Đề tài Tình hình thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước vào tỉnh Hoà Bình - Thực trạng và giải pháp

LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, thế giới đã chứng kiến sự vươn lên mạnh mẽ của những con rồng Châu Á: Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc. Các quốc gia này nổi bật vì đã duy trì một tốc độ tăng trưởng cao và công nghiệp hoá nhanh giữa thập niên 1960 và thập niên 1990. Trong thế kỷ 21, bốn con rồng châu Á đã vươn lên tư cách của nước phát triển, để đạt đến thành công này, các nước đã gia tăng lượng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế tư xã hội, chú trọng đẩy mạnh công tác thu hút vốn từ các nguồn trong và ngoài nước. Vì thế, trong công cuộc phát triển thì công tác thu hút vốn đầu tư luôn chiếm giữ một vị trí quan trọng. Vốn đầu tư là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của một đất nước và của mỗi địa phương bên cạnh những yếu tố về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực Không phải ngẫu nhiên, để xây dựng một nền kinh tế xã hội ổn định, tăng trưởng nhanh, các địa phương luôn đặt ra những chính sách, những phương án để thu hút, huy động và sử dụng vốn đầu tư sao có hiệu quả và đáp ứng tốt nhất mục tiêu phát triển kinh tế đã đề ra. Việc thu hút đầu tư của tỉnh Hoà Bình cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Là một tỉnh có nhiều tiềm năng và điều kiện để phát triển kinh tế, song đến nay Hoà Bình vẫn còn là một tỉnh có nền kinh tế phát triển chậm so với các địa phương lân cận. Thực trạng này có nhiều nguyên nhân, và nguyên nhân chủ yếu là do không có đủ lượng vốn đầu tư cần thiết. Trong những năm qua, Hoà Bình đã đề cao công tác thu hút và sử dụng vốn đầu tư trong và ngoài nước. Nhưng do thực tế đặt ra, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hạn hẹp, vì thế để có được nguồn vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong thời gian tới và phát huy hết những tiềm năng sẵn có, công tác thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước đã được tỉnh đề ra như một chính sách có tính chất “bản lề”. Đó cũng là cơ sở để tôi chọn đề tài “ Tình hình thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước vào tỉnh Hoà Bình - Thực trạng và giải pháp” . Kết cấu của chuyên đề gồm hai chương: Chương I: Thực trạng thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước cho hoạt động phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hoà Bình trong thời gian qua. Chương II: Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước vào tỉnh Hoà Bình. Em xin chân thành cảm ơn ThS Trần Mai Hoa và các cán bộ ở Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Hoà Bình đã giúp đỡ em hoàn thành chuyện đề thực tập này. Chương I THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TỪ CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC CHO HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH HOÀ BÌNH TRONG THỜI GIAN QUA. 1. Giới thiệu khái quát về tỉnh Hoà Bình. 1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên của tỉnh Hoà Bình. 1.1.1. Vị trí địa lý. Hoà Bình là tỉnh miền núi thuộc tiểu vùng Tây Bắc của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên là 4596.4 km2, chiếm 1.41 % diện tích của cả nước. Phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ; phía Đông Nam giáp tỉnh Hà Nam, Ninh Bình; phía Tây giáp tỉnh Sơn La và Thanh Hoá; phía Đông giáp thành phố Hà Nội. Toàn tỉnh có 10 huyện, 1 thành phố và 210 xã phường, thị trấn (trong đó có 193 xã, 6 phường, 11 thị trấn), có 63 xã vùng cao thuộc huyện Mai Châu, Đà Bắc và một số xã thuộc huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Kỳ Sơn, Cao Phong. Hiện nay các xã thụ hưởng chương trình 135 là 94 xã, trong đó có 70 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn và 24 xã vùng ATK. Hoà Bình nằm ở vị trí cửa ngõ của vùng Tây Bắc xuống vùng đồng bằng Sông Hồng trù phú, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 76 km theo đường quốc lộ, có vị trí quan trọng trong chiến lược phòng thủ khu vực và cả nước. Tỉnh có mạng lưới giao thông đường bộ và đường thuỷ tương đối phát triển so với các tỉnh trong vùng, trong đó có các tuyến đường quốc gia quan trọng đi qua như đường Hồ Chí Minh, trong tương lai là đường cao tốc đi Hoà Lạc - Hà Nội Mạng lưới giao thông phân bố khá đều khắp, kết nối Hoà Bình với các tỉnh trong khu vực và các huyện trong tỉnh khá thuận lợi. Hoà Bình có nguồn điện lực lớn, có thuỷ điện Hoà Bình lớn nhất cả nước và hồ Hoà Bình ngoài tác dụng cung cấp năng lượng cho nhà máy, còn có tác dụng quan trọng trong việc điều tiết nước cho hệ thống sông Hồng.

doc80 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 25/05/2013 | Lượt xem: 1705 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tình hình thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước vào tỉnh Hoà Bình - Thực trạng và giải pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
quy hoạch để dự án của họ được nằm trong cụm công nghiệp. Do đó, quy hoạch đầu tư không có tính thống nhất. Có những quy hoạch đầu tư không hợp lý, không sát với tình hình thực tế, không phù hợp với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và xu hướng phát triển của các vùng. Dẫn đến đầu tư thiếu hợp lý, không tận dụng được hết những ưu thế của vùng, gây lãng phí trong quá trình đầu tư. 4.2.3. Thủ tục hành chính Việc thực hiện cơ chế “một cửa” chưa thực sự đúng với ý nghĩa của nó, các doanh nghiệp được tiếp tại phòng “một cửa” của Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Hoà Bình nhưng vẫn phải đi các cơ quan thuế, kho bạc xin dấu và mở tài khoản… Trong quá trình cấp giấy chứng nhận đầu tư, theo quy định khi cơ quan chủ trì xin ý kiến của các ngành về dự án, thì thời gian trả lời của các ngành là 03 ngày là việc. Nhưng thực tế, thời gian trả lời ý kiến của các ngành thường vượt quá thời gian quy định, thông thường sau một tuần thì mới có văn bản trả lời của các ngành, có trường hợp đặc biệt như Công ty cổ phần hoạt chất thiên nhiên Việt Nam xin đăng ký đầu tư thì ý kiến trả lời của Sở Tài nguyên môi trường là 16 ngày làm việc. 4.2.4. Công tác giải phóng mặt bằng Về công tác giải phóng mặt bằng thì tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, chính sách chưa nhất quán giữa chính quyền tỉnh và chính quyền huyện. Tỉnh giao cho Sở Tài nguyên và môi trường thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng huyện và xã lại thực hiện việc đền bù giải phóng mặt bằng. Nhiều trường hợp là nguyên nhân gây chậm trễ, dự án không thể triển khai được vì không có mặt bằng. Như Dự án trồng và phát triển cà phê nguyên liệu của Công ty TNHH và thương mại Thái Hoà ở huyện Lạc Sơn, đã được UBND tỉnh đồng ý chủ trương, địa điểm xây dựng dự án, sở Tài nguyên và môi trường đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2006 với diện tích 90ha , nhưng sau hơn 3 năm triển khai thực hiện thì số đất mà dự án nhận được từ chính quyền xã chỉ là 10 ha. Ở huyện Kim Bôi thì công tác giải phóng diễn ra chậm nhất so với các huyện khác vì lý do muốn có đất để thực hiện dự án thì phải được sự đồng ý của thường vụ huyện. Một trong những nguyên nhân là do tỉnh chưa có được hội đồng giải phóng mặt bằng cấp tỉnh, xảy ra tình trạng trên bảo dưới không nghe. 4.2.5. Cơ sở hạ tầng Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tuy đã được đầu tư nhưng chưa đáp ứng được cơ bản nhu cầu, cón phân tán. Một số dự án hạ tầng lớn triển khai chậm, không đạt kế hoạch, không có những dự án đột phá có ảnh hưởng lớn đến phát triển của một ngành, một vùng; hạ tầng yếu kém dẫn đến chi phí sản xuất cao, hạn chế khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Phần lớn các dự án hạ tầng là nhằm mục tiêu xoá đói giảm nghèo, chưa có dự án chủ lực cho mục tiêu phảt triển kinh tế. Hệ thống công trình phụ trợ chưa đồng bộ, đường xá, điện nước chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. 