăng nhiều, nếu tận dụng được lợi thế là nước xuất khẩu để dành quyền vận chuyển thì đội tàu của Việt Nam sẽ thu được lợi ích to lớn. Thông thương hàng hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện đang tăng trưởng, chủ yếu là đường biển, rất nhiều hàng hóa đang nằm chờ phương tiện vận chuyển. Hàng hóa xuất nhập khẩu của Campuchia cũng là mối lợi lớn đang chờ khai thác, cảng Campuchia nhỏ và ít, đội tàu tuy nhiều về số lượng nhưng chủ yếu là tàu treo cờ phương tiện. Hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển của Lào hầu hết thông qua các cảng của Việt Nam nên việc đảm nhận vận chuyển cho riêng lượng hàng này cũng là nguồn lợi lớn cho đội tàu biển chúng ta. Xa ra hơn là Ấn Độ, hiện đang thiếu trầm trọng tàu vận chuyển do lượng hàng hóa thông thương giữa Ấn Độ và các nước quá lớn, vượt xa khả năng đáp ứng của đội tàu nước này. Trước việc bùng nổ kinh tế trong khu vực, trong đó Trung Quốc và Việt Nam nổi lên như những điểm đến mới thu hút các nhà đầu tư đến từ Châu Âu và Mỹ, đặc biệt là Việt Nam kể từ sau khi gia nhập WTO. Mở rộng thị trường và tăng xuất khẩu là điểm nổi bật từ khi gia nhập WTO. Các thành viên WTO được hưởng lợi từ nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN), được hưởng mức độ tự do hóa thương mại bình đẳng trong quan hệ buôn bán song phương. Do vậy, từ khi là thành viên WTO, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 78 của nước ta tiếp tục tăng với tốc độ cao; năm 2007 đạt 48,56 tỷ USD, tăng 22,7%; năm 2008 ước thực hiện 64 tỷ USD, tăng 33% so với năm trước. [40] Thu hút FDI là cũng điểm sáng trong bức tranh kinh tế của Việt Nam từ khi là thành viên WTO. Trong quá trình chuẩn bị gia nhập WTO, nước ta đã thực hiện nghiêm túc các yêu cầu của tổ chức này, như minh bạch hóa chính sách, hoàn thiện thể chế và cải cách hành chính, do vậy đã tạo lập môi trường thể chế minh bạch hơn, có sức hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư quốc tế. Các số liệu thống kê tình hình thu hút FDI của Việt Nam rất đáng khích lệ. Làn sóng FDI thứ hai, được bắt đầu từ 2005, đã có bước đột phá trong năm 2007, với mức tăng trưởng khá cao. Năm 2006, vốn FDI thực hiện là 4,1 tỷ USD, vốn đăng ký là 12 tỷ USD, thì năm 2007 đã tăng gấp đôi với các con số tương ứng là 8,03 tỷ USD và 21,3 tỷ USD. Dự báo năm 2008, vốn thực hiện là 10 - 11 tỷ USD, tăng 25 - 30% so với năm 2007 và vốn đăng ký vượt quá 60 tỷ USD, gần gấp ba lần năm 2007.[41] Cùng với đà tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thị trường thế giới thì lượng hàng hóa lưu thông nội địa cũng như lượng hàng hóa thông thương giữa Việt Nam và quốc tế cũng tăng đáng kể. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Châu Âu và Mỹ vẫn giữ đà tăng trưởng khá cao như gạo, cà phê, tiêu, điều, dầu thô, khí đốt ... Ngoài ra, hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam cũng tăng nhanh, hàng loạt dự án công nghiệp ra đời, kéo theo là trang thiết bị cho nhà máy, nguyên phụ liệu, vật liệu nhập khẩu có nguồn gốc từ các quốc gia khác nhau. Hàng hóa tiêu dùng đến từ nhiều nước cũng đã lần lượt chinh phục thị trường Việt Nam. Khối lượng hàng xuất nhập khẩu dự báo đến năm 2010 sẽ đạt khoảng 108 triệu tấn và đến năm 2020 sẽ đạt đến 210 triệu tấn.[38] Đây sẽ là những tín hiệu khởi sắc, tạo tiền đề cho sự tăng trưởng của ngành vận tải biển Việt Nam và nghiệp vụ bảo hiểm P&I ở Bảo Việt. 79 2. Thách thức Như trên đã nói, sự phát triển của đội tàu biển là nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm P&I. Tuy nhiên, một điều đáng tiếc là thực trạng của đội tàu trong nước hiện nay vẫn còn khá yếu. Có một giai đoạn tất cả tỉnh thành ven biển đều có đội tàu, tuy nhiên, do đầu tư dàn trải và thiếu định hướng nên đội tàu Việt Nam tăng nhanh về số lượng nhưng về mặt thực chất thì vẫn chưa được đảm bảo. Tàu cũ, công nghệ lạc hậu khiến cho đội tàu Việt Nam dễ bị bắt giữ ở nước ngoài. Khả năng tiếp thị chưa tốt từ các doanh nghiệp sở hữu tàu làm cho đội tàu chưa tiếp cận được các nguồn hàng tốt với giá cước vận chuyển cao. Đội tàu nhỏ, trang bị không tốt nên chỉ tiếp cận được các đơn hàng nhỏ hoặc chỉ đóng vai trò thu gom hàng hóa cho các hãng tàu lớn khác với giá cước không cao mà chưa thể tiến đến những tuyến vận chuyển xa hơn với giá cước hấp dẫn hơn. Tình hình phát triển quá nhanh chóng, thiếu sự định hướng, tuy đã đáp ứng phần nào nhu cầu vận chuyển nội địa cũng như vận chuyển viễn dương ngày một gia tăng của nền kinh tế. Song về lâu dài thì chính những yếu kém nêu trên sẽ dẫn đến việc kinh doanh kém hiệu quả, gây lãng phí. Đây cũng là nhân tố gây khó khăn cho các công ty bảo hiểm Việt Nam, từ sự yếu kém của các chủ tàu và công ty khai thác tàu mà tình hình tổn thất ngày càng gia tăng và phức tạp. Bên cạnh đó, những thách thức về năng lực cải cách thể chế theo hướng tự do hóa thương mại và đầu tư, mà sự chậm trễ đã bộc lộ trong quá trình rà soát luật pháp, chính sách, quy định của chính quyền các cấp. Năng lực cạnh tranh hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp và của quốc gia chưa được nâng lên tương ứng với yêu cầu của tình hình mới. Gia nhập WTO, các công ty bảo hiểm Việt Nam sẽ phải đối mặt với một môi trường cạnh tranh gay gắt hơn từ các công ty bảo hiểm nước ngoài nhưng dường như chúng ta chưa sẵn sàng cho việc đó. Cơ chế bảo trợ của Nhà nước trước đây là nguyên nhân khiến 80 cho các doanh nghiệp kém linh hoạt với những thay đổi mới. Có thể thấy phí bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay được hình thành chủ yếu qua con đường cạnh tranh, hạ phí phi kĩ thuật mà không quan tâm đến đối tượng bảo hiểm như thế nào, mức độ rủi ro ra sao. Một trong những nguyên nhân có nguồn gốc sâu xa là chế độ khoán tiền lương và chi phí theo doanh thu không chú trọng đến khoản bồi thường có thể xảy ra (đó là lời cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm đến khách hàng). Tình trạng này dẫn đến thục trạng không những các doanh nghiệp bảo hiểm cạnh tranh lẫn nhau mà còn có sự cạnh tranh giữa các chi nhánh trong cùng một doanh nghiệp bảo hiểm. Chính vì vậy, việc