Đề tài Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và việc vận dụng trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam hiện nay

Chuyên đề dài 51 trang LỜI MỞ ĐẦU 1- Lý do chọn đề tài Thực tiễn ngày càng chứng minh, cùng với chủ nghĩa Mác- Lê Nin. Tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị to lớn, dẫn đường cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 77 năm qua. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991) khẳng định: " Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng". Các đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X của Đảng chỉ rõ: " tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lê Nin và tạo điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của dân tộc". trong đó tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết toàn quốc có vị trí đặc biệt quan trọng. Hiện nay, trong bối cảnh quốc tế biến đổi nhanh chóng và xu thế toàn cầu hóa đang gia tăng, nhất là lĩnh vực kinh tế, không một quốc gia nào có thể phát triển mà lại không mở rộng quan hệ, đoàn kết, hợp tác với các nước khác. Nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để phát triển và nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, một trong những vấn đề quan trọng là phải mở rộng đoàn kết hợp tác theo tinh thần " Việt Nam sẵn sàng làm bạn là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế". Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc trế có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc đổi mới của Đảng và nhà nước ta. Chính vì vậy em lựa chọn đề tài : " Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và việc vận dụng trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam hiện nay" làm chủ đề của báo cáo thực tập tốt nghiệp năm học 2009 - 2010. 2- Mục đích nghiên cứu MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN 1 LỜI MỞ ĐẦU 2 CHƯƠNG I 4 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ VÀ 4 NHỮNG HOẠT ĐỘNG ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ TRONG THỰC TIỄN CỦA HỒ CHÍ MINH 4 1.1. Những nhân tố hình thành tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh. 4 1.1.1. Truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. 4 1.1.2. Chủ nghĩa Mác - Lênin và Quốc tế Cộng sản. 5 1.2. Đoàn kết quốc tế trong hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh. 7 1.2.1. Hoạt động đoàn kết của Hồ Chí Minh trên đất Pháp. 7 1.2.2. Hoạt động đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh trong quốc tế cộng sản 9 1.2.3. Hoạt động đoàn kết quốc tế cho việc thành lập Đảng và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. 12 CHƯƠNG 2. 16 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 16 VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ 16 2.1 Độc lập, tự do là mục tiêu, động lực và cơ sở của tư tưởng đoàn kết quốc tế 16 2.2 Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới 19 2.3 Độc lập, tự chủ, tự cường gắn với đoàn kết quốc tế. 21 2.4. Đoàn kết quốc tế theo tinh thần: "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước". 23 2.5. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại 25 CHƯƠNG 3. 27 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ TRONG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 27 3.1. Ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế. 27 3.1.1. Về mặt lý luận. 27 3.1.2. Về mặt thực tiễn. 28 3.2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong quan hệ đối ngoại Việt Nam hiện nay. 33 3.2.1.TÌnh hình thế giới và Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 33 3.2.2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam từ khi đổi mới đến nay. 36 KẾT LUẬN 45 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

docx51 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 02/02/2013 | Lượt xem: 37163 | Lượt tải: 104download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và việc vận dụng trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n kết quốc tế. 2.4. Đoàn kết quốc tế theo tinh thần: "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước". Tháng 9 năm 1947, chủ tịch Hồ Chí Minh trong dịp trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài đã khái quát nhiệm vụ và phương hướng đối ngoại chủ yếu của Việt Nam là: "làm bạn với tất cả các nước dân chủ không gây thù oán với một ai"(5). Điều này thể hiện mục tiêu chính nghĩa hợp thời đại của cuộc chiến đấu của dân tộc Việt Nam và thiện chí của Việt Nam muốn mở rộng quan hệ quốc tế với các lực lượng tiến bộ xã hội khác bên ngoài,đặc biệt là nước Pháp và nhân đân Pháp lúc đó.Mặt khác, quan điểm của Hồ Chí Minh cũng phù hợp với bối cảnh cuộc kháng chiến đang ở trong vòng vây hãm của thế lực thù địch, không có mối liện hệ nào giữa cuộc kháng chiến với các lực lượng cách mạng thời đại. Đồng thời đây cũng là mục tiêu của chính sách đối ngoại thể hiện mong muốn hòa hiếu thêm bạn bớt thù, xóa bỏ mọi hiềm khích dân tộc, tranh thủ những lực lượng còn mơ hồ với những diễn biến chính trị phức tạp ở Đông Dương và Việt Nam, tìm mẫu số chung với mọi lực lượng hòa bình, công lý, yêu chuộng tự do, dân chủ trong quan hệ quốc tế. Năm 1949, trả lời phỏng vấn một nhà báo người Mỹ hỏi: Sau khi đã độc lập, Việt Nam có hoan nghênh tư bản ngoại quốc không? Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời: Bất kỳ nước nào thật thà muốn đưa tư bản đến kinh doanh ở Việt Nam, với mục đích làm lợi cho cả hai bên thì Việt Nam sẽ rất hoan nghênh, còn nếu mong đưa tư bản đến để ràng buộc, áp chế Việt Nam thì Việt Nam sẽ cương quyết cự tuyệt. Ngay đối với nước Pháp, nước đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Việt Nam sẵn sang hợp tác thân thiện với nhân dân Pháp. Những người Pháp tư bản hay công nhân, thương gia hay trí thức, nếu họ muốn thật thà cộng tác với Việt Nam thì sẽ được nhân dân Việt Nam hoan nghênh họ như anh em bầu bạn”. Sau năm 1945 nhiều lần Người đã tuyên bố: “Chính sách ngoại giao của chính phủ thì chỉ có một điều tức là than thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hòa bình”. “Thái độ của Việt Nam đối với những nước Á châu là một thái độ anh em, đối với ngũ cường là một thái độ bạn bè”. Có thể xem những tuyên bố trên đây là tư tưởng đặt nền móng cho phương châm đa dạng hóa, đã phương hóa, công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Trong quan điểm Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, Hồ Chí Minh đã ưu tiên cho mối quan hệ giữa các nước láng giềng trong khu vực, nhất là các nước có chung đường biên giới với Việt Nam nhằm hình thành liên minh chiến đấu chống kè thù chung. Trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định “Đông Dương là một chiến trường”, Hồ Chí Minh nêu rõ “Chúng ta kháng chiến, dân tộc bạn Miên, Lào cũng kháng chiến. Vì vậy chúng ta phải ra sức giúp đỡ anh em Miên, Lào, giúp kháng chiến Miên, Lào và tiến đến thành lập mặt trận thống nhất các dân tộc Việt - Miên - Lào”. Đối với Trung Quốc - một nước có quan hệ lịch sử, văn hóa lâu đời với Việt Nam, phát huy truyền thống hòa hiếu của cha ông Hồ Chí Minh đã bằng những hoạt động liên tục, không mệt mỏi suốt nửa thế kỷ xây đắp nên mối quan hệ “Vừa là đồng chí, vừa là anh em”. 