4.2.6. Chất lượng nguồn nhân lực. Hiện nguồn nhân lực của tỉnh Hoà Bình chủ yếu là lao động nông nghiệp, số lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp thì số lao động qua đào tạo cũng còn khá nhiều. Chủ yếu là lao động thủ công, không qua trường lớp đào tạo. Các doanh nghiệp có tâm lý e ngại khi tuyển dụng lao động địa phương, họ phải tốn một số tiền đào tạo nhân công, tăng chi phí đầu vào, nhất là các doanh nghiệp sử dụng công nghệ. Chương II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TỪ CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC VÀO TỈNH HOÀ BÌNH 1. Quan điểm định hướng mục tiêu thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước vào tỉnh Hoà Bình trong giai đoạn tới. 1.1. Phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hoà Bình trong thời gian tới. 1.1.1. Mục tiêu phát triển kinh tế xã hôị. Phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hoà Bình đặt trong tổng thể phát triển của vùng Trung du miền núi Bắc bộ, vùng thủ đô Hà Nội, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Huy động cao nhất các nguồn nội lực kết hợp tranh thủ với các nguồn lực từ bên ngoài để phát triển với tốc độ tăng trưởng nhanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Gắn phát triển kinh tế với phát triển xã hội, xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giảm chênh lệch phát triển xã hội giữa các khu vực, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân. Phát triển kinh tế phải kết hợp chặt chẽ với khai thác tài nguyên thiên nhiên hợp lý, bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững và cảnh quan, môi trường cho phát triển du lịch Trên cơ sở đánh giả những kết quả đạt được và dự báo xu hướng phát triển trong những năm tới, tỉnh Hoà Bình đã xác định mục tiêu tổng quát của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đọan tới: Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng tăng trưởng; tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá. hiện đại hoá, đẩy mạnh công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn. Chủ động hội nhập kinh tế với các vùng lân cận, trong nước và quốc tế, khai thác có hiệu quả thị trường và các nguồn lực từ bên ngoài. Coi nhiệm vụ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, tiếp tục thực hiện công cuộc xoá đói giảm nghèo, tăng thêm việc làm, nâng cao đời sống vật chất văn hoá tinh thần cho nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng gặp nhiều khó khăn. Xây dựng nền tảng cần thiết cho sự nghiệp phát triển công nghiệp trên địa bàn, phát huy tối đa mọi nguồn lực để đầu tư phát triển, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, giáo dục – đào tạo, đào tạo nghề nhằm nâng cao một bước về chất lượng công nghệ trong quá trình phát triển kinh tế. Phát triển và hoàn thiện từng bước kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Phát triển kinh tế xã hội gắn với cải thiện môi trường, duy trì cơ hội và các nguồn lực cho thế hệ mai sau, đảm bảo phát triển bền vững. Đẩy mạnh cải cách hành chính bộ máy nhà nước một cách kiên quyết, tạo bước chuyển toàn diện và thực sự hiệu quả. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế- xã hội với an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội. * Một số chỉ tiêu phát triển chính đến 2020: 1 - Tốc độ tăng GDP khoảng 11.1%/năm (giai đoạn 2008-2010) Trong đó: - Công nghiệp – xây dựng tăng 18% - Nông lâm ngư nghiệp tăng 4.4% - Dịch vụ ; 12.3% - Trong giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng GDP khoảng 12%/năm và giai đoạn 2016-2020 khoảng 11.5%. 2 - Cơ cấu kinh tế: Công nghiệp xây dựng: 47% Nông nghiệp ngư nghiệp: 16% Dịch vụ: 37% 3 - Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu tiêu dùng đạt 9000 tỷ đồng; 4 - Tổng kim ngạch xuất khẩu là 250 triệu USD; 5 - Tổng thu ngân sách nhà nước 2200 tỷ đồng; 6 - Thu nhập bình quân đầu người năm 2020 khoảng 40 triệu đồng/năm 7 - Tạo việc làm choc ho 16-18 nghìn lao động mỗi năm. Xuất khẩu 1600-2000 lao động /năm; 8 - Cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho 95% dân số nông thôn 9 - Độ che phủ rừng đạt 50%. 1.1.2. Định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực. * Định hướng phát triển chung của nền kinh tế. - Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm cao hơn kế hoạch 5 năm trước và có bước chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm tiếp theo. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, tăng nhanh hàm lượng công nghệ trong sản phẩm. Tạo bước tiến rõ rệt về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các sản phẩm, các doanh nghiệp và của cả nền kinh tế; nâng cao vai trò của khoa học và công nghệ, đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. - Tạo điều kiện cho phát triển các loại thị trường vốn, bất động sản, lao động, khoa học và công nghệ. Hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới, cổ phần hoá các loại doanh nghiệp nhà nước; phát triển và nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước, đồng thời phát triển mạnh mẽ không hạn chế quy mô các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác. - Chủ động hội nhập, khai thác thị trường và các nguồn lực bên ngoài tỉnh, bao gồm các tỉnh, vùng lân cận nhất là khu đô thị Hà Nội và đồng bằng sông Hồng. Tăng cường xúc tiến, quảng bá thương mại, du lịch gắn kinh tế tỉnh với khu vực, cả nước và hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh công tác thu hút đầu tư, nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư, tạo ra chuyển biến lớn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhân tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. - Tiếp tục đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng. Phát triển kinh tế đồng thời với phát triển xã hội, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, duy trì các nhân tố phát triển ổn định, bền vững. - Đảm bảo ổn định và phát triển thu, chi ngân sách, huy động các nguồn tăng chi cho đầu tư phát triển, xây dựng kế hoạch chủ động cân đối vốn đầu tư, không để xảy ra biến động thừa, thiếu vốn cục bộ, hạn chế tình trạng các dự án kéo dài thời gian quy định. - Đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo, xã hội hoá và tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho cho sự nghiệp công nghiệp hoá, chú trọng nhân lực