quan tâm, chăm sóc khách hàng, cung cấp dịch vụ gia tăng, bổ sung cho khách hàng cũng bị hạn chế. Nguồn nhân lực đang trở thành trở ngại lớn cho việc phát triển các nghiệp vụ bảo hiểm có yếu tố thương mại quốc tế. Hiện tượng thiếu chuyên gia giỏi, nhà quản lý có năng lực trong các doanh nghiệp Nhà nước, kể cả các công ty đã cổ phần hóa, hay hiện tượng chảy máu chất xám đã trở thành phổ biến. Hệ thống công nghệ thông tin của doanh nghiệp chưa cập nhật được từng hợp đồng bảo hiểm phát sinh, chưa phân loại được khách hàng, rủi ro bảo hiểm, chưa phân tích đánh giá được nguyên nhân, mức độ rủi ro tổn thất, còn nhiều lỗ hổng để trục lợi bảo hiểm. Việc giải quyết bồi thường còn nhiều vướng mắc. Trước hết, tính công khai minh bạch ở hồ sơ, thủ tục giải quyết bồi thường chưa được thực hiện. Thứ hai, việc đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục bồi thường, giảm phiền phức cho khách hàng chưa được cải thiện rõ rệt. Thứ ba, còn nhiều vướng mắc trong việc thu thập hồ sơ chứng từ để giải quyết bồi thường cho nạn nhân khi những hồ sơ chứng từ này buộc phải lấy từ những cơ quan có thẩm quyền như công an, bệnh viện. Thứ tư, việc tự quyết, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc giám định bồi thường tổn thất chưa được phát huy và hay bị hình sự hóa. Thứ năm, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn giám 81 định và giải quyết bồi thường (trung gian giữa công ty bảo hiểm và khách hàng) chưa hoạt động có hiệu quả và phán quyết của họ nhiều khi không được pháp luật công nhận. Cuối cùng là chưa có biện pháp xử phạt thích đáng công ty bảo hiểm trong việc chậm trễ bồi thường cũng như xử phạt thích đáng các hành vi trục lợi bảo hiểm. 3. Điểm mạnh Hơn 40 năm xây dựng và trưởng thành, Bảo Việt là một trong những doanh nghiệp lâu đời nhất Việt Nam. Với bề dày kinh nghiệm của mình, Bảo Việt dễ dàng giành được tín nhiệm của đông đảo khách hàng. Có thể thấy thương hiệu Bảo Việt xuất hiện khắp mọi nơi trên đất nước từ vùng sâu, miền núi đến những con đường của các thành phố lớn, đó là sức mạnh từ sự nhận biết của xã hội. Điều này gần như không thể làm được với những doanh nghiệp cùng ngành khác hiện nay. Hệ thống phân phối đại lý rộng khắp là điểm mạnh thứ hai của Bảo Việt. Phát triển cùng những thăng trầm của đất nước, hiện nay Bảo Việt Việt Nam có 64 công ty trực thuộc chuyên kinh doanh dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ, 126 công ty thành viên trên cả nước với hơn 5000 cán bộ nhân viên, cùng với đó là gần 40.000 đại lý bảo hiểm được đào tạo bài bản và tận tụy với công việc, tận tâm với khách hàng. Bảo Việt đã triển khai được 120 nghiệp vụ bảo hiểm cả nhân thọ (80 nghiệp vụ) và phi nhân thọ (40 nghiệp vụ). Hoạt động khắp nơi, đó là từ ngắn gọn, nhưng cũng mạnh mẽ để khẳng định điểm mạnh của Bảo Việt trước các doanh nghiệp khác. Đây chính là rào cản không chỉ của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước mà còn là thử thách của các công ty tham gia thị trường bảo hiểm Việt Nam.[24] Ngoài ra, Bảo Việt có một tiềm lực tài chính mạnh, có khả năng nhận bảo hiểm và tái bảo hiểm cho các hợp đồng có giá trị lớn. Doanh thu phí bảo hiểm hàng năm và vốn điều lệ lớn tạo ra một tiềm lực đầu tư dồi dào. Tình hình tài chính lành mạnh cộng với quỹ dự phòng lớn và khả năng thanh toán 82 giúp Bảo Việt khá thuận lợi trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh hiện tại và trong tương lai. Hoạt động đầu tư tài chính đã được chuyên môn hóa và chuyên nghiệp hóa đóng góp không nhỏ vào kết quả kinh doanh trên thị trường của Bảo Việt. Bên cạnh đó, Bảo Việt là công ty duy nhất ở Việt Nam và là một trong số ít các công ty trên thế giới cung cấp cả hai loại hình bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Cùng với việc phát triển tập đoàn tài chính bảo hiểm, Bảo Việt đang sở hữu một số công ty con hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, bất động sản và ngân hàng… Điều này tạo điều kiện cho Bảo Việt cũng như các công ty con tận dụng mạng lưới khách hàng bán chéo sản phẩm, hoạt động bổ trợ nhau đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng. Với kinh nghiệm lâu năm của mình trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam, hơn bất kỳ một doanh nghiệp nào khác, Bảo Việt rất am hiểm môi trường kinh doanh và văn hóa trong nước, điều này giúp doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận với khách hàng, nhất là các khách hàng truyền thống lớn. 4. Điểm yếu Thứ nhất, phương pháp kinh doanh của Bảo Việt đang vấp phải tình trạng bình mới rượu cũ. Đây là vấn đề không chỉ của riêng Bảo Việt mà còn là của chung các doanh nghiệp Nhà nước (kể cả các doanh nghiệp đã cổ phần hóa) ở Việt Nam, rất khó để họ thay đổi tư duy và cách kinh doanh vốn rất cứng nhắc của mình. Phương thức phục vụ còn nhiều hạn chế, kém linh hoạt, hậu quả là chất lượng quản lý, dịch vụ thấp, không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Thứ hai, kết quả kinh doanh của Bảo Việt không thực sự ấn tượng trong những năm gần đây, nhất là khi mở cửa thị trường, có nhiều doanh nghiệp lớn nhất là các doanh nghiệp nước ngoài. Theo các nhà kinh tế học kết quả kinh doanh được coi là nhân tố thể hiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Điều này chứng tỏ sức cạnh tranh của Bảo Việt cũng là vấn đề đáng 83 lo ngại nhất là khi các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đang ồ ạt tiến vào thị trường Việt Nam. Thêm vào đó, các phương pháp kinh doanh nhanh, mạnh và sáng tạo của doanh nghiệp mới, doanh nghiệp liên doanh hay các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đang lấn chiếm thị trường bảo hiểm Việt Nam như một tất yếu của quá trình hội nhập, điều này là thách thức không nhỏ với các doanh nghiệp kinh doanh theo kiểu truyền thống như Bảo Việt. Nếu như nguồn nhân lực được xem là nhân tố quan trọng hỗ trợ sự phát triển của ngành bảo hiểm thì cũng như các doanh nghiệp khác ở Việt Nam, Bảo Việt đang rất khó khăn trong vấn đề nhân lực. Lý do dẫn đến tình trạng này là mặc dù bảo hiểm tồn tại ở Việt Nam từ rất lâu song doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động theo quy tắc kinh tế thị trường mới chỉ bắt đầu từ sau năm 1993. Do đó, mặc dù ngành giáo dục, đào tạo của Việt Nam cũng đã rất nỗ lực để cung cấp nguồn lực phục vụ cho sự phát triển của ngành, song mức độ đáp ứng mới chỉ dừng ở mức trung bình mà thôi. Bên cạnh đó, một điều rất dễ nhận ra qua những con số điều tra thống kê là khoảng cách tương đối lớn giữa kiến thức sinh viên được học ở trường đại học và công việc thực tế khi đi làm. Các chương trình đào tạo vẫn chưa bám sát nhu cầu của ngành, còn rất nặng các môn học về bảo hiểm bắt buộc trong khi nhu cầu kiến thức về bảo hiểm thương mại lớn hơn rất nhiều. Về phía doanh nghiệp, hạn chế về khả năng tài chính đã không cho phép các doanh nghiệp này có thể đầu tư dài hạn cho việc đào tạo các cán bộ. Thiếu đào tạo bài bản về nghiệp vụ, các cán bộ bảo hiểm của Việt Nam có thể vẫn xử lý được các tình huống thường ngày nhưng chưa thể tự xử lý được các nghiệp vụ khó. Mặt khác, một trong những khó khăn làm đau đầu các lãnh đạo doanh nghiệp bảo hiểm trong nước là tình trạng "chảy máu chất xám". Chính những ràng buộc về cơ chế quản lý hành chính, chế độ tiền lương, cơ hội thăng tiến... 84 khiến doanh nghiệp bảo hiểm trong nước chưa hấp dẫn so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nên các doanh nghiệp trong nước đã bị mất nhiều cán bộ giỏi. II. Phƣơng hƣớng phát triển của Bảo Việt trong thời gian tới 1. Phương hướng phát triển hoạt động kinh doanh chung Giai đoạn 2006 - 2010 là giai đoạn hết sức quan trọng đối với Bảo Việt với nhiều cơ hội to lớn do việc mở cửa nền kinh tế nói chung và ngành bảo hiểm nói riêng nhưng cũng đặt ra nhiều thử thách do tình hình cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm ngày càng gay gắt. Trong bối cảnh hiện nay, Bảo Việt đã xác định rõ định hướng phát triển trong giai đoạn 2006 - 2010, đó là phát triển Bảo Việt thành một Tập đoàn tài chính đa ngành, đa lĩnh vực, đứng hàng đầu trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, đầu tư tài chính, kinh doanh chứng khoán và các dịch vụ tài chính khác tại Việt Nam, có trình độ và sức cạnh tranh quốc tế với ba nguyên tắc vàng “tăng trưởng”, “hiệu quả” và “phát triển bền vững”. Trong tương lai, Bảo Việt sẽ được biết đến không chỉ với những công ty thành viên trong lĩnh vực bảo hiểm và đầu tư như: Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt, Tổng công ty Bảo Việt Nhân thọ, Công ty Quản lý Quỹ Bảo Việt, Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt mà còn được biết đến ở những công ty thành viên mới như: Ngân hàng Thương mại cổ phần Bảo Việt, Công ty Cho thuê tài chính Bảo Việt, Bảo Việt Y tế, Bảo Việt Bất động sản… Các khách hàng tham gia bảo hiểm tại Bảo Việt sẽ được phục vụ thêm những tiện ích của các dịch vụ tài chính, tín dụng, thanh toán, tín thác, uỷ thác đầu tư, chứng khoán… Bảo Việt cam kết đem lại những dịch vụ tài chính đa dạng, thuận tiện với chất lượng phục vụ tốt nhất vho mọi khách hàng. Để làm được điều này trong phương hướng phát triển giai đoạn 2006- 2010, Bảo Việt đã đặt ra một số mục tiêu sau: 85 - Phát triển thành một tập đoàn tài chính bảo hiểm có trình độ và sức mạnh cạnh tranh ngang tầm quốc tế, đứng hàng đầu trong việc cung cấp dịch vụ bảo hiểm và đầu tư tài chính tại Việt Nam và có uy tín trong khu vực. Tiếp tục phát triển hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực bảo hiểm, đầu tư tài chính, chứng khoán và các dịch vụ tài chính khác, trong đó lấy hoạt động bảo hiểm làm nòng cốt. - Nâng cao năng lực cạnh tranh trong nước và khu vực, trên cơ sở đáp ứng một cách năng động nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, cung cấp dịch vụ tài chính chất lượng cao và các dịch vụ phụ trợ tiện ích khác. - Trở thành một tổ chức vững mạnh uy tín và danh tiếng, chiếm được lòng tin của khách hàng, đối tác và các đơn vị thành viên trực thuộc. - Liên tục phát triển ổn định, hiệu quả và bền vững. - Tổ chức hoạt động một cách hợp lý và hiệu quả trong tập đoàn theo mô hình công ty mẹ - con. Phát huy tối đa lợi thế của công ty cổ phần, thu hút vốn của công chúng phục vụ mở rộng và phát triển kinh doanh. - Nâng cao trình độ quản lý và chất lượng phục vụ khách hàng trong bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào của tập đoàn, từ việc nghiên cứu phát triển sản phẩm, dịch vụ đến việc tư vấn cho khách hàng các giải pháp tối ưu hoặc xây dựng mối quan hệ hợp tác chặt chẽ, cùng phát triển với khách hàng, các đối tác trong nước và nước ngoài. - Trong điều kiện Việt Nam đã tham gia tổ chức WTO, Bảo Việt vẫn đứng vững là một trong ba doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ có thị phần doanh thu phí bảo hiểm lớn ở Việt Nam, cung cấp sản phẩm đa dạng theo chuẩn mực quốc tế, là một doanh nghiệp uy tín, có chất lượng dịch vụ và kinh doanh hàng đầu trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. - Các doanh nghiệp thành viên kinh doanh dịch vụ tài chính của Bảo Việt phải tạo được nền tảng các dịch vụ liên kết, làm tăng sức mạnh kinh doanh của lĩnh vực kinh doanh chính của Bảo Việt là bảo hiểm; đầu tư tài 86 chính an toàn, hiệu quả, có tính thanh khoản, đảm bảo khách hàng đến với Bảo Việt không chỉ được phục vụ chất lượng tốt nhất mà còn được hưởng có các tiện ích thiết thực về tài chính như thanh toán, chuyển khoản, vay trả, ủy thác đầu tư, mua bán chứng khoán với chất lượng ngang tầm quốc tế. Quyết tâm xây dựng Bảo Việt gắn với hình ảnh các “siêu thị tài chính” phục vụ online. 2. Phương hướng phát triển nghiệp vụ P&I ở Bảo Việt trong thời gian tới Trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, ngoại thương được coi là lĩnh vực tiên phong, vì vậy bảo hiểm hàng hải nói chung và bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế. Hoạt động của nghiệp vụ bảo hiểm này ở Bảo Việt cũng có những cơ hội phát triển thích ứng với những biến đổi của hoạt động thương mại. Theo quy luật kinh tế “có cầu thì ắt có cung”, khoảng 80% lượng hàng hoá xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển do đó khi lượng hàng hoá này tăng thì nhu cầu về tàu biển vận chuyển sẽ tăng. Bảo Việt đã có phương hướng phát triển nghiệp vụ này trong thời gian tới cụ thể như sau: Thứ nhất, trong những năm tới, lượng hàng hoá xuất nhập khẩu sẽ tăng do nhu cầu phát triển của nền kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và sẽ có thêm những đội tàu vận chuyển mới. Do vậy, bên cạnh việc tập trung khai thác và duy trì những khách hàng là chủ tàu cũ, Bảo Việt sẽ quan tâm khai thác những khách hàng mới này. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn ở Bảo Việt bởi nhiều đội tàu ra đời nhưng nghiệp vụ bảo hiểm P&I của Bảo Việt đã vấp phải sự cạnh tranh gay gắt của nhiều công ty bảo hiểm khác. Hi vọng với uy tín và thế mạnh của mình, Bảo Việt vẫn sẽ đạt được những kết quả kinh doanh khả quan. Thứ hai, với những mối quan hệ đã tạo lập được với các bạn hàng cũng như với các công ty bảo hiểm nước ngoài Bảo Việt sẽ mở rộng hơn nữa các mối quan hệ này, đặc biệt là ở châu Mỹ. Quan hệ với các tổ chức hàng hải và 87 bảo hiểm quốc tế sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Bảo Việt. Điển hình là Bảo Việt làm đại lý giám định cho các công ty bảo hiểm lớn trên thế giới, năng lực chuyên môn của cán bộ Bảo Việt không những được nâng cao mà Tập đoàn còn thu được một nguồn ngoại tệ lớn từ việc thực hiện dịch vụ đó. Thứ ba, việc mở cửa thị trường bảo hiểm sẽ cho phép nhiều công ty bảo hiểm nước ngoài tham gi. Bảo Việt đã, đang và sẽ có sự chuyển đổi từng bước sang cơ chế thị trường, đặc biệt là trong nghiệp vụ bảo hiểm tàu biển. Tuy nhiên, tốc độ dịch chuyển này hiện nay có ý nghĩa rất lớn khi các công ty bảo hiểm khacs cũng đang tích cực chuyển đổi nhằm giành lấy khách hàng. Như vây, cơ hội phát triển trong điều kiện mới sẽ đến với Bảo Việt khi Tập đoàn biết tận dụng thời cơ và tiềm lực của mình. Thứ tư, với xu hướng khu vực hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên thế giới, quy luật liên kết kinh tế đã được chứng minh là hết sức hiệu quả trong thực tế thì hoạt động bảo hiểm cũng không nằm ngoài quy luật kinh tế này. Do vậy, Bảo Việt sẽ nghiên cứu một mô hình liên kết kinh tế giữa người vận chuyển (chủ tàu), người xuất khẩu hàng hoá và công ty bảo hiểm. Đây là một mô hình kinh tế chưa từng có ở Việt Nam song đã hình thành rất nhiều ở các nước trên thế giới. Qua mô hình này, người xuất khẩu bán được hàng, người vận chuyển có hàng để chở và Bảo Việt sẽ cung cấp được dịch vụ bảo hiểm. Thứ năm, để đảm bảo việc phân tán rủi ro và đảm bảo khả năng bồi thường, Bảo Việt cần nghiên cứu để có các hình thức hợp đồng tái bảo hiểm hợp lý ở những thị trường có tiềm lực tài chính lớn và giàu kinh nghiệm trong hoạt động tái bảo hiểm. Công tác nhận tái và nhượng tái bảo hiểm cũng cần được phối hợp một cách linh hoạt, có hiệu quả nhất. 88 III. Một số giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo hiểm P&I tại Bảo Việt Để thị trường bảo hiểm P&I ở Việt Nam có thể thực sự phát triển cần có sự nỗ lực hơn nữa từ các doanh nghiệp bảo hiểm, cụ thể ở đây là Tập đoàn bảo hiểm Bảo Việt. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ của chính phủ cũng giúp cho thị trường phát triển nhanh chóng và lành mạnh hơn. 1. Từ phía Bảo Việt 1.1. Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng cáo về nghiệp vụ bảo hiểm, mở rộng thị phần Khác với các sản phẩm, dịch vụ khác, bảo hiểm nói chung và bảo hiểm P&I là một sản phẩm trừu tượng và rất khó để mọi người có thể hiểu hết vai trò, tác dụng của nó. Nhiều chủ tàu chưa có nhiều kiến thức về lĩnh vực bảo hiểm. Có người cho rằng khi họ đã tham gia bảo hiểm thì cứ có tổn thất là họ được bồi thường, đơn giản như việc tham gia bảo hiểm thân tàu khi tổn thất xảy ra họ chỉ được bồi thường ¾ số tổn thất đó, còn chưa kể phần vượt quá số tiền bảo hiểm. Vì vậy, mà xảy ra không ít các vụ kiện tụng, gây lãng phí tiền của và thời gian của cả công ty bảo hiểm và người được bảo hiểm. Do đó, đẩy mạnh tuyên truyền, quảng cáo sâu rộng là yêu cầu cần thiết để khách hàng biết đến nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu, giúp họ hiểu rõ về nghiệp vụ này, sự cần thiết của nó cũng như quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia bảo hiểm P&I. Để làm được điều này, Bảo Việt nên đầu tư hơn nữa trong khâu quảng cáo, chủ yếu bằng các phương tiện thông tin đại chúng (như báo chí, truyền hình, phát thanh, phim ảnh, áp phích...), tổ chức các cuộc hội thảo, nói chuyện, hướng dẫn nghiệp vụ. Năm 2008, doanh nghiệp đã tổ chức hội thảo chuyên đề “Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu”, tuy nhiên chưa thực sự hiệu quả bởi hội thảo này chỉ được một số doanh nghiệp đầu ngành biết đến, chưa có sự tham gia của các hội chủ tàu. Bảo Việt nên tiếp xúc trực tiếp với từng doanh nghiệp, cá nhân để quảng cáo cho họ biết về “sản 89 phẩm” bảo hiểm của mình bằng cách mô tả cũng như làm cho khách hàng chú ý tới những lợi ích liên quan đến sản phẩm đó. Xúc tiến việc đưa “sản phẩm” bảo hiểm đến tận tay khách hàng bằng nhiều hình thức, Bảo Việt có thể sử dụng các phương pháp khuyến khích vật chất như tặng quà kèm theo sản phẩm (chẳng hạn như việc biếu tặng phẩm cho những người mua bảo hiểm ), trò chơi trúng thưởng, trao phần thưởng cho người có hợp đồng bảo hiểm ở một số nơi nào đó, hoặc số hiệu của hợp đồng được trúng giải đặc biệt, điều kiện dự thưởng là những khách hàng thường xuyên. Điều này sẽ làm mối quan hệ giữa khách hàng với Bảo Việt ngày một tốt đẹp. Bên cạnh đó, Tập đoàn nên thường xuyên cập nhật thông tin thị trường, các quy định mới từ phía chính phủ, các Hội, giúp khách hàng nắm bắt thông tin kịp thời tránh trường hợp áp đặt gây nhầm lẫn và những thiệt hại đáng tiếc sau này. Như việc tăng phí bảo hiểm cần có sự thỏa thuận giữa hai bên nhằm đưa ra một mức phí hợp lý nhất. Trong quá trình tuyên truyền, Bảo Việt nên tranh thủ cơ hội tiếp xúc khách hàng, nắm bắt nhu cầu hiện tại cũng như nhu cầu tiềm năng, tình hình cung cầu trên thị trường để xây dựng chiến lược sản phẩm một cách hợp lý cả về giá cả và xúc tiến, hỗ trợ kinh doanh. Bám sát khách hàng, duy trì thường xuyên mối quan hệ với các