2.5. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại Xuất phát từ nhận thức cách mạng Việt Nam và thế giới có mối quan hệ thống nhất biện chứng, Hồ Chí Minh cho rằng việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một tất yếu, một cơ sở tạo ra sức mạnh lớn nhất cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi và cũng tạo cho Việt Nam góp phần xứng đáng vào tiến trình phát triển của nhân loại. Sinh thời, trong mọi hoàn cảnh, Người đều tìm ra phương thức, biện pháp để gắn cách mạng Việt Nam và phong trào tiến bộ trên thế giới. Sức mạnh dân tộc là sự tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần, truyền thống và hiện đại, là sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sức mạnh của ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, làm cho Việt Nam sánh vai với các nước trên thế giới. Yếu tố quyết định để phát huy sức mạnh dân tộc là giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Sức mạnh của thời đại là sức mạnh đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân, là sức mạnh của sự kết hợp hữu cơ giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, là tình đoàn kết chiến đấu giữa các đảng cộng sản, các phong trào và các lực lượng cách mạng trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc vì hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Sức mạnh thời đại còn là sự thực hiện quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau, áp dụng những thành tựu mới về khoa học kỹ thuật và công nghệ, học tập, vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm quản lý của các nước trên thế giới. Sức mạnh của thời đại luôn mang nội dung mới, phản ánh sự phát triển của lịch sử và quá trình vận động của chính trị thế giới. Thực hiện kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, Hồ Chí Minh luôn đặt cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng mỗi nước trong tình hình nhiệm vụ chung của cách mạng thế giới và tác động qua lại giữa chúng. Mặt khác, Người xác định rõ vị trí, nhiệm vụ của cách mạng dân tộc với cách mạng thế giới: cách mạng dân tộc không chỉ để giành thắng lợi cho riêng mình mà còn góp phần vào thắng lợi chung của nhân dân thế giới. Trong quá trình kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề phải biết dựa vào sức mình là chính. Chỉ như vậy mới giữ được độc lập, tự chủ, mới chủ động, sáng suốt trong hoạt động quốc tế để phân định rõ Bạn - Thù, cảnh giác với những âm mưu phá hoại núp dưới danh nghĩa “giúp đỡ”, “nhân đạo”, “hữu nghị”. Theo Hồ Chí Minh muốn kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, các đảng cộng sản phải kiên trì đấu tranh chống mọi khuynh hướng sai lầm chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa vị kỷ dân tộc, chủ nghĩa sô vanh… Những khuynh hướng làm suy yếu sức mạnh đoàn kết, thống nhất của các lượng cách mạng thế giới. Có thể nói, Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên phá thế đơn độc của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, đặt nền móng vững chắc cho đường lối quốc tế đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Đó là: Dựa trên thực lực dân tộc mình để tranh thủ sự hợp tác quốc tế và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia. CHƯƠNG 3 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ TRONG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 3.1. Ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế 3.1.1. Về mặt lý luận Công lao và đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, đó là sự vận dụng sáng tạo và phát triển những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới, làm giàu kho tang lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin trên con đường khai phá đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, đưa các dân tộc đi vào quỹ đạo chung của cách mạng thế giới. Cụ thể là sự phát triển sáng tạo chiến lược đoàn kết quốc tế của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nếu tuyên ngôn Đảng Cộng Sản(1948) do Các Mác và Ph.Ăngghen soạn thảo đã đề ra khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”, sau này Quốc tế cộng sản đã mở rộng thành khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại” thì Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Lao động tất cả các nước đoàn kết lại”. Vào những thập niên đầu của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã thấu hiểu nỗi khổ, khát vọng của các dân tộc bị áp bức, hiểu biết sâu sắc chủ nghĩa thực dân, trực tiếp tham gia đấu tranh giành độc lập, tự do của các dân tộc trên thế giới. Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh tiếp thu, liên hệ, so sánh một cách toàn diện các con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Người cho rằng, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng Tháng Mười, đó là cách mạng vô sản, vì nó đem lại cho các dân tộc sức mạnh đoàn kết quốc tế, đủ sức đương đầu chiến thắng đế quốc, thực dân. Từ việc vạch ra hướng đi đúng đắn và biến nó thành hiện thực trong phong trào giải phóng dân tộc thế giới, Hồ Chí Minh đã dần dần hình thành chiến lược về đoàn kết quốc tế. Với tư duy nhạy bén, Người đã rút ra những kết luận khái quát: chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân ở đâu cũng bóc lột và tàn bạo, thuộc địa là hiện thân của chế độ dã man, tàn bạo của bọn đế quốc, thực dân đối với hàng trăm người bản xứ, các dân tộc thuộc địa có một lực lượng rất lớn, nhưng sở dĩ họ chưa giành thắng lợi được là vì họ chưa hiểu được ý nghĩa của việc “đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế”. Theo Người “dân tộc cách mệnh” và “thế giới cách mệnh” do “giai cấp vô sản lãnh đạo” có quan hệ chặt chẽ với nhau, biết khơi dậy lòng căm thù dân tộc, giai cấp ở trăm triệu con người bị áp bức thì đây là sức mạnh vô cùng lớn lao của thời đại. Sức mạnh của mỗi dân tộc sẽ được nhân lên nếu có sự đoàn kết chặt chẽ của cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa với nhau và với cách mạng vô sản ở chính quốc. Chính vì thế, Hồ Chí Minh đem hết sức lực vào việc giáo dục, tổ chức và đoàn kết các dân tộc thuộc địa thành một dân tộc khổng lồ để cùng với giai cấp vô sản ở chính quốc tạo thành hai dòng thác cách mạng lớn nhấn chìm để quốc, thực dân. Đoàn kết các dân tộc thuộc địa, mở rộng thành đoàn kết với giai cấp vô sản ở chính quốc và toàn thế giới là tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh. Nó chứng minh không chủ vận dụng mà còn có đóng góp lớn lao vào kho tang lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Khẳng định giá trị những đóng góp của Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận cách mạng của thời đại, nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết “Cho đến đầu thế kỷ XX, học thuyết Mác - Lênin chỉ mới soi sáng cách mạng vô sản ở phương Tây. Hồ Chí Minh thấy cần góp phần mang chân lý thời đại này để soi sáng phần của thế giới mà học thuyết Mác - Lênin vừa mới bắt đầu chiếu tới. Từ đó, Hồ Chí Minh suy nghĩ, tìm tòi, nghiên cứu, bổ sung những điều mà các bậc thầy học thuyết Mác - Lênin, vì sự hạn chế của lịch sử chưa nói được đầy đủ. Đó là lý luận về cách mạng thuộc địa”. (Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh - Một con người, một thời đại, một sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1990). 