có trình độ cao, cán bộ quản lý giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề, nhân lực cho nông thôn để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động; nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học, bậc học. - Giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn; tiếp tục giảm tỷ lệ nghèo theo tiêu chuẩn mới, nhất là tại các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống an sinh xã hội trợ giúp các đối tượng nghèo và yếu thế; xây dựng kết cấu xã hội công bằng, bền vững. - Phát triển sự nghiệp y tế thể thao và văn hoá thông tin theo hướng xã hội hoá, cải thiện đáng kể các chỉ tiêu sức khoẻ cho người dân; phát triển văn hóa tiên tiến trên cơ sở bảo tồn và phát triển những tình hoa của văn hoá dân tộc; giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc như tình trạng tội phạm, ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS, tai nạn giao thông thực hiện bình đẳng và tiến bộ phụ nữ. - Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, phát huy dân chủ, tăng cường kỷ cương kỷ luật, củng cố khối đoàn kết trong nhân dân các dân tộc; đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí. * Định hướng phát triển công nghiệp, đô thị, thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hóa: Đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt tăng trưởng bình quân 28%/năm, xây dựng 13%; cơ cấu công nghiệp tiểu thủ công nghiệp 26.5%. xây dựng 9.2% vào những năm tới. Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác vật liệu xây dựng, công nghiệp công nghệ cao. Phấn đấu một số sản phẩm truyền thống của địa phương như ximăng, đá xây dựng, điện thương phẩm, sản phẩm may mặc, giấy và bột giấy… đạt sản lượng cao. Phát triển mạnh các sản phẩm mới, các sản phẩm công nghệ cao, có thị trường tiêu thụ, xuất khẩu rộng lớn, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Đẩy mạnh phát triển đô thị, quy hoạch mở rộng Thành phố Hoà Bình, tập trung nguồn lực phát triển hạ tầng đô thị thành phố, đưa Hoà Bình trở thành thành phố công nghiệp, du lịch, thương mại, dịch vụ cơ bản có đủ điều kiện để đưa Lương Sơn lên thành thị xã. Phát triển hạ tầng, nâng cấp các thị trấn; nâng cấp một số thị tứ lên thành thị trấn. Tiếp nhận phát triển đô thị Tiến Xuân, tận dụng các điều kiện để mở mang dịch vụ, công nghiệp thu hút đầu tư tạo công ăn việc làm cho nhân dân. * Định hướng phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống nhân dân: Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế trên diện tích canh tác, phát triển sản phẩm chất lượng cao, sản phẩm sạch, nền nông nghiệp hàng hoá có sức cạnh tranh cao, nhiều sản phẩm có thương hiệu, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, nhất là công nghệ sinh học và cơ giới hoá để nâng ca năng suất lao động và thu nhập cho nhân dân. Đẩy mạnh liên kết nông nghiệp với công nghiệp chế biến, thương mại nông sản. Phát triển mạnh lâm nghiệp, đảm bảo người dân có thể sống và và có thu nhập khá từ nghề trồng rừng. Tập trung phát triển chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản nhằm tăng nhanh tỷ trọng hai ngành này, GDP ngành chăn nuôi tăng 12%/năm , tỷ trọng ngành trong cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng mạnh và đạt được 30% năm 2015, chăn nuôi trở thành ngành mũi nhọn trong sản xuất nông nghiệp. Xây dựng hạ tầng nông thôn, đô thị hoá, phát triển ngành nghề, nhất là các ngành có giá trị gia tăng và giá trị xuất khẩu cao. Phấn đấu GDP ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng trưởng 4.6%/năm, cơ cấu của ngành năm 2015 là 32,1%. * Phát triển thương mại: Phát triển ngành thương mại tỉnh Hoà Bình tương xứng với tiềm năng và khai thác tối đa lợi thế của các tiểu vùng trong toàn tỉnh. Phát triển thương mại trở thành đòn bẩy để phát triển ngành sản xuất và dịch vụ khác, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội. Phát triển kinh tế thương mại trên cơ sở khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng, nguồn lực của các thành phần kinh tế tham gia phát triển sản xuất kinh doanh và xây dựng cơ sở hạ tầng thương mại. Xác định các loại hình dịch vụ và mặt hàng mà tỉnh có lợi thế cạnh tranh để ưu tiên đầu tư. Phát triển thương mại theo hướng chú trọng tới hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, đồng thời đảm bảo yêu cầu xã hôi. Đi theo hướng công nghiệp hoá và văn minh thương nghiệp , áp dụng phát triển các hình thức thương mại dịch vụ tiên tiến, chú trọng đầu tư nâng cấp mạng lưới cơ sở vật chất kỹ thuật kinh doanh thương mại. * Phát triển các ngành du lịch Khai thác tối đa tiềm năng lợi thế của tỉnh, nhất là vị trí địa lý, cảnh quan thiên nhiên, giá trị văn hóa, môi trường sinh thái để đưa du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng. Phát triển đa dạng các loại hình và sản phẩm du lịch, đẩy mạnh thu hút đầu tư vào lĩnh vực du lịch. Gắn phát triển du lịch với giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và đặc thù địa phương, tồn tạo các khu di tích lịch sử. Phát triển mạnh thương mại và dịch vụ, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của các sản phẩm dịch vụ, nâng cao hơn nưa vai trò quản lý của nhà nước đối với các hoạt động dịch vụ, ngành dịch vụ để đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu đa dạng trong sản xuất và đời sống nhân dân. Tiếp tục phát triển mạnh các ngành dịch vụ du lịch, thương mại, vận tải, tư vấn, bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, tài chính ngân hàng, đồng thời mở mang, gia nhập các sản phẩm dịch vụ mới vào địa bàn tỉnh. Đưa mức tăng trưởng của ngành lên 14% mỗi năm, cao hơn mức tăng trưởng chung của nền kinh tế, cơ cấu GDP dịch vụ năm 3015 đạt 36%. * Định hướng hoạt động xuất nhập khẩu và hội nhập kinh tế: Phát triển xuất khẩu với tốc độ cao và bền vững. Đẩy mạnh các mặt hàng xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh đồng thời tích cực phát triển các mặt hàng khác có tiềm năng thành những mặt hàng xuất khẩu mới. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng cao, hạn chế xuất khẩu sản phẩm thô. Tăng cường xuất khẩu lao động, phấn đấu dân số lao động ở nước ngoài tăng tối thiểu 20%.năm, đến giai đoạn tới số lao động ở nước ngoài đạt trên 10 nghìn người. Phấn đấu đến năm 2015 giá trị xuất khẩu đạt 108 - 110 triệu USD, trong đó xuất khẩu tăng 21.2%/năm, đạt 78 – 80 triệu USD (xuất khẩu hàng hoá khoảng 45 – 47 triệu USD. xuất khẩu dịch vụ lao động và du lịch khoảng 33 triệu USD). Hoạt động nhập khẩu tập trung chủ yếu vào mặt hàng máy móc, nguyên nhiên liệu phục vụ cho sản xuất và các mặt hàng thiết yếu trong nước chưa sản xuất với chi phí cao hơn. 1.2. Mục tiêu và định hướng đầu tư của tỉnh Hoà Bình trong thời gian tới. 1.2.1. Xác định nhu cầu vốn đầu tư đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hoà Bình trong giai đoạn tới. Theo phương tăng trưởng kinh tế đã lựa chọn, dự kiến nhu cầu vốn đầu tư trong giai đoạn 2008-2020 cần khoảng 123.364 nghìn tỷ đồng. Bảng 2.1: Dự báo huy động vốn đầu tư Chỉ tiêu 2008-2010 2011-2015 2016-2020 Tỷ đồng % Tỷ đồng % Tỷ đồng % Tổng vốn đầu tư 11.824 100,0 36.739 100,0 75.800 100,0 I.Vốn nhà nước 6.976 59,0 19.619 53,4 36.991 48,8 1. Vốn ngân sách nhà nước 4.233 35,8 11.573 31,5 21.300 28,1 - Ngân sách Trung ương 1.360 11,5 3.821 10,4 6.974 9,2 - Ngân sách địa phương 2.873 24,3 7.752 21,1 14.326 18,9 2. Vốn tín dụng 2.483 21,0 7.164 19,5 13.644 18,0 3.Vốn tự có của doanh nghiệp 260 2,2 882 2,4 2.047 2,7 II. Vốn ngoài quốc doanh 4.434 37,5 15.578 42,4 34.868 46,0 III. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 414 3,5 1.543 4,2 3.942 5,2 Nguồn: Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2008-2020 Trong kế hoạch huy động vốn của tỉnh, nguồn vốn từ các doanh nghiệp trong nước chiếm một vai trò rất quan trọng. Trong giai đoạn 2008-2010, vốn ngoài quốc doanh và vốn tự có của doanh nghiệp là 4.694 tỷ đồng, chiếm 40% trong kế hoạch huy động vốn của tỉnh. Giai đoạn 2011-2015, tổng vốn cần huy động là 36.739 tỷ đồng, trong đó vốn từ các doanh nghiệp trong nước là 16.460 tỷ đồng, chiếm 45%. Giai đoạn 2016-2020, tỷ trọng vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước là 49%. Vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước ngày chiếm tỷ trọng lớn hơn trong nhu cầu vốn của tỉnh Hoà Bình giai đoạn tới. 1.2.2. Định hướng huy động vốn đầu tư. Để đáp ứng được nhu cầu đầu tư như trên cần phải có hệ thống các biện pháp huy động vốn một cách tích cực, trong đó nguồn nội lực là chủ yếu. huy động tối đa nguồn vốn từ quỹ đất để phát triển đô thị, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, chú trọng thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. - Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (bao gồm cả vốn ODA), trong đó cả từ ngân sách trung ương và ngân sách Tỉnh dành chủ yếu cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội. Dự kiến nguồn vốn đầu tư từ ngân sách sẽ đáp ứng được khoảng 28-34% nhu cầu vốn đầu tư tuỳ theo từng gia đoạn. Để nâng cao nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, cần tăng tỷ lệ tích luỹ nội bộ nền kinh tế của tỉnh, tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao và có các biện pháp khuyến khích tiết kiệm cho đầu tư phát triển. Kêu gọi Trung ương đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng lớn của mạng lưới giao thông thuỷ lợi, bệnh viện, trường đại học… trên địa bàn tỉnh. - Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước dự kiến sẽ đáp ứng được khoảng 2.2%-2.7% tổng nhu cầu vốn đầu tư. - Vốn tín dụng nhà nước: dự kiến sẽ đáp ứng được 18 - 21% tổng nhu cầu vốn đầu tư, chủ yếu phục vụ cho các dự án sản xuất ưu tiên. Tiếp tục tháo gỡ những khó khăn mà các doanh nghiệp đang phải đối mặt liên quan đến các nhân tố đầu vào và sản phẩm đầu ra. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội các ngành, các lĩnh vực công nghiệp, giao thông, vận tải, thương mại, thuỷ lợi, hạ tầng thông tin, lưới điện giáo dục, y tế, văn hoá thể thao và phát triển hạ tầng đô thị. Tăng cường đầu tư cho xoá đói giảm nghèo theo các chương trình dự án của Chính phủ, đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng sâu vùng xa. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực, bao gồm hệ thống giáo dục và các trường nghề. Tập trung đầu tư chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu sản xuất theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế, phát huy lợi thế từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng, từng sản phẩm. Đầu tư cho đổi mới trang bị sản xuất công nghiệp, phát triển dịch vụ theo hướng tiên tiến, hiện đại. Huy động tối đa nguồn lực cho đầu tư phát triển nhằm phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Đầu tư hạ tầng giao thông nông thôn theo Chương trình cứng hoá Giao thông nông thôn đã được thông qua, xây dựng các công trình thuỷ lợi, kiên cố hoá kênh mương. Chú trọng các công trình theo kết luận của Thủ tướng như các dự án sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, giống thuỷ sản, dự án hồ Trọng, hồ Cạn Thượng, dự án vùng hạ du đập thuỷ điện, dự án Phân lũ Sông Đấy, dự án thuỷ lợi vùng cầu Đường, hồ Mòng, hồ Ngành - Lương Sơn… Các dự án do Bộ, ngành đầu tư: Đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 6. cảng Bích Hạ, đường 12B. đường 21B… Đầu tư xây dựng mới (nối dài) tuyến đường Láng - Hoà Lạc - Thành phố Hoà Bình. Nối dài tuyến đường 433 của huyện Đà Bắc với huyện Phù Yên (Sơn La) và nâng cấp các tuyến đường đến trung tâm các xã. Xây dựng các cảng trên hồ Sông Đà để phát triển hệ thống giao thông thuỷ phục vụ vận tải và du lịch. Phát triển hạ tầng du lịch, chợ nông sản, làng nghề; các dự án hạ tầng khu công nghiệp bờ trái sông Đà, khu công nghiệp Lương Sơn và các dự án quan trọng khác. Thực hiện chương trình kiên cố hoá trường, lớp học và tách các trường phổ thông cơ sở, nhằm xoá bỏ các phòng học tranh tre nứa lá. Phấn đấu đến năm 2010 có 100% số trường lớp học được kiên cố hoá. Xây dựng mới một số trường phổ thông trung học ở những nơi học sinh phải đi học xa ở một số huyện. Tiếp tục đầu tư hạ tầng cho vùng chuyển dân sông Đà, xã đặc biệt khó khăn, vùng ATK. Làm tốt công tác quy hoạch để thực hiện việc tạo nguồn vốn từ quỹ đất theo Quyết định 22 của Bộ Tài Chính để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thành phố Hoà Bình và nhu cầu đầu tư trên địa bàn các huyện. 1.2.3. Định hướng đầu tư của các doanh nghiệp trong nước. Theo số liệu thống kê, đến nay cả nước còn gần 3.000 doanh nghiệp nhà nước các loại, đang năm giữ 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, gần 50% tổng vốn đầu tư của nhà nước, 70% tổng vốn vay các ngân hàng nước ngoài và gần 60% tổng lượng vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước. Thế nhưng, hàng năm khối doanh nghiệp nhà nước chỉ mới đóng góp 40% thu nhập trong GDP của cả nước. Hầu hết các ý kiến đều thừa nhận rằng các doanh nghiệp nhà nước có tiềm lực lớn, được ưu đãi nhiều, đầu tư lớn về phía nhà nước nhưng hiệu quả kinh doanh thấp, năng lực cạnh tranh kém. Nắm bắt được tình trạng này, tỉnh Hoà Bình đã có những định hướng cụ thể để những doanh nghiệp nhà nước kinh doanh đạt kết quả cao nhất. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, số vốn hoạt động ít, chưa có tiềm lực kinh tế mạnh. Chú trọng đầu tư vào công nghiệp chế bíên và tiểu thủ công nghiệp, lợi nhuận chưa cao, do những công trình hạ tầng phụ trợ của tỉnh còn kém. Cần có sự phối hợp giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo hình thức “nhà nước và nhân dân cùng làm” để có thể phát triển kinh tế một cách mạnh nhất. Các doanh nghiệp tận dụng tiềm lực sẵn có của mình, nâng cấp hạ tầng cơ sở cho tỉnh, giao thông, bưu chính viễn thông… Còn doanh nghiệp ngoài quốc doanh tập trung phát triển công nghiệp nặng, xác định được ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh. Tăng cường sản xuất các mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao. 1.3. Cơ hội và thách thức đối với tỉnh Hoà Bình trong việc thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước thời gian tới. 1.3.1. Cơ hội Hoà Bình có vị trí thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, là cửa ngõ của vùng Tây Bắc, đồng thời liền kề thủ đô Hà Nội, là địa bàn có điều kiện phát triển các khu du lịch, nghỉ dưỡng, làng văn hoá… cũng như bố trí các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật, phân bố các cơ sở công nghiệp vệ tinh cho vùng Hà Nội. Có tài nguyên phong phú, bao gồm tài nguyên đất, rừng, tài nguyên du lịch thiên nhiên (hồ Hoà Bình, nước khoáng Kim Bôi, các hang động… và du lịch văn hoá. - Có mạng lưới giao thông đường bộ, đường thuỷ tương đối thuận lợi, trong đó có các tuyến đường quốc gia quan trọng đi qua như đường Hồ Chí Minh. Quốc lộ 6, trong tương lai là đường cao tốc đi Hoà Lạc - Hà Nội… tạo điều kiện thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào địa bàn tỉnh. Có nguồn lao động tại chỗ dồi dào, cần cù lao động, có truyền thống và bản sắc văn hoá đặc sắc. Trong giai đoạn 2000 – 2008, công cuộc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đạt được những kết quả khả quan và tương đối toàn diện (tăng trưởng kinh tế đạt 8%/năm, cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực, nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội được nâng cao) tạo thuận lợi cho Hoà Bình trong việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn tỉnh. Các chính sách đang triển khai cho khu vực kinh tế dân doanh, hoạt động thu hút đầu tư, chính sách về hạ tầng, đất đai cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách hành chính đang phát huy tác dụng và tiếp tục ảnh hưởng trong giai đọan tiếp theo trên địa bàn tỉnh. Qua nhiều năm đầu ra xây dựng, kết cấu cơ sở hạ tầng của tỉnh đã được cải thiện, hệ thống giao thông, thuỷ lợi, điện nước, cơ sở hạ tầng thương mại, du lịch công nghiệp, giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao… được xây dựng mới, nâng cấp là cơ sở cho phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn tới. Vùng thủ đô Hà Nội phát triển theo hướng vùng đô thị đa cực tập trung, thúc đẩy phát triển các đô thị tỉnh lỵ là các hạt nhân của vùng phát triển đối trọng (các tỉnh xung quanh Hà Nội) . Tỉnh Hoà Bình được xác định là vùng đối trọng phía tây của thủ đô Hà Nội, có điều kiện phát triển các khu du lịch, nghỉ dưỡng, làng văn hoá… cũng như bố trí các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật, phân bố các cơ sở công nghiệp vệ tinh cho vùng. Nhà nước đang có những ưu đãi cho các doanh nghiệp vay vốn với lãi suất thấp, đây là lúc các doanh nghiệp có năng lực thực sự sẽ tiến hành đầu tư. Là cơ hội tốt để tỉnh Hoà Bình có thể thu hút được nhiều vốn 1.3.2. Thách thức. Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều thuận lợi mới nhưng đồng thời tạo ra sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, nhất là đối với các doanh nghiệp còn non trẻ. Những biến động của kinh thế giới cũng như nền kinh tế trong nước có tác động mạnh và trực tiếp đến phát triển kinh tế, nhất là trong vấn đề đầu tư, xuất nhập khẩu của tỉnh. Các doanh nghiệp trẻ khi mới thành lập khó có khả năng cạnh tranh thị trường với các doanh nghiệp đã hoạt động từ lâu, phải cần có một thời gian để doanh nghiệp có thể trưởng thành và phát triển. Các doanh nghiệp trẻ nếu không có các chính sách bảo hộ của nhà nước thì khó có thể đứng vững được. Điều này là nguyên nhân dẫn đến việc khó khăn khi thu hút các doanh nghiệp trẻ đầu tư vào địa bàn Tỉnh Hoà Bình, khi mà cơ chế chính sách chưa đồng bộ, còn nhiều khó khăn vướng mắc, thị trường còn nhiều rủi ro. Biến động kinh tế thế giới cũng có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu của các nhà đầu tư khi chọn địa điểm đầu tư Hoà Bình. Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, không có thị trường tiêu thụ, thị trường xuất khẩu thu hẹp, nhiều hợp đồng kinh doanh đã bị huỷ bỏ. Các doanh nghiệp lớn đang rơi vào khủng hoảng, buộc phải cắt giảm những chi nhánh hoạt động kém hiệu quả, cắt giảm nhân công. Hoạt động đầu tư đang diễn ra ảm đạm mặc dù đã có những chính sách hỗ trợ của chính phủ. Nền kinh tế của tỉnh cơ bản vẫn là nền sản xuất nhỏ, phân tán, chất lượng và hiệu quả thấp, nhiều yếu tố mất cân đối và chưa thực sự ổn định để đảm bảo cho sự tăng trưởng nhanh, bền vững. Nhiều tài nguyên, nguồn lực chưa được khai thác, sử dụng có hiệu quả, thậm chí còn lãng phí, thất thoát. Trình độ lực lượng sản xuất và trình độ trang thiết bị kỹ thuật còn thấp, cơ cấu kinh tế chậm đổi mới. Do vậy, Hoà Bình vẫn là tỉnh có nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với các tỉnh trong vùng và so với cả nước. Các điều kiện vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của tỉnh tuy đạt được những bước tiến bộ nhất định, song vẫn còn thiếu hụt và lạc hậu về nhiều mặt cả về giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, bưu điện lẫn điện nước, cơ sở y tế, văn hoá, giáo dục…Để đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đòi hỏi phải có những đầu tư lớn cho việc cải tạo, nâng cấp, mở rộng hệ thống và đổi mới thiết bị kỹ thuật ở khu vực này. Đây là vấn đề hết sức nan giải và là một thách thức lớn đối với Hoà Bình trong quá trình đẩy nhanh sự phát triển. Chất lượng nguồn nhân lực và trình độ lao động xã hội trên địa bàn tỉnh tuy có bước cải thiện đáng kể, nhưng nhìn chung còn ở trình độ thấp. Số người có trình độ quản lý, chuyên môn, kỹ thuật chiếm tỷ lệ ít và thiều hụt nhiều so với yêu cầu phát triển kinh tế, đặc biệt là ở cấp cơ sở, trong các tổ chức, đơn vị sản xuất-kinh doanh. Đại bộ phân người lao động là lao động thủ công, giản đơn, nhiều người thiếu kiến thức và chưa có việc làm khá đông và đang có chiều hướng gia tăng cả ở thành thị lẫn nông thôn. Việc đào tạo nguồn nhân lực, phân bố hợp lý dân cư, lao động, giải quyết việc làm, nâng cao năng suất, chất ượng và hiệu quả sử dụng lao động đang là vấn đề đặt ra gay gắt. 2. Một số giải pháp thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước vào tỉnh Hoà Bình trong thời gian tới. 2.1. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính. Cần đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính. Tiến hành sắp xếp lại bộ máy, chức năng nhiệm vụ của một số Sở, ngành và một số phòng, ban cấp huyện. Phân cấp ngân sách, phê duyệt dự án đầu tư về giao đất và cấp đất.. cần tạo cơ chế chủ động của các cấp, các ngành trong việc cụ thể hoá các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Thực hiện tốt cải cách hành chính theo cơ chế "một cửa" điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, tổ chức giải quyết nhanh chóng công việc. Các thủ tục hành chính, quy trình, thời gian giải quyết và lệ phí được công khai, hạn chế tối đa việc gây phiền hà cho nhân dân và các tổ chức khi có yêu cầu. Quy trình công tác được đổi mới, cải tiến sự phân công, phối hợp của các cấp, các ngành với các cơ quan chuyên môn. Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nâng cao tinh thần trách nhiệm, trình độ của cán bộ, công chức trong việc giải quyết công việc liên quan đến nhà đầu tư, giải quyết khó khăn vướng mắc cho các nhà đầu tư trong quá trình thực hiện dự án. Tăng cường học tập kinh nghiệm của tỉnh bạn trong thực hiện cải cách hành chính bằng ứng dụng công nghệ thông tin vào cấp giấy chứng nhận đầu tư, quản lý theo dõi doanh nghiệp sau cấp giấy chứng nhận đầu tư, giảm bớt thủ tục phiền hà đối với các nhà đầu tư khi triển khai dự án vào địa bàn. Các ngành, các huyện rà soát lại các quy định hiện hành, quy định rõ ràng, công khai hồ sơ mẫu về các thủ tục hành chính liên quan đến dự án đầu tư: như đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận đầu tư, thủ tục đất đai, xây dựng môi trường, khắc dấu, mã số thuế… đơn giản hoá và giảm bớt một cách triệt để các thủ tục không cần thiết, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp sách nhiễu, cửa quyền, quan liêu và vô trách nhiệm của cán bộ công quyền. 2.2. Làm tốt công tác quy hoạch. Tỉnh cần có những định hướng rõ ràng trong công tác đầu tư, cần quy hoạch phát triển vùng lãnh thổ, quy hoạch cụm, khu công nghiệp để có những kế hoạch phát triển cụ thể, tránh tình trạng đầu tư trùng lắp. Tập trung làm tốt quy hoạch, bao gồm cả quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành, quy hoạch đất đai, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy hoạch chi tiết… đặc biệt là quy hoạch phát triển các khu, cụm công nghiệp để tạo quỹ đất sạch thu hút các dự án đầu tư. Công tác quy hoạch đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế sau này của một địa phương. Công tác quy hoạch phải đi trước một bước để làm cơ sở xác định kế hoạch đầu tư phát triển cho từng thời kỳ và cho từng năm, tạo môi trường thu hút đầu tư nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực cho đầu tư phát triển. Có làm tốt công tác quy hoạch vùng, lãnh thổ thì mới có thể xác định được ngành kinh tế trọng điểm của từng vùng và từ đó có hướng tập trung phát triển cho vùng đó. Tỉnh Hoà Bình đã làm tốt công tác quy hoạch vùng lãnh thổ nhưng công tác quy hoạch đầu tư thì lại chưa được chú trọng nhiều, vì thế cần phát triển đồng bộ các vùng kinh tế, các ngành kinh tế của ngành của tỉnh. Xây dựng và hoàn thiện các khu, cụm công nghiệp đã được Thủ tướng phê duyệt. . Công tác quy hoạch đầu tư phải gắn liền với bức tranh kinh tế của tỉnh và cần được tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thông qua công tác nghiên cứu, điều tra cơ bản, làm căn cứ xây dựng cơ chế chính sách, các chương trình đầu tư phát triển phù hợp với từng vùng. Hoà Bình đã có định hướng phát triển cho ba tiểu vùng kinh tế: * Vùng thấp phía Đông Nam tỉnh thuộc các huyện Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Lạc Sơn. Tập trung phát triển tiểu vùng gắn với việc nâng cấp, mở rộng các tuyến đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 12B. Quy hoạch và xây dựng mới hạ tầng kỹ thuật các khu công nghiệp. Tập trung xây dựng các cụm, điểm công nghiệp ở dọc tuyến đường Hồ Chí Minh. Đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến nông sản ở Lạc Sơn, Yên Thuỷ. Quan tâm phát triển các làng nghề truyền thống, phát triển ngành nghề nông thôn. Tập trung phát triển nông nghiệp hàng hoá, kết hợp với phát triển công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp. Duy trí diện tích, nâng cao năng suất lúa, ngô. Đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, hình thành các vùng cây công nghiệp, cây ăn quả hàng hoá; phát triển các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô lớn nhằm tạo ra bước đột phá trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của cả tỉnh. Phát triển thương mại dịch vụ, du lịch, hình thành các trung tâm thương mại dịch vụ tại các thị trấn, thị tứ, trung tâm cụm xã làm động lực phát triển cho từng khu vực. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các thị trấn, thị tứ, trung tâm cụm xã; xây dựng chợ đầu mối nông sản ở các thị trấn làm đầu mối lưu thông nông sản hàng hoá cho nhân dân; phát triển hạ tầng du lịch. Hoàn thành đầu tư các dự án lớn như Dự án phân lũ sông Đáy, thuỷ lợi vùng Cầu Đường Kim bôi, xây dựng nâng cấp các tuyến đường 21, đường 12B. * Tiểu vùng phía Tây và Tây Bắc tỉnh bao gồm các huyện Mai Châu, Đà Bắc, Tân Lạc, Cao Phong, phát triển tiểu vùng gắn với việc nâng cấp, mở rộng các tuyến đường quốc lộ 21, 15. Khu vực này tập trung phát triển lâm nghiệp, chủ yếu trồng rừng phòng hộ kết hợp với khai thác thuỷ sản, phát triển du lịch, vận tải thuỷ. Tiếp tục đầu tư cho cơ sở hạ tầng và các dự án sản xuất để ổn định, nâng cao đời sống nhân dân vùng hồ. Phát triển lâm nghiệp đảm bảo cho người dân có thể sống được bằng nghề rừng. Kết hợp giữa trồng, bảo vệ rừng với phát triển du lịch, chăn nuôi. Đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng du lịch lòng hồ Sông Đà trở thành khu du lịch trọng điểm quốc gia, đồng thời tăng cường quảng bá thu hút khách du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tiểu vùng. Phát triển vận tải thuỷ, chú trọng đầu tư xây dựng càng, các tuyến đường vào cảng, các đội tàu thuyền nhằm tăng cường lưu thông hàng hoá với tỉnh Sơn La và phục vụ xây dựng Thuỷ điện Sơn La. Lồng ghép các nguồn vốn, trong đó chủ yếu là vốn đầu tư lại cho vùng hồ thuỷ điện, vốn dự án hạ tầng du lịch, vốn của các dự án đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn để phát triển mạnh kết cấu hạ tầng, trong đó ưu tiên các tuyến đường, cảng, hạ tầng du lịch tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân phát triển kinh tế xã hội. * Vùng đô thị - công nghiệp thành phố Hoà Bình - Kỳ Sơn - Lương Sơn, đây là vùng tập trung đông dân cư, hệ thống hạ tầng, dịch vụ, công nghiệp tương đối phát triển. Tỉnh nên tập trung phát triển đô thị, công nghiệp, dịch vụ tạo thành trục phát triển của tỉnh, là động lực kéo theo các vùng khác phát triển. Tỉnh và nhà nước nên cùng phối hợp xây dựng khu Công nghiệp Lương Sơn, khu công nghiệp bờ trái Sông Đà, khu công nghiệp Nam Lương Sơn, quy hoạch đất đai dọc tuyến đường quốc lộ 6, đường Hồ Chí Minh để phục vụ cho phát triển công nghiệp, dịch vụ. Xây dựng tuyến đường kéo dài đường Láng Hoà Lạc đến Kỳ Sơn, thành phố Hoà Bình, xây dựng 2 cầu vượt Sông Đà. Phát triển thành phố Hoà Bình trở thành thành phố công nghiệp, du lịch, thương mại. dịch vụ cơ bản có đủ các yếu tố của một thành phố hiện đại. Quy hoạch và chuẩn bị tốt các điều kiện để đưa Lương Sơn lên thành thị xã. Đây là các trung tâm của tiểu vùng cũng như của cả tỉnh, một trong các trung tâm của vùng Tây Bắc. Thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các dự án đầu tư vào các khu công nghiệp sau khi đã hoàn thành cơ bản việc xây dựng kết cấu hạ tầng nhằm tạo ra đột phá trong cơ cấu sản xuất của vùng và của cả tỉnh. Chú trọng công nghiệp công nghệ cao, công nghệ sạch, tiến tiến đảm bảo khả năng cạnh tranh khi hội nhập kinh tế quốc tế. Phát triển công nghiệp dựa trên những tiềm năng, thế mạnh của khu vực và của tỉnh, quan tâm đến những lĩnh vực sử dụng nhiều lao động và sử dụng tài nguyên bền vững. Phát triển mạnh các lĩnh vực dịch vụ thương mại, du lịch, vui chơi giải trí bưu chính viễn thông, tư vấn, tin học, tài chính tín dụng, khoa học công nghệ và các dịch vụ công nghệ cao, dịch vụ có hàm lượng giá trị gia tăng cao. Phát triển nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) theo hướng coi trọng chất lượng, sản phẩm sạch, hàm lượng dinh dưỡng cao phù hợp với nhu cầu đô thị và phục vụ xuất khẩu. Phát triển các loại cây công nghiệp phục vụ cho công nghiệp chế biến phù hợp với điều kiện cụ thể của vùng. 2.3. Công tác giải phóng mặt bằng: Việc thu hồi, bồi thường , giải toản đất nên do các cấp chính quyền chịu trách nhiệm. Những dự án lớn, UBND tỉnh chủ trì, những dự án nhỏ và vừa, UBND huyện hoặc xã chủ trì để các nhà đầu tư, các doanh nghiệp có thể nhận mặt bằng kinh doanh, không phải liên quan, không phải thoả thuận với chủ đất. Một số dự án nhỏ lẻ, doanh nghiệp có thể tự thoả thuận với chủ đất về giá đền bù, báo cáo UBND tỉnh quyết định, và doanh nghiệp báo cáo UBND xã cho thuê đất của UBND tỉnh, việc cắm mốc, giao đất ngoài thực địa, hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khẩn trương, đúng hẹn. Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, mức đền bù giá, thời gian giải toả đối với từng loại đất, lấy ý kiến của dân nơi bị thu hồi đât. Hội đồng nhân dân bàn và quyết định, điều này sẽ giúp cho công tác giải phóng mặt bằng được tiến hành thuận lợi, giúp việc giao đất cho nhà đầu tư, các doanh nghiệp đúng thời gian quy định. Kiên quyết trong việc tổ chức cưỡng chế đối với các hộ dân cố tình dây dưa, không chịu nhận tiền bồi thường theo chính sách của tỉnh, 2.4. Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng. Đầu tư kết cấu hạ tầng như giao thông, điện nước, hệ thống thông tin liên lạc, nâng cấp các dịch vụ hiện có để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh. Tăng cường đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hôi, bao gồm: giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc, xây dựng khu dân cư, nâng cấp hệ thống khách sạn, hạ tầng du lịch, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp. Thực thi đầy đủ các chính sách và pháp luật do trung ương quy định, cần rà soát, xây dựng những quy định mang tính chính sách về khuyến khích và ưu đãi đầu tư cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Sớm hoàn thiện hồ sơ về quy hoạch chi tiết, dự án đầu tư xây dựng hạ tầng; vận động kêu gọi các nhà đầu tư đầu tư xây dựng hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; đôn đốc Công ty hạ tầng đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp. Các ngành, các huyện, thành phố cần nhanh chóng rà soát quy hoạch các ngành và địa phương, xác định các sản phẩm chủ yếu phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hôi đến năm 2020, phù hợp với thị trường trong nước cũng như xuất khẩu hiện nay và sắp tới, xác định rõ nhu cầu từng loại vốn đầu tư cần thu hút từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, đồng thời với việc thực thi đầy đủ các chính sách và pháp luật do trung ương quy định, cần rà soát, xây dựng những quy định mang tính chính sách về khuyến khích ưu đãi đầu tư phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. 2.5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực hiện nay đang là vấn đề cần được quan tâm. Mặc dù, tại thời điểm này, các dự án đầu tư vào Hoà Bình chủ yếu là các dự án trồng rừng và du lịch sinh thái, yêu cầu nhân lực trình độ cao không đặt ra cấp bách, nhưng để có thể thu hút được nhiều các doanh nghiệp lớn, các dự án có hàm lượng công nghệ cao thì tỉnh cần phải có một đội ngũ nhân lực qua đào tạo, có tay nghề chuyên môn cao. Khi đó các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn tỉnh sẽ không phải tốn chi phí đào tạo nhân công, giảm bớt sức nặng chi phí bỏ ra đièu đó sẽ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn nữa. Để có được điều đó thì tỉnh cần tiếp tục tăng cường đầu tư cho các lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá để nâng cao trình độ dân trí, tỷ lệ lao động được đào tạo và sức khoẻ cho người lao động. Tăng cường công tác bồi duỡng bồi dưỡng cán bộ quản lý các doanh nghiệp, sắp xếp lại và nâng cao trình độ cán bộ quản lý Nhà nước. Chú trọng xây dựng nhân lực có kỹ thuật, trình độ cho sản xuất kinh doanh. Chú trọng đầu tư cho giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề. Xây dựng các cơ chế khuyến khích phát triển các cơ sở dạy nghề, mở rộng dạy nghề bằng nhiều hình thức thích hợp. Huy động mọi nguồn vốn hoàn thành việc đầu tư xây dựng trường đại học, trường dạy nghề của tỉnh và nâng cấp các trung tâm dạy nghề, trung tâm dịch vụ việc làm…, nhằm đáp ứng yêu cầu học nghề cho con em các dân tộc trong tỉnh , phân đấu đến năm 2010 đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo 30%. Đa dạng hoá các ngành nghề đào tạo như điện tử, viễn thông, thợ may, kết toán, tin học, ngoại ngữ để cung cấp cho các dự án đầu tư. Đào tạo giáo dục cho công nhân nâng cao ý thức người lao động, thay đổi thói quen tuỳ tiện, khắc phục tình trạng và ý thức kỷ luật. 2.6. Thiết lập mối quan hệ tốt với các doanh nghiệp. Một mối quan hệ tốt với các doanh nghiệp, sự tin tưởng lẫn nhau giữa chính quyền tỉnh và các doanh nghiệp là một trong những nhân tố để tỉnh Hoà Bình có thể đẩy mạnh công tác thu hút vốn từ các doanh nghiệp trong nước vào địa bàn. Xây dựng mối quan hệ thân thiện, đảm bảo môi trường an ninh tốt và tạo lòng tin đối với cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư bằng cách quan tâm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, tổ chức gặp mặt định ký với các nhà đầu tư; kiên quyết bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của các doanh nghiệp khi đầu tư vào địa bàn, thiết lập đường dây nóng và đặt hòm thư góp ý tại trụ sở các cơ quan công quyền. Tăng cường gặp gỡ giữa lãnh đạo tỉnh với doanh nghiệp để trao đổi thông tin. Tổ chức các cuộc hội thảo để phân tích chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh, qua đó cải thiện môi trường đầu tư vào tỉnh tốt hơn, để các nhà lãnh đạo tỉnh Hoà Bình thấy được khả năng cạnh tranh của tỉnh và năng lực điều hành của lãnh đạo tỉnh, từ đó đưa ra các giải pháp để cải thiện năng lực cạnh tranh của tỉnh. 2.7. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư. - Vận động thu hút đầu tư. Trước hết, cần xác định công tác tuyên truyền, vận động nhằm giúp nhân dân nhận thức đầy đủ, mục địch ý nghĩa của việc phát triển công nghiệp, dịch vụ, đồng thời có các chế độ chính sách đối với cán bộ, nhân dân liên quan khi thu hồi đất thực hiện. Khu, cụm công nghiệp và các dự án đầu tư được phổ biến công khai, dân chủ, đảm bảo thông suốt từ các hộ dân đến đội ngũ cán bộ. Việc tạo dụng môi trường đầu tư hấp dẫn là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của cả hệ thống chính trị. Trên cơ sở tiềm năng thế mạnh của tỉnh, xác định mũi nhọn thu hút đầu tư và xây dựng danh mục dự án thu hút đầu tư. Xác định lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư: công nghiệp, du lịch, đào tạo nguồn nhân lực. Xác định địa bàn trọng điểm thu hút đầu tư gồm huyện Lương Sơn, thành phố Hoà Bình, huyện Kim Bôi và dọc đường Hồ Chí Minh. Hàng năm tỉnh xây dựng và công bố các danh mục dự án gọi vốn đầu tư làm cơ sở cho việc vận động xúc tiến đầu tư. Hiện nay tỉnh công bố danh mục dự án thu hút vốn đầu tư đến năm 2020 gồm các dự án đầu tư trong và ngoài nước. Xây dụng chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia, nội dung chương trình xức tiến đầu tư cần xây