đầu mối mua bảo hiểm của các công ty có quan hệ làm ăn với Bảo Việt, mở rộng hệ thống cộng tác viên ở các cơ quan quản lý Nhà nước để nắm vững những dự án ngay từ trước khi các tổ chức, đơn vị bắt đầu đàm phán, ký kết hợp đồng liên doanh, liên kết. Từ đó, Bảo Việt có thể đưa ra những điều kiện ưu đãi phù hợp với từng tổ chức đơn vị khi tham gia công tác bảo hiểm tại Bảo Việt. Đặc biệt, như phương hướng đã nêu ở trên, đối với các doanh nghiệp (mà cụ thể là các đội tàu) có tài sản lớn, Bảo Việt có thể vận động và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khách hàng bằng việc ký kết hợp đồng bảo hiểm nhiều năm. Điều này giúp cho khách hàng không phải ký hợp đồng nhiều lần mà tài sản của họ vẫn được bảo hiểm. Đồng thời Tập đoàn 90 cần đơn giản hoá thủ tục hành chính, đảm bảo thuận lợi cho khách hàng trong khâu ký kết hợp đồng bảo hiểm. 1.2. Về định phí bảo hiểm Phí bảo hiểm là mối quan tâm đặc biệt của các chủ tàu khi tham gia bảo hiểm bởi nó là nhân tố liên quan đến lợi ích của họ. Do đó, Bảo Việt nên tìm mọi biện pháp để cung cấp nghiệp vụ với một mức phí hợp lý, tức là thu một mức phí đủ chi trả bồi thường và có lãi nhưng vẫn đảm bảo lợi ích của chủ tàu. Do đặc thù của nghiệp vụ bảo hiểm P&I, các công ty bảo hiểm đại diện cho các chủ tàu biển tham gia bảo hiểm với Hội với tư cách một đội tàu tham gia bảo hiểm. Mức phí này được Hội đưa ra dựa trên mức tổn thất thực tế trong năm nghiệp vụ, vì vậy khó có thể hạ phí xuống một mức thấp hơn mà không dẫn đến tình trạng giảm chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, để thu hút khách hàng, Bảo Việt nên đưa ra mức phí bảo hiểm linh hoạt hơn, có thể giảm theo tổng dung tích mà tàu tham gia. Đối với các chủ tàu tham gia bảo hiểm lâu dài, mà không để xảy ra tổn thất thì có thể cung cấp cho họ một khoản khuyến khích hay chi hỗ trợ trong công tác đề phòng, hạn chế tổn thất một cách hợp lý. Đây là một trong những biện pháp cần được vận dụng hết sức linh hoạt, mềm dẻo để thu hút khách hàng lớn và những khách hàng có nghiệp vụ, kinh nghiệm trong hoạt động vận chyển và kinh doanh, làm tốt công tác đề phòng, hạn chế tổn thất. Đề phòng hạn chế tổn thất là một trong những khâu quan trọng của bảo hiểm nói chung và bảo hiểm P&I nói riêng. Kinh nghiệm thực tế từ bao đời nay cho thấy “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, công tác này sẽ giúp công ty bảo hiểm giảm đáng kể lượng tổn thất phải bồi thường. Các chủ tàu là người vận hành thường xuyên con tàu nhưng không phải ai trong số họ cũng có ý thức và những hiểu biết cơ bản để lường trước những rủi ro có thể xảy ra. Vì vậy, Bảo Việt cần xem xét kỹ con tàu vận chuyển về 91 các đặc tính như tuổi tàu, cấp hạng tàu, chủ tàu, thuyền trưởng, thuyền viên… trước khi cung cấp bảo hiểm. Cần có nhân viên theo dõi sát hoạt động của con tàu, đôn đốc, cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết như tình hình thiên tai, trong trường hợp cần thiết có thể thực hiện biện pháp can thiệp, giảm thiểu tổn thất. Tập đoàn phải thường xuyên tiến hành theo dõi, thống kê tổn thất, rút ra nhận xét, kinh nghiệm và nguyên nhân tổn thất… trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. 1.3 Cải thiện chất lượng dịch vụ, đặc biệt là công tác giám định, bồi thường thiệt hại Hoạt động kinh doanh của Bảo Việt không dựa vào nguồn vốn lớn mà chủ yếu dựa vào uy tín và kinh nghiệm lâu năm. Phương châm “phục vụ khách hàng một cách tốt nhất để phát triển” luôn được Bảo Việt coi trọng. Không giống như các sản phẩm thông thường khác, bảo hiểm là một sản phẩm đặc biệt, có quy trình ngược. Khi mua bảo hiểm, người mua bảo hiểm ở đây là chủ tàu chi ra một khoản tiền để nhận được sự cam kết từ phía công ty bảo hiểm về việc bồi thường nếu có tổn thất do rủi ro được bảo hiểm gây ra. Vì vậy, công ty bảo hiểm phải đặc biệt chú trọng tới khâu chăm sóc khách hàng, giám định và bồi thường. Để có được hệ thống dịch vụ chất lượng, Bảo Việt cần phải đầu tư mạnh vào cả 3 yếu tố: con người, quy trình phục vụ và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, mà trước hết là hệ thống công nghệ thông tin. Như chúng ta đã biết, nghiệp vụ bảo hiểm P&I không chỉ là sự hợp tác giữa hai bên (người bảo hiểm và chủ tàu), mà còn liên quan đến rất nhiều yếu tố, trong đó có cả yếu tố nước ngoài. Vì vậy, nghiệp vụ này đòi hỏi hệ thống công nghệ thông tin hiện đại để trao đổi, cung cấp thông tin liên tục, nhanh chóng, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ. Đầu tư vào hệ thống công nghệ thông tin không chỉ là việc đầu tư vào máy móc, mua bao nhiêu máy tính và đầu tư hệ thống mạng như thế 92 nào, mà điểm then chốt là trước hết ban lãnh đạo phải sử dụng thành thạo, thường xuyên, liên tục để chỉ đạo điều hành nghiệp vụ. Ngoài những nhân tố trên thì ý chí của người lãnh đạo trong việc thực hiện các cam kết với khách hàng là yếu tố rất quan trọng. Ban lãnh đạo tập đoàn nên thường xuyên kiểm soát chất lượng dịch vụ, đồng thời yêu cầu các bộ phận bán hàng, bộ phận giải quyết bồi thường phải có cam kết hỗ trợ lẫn nhau… Bộ phận khai thác khách hàng, marketing phải thường xuyên cập nhật những thay đổi của các đối thủ cạnh tranh và phản ánh những ý kiến khách hàng cho Tập đoàn để xem xét điều chỉnh, đảm bảo chất lượng dịch vụ luôn luôn dẫn đầu thị trường. 