3.1.2. Về mặt thực tiễn Thứ nhất, tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh đã thực hiện hóa khẩu hiệu chiến lược của chủ nghĩa Mác - Lênin “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”. Cùng với các chiến sĩ chống CNTD, Hồ Chí Minh đã lập ra Hội liên hiệp thuộc địa, cho xuất bản tờ báo Le Paria để đoàn kết các dân tộc. Nếu như trước đó Lênin kêu gọi đoàn kết giai cấp vô sản phương Tây với các dân tộc thuộc địa phương Đông họp tại Bacu (tháng 9/1920). Nhưng Lênin chưa có điều kiện tổ chức thực hiện nó trong thực tiễn, thì Hội liên hiệp thuộc địa do Hồ Chí Minh sáng lập ra chính là sự thể hiện sinh động đoàn kết đó trong thực tiễn cách mạng. Khi đến Trung Quốc, Người lại cùng các nhà cách mạng các nước thuộc địa phương Đông thành lập hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức, tạo thành “một trong những cái cánh của cách mạng vô sản” thế giới. Trong thực tiễn Người hoạt động không mệt mỏi cho sự liên hiệp, đoàn kết các dân tộc thuộc địa. Người đã tham gia công đoàn hải ngoại ở Anh; vào Đảng Cộng sản Pháp và là thành viên của Ban Thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp và tham dự vào Đại hội V, VII và các Hội nghị của Quốc tế Cộng sản; xây dựng lực lượng cách mạng ở các nước phương Đông, tổ chức một số Đảng Cộng sản ở khu vực Đông Nam Á… Đó là những việc làm thiết thực để biến khẩu hiệu chiến lược của chủ nghĩa MÁc - Lênin vào thực tế sinh động, chống chủ nghĩa đế quốc thực dân, giành độc lập, tự do và tiến bộ cho mỗi dân tộc. Như vậy, Hồ Chí Minh là người đầu tiên đưa ra khẩu hiệu chiến lược của chủ nghĩa Mác - Lênin vào cuộc sống, biến nó thành hiện thực sinh động. Đây là đóng góp lớn của Người cho cách mạng thế giới. Thứ hai, tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh góp phần mở ra kỷ nguyên độc lập, dân tộc và đảm bảo tính pháp lý quốc tế của dân tộc Việt Nam. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nước ta ở trong tình trạng “đen tối như không có đường ra”, cuộc đấu tranh của dân tộc vẫn tiếp tục nhưng vì không có đường lối đúng đắn nên vẫn “giống như một con tàu lướt nhanh trên những ngọn sóng xa lạ mà không có kim chỉ nam”, Nguyễn Ái Quốc đã quyết tâm ra đi tìm cho được con đường cứu nước, cứu dân. Vượt qua lối mòn của những người đi trước, Người đã thực hiện một cuộc khảo sát có một không hai trong lịch sử các dân tộc bị áp bức, như Người đã nhận định: đây là nguyên nhân gây ra sự suy yếu của cách mạng Việt Nam. Người đã đặt chân lên các cường quốc đế quốc, dân tộc ở các nước thuộc địa ở các châu lục để quan sát, tìm hiểu, so sánh, lựa chọn và tổng kết để tìm ra con đường đi cho dân tộc phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Từ chủ nghĩa yêu nước, Người tham gia phong trào công nhân, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới trong gần mười năm qua, để cuối cùng đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Tìm thấy con đường cứu nước khi đọc được “Bản sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin, trở thành người chiến sĩ cộng sản bằng việc tán thành Quốc tế III và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, Người đã dành toàn bộ sức lực vào việc nghiên cứu vấn đề cách mạng Việt Nam và đóng góp vào sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Ngày 3/2/1930, với việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và soạn thảo Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, Người đã mở ra một bước ngoặt mới có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp độc lập, tự do của dân tộc ta, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối của Việt Nam. Đó còn thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự vững vàng về quan điểm, tính kiên định về nguyên tắc với sự mềm dẻo, uyển chuyển về sách lược và phương pháp cách mạng đạt đến một trình độ nghệ thuật để giành thắng lợi từng bước, từ đó đi đến thắng lợi cuối cùng. Điều này thể hiện rõ nhất trong câu nói “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Người. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, vấn đề cơ bản cũng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, đó cũng là sự kết hợp giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, gắn lợi ích của cách mạng Việt Nam với lợi ích của cách mạng thế giới, phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ giúp đỡ của Đồng minh và các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Với tài năng nhạy cảm đặc biệt của nhà chiến lược thiên tài, Hồ Chí Minh đã thể hiện nghệ thuật tạo thời cơ cách mạng, nhờ đó mà cách mạng Việt Nam đã đi đúng hướng và giành thắng lợi. Ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở đầu cho kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Trong Tuyên ngôn độc lập Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định trong thực tiễn đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam với các quyền dân tộc thiêng liêng đó. Tuyên ngôn độc lập là hòn đá tảng đầu tiên khẳng định cả trên nguyên tắc và thực tế, cả quyết tâm sắt đá của nhân dân Việt Nam. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam do Người lãnh đạo đã gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp, giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, thực hiện các quyền dân chủ cơ bản của con người. Cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là từ quan điểm gắn độc lập dân tộc với tự do của con người, gắn quyền dân tộc thiêng liêng với quyền cơ bản của con người. Đây là một quan điểm “gốc” quốc tế đầy tính nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn độc lập của Người được coi là bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của các dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự chủ, tự do, hạnh phúc và văn minh. Những đóng góp của Người đã làm nên những thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nhân dân toàn thế giới coi là người mở kỷ nguyên độc lập và tính pháp lý quốc tế của nước Việt Nam, suy tôn là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Thứ ba, tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh đã bắc nhịp cầu đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới. Hồ Chí Minh đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới cũng như tư tưởng cách mạng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới. Đó là đóng góp đầu tiên của Người đối với nhân dân Việt Nam và nhiều dân tộc khác, cuộc khảo nghiệm quốc tế trong gần 10 năm, từ truyền thống đoàn kết, yêu nước của dân tộc, ở Người đã hình thành ý thức giai cấp, ý thức về sự cần thiết của các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Đánh dấu bước chuyển biến, quyết định trong nhận thức và hành động của Người về đoàn kết quốc tế là việc tham gia Đại hội Tua của Đảng Cộng sản Pháp với câu nói nổi tiếng: “Tôi đến đây để cùng các đồng chí góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Bằng những hoạt động cụ thể của mình, Người bắc nhịp cầu đoàn kết giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng Pháp và cách mạng thế giới. Người đã xuất hiện như một chiến sĩ quốc tế xuất sắc đấu tranh cho tình hữu nghị, đoàn kết giữa các dân tộc. Những năm 20 của thế kỷ XX, nhiều Đảng Cộng sản còn bàng quan với cách mạng thuộc địa, chủ nghĩa cơ hội, cải lương còn ảnh hưởng xấu đến giai cấp vô sản ở các nước chính quốc, Hồ Chí Minh đã tuyên truyền, tổ chức các dân tộc thuộc địa nhận thức về vận mệnh của mình, thức tỉnh giai cấp vô sản ở các nước chính quốc về tình hình thuộc địa, lên án CNTD khắc phục sự hiểu lầm, thiếu hiểu biết về “hậu phương của chủ nghĩa đế quốc” của cả đôi bên nhằm thống nhất hành động chống CN ĐQ, thực dân; đồng thời nhằm bảo vệ những quan điểm của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, xây dựng liên minh đoàn kết giữa các dân tộc thuộc địa với nhau và với các nước chính quốc. Đây là cống hiến của Hồ Chí Minh trong việc xây dựng truyền thống đoàn kết giữa nhiều Đảng Cộng sản châu Âu với giai cấp công nhân và nhân dân các nước thuộc địa. Công tác ở chính Quốc tế CỘng sản trên đất nước Nga - Xô viết, trên các diễn đàn quốc tế, Người đều cất cao tiếng nói cho sự đoàn kết, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc thuộc địa và giai cấp vô sản ở các nước chính quốc. Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc được biết và quan hệ với nhiều nhà lãnh đạo nổi tiếng của các Đảng Cộng sản và các nước trên thế giới. Tại đây, Người đã đặt viên gạch đầu tiên, xây dựng nền móng cho mối đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Liên Xô. Nếu như trước đây ở châu Âu, Người liên hiệp các dân tộc bị áp bức trong Hội liên hiệp thuộc địa, thì khi quay trở về châu Á, Người liên hiệp các dân tộc như: Trung Quốc, Ấn Độ, Miến Điện, Triều Tiên, Indonesia… Trong Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức, đều nhằm đoàn kết, thống nhất hành động chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Đối với các dân tộc châu Á, Hồ Chí Minh như người rung hồi chuông thức tỉnh về công cuộc giải phóng dân tộc, bênh vực quyền lợi cho họ. Với các dân tộc Đông Dương, Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt Người nêu rõ những người cộng sản Việt Nam phải giúp đỡ hai dân tộc Lào và Campuchia. Người quyết định thành lập mặt trận “Việt Minh”, vận động Ai Lao độc lập đồng minh, Cao Miên đọc lập đồng minh, tiến tới Đông Dương độc lập đồng minh. Nhân dân Lào và Campuchia khắc sâu hình ảnh của Hồ Chí Minh, Người đặt nền tảng và xây dựng tình đoàn kết hữu nghị của ba dân tộc Đông Dương. Hồ Chí Minh nêu cao tinh thần đoàn kết chiến đấu giữa các dân tộc bị áp bức, tinh thần bình đẳng hữu nghị, hòa bình giữa các dân tộc. Ở Người lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, là tinh thần hữu ái “bốn phương vô sản đều là anh em” và Người là hiện thân của tình cảm cao đẹp đó. Các dân tộc châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh đều tìm thấy sự đồng tình ủng hộ của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc cho dân tộc mình. Trong hoạt động đoàn kết quốc tế, từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã phân biệt bọn thực dân đế quốc với nhân dân lao động, với những người yêu chuộn hòa bình, công lý, dân chủ và tiến bộ trong các nước tư bản, đế quốc. Nhìn lại hoạt động đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh thấy rõ: Người đã đặt cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, thực hiện nhiệm vụ cách mạng Việt Nam, cống hiến cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại, đặt nền tảng vững chắc cho đoàn kết, hữu nghị giữa các quốc gia dân tộc. Chính đường hướng chiến lược đó sau này trở thành nét đặc sắc của cách mạng Việt Nam: đoàn kết với nhân dân Pháp trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đoàn kết với nhân dân Mỹ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, hình thành mặt trận đoàn kết nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam ngày càng rộng lớn. Đó chính là hiệu quả thực tiễn trong đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh. 3.2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong quan hệ đối ngoại Việt Nam hiện nay 3.2.1.TÌnh hình thế giới và Việt Nam trong giai đoạn hiện nay * Tình hình thế giới Chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa xã hội hiện thực tạm thời lâm vào thoái trào, trật tự thế giới hai cực Xô - Mỹ đổ vỡ làm đảo lộn cục diện thế giới, tương quan lực lượng nghiêng về phía có lợi cho chủ nghĩa tư bản. Chiến tranh lạnh kết thúc, phương thức liên minh và tập hợp lực lượng giữa các nước thay đổi, trở nên linh hoạt, lợi ích quốc gia dân tộc nổi lên hàng đầu chi phối quan hệ quốc tế đương đại… trong tình hình đó, các nước đều tiến hành điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, tìm cách hội nhập với khu vực và thế giới vì mục tiêu phát triển. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ có bước tiến nhảy vọt, tác động sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị xã hội, làm cho tính phụ thuộc giữa các quốc gia ngày càng gia tăng, đã và đang tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế. cách mạng khoa học - công nghệ vừa tạo thời cơ thuận lợi nhưng cũng là thách thức rất lớn đối với các nước. Sự phát triển kinh tế ngày càng phụ thuộc vào yếu tố trị thức đem đến sự hình thành nền kinh tế tri thức. Phát triển kinh tế tri thức tạo ra những thay đổi lớn không chỉ trong đời sống kinh tế xã hội mà cả trong so sánh lực lượng cũng như ngôi vị của mỗi quốc gia trên trường quốc tế. Quá trình toàn cầu hóa, trước hết về kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực. Toàn cầu hóa thúc đẩy hợp tác, phân công lao động quốc tế sâu rộng, kích thích tăng trưởng kinh tế, cạnh tranh quốc tế và tự do hóa thương mại. Các hình thức hợp tác, liên kết kinh tế trở nên nhiều vẻ và rất phong phú về nội dung. Tuy nhiên toàn cầu hóa cũng đặt ra cho các chủ thể quốc gia chú trọng xem xét chống lại sự áp đặt, bành trướng,thâm nhập vào các nước, các khu vực của Mỹ và các công ty xuyên quốc gia trên tất cả các lĩnh vực. Mặc dù vậy, trong tư cách một xu thế khách quan, toàn cầu hóa đang lôi cuốn tất cả các nước tham gia và mỗi nước cần xác định cho mình đường lối hội nhập toàn cầu hóa một cách thích hợp. Cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc vẫn đang diễn ra liên tục, quyết liệt, xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, những bất ổn do mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố xảy ra ở không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết, đòi hỏi phải có sự hợp tác sâu rộng của tất cả các nước cùng giải quyết như: ô nhiễm môi trường, tình trạng đói nghèo, gia tăng dân số, bệnh tật hiểm nghèo, chủ nghĩa khủng bố quốc tế… Quan hệ giữa các nước lớn là nhân tố quan trọng tác động đến đời sống quốc tế đương đại. Tuy nhiên,các nước lớn không phải là một khối thống nhất mà là một tập hợp đầy mâu thuẫn. Quan hệ giữa các nước lớn diễn ra theo chiều hướng vừa đấu tranh vừa thỏa hiệp vì lợi ích của mình. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á có sự phát triển năng động, nhưng tại đây cũng luôn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định như: tranh chấp về ảnh hưởng và quyền lực, về biên giới lãnh thổ, những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội… Với đặc điểm tình hình thế giới hiện nay đang vận động theo xu thế đan xen nhau phức tạp, trong đó nổi lên các xu thế cơ bản sau: Thứ nhất, hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển đòi hỏi bức xúc của các dân tộc trên thế giới. Các nước đều giành ưu tiên và coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp, đồng thời chú trọng sự ổn định chính trị và hợp tác quốc tế Thứ hai, các quốc gia lớn nhở đều tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác, liên kết khu vực và quốc tế về kinh tế, chính trị, thương mại, và các lĩnh vực khác. Hợp tác ngày càng tăng nhưng cạnh tranh cũng gay gắt và quyết liệt. Thứ ba, các dân tộc nêu cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường đấu tranh chống sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài,bảo vệ độc lập chủ quyền và nền văn hóa dân tộc, đồng thời mở rộng quan hệ quốc tế. Thứ tư, các nước xã hội chủ nghĩa, các Đảng Cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng tiến bộ trên thế giới kiên trì đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Sự nghiệp cải cách, đổi mới của các nước xã hội chủ nghĩa chứng tỏ sức sống và khả năng tự đổi mới để phát triển chủ nghĩa xã hội. Phong trào cộng sản và công nhân thế giới đang được phục hồi với những nỗ lực tìm kiếm những hình thức tập hợp lực lượng mới, củng cố vai trò trong đời sống chính trị xã hội. Thứ năm, các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình. Hợp tác và đấu tranh là hai mặt không thể tách rời của quan hệ quốc tế hiện đại, đồng thời cũng là vấn đề có tính nguyên tắc trong phương pháp xử lý các vấn đề quốc tế. * Tình hình trong nước Sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử tạo tiền đề cần thiết đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chúng ta đã mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đang chủ động và hội nhập kinh tế quốc tế. Nhờ đó mà uy tín và vị thế của nước ta đang được nâng lên trên thế giới và khu vực. Điều đó tạo thêm nhiều thuận lợi cho chúng ta tiếp tục sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội với nhịp độ nhanh hơn. Bên cạnh đó, đất nước ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức nào, đó là: Nguy cơ tụt hậu xa về kinh tế so với nhiều nước trên thế giới và trong khu vực. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng. Những biểu hiện xa rời mục tiêu CNXH vẫn tồn tại: Chưa nhận thức rõ định hướng CNXH của nền kinh tế, chưa quán triệt đầy đủ thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, mất cảnh giác trước các âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, chưa tích cực tự giác học tập lý luận chính trị… Các thế lực thù địch âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta, trong quan hệ với nước ta họ vẫn gắn các vấn đề đó với các vấn đề kinh tế. Tổng hợp các yếu tố thuận lợi và thách thức trên, Đại hội X của Đảng nhận định: “Những năm tới đất nước ta có cơ hội lớn để tiến lên, tuy khó khăn còn nhiều. Đòi hỏi bức bách của toàn dân tộc lúc này là phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thử thách, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ phát triển nhanh hơn và bền vững hơn”. 3.2.2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam từ khi đổi mới đến nay Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta từ khi đổi mới đến nay được xác định và thực hiện với tư cách là một bộ phận của chiến lược xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, làm cầu nối nước ta với thế giới, gắn sự nghiệp của toàn thể dân tộc ta với trào lưu phát triển và tiến bộ của thời đại. Những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế được vận dụng trong chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, trong chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ theo định hướng XHCN trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong quan hệ đối ngoại, đã nhận thức đúng đắn tính chất của thời đại, nhận biết những mâu thuẫn cơ bản, chiều hướng diễn biến thời cuộc, tranh thủ và phát huy được các điều kiện, cơ hội thuận lợi mà tình hình mới đưa lại, chúng ta đã chủ động tham gia hội nhập khu vực và thế giới với lộ trình cụ thể, phù hợp với nhu cầu phát triển đất nước và khả năng thực tế của dân tộc mình, khai thác những thuận lợi đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với sự nghiệp phát triển và bảo vệ đất nước. Trong một thế giới đang biến đổi sâu sắc, việc xử lý đúng đắn, hài hòa quan hệ của nước ta với các nước láng giềng và các nước lớn tiếp tục được coi trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Từ đó tạo thế đứng ổn định, lâu bền và ngày càng nâng cao vị thế quốc tế của nước ta, phục vụ đắc lực lợi ích quốc gia,phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại và tính chất đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế hiện đại. Trên bình diện chung đó, Việt Nam đã xây dựng và phát triển quan hệ hữu nghị, bình đẳng và hợp tác cùng có lợi. Không ngừng mở rộng, củng cố quan hệ với các nước và các tổ chức phi chính phủ trên thế giới. Hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta từ khi đổi mới đến nay đã triển khai một cách tích cực, chủ động và giành được những thắng lợi quan trọng. Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục củng cố và phát triển quan hệ với các Đảng Cộng sản và công nhân, các Đảng cánh tả, phong trào độc lập dân tộc và các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Đồng thời, từng bước mở rộng quan hệ với các tổ chức chính trị, Đảng cầm quyền ở các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện thúc đẩy và phát triển quan hệ về mặt nhà nước với các quốc gia, vùng, lãnh thổ và các tổ chức trên thế giới. Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN (tháng 7/1995) đã mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á. Tăng cường quan hệ đặc biệt và hợp tác toàn diện với cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, củng cố tình hữu nghị truyền thống, đoàn kết giữa hai Đảng, nhân dân hai nước. Việt Nam kiên trì ủng hộ chính sách một nước Campuchia hòa bình, độc lập, không liên kết. Duy trì quan hệ láng giềng, hữu nghị với Campuchia, cùng bàn bạc giải quyết vấn đề có liên quan trên cơ sở luật pháp quốc tế và chủ quyền quốc gia. Sau khi Việt Nam và Trung Quốc ký tuyên bố bình thường hóa quan hệ giữa hai Đảng hai nhà nước (11/1991), chúng ta xây dựng mối quan hệ ổn định, lâu dài, hữu nghị, láng giềng thân thiện với Trung Quốc với phương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Chủ trương giải quyết vấn đề biên giới trên bộ và phân định vịnh Bắc Bộ bằng đàm phán, thương lượng, kiên trì phương châm vừa thúc đẩy quan hệ, vừa thông qua đàm phán giải quyết một cách thỏa đáng những vấn đề bất đồng. Việt Nam đã củng cố tình đoàn kết với Cuba, kiên quyết ủng hộ cuộc đấu tranh đòi Mỹ xóa bỏ lệnh cấm vận đối với Cuba. Thúc đẩy quan hệ với cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, ủng hộ cuộc đấu tranh thống nhất hai miền Nam - Bắc Triều Tiên. Tăng cường hữu nghị truyền thống, hợp tác nhiều mặt với Ấn Độ và mở rộng hợp tác với khu vực Nam Á. Xác lập quan hệ với các nước lớn, các khu vực có tiềm năng kinh tế xuất khẩu dầu mỏ, các nước có nhu cầu thị trường lao động, lương thực ở Trung Đông cà châu Phi. Thúc đẩy quan hệ với Liên bang Nga và các nước cộng hòa thuộc Liên Xô trước đây. Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ (tháng 7/1995) là thắng lợi trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Đẩy mạnh quan hệ với Nhật Bản nhằm khai thác một cách có hiệu quả nguồn lực của Nhật Bản. Chúng ta đã quan hệ với Canada, Ôxtraylia, Niudilân và các nước công nghiệp với nhằm tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ cho phát triển kinh tế, xã hội. Chúng ta đã ký hiệp định khung về hợp tác giữa Việt Nam với EU (tháng 7/1995), chính thức tham gia hiệp định hợp tác ASEAN - EU, cải thiện quan hệ với các nước Tây Âu, Bắc Âu để tranh thủ ưu đãi mà EU dành cho các nước ASEAN. Đặc biệt, Việt Nam tham gia diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập, gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) (tháng 12/2006), không những tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại, thu hút đầu tư, chuyển giao khoa học, công nghệ và tận dụng những ưu đãi về thương mại với các nước có nền kinh tế phát triển trong khu vực, mà còn góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, chúng ta đã mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân từ các tổ chức chính trị - xã hội như: Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh và các Hội hữu nghị. Đối ngoại nhân dân tiếp tục phát huy vai trò cầu nối hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, các tổ chức phi chính phủ. Ngoại giao nhân dân đã thể hiện một cách sinh động đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh cũng như đường lối đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước ta, góp phần vào việc tăng cường đoàn kết và sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân ta và nhân dân thế giới. Thực tế cho thấy, sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, hội nhập vào khhu vực và quốc tế, Việt Nam đã thể hiện là một tấm gương ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế và đánh dấu bước đầu thành công của sự hội nhập. Trong những năm vừa qua, Việt Nam từng đón nhiều đoàn khách quốc tế của các nước đang phát triển đến để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm. Phát triển kinh tế và hội nhập thành công của Việt Nam được bạn bè trên thế giới tiếp tục bày tỏ sự khâm phục và tôn trọng vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Việt Nam có vai trò quan trọng và tích cực trong việc đoàn kết, giữ vững an ninh của khu vực Đông Nam Á. Kể từ khi chính thức là thành viênn của ASEAN, Việt Nam đã và đang có những đóng góp tích cực vào sự liên kết của hiệp hội, đặc biệt trên lĩnh vực an ninh. Trải qua các kỳ họp cấp cao, Việt Nam đã có những đóng góp to lớn trong việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước trong hiệp hội cũng như các nước lớn là bên đối tác. Thực hiện ngoại giao phòng ngừa đem lại sự ổn định, an ninh cho khu vực này. Các nước trong khu vực và các đối tác đã đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong việc duy trì an ninh của khu vực, đặc biệt là trong việc giải quyết xong vấn đề cơ bản về biên giới trên bộ, trên biển với Trung Quốc và Campuchia. Việt Nam đã chủ động đưa ra “Bộ ứng xử biển Đông”, được các nước ASEAN và Trung Quốc thông qua tại diễn đàn an ninh chính trị ARS (tháng 9/2002) là một trong những thành công lớn của ngoại giao công tác phòng ngừa, giữ gìn an ninh khu vực. Việt Nam là thành viên hoạt động tích cực nhất trong các tổ chức quốc tế, các nước đang phát triển, đấu tranh, bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc. Là một thành viên không chính thức của phong trào không liên kết (tháng 9/1976), Việt Nam đã có nhiều nỗ lực hoạt động nhằm thúc đẩy sự đoàn kết, phấn đấu vì mục tiêu của phong trào. Việt Nam đã trở thành biểu tượng cho tinh thần bất khuất của một dân tộc nhỏ yếu trước những đế quốc hùng mạnh bằng thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc. Việt Nam đã trở thành tấm gương sáng ngời, cổ vũ khích lệ mạnh mẽ các dân tộc thuộc địa bị áp bức, bóc lột vùng lên đấu tranh để tự giải phóng bản thân mình, làm chủ vận mệnh mình. Thời kỳ sau chiến tranh lạnh, với đường lối đổi mới toàn diện của đất nước và đường lối đối ngoại rộng mở đa dạng hóa, đa phương hóa, Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò tích cực của mình vào sự phát triển của phong trào không liên kết. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, Việt Nam là một trong những điểm sáng mới, một trong những mô hình phát triển có hiệu quả để các nước tham khảo. Thực tiễn đổi mới ở Việt Nam đã nêu ra những bài học kinh nghiệm về sự phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, về kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo… cho các nước trong phong trào không liên kết. Việt Nam đã đề xuất đóng góp nhiều kinh nghiệm, sáng kiến nhằm tăng cường hợp tác giữa các nước đang phát triển, thúc đẩy hợp tác đấu tranh với các phát triển, để các nước này dành nhiều ưu đãi và viện trợ cần thiết cho các nước đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa. Ngay từ những năm 1980 của thế kỷ XX và cho đến nay, Việt Nam đã cử nhiều chuyên gia sang châu Phi để phối hợp các chương trình hợp tác về nông nghiệp, nông thôn, văn hóa y tế, giáo dục… Hiện nay, quan hệ giữa Việt Nam và các nước đang phát triển đang mở rộng theo chiều hướng mới, trong đó đáng chú ý là đề xuất của Việt Nam về cơ chế hợp tác 3 bên (còn gọi là 2+1 giữa Việt Nam và một nước đang phát triển và bên thứ ba là một nước tài trợ hoặc một tổ chức quốc tế), cơ chế này đang được thực hiện rất có hiệu quả trong các lĩnh vực an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp và xóa đói, giảm nghèo, chương trình này được tổ chức nông lương thế giới (FAO) đanh giá cao, vì nó góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế - xã hội trong nội bộ các nước thành viên. Về chính trị, tại các diễn đàn cao cấp của phong trào không liên kết, sự tham gia tích cực của Việt Nam đã góp phần quan trọng cho sự tăng cường hợp tác, phối hợp và thống nhất quan điểm của các thành viên trong phong trào không liên kết. Tại Hội nghị cấp cao lần thứ 14 tại Malaixia, Việt Nam cùng Cuba… đã khẳng định lập trường tiếp tục thực hiện các mục tiêu của phong trào là đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, chống chính sách bá quyền, phấn đấu cho một trật tự quốc tế và quan hệ quốc tế công bằng, dân chủ hơn. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 172 nước và vùng lãnh thổ , gần 200 Đảng phái chính trị và hang trăm tổ chức phi chính phủ. Góp phần nâng cao vị thế nước tá trên trường quốc tế. Đại hội lần thứ X của Đảng đã xác định quan điểm mở rộng quan hệ đối ngoại: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”. Một là, Đại hội X kế thừa và phát triển đường lối, chính sách đối ngoại trong tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh và được khẳng định tại các Đại hội trước. Từ cuối nhiệm kỳ Đại hội VI, Đảng ta đã có những hoạt động đẩy mạnh quá trình quan hệ với Trung Quốc, phá thế bao vây, cấm vận của Mỹ. Đại hội VII đã khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa. Tại Đại hội IX một lần nữa khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế và đề ra những phương châm đối ngoại quan trọng đến nay vẫn còn nguyên giá trị, đó là: - Đảm bảo lợi ích dân tộc chân chính là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN, coi đó là lợi ích cao nhất, đồng thời thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo khả năng thực tế của ta. - Giữ vững độc lập, tự chủ, tự cường đi đôi với đẩy mạnh đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. - Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế, hai mặt đó đậm, nhạt tùy từng đối tượng, trên từng vấn đề và ở từng thời điểm, cố gắng thúc đẩy mặt hợp tác, đấu tranh, tránh trực tiếp đối đầu tự đẩy mình vào thế cô lập. - Hợp tác khu vực đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước, trong đó đặt cao quan hệ với các nước lớn. - Coi trọng hoạt động của Đảng, đối ngoại của Nhà nước và đối ngoại nhân dân, xác định rõ mục tiêu đối ngoại là góp phần củng cố môi trường hòa bình, hợp tác để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Tư tưởng chỉ đạo chính sách đối ngoại là kiên định nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và CNXH, đồng thời phải sáng tạo, năng động, linh hoạt về sách lược. Hai là, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực. Quan điểm này thể hiện quyết tâm của chúng ta đưa các mối quan hệ đã được mở rộng đi vào chiều sâu, tích cực hội nhập quốc tế, phấn đấu tham gia ngày càng nhiều vào công việc quốc tế. Ba là, kiên trì chủ trương Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế. Đại hội VIII đã đưa ra khẩu hiệu: Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Đại hội IX bổ xung và phát triển khi nêu: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới” trong đó đã có them “sẵn sàng là bạn” và “là đối tác tin cậy”. Hội nghị Trung ương 8 khóa IX nêu rõ “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh… trong mỗi đối tượng vẫn có mặt cần tranh thủ, hợp tác, trong một số đối tác có thể có mặt khác biệt mâu thuẫn với ta…”. Như vậy Đảng ta đã có sự đổi mới về vấn đề địch - ta , đối tượng - đối tác theo tinh thần “thêm bạn bớt thù” của Hồ Chí Minh. Trước tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến động như hiện nay, để thực hiện tốt đường lối mở rộng quan hệ đối ngoại nêu trên, một trong những nội dung quan trọng là phải tiếp tục vận dụng tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh một cách sáng tạo và phù hợp. Trước hết, phải xác định rõ mục tiêu đoàn kết trong giai đoạn hiện nay của cách mạng nước ta là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Do vậy, cần khai thác mọi khả năng có thể có trên phạm vi quốc gia và quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, với những quan hệ đa chiều. Phải gắn kết lợi ích dân tộc với lợi ích quốc tế, phải có những chủ trương chính sách đúng đắn mới có thể tranh thủ và tận dụng được mọi khả năng, cơ hội để phát triển. bên cạnh đó, phải khơi dậy ở dân tộc ta cũng như dân tộc khác nỗi nhục đói nghèo, nỗi đau lạc hậu, tăng cường tinh thần đoàn kết, hợp tác giữa các dân tộc cùng vươn tới hòa bình, ấm no, hạnh phúc và văn minh trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, cùng có lợi, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc, của sự can thiệp, áp đặt từ bên ngoài. Song song với đó là cần triển khai đồng bộ các chính sách, các giải pháp trên bình diện quốc gia và quốc tế về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế để làm cho mục tiêu đó thấm nhuần vào tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ của người Việt Nam và bạn bè quốc tế. Thứ hai, đoàn kết phải là hội nhập với cộng đồng quốc tế, vừa hợp tác, vừa đấu tranh cùng tồn tại hòa bình. Hồ Chí Minh đã coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, hoạt động đoàn kết quốc tế của Người là gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, đặt cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ quốc tế để tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế. Người nêu rõ: Việt Nam muốn “làm bạn với mọi nước dân chủ và không gây thù oán với ai”. Vận dụng quan điểm đó, hiện nay chúng ta phải tiếp tục mở cửa, hội nhập, là bạn với tất cả các nước với phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Hội nhập quốc tế, chúng ta chủ trương hướng tới tương lai, tạo nên sự tin cậy với các nước. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần chống sự “hội nhập” vô nguyên tắc, hội nhập đi đến hòa tan, đánh mất chủ quyền và bản sắc dân tộc. Hội nhập phải đi theo lộ trình và bước đi thích hợp. Hội nhập quốc tế vì lợi ích chung của cách mạng thế giới, Việt Nam góp phần cùng nhân loại tiến bộ đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng của các dân tộc, đấu tranh cho hòa bình, ổn định và phát triển. Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế Việt Nam còn tích cực tham gia vào việc giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu, vì đây vừa là nghĩa vụ quốc tế, vừa là nhiệm vụ dân tộc. Thứ ba, trong quá trình hội nhập quốc tế, phải nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Chúng ta xây dựng đất nước phải bằng chính sức lực và trí tuệ của con người và đất nước Việt Nam, không thể chờ vào viện trợ, cho không từ nước ngoài. Tuy nhiên độc lập dân tộc không phải là biệt lập cô lập, co mình lại, khép kín, không quan hệ, hẹp hòi, biệt phái. Nhưng càng mở rộng, đoàn kết quốc tế, chúng ta càng phải giữ độc lập dân tộc, tự chủ, tự cường, không lệ thuộc từ bên ngoài. Khai thác tối đa mọi lợi thế và nguồn lực của đất nước là điều kiện cơ bản để mở rộng quan hệ hợp tác sẽ góp phần củng cố, tăng cường thế độc lập tự chủ của mình. Đó là hai mặt của một vấn đề, chúng tác động qua lại và quan hệ biện chứng với nhau. Như vậy quan niệm về độc lập dân tộc của của Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay là quan hệ mở và động, luôn kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, tự chủ kết hợp chặt chẽ với tiếp thu sức mạnh của thời đại để xây dựng và phát triển đất nước. Việt Nam tuyên bố là bạn với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của quốc gia, tăng cường hợp tác, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế chính là quá trình tìm kiếm động lực cho sự phát triển đất nước, giữ vững chủ quyền và an ninh quốc gia trong bối cảnh đầy thách thứ của xu thế toàn cầu hóa. Thứ tư, chúng ta phải coi trọng bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bởi, chỉ có trên sức mạnh bên trong, chúng ta mới có thể tranh thủ và tận dụng được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của lực lượng bên ngoài nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng. Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, chúng ta càng mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tranh thủ vốn, thành tựu khoa học - công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài, gia nhập thị trường quốc tế, nhưng phải trên cơ sở phát huy đầy đủ yếu tố nội dung, bao gồm các yếu tố: con người, đất đai, tài nguyên, trí tuệ, truyền thống (lịch sử văn hóa). KẾT LUẬN Suốt cuộc đời cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã có nhiều cống hiến quan trọng cả về lý luận và thực tiễn cho phong trào cách mạng Việt Nam nói riêng và cách mạng thế giới nói chung trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin. Đặc biệt, Người xây dựng mối qua hệ đoàn kết quốc tế trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, Người đã thực hiện hóa khẩu hiệu chiến lược của chủ nghĩa Mác - Lênin “vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”, Người đã góp phần mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và đảm bảo tính pháp lý quốc tế của dân tộc Việt Nam, Người đã bắc nhịp cầu đoàn kết, hữu nghị giữa các quốc gia dân tộc. Giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế, phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại… là những nội dung cơ bản trong tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh. Những quan điểm đó là tài sản quý báu của Đảng và Nhà nước ta và nhân dân tiến bộ trên thế giới đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Trước tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; quá trình hội nhập liên kết, hợp tác và đấu tranh kinh tế giữa các nước trong mối quan hệ đa phương, đa cực, vừa tạo thời cơ thuận lợi, vừa nảy sinh những khó khăn, thử thách, vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với cách mạng nước ta. Trung thành và kiên định đi theo ngọn cờ đại đoàn kết, kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo những tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh là một nhân tố quan trọng giúp phát huy tối đa nội lực, tranh thủ tối đa ngoại lực để vượt qua mọi thử thách, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vững tay lái trên con đường phát triển chung của thế giới. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định “Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của thế giới, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”. Để thực hiện tốt nhiệm vụ nêu trên, đòi hỏi việc nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là một trong những nội dung quan trọng của Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện tốt đường lối mở rộng quan hệ đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, góp phần vào cách mạng thế giới. CHÚ THÍCH (1) HCM toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H2000 (2) Nguyễn Thành: Chủ tịch HỒ CHÍ MINH ở Pháp, Nxb Thông Tin Lý Luận, H1988 (3) Chủ tịch Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb.Chính trị quốc gia, H1993 (4) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, H1980 (5) Hồ Chí Minh toàn tập( tập 5), Nxb chính trị quốc gia, H1995,Tr.220 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nxb.sự thật,H.1987. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nxb.sự thật,H.199. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Nxb.Chính trị quốc gia,H.1996 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Nxb.Chính trị quốc gia,HN.2001 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ X. Nxb.Chính trị quốc gia, HN.2006. Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh - một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp. Nxb Sự thật, H.1990 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátcơva. 1981, t.3 Các Mác-Ph.Ăngghen, Tuyển tập tập 1. Nxb.sự thật, HN.1980. Hồ Chí Minh, Toàn tập tập 1, tập 2, tập 5, tập 12. Nxb.Chính trị quốc gia, HN.2000. Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử tập 1, Nxb.Chính trị quốc gia, HN.1993. Hồ Chí Minh, Những sự kiện, Nxb.Thông tin lý luận, HN.1987. Tư tưởng Hồ Chí Minh - một số nội dung cơ bản, Nxb CTQG.H.1994. Giá trị Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, Nxb Khoa học xã hội. H. 1993 Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế, Nxb CTQG.H.1995. Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Tập bài giảng tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, H.2004. Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chí Minh, Nxb, Sự thật, HN.19845. Nguyễn Thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp, Nxb.Thông tin lý luận, HN.1988 Viện quan hệ quốc tế, Giáo trình quan hệ quốc tế, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb. Lý luận Chính trị, HN.2006 Lê Văn Yên, Một số nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong cách mạng giải phóng dân tộc, Nxb.Thanh niên. HN.1999. MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxTư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và việc vận dụng trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam hiện nay.docx