dựng một cách chi tiết, cụ thể bao gồm các nội dung: chuẩn bị tài liệu đảm bảo đẩy đủ thông tin đa dạng cho nhà đầu tư, rà soát cơ chế chính sách, làm tốt công tác tuyên truyền quảng bá thông tin, xây dựng hình ảnh của tỉnh, tổ chức hội nghị,hội thảo và làm việc đối tác, đào tạo tập huấn các kỹ năng xúc tiến đầu tư. Xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư cần đảm bảo yếu tố sau: - Xác định được mục tiêu và tiềm năng của tỉnh - Hướng tới các ngành và khu vực địa lý có nguồn vốn đầu tư lớn - Xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư. Xây dựng hệ thống thông tin kinh tế xã hội, giới thiệu tiềm năng, tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu cung cấp thông tin về môi trường đầu tư, định hướng phát triển, chủ trương và chính sách, pháp luật, tiềm năng, cơ hội và hiệu quả đầu tư. Quảng bá các dự án kêu gọi đầu tư trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, quảng bá nhân dịp các hội chợ, lễ hội lớn trong nước và quốc tế. Tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm giới thiệu về môi trường đầu tư và kết quả hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục tổ chức các diễn đàn, hội thảo giới thiệu tiềm năng, kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Kêu gọi, vận động các nhà đầu tư trong nước theo định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư vào các ngành và lĩnh vực mà tỉnh có lợi thế, có khả năng cạnh tranh, sử dụng công nghệ cần nhiều lao động, khai thác khoáng sản, du lịch sinh thái… thân thiện với môi trường. Xây dựng duy trì cơ sở dữ liệu của một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm trọng điểm thu hút vốn đầu tư. Xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu, thông tin về đầu tư, xúc tiến đầu tư để cung cấp cho các nhà đầu tư và đối tác đến tìm hiểu cơ hội đầu tư; tổ chức cung cấp thông tin qua mạng. Hoàn thiện và nâng cao chất lượng danh mục dự án kêu gọi đầu tư; đưa thông tin cần thiết của các dự án để các nhà đầu tư có điều kiện lựa chọn. Thường xuyên cập nhật thông tin kinh tế xã hội và cơ chế, chính sách thu hút ưu đãi đầu tư cho các nhà đầu tư và thông tin doanh nghiệp trên website của Sở, kết hợp với các địa chỉ website của các bộ, ngành, địa phương trong cả nước. Tổ chức in ấn tài liệu, danh mục các dự án kêu gọi đầu tư bằng nhiều thứ tiếng để thực hiện xúc tiến đầu tư phù hợp với các thị trường. Tổ chức hội thảo, tập huấn nhằm bồi dường kiến thức, nâng cao kỹ năng đàm phán, xúc tiến đầu tư cho cán bộ, nhân viên các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp. Hỗ trợ đào tạo nghề cho các doanh nghiệp, quan tâm đào tạo công nhân kỹ thuật các ngành công nghệ cao, trình độ cao. Bảng 2.2. Danh mục các dự án gọi vốn đầu tư Tên dự án Tổng vốn đầu tư Địa điểm thực hiện DA Diện tích đất sử dụng Xây dựng trung tâm thương mại bờ trái sông Đà 12 triệu USD TP Hoà Bình 1 ha Đầu tư hạ tầng du lịch Lòng Hồ Sông Đà 30 triệu USD TP Hoà Bình. huyện Đà Bắc Tùy thuộc quy mô dự án Nuôi trồng thuỷ sản lòng hồ Sông Đà 5 triệu USD TP Hoà Bình Tuỳ thuộc quy mô dự án Dự án sản xuất và lắp ráp các loại máy công cụ 10 triệu USD KCN Lương Sơn, huyện Lương Sơn Tùy thuộc quy mô dự án Sản xuất lắp ráp hàng điện dân dụng, điện tử 8 triệu USD KCN Lương Sơn, huyện Lương Sơn Tùy thuộc quy mô dự án Đầu tư xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp dọc tuyến đường Hồ Chí Minh 40 triệu USD Xã Nhuận Trạch, huyện Lương Sơn Tùy thuộc quy mô dự án Dự án khai thác chế biến vật liệu xây dựng 10 triệu Huyện Lương Sơn Tùy thuộc quy mô của dự án Nhà máy chế biến thức ăn gia súc 8 triệu USD KCN Lương Sơn, huyện Lương Sơn Tùy thuộc quy mô của dự án Dự án sản xuất giày vải xuất khẩu 2 triệu USD KCN bờ trái Sông Đà Tùy thuộc quy mô của dự án Nhà máy chế biến nông sản 5.5 triệu USD KCN Lương Sơn, huyện Lương Sơn Tuỳ thuộc quy mô của dự án Nguồn: Phòng Xúc tiến đầu tư- Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Hoà Bình KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Trải qua gần 20 năm trưởng thành và phát triển, công cuộc đầu tư phát triển kinh tế xã hội được chú trọng đưa Hoà Bình từ một tỉnh có tốc độ phát triển 5% vào năm 1991 đã tăng lên 10% năm 2008. Có được sự thành công đó là do sự đóng góp rất lớn của các doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh trên địa bàn trong những năm qua. Hoà Bình đã rất nỗ lực trong việc cải thiện môi trường đầu tư để thu hút vốn đầu tư. Giai đoạn trước năm 2000 hoàn toàn trông chờ vào các cơ chế chính sách của nhà nước. tỉnh chưa ban hành một cơ chế chính sách hay thủ tục hành chính cho các nhà đầu tư, hoạt động thu hút vốn đầu tư mang tính thụ động, môi trường đầu tư kém hấp dẫn, vì vậy số dự án đầu tư còn rất ít, nhỏ lẻ, các dự án đầu tư hoạt động kém hiệu quả. Nhưng từ năm 2002, khi nghị định 31 ra đời đã đánh dấu bước phát triển trong công tác thu hút, tình hình phát triển của các doanh nghiệp, các dự án đã tăng lên đáng kể cả về số lượng và quy mô đầu tư. Hoà Bình từ một tỉnh chậm phát triển đã trở thành địa bàn được các nhà đầu tư quan tâm, một điểm đến lý tưởng cho những ai có nhu cầu đầu tư. 1. Kiến nghị với nhà nước. Nhà nước cần tạo môi trường pháp lý cho hoạt động đầu tư trong nước theo xu hướng đồng bộ hoá vế Luật, tăng ưu đãi về tài chính cho nhà đầu tư đi đôi với việc kiểm soát chặt chẽ những điều kiện liên quan đến sự phát triển ổn định, bền vững (như yếu tố xã hội, môi trường), cho phù hợp với tình hình trong nước. Cần coi trọng cả việc ban hành quy chế mới và dỡ bỏ những quy chế không phù hợp. Các văn bản dưới luật cần được ban hành kịp thời với nội dung rõ ràng, thống nhất với Luật, khi thực hiện đầu tư, các nhà đầu tư thường đụng chạm tới các văn bản luật (luật đầu tư, luật môi trường, luật đất đai…) nếu không có các văn bản hướng dẫn cụ thể thì nhà đầu tư sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Đông thời phải phối hợp giữa các bộ ngành liên quan nghiên cứu, để xuất các giải pháp giải quyết những mâu thuẫn giữa luật chung và luật riêng, giữa các luật riêng với nhau. nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng, minh bạch, phù hợp với hoạt động của các doanh nghiệp. 1.2.Kiến nghị với tỉnh. Cần thực hiện tốt những chính sách văn bản của chính phủ, có những cải biến theo hướng tích cực để phù hợp với điều kiện của địa phương. Nâng cao hơn nữa năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, mở những lớp đào tạo và bồi dưỡng cán bộ để nắm bắt rõ những chính sách chủ trương của Đảng và nhà nước. Trong công tác vận động xúc tiến đầu tư, một mặt kêu gọi thu hút của các nhà đầu tư đặc biệt là nhà đầu tư trong nước nhưng mặt khác phải tiến hành xác định rõ năng lực của nhà đầu tư. Không phải vì mục tiêu lấy số lượng doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn mà quên đi chất lượng đầu tư. Nên công tác lựa chọn nhà đầu tư không tốt sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của dự án đầu tư, bỏ lỡ cơ hội của những nhà đầu tư có năng lực, làm giảm thu ngân sách của tỉnh và làm hạn chế tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docA5522.DOC
Luận văn liên quan