1.4. Nâng cao nghiệp vụ cán bộ Nhân tố con người luôn được coi là nhân tố quan trọng nhất trong các ngành nghề, đặc biệt là các ngành dịch vụ như bảo hiểm. Chính sách cán bộ cần phải được coi trọng vì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực hiện nghiệp vụ bằng thái độ, ý thức trách nhiệm, trình độ chuyên môn của cán bộ bảo hiểm. Cần đánh giá đúng mức cán bộ trên cơ sở khả năng, năng lực công tác, có chính sách đãi ngộ, khuyến khích bằng vật chất đối với những cán bộ giỏi, có năng lực. Phân công công việc đúng khả năng, trình độ của mỗi người. Nâng cao hơn nữa vai trò tư vấn của đội ngũ cán bộ khai thác bảo hiểm. Cán bộ khai thác bảo hiểm cần am hiểu kỹ thuật nghiệp vụ, biết tư vấn cho khách hàng loại bảo hiểm cần thiết với họ. Ngoài ra, cán bộ bảo hiểm cũng cần có những kiến thức, những am hiểu về hàng hải để có thể tư vấn cho khách hàng về cách khai thác, điều hành con tàu. Cán bộ khai thác bảo hiểm của Bảo Việt qua việc tư vấn sẽ tạo ra được sự tin tưởng ở phía khách hàng, làm cho họ yên tâm hơn khi tham gia bảo hiểm tại Bảo Việt, từ đó sẽ lôi kéo được một lượng khách hàng lớn tham gia bảo hiểm tại Bảo Việt. Đối với cán bộ làm công tác giám định thì phải đào tạo cho họ không chỉ kiến thức về hàng hải mà còn cả kiến thức về kỹ thuật để họ có được 93 những đánh giá đúng đắn khi xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất. Chất lượng công tác bồi thường ra sao phụ thuộc hoàn toàn vào biên bản giám định. Việc đòi người thứ ba cũng không thể có kết quả nếu biên bản giám định không xác định rõ nguyên nhân gây tổn thất. Người giám định cũng phải biết trong trường hợp nào thì cần lấy mẫu để phân tích trên máy, tránh việc giám định theo cảm tính. Những cán bộ làm công tác bồi thường phải là những cán bộ giỏi, chuyên sâu, hiểu kỹ về điều khoản bảo hiểm để có thể biết được rủi ro có thuộc trách nhiệm bồi thường của Tập đoàn hay không. Đây là yếu tố then chốt để bồi thường đúng. Có thể thiệt hại tổn thất là có thật, nhưng khách hàng không mua bảo hiểm cho rủi ro đó thì không được bồi thường, ngược lại, phải bồi thường đầy đủ cho khách hàng nếu không sẽ dẫn đến tranh chấp, ảnh hưởng đến uy tín của Bảo Việt. Đưa cán bộ đi đào tạo tại các trung tâm đào tạo bảo hiểm để bổ sung lực lượng con người cho nghiệp vụ, đào tạo mới đội ngũ giám định viên có kiến thức chuyên môn cơ bản, sâu vững hợp tác với những cán bộ đã có tay nghề. Việc đào tạo này không những được tiến hành trong nước mà còn có thể ra nước ngoài đào tạo cán bộ ở những khâu công việc đòi hỏi nghiệp vụ chuyên môn cao. Để tránh ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của công ty, Bảo Việt có thể tiến hành các chương trình đào tạo nâng cao nghiệp vụ một cách luân phiên. Nghiệp vụ bảo hiểm P&I thường có mối quan hệ quốc tế rộng lớn do đó cần có những cán bộ giỏi ngoại ngữ. Đào tạo lại và đào tạo mới đội ngũ cán bộ của Bảo Việt không chỉ trên lĩnh vực nghiệp vụ mà còn cần quan tâm đến trình độ ngoại ngữ để hoạt động bảo hiểm thích ứng với điều kiện thực tế. Đối với đội ngũ cộng tác viên, đại lý, Bảo Việt cũng cần phải có những chính sách đãi ngộ hợp lý, coi họ như những nhân viên làm công tác hỗ trợ hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Mức hoa hồng thoả đáng, gia tăng theo hiệu quả 94 công việc thực hiện là động lực thúc đẩy các cộng tác viên tham gia tích cực vào công tác bảo hiểm của Bảo Việt. 1.5. Tăng cường hợp tác trong nước, quốc tế Để tăng cường sức mạnh trong môi trường kinh doanh mới, đặc biệt là bảo hiểm P&I, bên cạnh việc phát huy nội lực, Bảo Việt rất cần bắt tay hợp tác với các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, ở đây là các hội P&I. Thông qua Hiệp hội bảo hiểm, các thành viên có thể có những tác động tích cực nhằm mở rộng, định hướng cho thị trường, duy trì sự cạnh tranh lành mạnh, chống trục lợi bảo hiểm... tạo điều kiện phát triển có lợi cho toàn ngành. Các công ty trong Hiệp hội nên cùng nhau thiết lập những quy tắc kinh doanh lành mạnh áp dụng cho các doanh nghiệp trong ngành, xử lý những trường hợp vi phạm. Ngoài ra, các công ty cũng có thể liên kết với nhau tạo ra một tiếng nói chung để đóng góp ý kiến, kiến nghị với các cơ quan quản lý Nhà nước những giải pháp phát triển chung cho ngành bảo hiểm cũng như cùng nhau có những bước đi thích hợp khi thị trường có những diễn biến xấu. Đồng thời, việc hợp tác chặt chẽ với nhau trong việc đào tạo cán bộ, đại lý, thu thập, sử dụng các số liệu thống kê liên quan, xây dựng, tăng cường uy tín và hình ảnh tốt đẹp của toàn ngành... sẽ giúp các công ty sử dụng tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả khai thác nguồn thông tin, nguồn nhân lực... Không chỉ tăng cường hợp tác trong nước, Bảo Việt phải đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tạo lập, củng cố mối quan hệ với các công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm có kinh nghiệm, uy tín trong khu vực và quốc tế nhằm hợp tác đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho nguồn nhân lực, trợ giúp về kỹ thuật, công nghệ, trao đổi thông tin... Việc thúc đẩy hợp tác quốc tế cũng sẽ mở ra những cơ hội kinh doanh mới cho cả hai phía, tạo thuận lợi cho nghiệp vụ bảo hiểm P&I của Bảo Việt vươn ra với thế giới. 95 2. Một số đề xuất với Nhà nước Những nhân tố khách quan nằm ngoài sự kiểm soát của Bảo Việt cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động bảo hiểm P&I ở Tập đoàn. Ngoài các giải pháp từ phía Tập đoàn thì những chính sách của Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng. Để khắc phục những mặt còn tồn tại, nâng cao hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ bảo hiểm P&I tại Bảo Việt, em xin đưa ra một số đề xuất đối với Nhà nước. 2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động bảo hiểm Luật kinh doanh bảo hiểm ra đời năm 2000 là một trong những thành công của hệ thống pháp luật Việt Nam và thị trường bảo hiểm. Tuy nhiên, thực tế áp dụng trong thời gian qua cho thấy Luật và nhiều văn bản dưới Luật vẫn còn nhiều chỗ chưa thống nhất, chưa đầy đủ, hoặc chưa thích hợp với điều kiện cụ thể của nước ta. Hàng loạt các văn bản pháp lý được ban hành trong những năm 2001 – 2007 đã giúp cho người dân Việt Nam có điều kiện tìm hiểu hoạt động bảo hiểm thương mại, nắm được quyền và nghĩa vụ của công ty bảo hiểm và của chính mình với tư cách là người được bảo hiểm trên hợp đồng bảo hiểm, hiểu được lợi ích hợp pháp và quyền được bảo vệ lợi ích hợp pháp khi tham gia các loại hình bảo hiểm. Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp, kế hoạch phát triển các sản phẩm bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm nói chung, nhu cầu đảm bảo an toàn các rủi ro của người dân trong xã hội nói riêng. Một điểm rất dễ nhận ra ở hệ thống pháp luật Việt Nam là các văn bản pháp lý khá nhiều nhưng lại phân tán và nhiều bất cập. Một hệ thống văn bản pháp luật từ nguồn luật, nghị định, thông tư hướng dẫn gây không ít khó khăn cho cả cơ quan điều hành và người thực hiện.. Chính vì thế, tới đây, những nhà làm luật cần học hỏi thêm kinh nghiệm xây dựng luật của các nước, đồng 96 thời có những nghiên cứu cụ thể các điều kiện của Việt Nam để có những điều chỉnh thích hợp hơn nữa. Đây là thời điểm cần thiết và thuận lợi cho việc kiện toàn khung pháp lý về bảo hiểm. Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã có Luật kinh doanh bảo hiểm ra đời và đến nay thị trường bảo hiểm đã khá phát triển, định hình đầy đủ các đối tượng cần điều chỉnh. Hơn nữa, việc bổ sung, luật hóa các cam kết song phương, đa phương của Việt Nam đối với các đối tác quốc tế ở thời điểm này thực sự cấp thiết. Mặt khác, việc kiện toàn khung pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn phải được thực hiện theo hướng khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức kinh tế – xã hội tham gia bảo hiểm, khuyến khích công ty bảo hiểm giúp ích cho nền kinh tế - xã hội quản lý tốt rủi ro, ngăn ngừa tình trạng kiếm lời quá đáng của doanh nghiệp bảo hiểm (ví dụ như trong kinh doanh trên rủi ro của con người). 2.2. Tăng cường kiểm tra, giám sát Sự tăng trưởng thị trường nhanh, mạnh trong thời gian qua cùng với sự ra đời của nhiều công ty bảo hiểm, mạng lưới phân phối sản phẩm triển khai nhanh chóng và rộng rãi trên toàn quốc, thị trường diễn ra sôi động và cạnh tranh không kém phần khốc liệt. Hơn nữa, ở đây, người thực hiện triển khai là doanh nghiệp bảo hiểm nên không thể tránh tâm lý hoài nghi, chưa an tâm của khách hàng. Điều này càng đòi hỏi bộ máy quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải đủ lớn, đủ năng lực quản lý toàn diện thị trường bảo hiểm nói chung, các doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng. Để tạo sự yên tâm cho các công ty kinh doanh bảo hiểm, Nhà nước cần phải tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh an toàn, ổn định, bình đẳng và thuận lợi. Điều này thể hiện trước hết ở việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường. Trong công tác quản lý, Nhà nước cần sử dụng các công cụ pháp lý một cách thích hợp và hiệu quả, đặc biệt cần phải hạn chế tối đa sự cạnh tranh không lành mạnh, kiểm 97 soát độc quyền, đảm bảo một môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng. Nhà nước cũng phải có chủ trương đổi mới phương thức quản lý và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tiến dần tới thực hiện các nguyên tắc và chuẩn mực quản lý bảo hiểm quốc tế. Việc thực hiện các chính sách vĩ mô cũng cần được tiến hành một cách tích cực và đảm bảo hiệu quả cao. Chức năng kinh doanh của doanh nghiệp và chức năng quản lý kinh tế của các cơ quan Nhà nước cần được phân biệt rõ ràng. Nhà nước giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm thông qua hệ thống các chỉ tiêu về hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm và kiểm tra, xử lý vi phạm theo pháp luật, không can thiệp hành chính vào hoạt động của các doanh nghiệp. Do tính chất quan trọng của ngành bảo hiểm đối với nền kinh tế, trong những trường hợp cần thiết, Nhà nước cũng phải tiến hành can thiệp và điều tiết thị trường. Việc thực hiện bởi công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ để nắm thế chủ động, trong khi vẫn tạo môi trường tự do kinh doanh rất khó khăn, đòi hỏi nhiều kiến thức, kinh nghiệm về hoạt động bảo hiểm, cũng như sự linh hoạt trong việc áp dụng các công cụ quản lý Nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, từng bước phải mở cửa thị trường bảo hiểm theo các hiệp định và cam kết quốc tế, ngành bảo hiểm đang đứng trước thách thức và vận hội mới, đòi hỏi công tác quản lý Nhà nước phải có những cải cách phù hợp. Do vậy, việc đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước về lĩnh vực bảo hiểm rất cấp thiết. 2.3. Tạo cơ chế, chính sách ưu đãi, tạo môi trường thuận lợi để phát triển hoạt động bảo hiểm Ngoài việc tăng cường công tác quản lý Nhà nước, xây dựng môi trường pháp lý đầy đủ, thống nhất, Nhà nước sẽ phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về hoạt động kinh doanh bảo hiểm để thị trường phát triển 98 lành mạnh, an toàn, phù hợp với yêu cầu hội nhập, đồng thời vẫn bảo đảm tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Cần có một chính sách phù hợp để khuyến khích việc tham gia bảo hiểm của các cá nhân, tổ chức, khuyến khích việc mở rộng thị trường, phạm vi hoạt động của các công ty bảo hiểm. Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm bằng cách cho hưởng chính sách ưu đãi khi cung cấp các dịch vụ bảo hiểm trong các lĩnh vực có ý nghĩa kinh tế - xã hội cao như bảo hiểm nông, lâm, ngư nghiệp, dịch vụ bảo hiểm nhân thọ có tính chất đầu tư dài hạn... đặc biệt là ưu đãi cho những doanh nghiệp bảo hiểm chú trọng mở rộng phạm vi hoạt động đến các vùng sâu, vùng xa. Doanh nghiệp bảo hiểm được phép thành lập quỹ đầu tư, quỹ tín thác và công ty quản lý quỹ theo qui định của pháp luật. Các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng phí bảo hiểm thu được để đầu tư tại Việt Nam cũng được áp dụng các cơ chế, chính sách về đầu tư như các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước. Nhà nước cũng có thể ưu tiên các doanh nghiệp bảo hiểm bảo hiểm nhân thọ được đầu tư vào các dự án, công trình có độ an toàn về vốn lớn, lợi tức đầu tư cao... Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm cần được khuyến khích hiện đại hoá công nghệ quản lý kinh doanh, đào tạo đội ngũ cán bộ có đủ trình độ theo các chuẩn mực quốc tế, được thuê chuyên gia trong nước và ngoài nước để quản lý một số lĩnh vực hoạt động theo đúng quy định của pháp luật. 99 KẾT LUẬN Qua quá trình nghiên cứu thực trạng hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu ở Tập đoàn Bảo Việt, em đã rút ra một số kết luận như sau: Thứ nhất, thị trường bảo hiểm P&I ở Việt Nam là thị trường khá non trẻ từ kinh nghiệm đến quy mô. Lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm này chỉ thực sự phát triển hơn 10 năm trở lại đây, vì vậy các doanh nghiệp tham gia bảo hiểm P&I chưa thực sự khai thác hết tiềm năng của lĩnh vực này, trong khi nhu cầu vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển tăng mạnh thì số lượng cũng như dung tích tàu tham gia bảo hiểm đã phát triển nhưng ở mức rất hạn chế. Bảo hiểm P&I của Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào biến động thị trường thế giới như việc đưa ra các điều kiện, điều khoản và mức phí bảo hiểm khiến doanh nghiệp bảo hiểm khó khăn trong việc thu hút khách hàng, mở rộng thị trường. Thứ hai, trước xu thế hội nhập, doanh nghiệp bảo hiểm như Bảo Việt đang phải đối mặt với thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Trước tiên là sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, phát triển theo hướng chộp giật, điều này thể hiện những yếu kém trong khâu quản lý, thiếu định hướng từ các cơ quan chủ quản. Bên cạnh đó là sự xuất hiện của các doanh nghiệp nước ngoài vượt trội hơn hẳn về kinh nghiệm và khả năng tài chính buộc, doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam nói chung và Bảo Việt nói riêng phải tìm cách phát huy mọi tiềm lực với hi vọng nhanh chóng đáp ứng thị trường trong điều kiện mới. Thứ ba, Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam ra đời năm 2000 chứng tỏ sự quan tâm của Nhà nước đến lĩnh vực này. Luật này đang phát huy tác dụng tích cực với thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung và nghiệp vụ bảo hiểm 100 P&I nói riêng. Tuy nhiên, để nghiệp vụ bảo hiểm P&I của Bảo Việt có được đà phát triển mạnh mẽ hơn nữa cần có sự kết hợp đồng bộ hơn giữa nhà nước, công ty bảo hiểm và chủ tàu. Trong bài khóa luận này, em đã đưa ra những lý luận cơ bản về nghiệp vụ bảo hiểm P&I từ khái niệm, nguyên tắc đến vai trò của nghiệp vụ. Bên cạnh đó, em cũng đã phân tích tình hình thực hiện và sự phát triển của nghiệp vụ này tại Tập đoàn tài chính – bảo hiểm Bảo Việt về phạm vi, mức phí, doanh thu khai thác, cũng như tình hình khiếu nại, bồi thường của nghiệp vụ bảo hiểm P&I. Từ các phân tích trên em chỉ ra những thành tựu đã đạt được, khó khăn Tập đoàn đang vấp phải và đưa ra một số giải pháp phát triển thị trường trong thời gian tới. Do quy mô của bài khóa luận, em chưa thể đi sâu phân tích từng vấn đề một cách chi tiết như phân tích từng điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm P&I tại Bảo Việt hay các quy định liên quan đến nghiệp vụ và lý giải cụ thể nguyên nhân các khó khăn của Tập đoàn. Gia nhập WTO mở ra cho nền kinh tế Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng mang đến không ít thách thức, Tập đoàn Bảo Việt nói riêng cũng như các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam nói chung cần nỗ lực hơn nữa trong việc cải thiện chất lượng dịch vụ, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ. Hi vọng trong thời gian tới thị trường bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu ở Việt Nam sẽ có những chuyển biến tích cực, đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước. 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO I. Tài liệu tiếng Việt 1. Bộ Tài chính (2004, 2005, 2006, 2007), Thị trường bảo hiểm Việt Nam, Nhà xuất bản Tài Chính, Hà Nội. 2. Đỗ Hữu Vinh (2008), Bảo hiểm và giám định hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Hà Nội. 3. GS, TS. Hoàng Văn Châu, PGS,TS. Vũ Sỹ Tuấn, PGS,TS. Nguyễn Như Tiến (2006), Bảo hiểm trong kinh doanh, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, tr.7-93, Hà Nội. 4. GS, TS Hoàng Văn Châu (2006), Giáo trình Bảo hiểm trong kinh doanh, Nhà xuất bản Lao động xã hội, tr. 7-109, Hà Nội. 5. Mai Văn Quán (2005), Bộ luật Hàng Hải Việt Nam năm 2005 và quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội. 6. TS. Hồ Thủy Tiên (2007), Bảo hiểm hàng hải, Nhà xuất bản Tài chính, tr.146-167, Hà Nội. 7. Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (1993), Một số vấn đề pháp lý cần biết về bảo hiểm tàu biển, Hà Nội. 8. Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (1998), Phân tích các điều khoản bảo hiểm hàng hải, Hà Nội. 9. Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (1999), Bản dịch quy tắc bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu, Hà Nội. 10. Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (2001), Hướng dẫn bồi thường bảo hiểm tàu thủy, Hà Nội. 11. Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (2005), Sổ tay khai thác bảo hiểm tàu thủy, Hà Nội. 102 12. Tập đoàn Bảo Việt (2007), Hướng dẫn khai thác bảo hiểm tàu thủy, Hà Nội. 13. Tập đoàn Bảo Việt (2007), Hướng dẫn giám định bảo hiểm tàu thủy, Hà Nội. 14. Tập đoàn Bảo Việt (2007), Tài liệu tham khảo Hội thảo chuyên đề bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu, Hà Nội. 15. Tập đoàn Bảo Việt (2008), Tài liệu tham khảo tập huấn chuyên đề bảo hiểm hàng hải, Thành phố Hồ Chí Minh. 16. Tập đoàn Bảo Việt (2008), Báo cáo của tổng Giám đốc về kết quả kinh doanh năm tài chính đầu tiên, Hà Nội. 17. Tổng công ty cổ phần tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (2006, 2007, 2008, 2009), Tạp chí Thị trường bảo hiểm – tái bảo hiểm Việt Nam, Hà Nội. II. Tài liệu Tiếng Anh 18. Barton Phillips, the future of P&I clubs.pdf 19. Gunther Zade (2004), Gard handbook on P&I insurance (5th Ed), World Martime University, Malmo, Sweden. 20. Steven J.Hazelwood (2000), P&I Clubs Law and Practice, Informa Law, London. 21. West of England (2002 - 2008), rule book. 22. M. Huybrechts, E. van Hooydonk and C. Dieryck (2000), Marine Insurance at the Turn of the Millennium, Intersentia. 23. Lisa S. Howard (1995), P&I clubs need stronger reserves, S&P reports, National Underwriter Property & Casualty-Risk & Benefits Management (Magazine/Journal), The National Underwriter Company. III. Các website 24. 25. 26. 103 27. 28. cac-van-de-trong-bao-hiem-PI.htm 29. 30. 31. 32. 33. tho-Chuong-III/ 34. &id=2485 35. 36. 37. 38. avsc.com.vn/avscfiles//others/ 39. 40. 41. 4198%3Ar3br89jj6ei&cof=FORID%3A9&ie=UTF-8&q=FDI#918 42. 43. 44. 45. 46. 47. 48. 49. 50. 104 51. 52. 53. 54. 55.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf4549_9455.pdf
Luận văn liên quan