Đề tài Vai trò của Hành lang kinh tế: Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh trong hợp tác thương mại giữa hai nước Việt –Trung

LỜI MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài Ngày nay trên thế giới xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, đòi hỏi các quốc gia tham gia vào hội nhập, mở rộng mối quan hệ với các nước nhằm tăng cường hợp tác phát triển kinh tế vì vậy đã có nhiều hình thức liên kết kinh tế được sử dụng nhằm đẩy nhanh quá trình tự do hóa thương mại song phương và đa phương. Các hình thức liên kết đó có thể là liên kết toàn cầu, liên kết kinh tế khu vực hoặc liên kết tiểu vùng. Vì vậy Việt Nam đã chủ động tham gia hội nhập vào các Tổ chức Thương mại trên thế giới (WTO), tham gia vào tổ chức Liên Hiệp Quốc (UN), khu vực (ASEAN) cũng như các nước láng giềng trong đó có mối quan hệ Việt Nam–Trung Quốc . Đây là mối quan hệ lâu đời và đang phát mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực văn hóa, kinh tế chính trị, an ninh quốc phòng. Trong đó quan hệ kinh tế giữa hai nước luôn được coi trọng. Hai bên đã đưa ra tuyên bố chung, công bố nhiều thỏa thuận hợp tác thương mại và nhiều vấn đề khác. Hai bên khẳng định sẽ tiếp tục tăng cường phối hợp và hợp tác trong khuôn khổ đa phương: tăng cường hợp tác trong các thể chế khu vực, liên khu vực và quốc tế, thúc đẩy hợp tác toàn diện ASEAN–Trung Quốc nhanh chóng triển khai “Hiệp định về mở rộng và đi sâu hợp tác song phương” đẩy nhanh tiến trình xây dựng “Hai hành lang, một vành đai kinh tế”. Hành lang kinh tế: Côn Minh–Lào Cai–Hà Nội–Hải Phòng–Quảng Ninh và Nam Ninh –Lạng Sơn –Hà Nội –Hải Phòng, đây là tuyến huyết mạch nối liền giữa các tỉnh miền núi phía bắc của Việt Nam và các tỉnh miền Tây Trung Quốc nhằm khai thác lợi thế của các tỉnh vùng biên giới, cải thiện đời sống nhân dân vùng biên, đồng thời thống nhất hoạt động biên giới với chiến lược phát triển chung. Hành lang kinh tế: Côn Minh–Lào Cai–Hà Nội–Hải Phòng–Quảng Ninh đã và đang thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Hành lang này có vai trò như thế nào đối với sự phát triển của đất nước ta, nó đã phát triền ra sao ? và chúng ta phải làm gì để hành lang này phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Đây là lý do em chọn đề tài “vai trò của Hành lang kinh tế: Côn Minh –Lào Cai – Hà Nội –Hải Phòng – Quảng Ninh trong hợp tác thương mại giữa hai nước Việt –Trung ”. Đề tài của em đã có nhiều người đi trước nghiên cứu và dựa trên những nghiên cứu đó em tiếp thu, tham khảo ý kiến của các chuyên gia và đặt nó vào bối cảnh hiện nay để thấy được tầm quan trọng của nó đối với quan hệ thương mại của hai nước nói riêng và với nước khác nói chung. Ngoài phần mở đầu, kết luận thì khóa luận được kết cấu thành 3 chương : v Chương 1: Hành lang kinh tế Côn Minh–Lào Cai–Hà Nội–Hải Phòng Quảng Ninh và vai trò của nó. v Chương 2: Thực trạng phát triển của hành lang Côn Minh–Lào Cai–Hà Nội–Hải Phòng –Quảng Ninh v Chương 3: Các giải pháp và triển vọng của hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh CHƯƠNG 1 HÀNH LANG KINH TẾ CÔN MINH–LÀO CAI–HÀ NỘI–HẢI PHÒNG–QUẢNG NINH VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ 1.1. KHÁI NIỆM HÀNH LANG 1.1.1 khái niệm chung: 1.1.2. Giải thích hành lang kinh tế Côn Minh–Lào Cai–Hà Nôi–Hải Phòng Quảng Ninh 1.1.3. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên. 1.1.4. Điều kiện kinh tế -xã hội 1.1.5. Kết cấu hạ tầng: 1.2. VAI TRÒ CỦA HÀNH LANG KINH TÊ CÔN MINH-LÀO CAI-HÀ NỘI-HẢI PHÒNG-QUẢNG NINH 1.2.1 Vai trò thúc đẩy hội nhập của hai nước Việt Nam –Trung Quốc 1.2.2. Thúc đẩy sự phát triển của hai nước Việt Nam –Trung Quốc 1.2.2.2 Thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội của các vùng thuộc hành lang kinh tế. CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HÀNH LANG KINH TẾ CÔN MINH –LÀO CAI –HÀ NỘI –HẢI PHÒNG –QUẢNG NINH 2.1. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRÊN HÀNH LANG CÔN MINH –LÀO CAI –HÀ NỘI -HẢI PHÒNG -QUẢNG NINH 2.2. CHÍNH SÁCH CỦA HAI NƯỚC VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC TÁC ĐỘNG VÀO HÀNH LANG 2.3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI CỦA HAI NƯỚC VIỆT- TRUNG 2.2.1 Những thành tựu 2.2.1.1. Về trao đổi thương mại 2.2.1.2. Cơ cấu hàng hóa 2.2.1.3. Hình thức thanh toán 2.2.1.4. Chính sách điều tiết hoạt động thương mại 2.2. 2. Những hạn chế 2.4. NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP VÀ TRIỂN VỌNG CỦA HÀNH LANG KINH TẾ CÔN MINH–LÀO CAI–HÀ NỘI–HẢI PHÒNG- QUẢNG NINH 3.1. CÁC GIẢI PHÁP 3.1.1. Giải pháp phía nhà nước 3.1.1.1. Giải pháp phát triển hạ tầng 3.1.1.2. Giải pháp về ngân hàng. 3.1.2. Giải pháp về phía doanh nghiệp 3.1.3.Giải pháp hoàn thiện chính sách thương mại 3.1.3.1. chính sách xuất nhập khẩu 3.1.3.2. Thuế 3.1.3.3.Tín dụng xuất khẩu 3.2. TRIỂN VỌNG CỦA HÀNH LANG KINH TẾ CÔN MINH-LÀO CAI-HÀ NỘI-HẢI PHÒNG-QUẢNG NINH KẾT LUẬN

doc58 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/05/2013 | Lượt xem: 2104 | Lượt tải: 11download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Vai trò của Hành lang kinh tế: Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh trong hợp tác thương mại giữa hai nước Việt –Trung, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
được thị phần tại thị trường Trung Quốc như giày dép, chè, hải sản, rau quả. Trong những năm qua hành lang kinh tế này đã đạt đươc nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực thương mại. 2.2.1.1. Về trao đổi thương mại Trao đổi thương mại trên hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh chủ yếu là hoạt động xuất nhập khẩu giữa tỉnh Vân Nam và Việt Nam. Hiện nay Việt Nam là một trong những bạn hàng lớn của Vân Nam. Về mậu dịch biên giới, Việt Nam là đối tác lớn thứ 2 của Vân Nam (sau Myanma) [21]. Do đẩy mạnh mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc nên thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam ngày càng phát triển. Theo thống kê của ngành thuế tỉnh Vân Nam, năm 2007 trong số 10 nước ASEAN, Việt Nam đã thay thế Myanma trở thành đối tác thương mại lớn nhất của tỉnh Vân Nam với thương mại song phương tăng mạnh 90% đạt 970 triệu USD [15]. Về mậu dịch chính ngạch, Việt Nam đứng thứ 3 trong 96 đối tác của tỉnh Vân Nam. Năm 2004 tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Vân Nam là 446 triệu USD, chiếm 6,2% tổng kim ngạch thương mại Việt Nam –Trung Quốc. Trong giai đoạn từ năm 2000-2004 kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam và Vân Nam tăng bình quân hàng năm là 56%, từ 130 triệu USD năm 2001 lên 446 triệu USD năm 2004 [13]. Năm 2007, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Vân Nam và các tỉnh thành phố của Việt Nam tăng hanh, từ cuối năm 2007 đến nay đạt 972 triệu USD, tăng 91,5% so với năm 2006 [7]. Mặc dù tỉnh Vân Nam tiếp giáp với 4 tỉnh của Việt Nam là Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, và Hà Giang, nhưng quan hệ thương mại Việt Nam –Vân Nam chủ yếu tập trung qua cửa khẩu Lào Cai do có đường giao thông thuận lợi. Kim ngạch xuất nhập khẩu qua cửa khẩu Lào Cai (Việt Nam ) và Hà Khẩu (Trung Quốc ) từ 2005-2007 đã tăng 320 triệu USD chiếm 4,5% tổng kim ngạch hai chiều việt –Trung. Như vậy có thể thấy hoạt động trao đổi thương mại qua cửa khẩu Lào Cai trong những năm qua ngày càng diễn ra sôi động và phát triển. Sự phát triển đó sẽ có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai – Hà Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh cùng phát triển, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân, thu hút nhiều ngành nghề lao động, tạo công ăn việc làm cho nhiều người lao động. Biểu đồ: 2.3. Thể hiện tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tại cửa khẩu Lào Cai (Việt Nam ) – Hà Khẩu (Vân Nam ) từ năm 2005-2007. Các cửa khẩu chính giữa Việt Nam và Vân Nam là: cặp cửa khẩu quốc tế: Lào Cai –Hà Khẩu; cặp cửa khẩu quốc gia: Mường Khương –Kiều Đấu, Bát Xát, Bát Hà; cặp cửa khẩu tiểu ngạch: Y Tý –Ma Ngán Tỷ, Trịnh Tường –Tiểu Đông Sơn, Bản Vược –Pả Sa, Quang Kim –Toòng Piềng, Bản Lầu –Bạc Chì, Pha Long-Lao Kha và Si Ma Kai –Seo Pả Chư. Trong 7 năm trở lại đây, hoạt động thương mại tại cửa khẩu quốc tế Lào Cai – Hà Khẩu tăng bình quân 33,5%/năm. Chỉ tính riêng năm 2007, kim ngạch xuất nhập khẩu tại đây tăng từ 476,8 triệu USD lên 723 triệu USD [18], hóa trao đổi hai chiều qua tuyến này có tính bổ trợ cho nhau, đều là những mặt hàng thế mạnh của mỗi bên. Hàng năm, có khoảng 1,2 triệu lượt người, hơn 30.000 lượt xe ô tô và 1.200 đôi tàu liên vận tham gia xuất nhập cảnh qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai [15]. Hoạt động trao đổi thương mại giữa hai nước Việt –Trung còn thông qua cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Quảng Ninh ). Hiện nay, Quảng Ninh có 3 Khu kinh tế cửa khẩu là Móng Cái (TP Móng Cái), Hoành Mô – Đồng Văn (Bình Liêu) và Bắc Phong Sinh (Hải Hà). Đây chính là tiền đề quan trọng để tỉnh Quảng Ninh thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển từ đó tạo ra động lực thúc đẩy hành lang kinh tế ngày càng phát triển. Có thể nói trong những năm qua trao đổi buôn bán qua cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Quảng Ninh) đã đạt được những thành tựu to lớn. Kim ngạch thương mại hai chiều qua cửa khẩu Móng Cái trong 6 tháng đầu năm 2008 tiếp tục tăng khá, đạt 1,846 tỉ USD, tăng 18,8% so với cùng thời kỳ năm 2007. Về xuất khẩu: Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của nước ta sang Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái từ đầu năm đến 15/6/2008 đạt 631 triệu USD, tăng 20,9% so với cùng kỳ năm 2007 và bằng 34,2% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu chính ngạch đạt 424,9 triệu USD, tăng 23% và tập trung ở các mặt hàng: cao su, than đá, thuỷ hải sản, khoáng sản, các sản phẩm nông sản, đồ gỗ, vật liệu điện, nước....; kim ngạch xuất khẩu tiểu ngạch đạt 206,4 triệu USD, tăng 16,8% so với cùng kỳ[18] Nhập khẩu: Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá từ Trung Quốc vào nước ta qua cửa khẩu Móng Cái 6 tháng đầu năm 2008 đạt 680 triệu USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm 2007. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu chính ngạch đạt 497,3 triệu USD, tăng 18,2% so với cùng kỳ; kim ngạch nhập khẩu tiểu ngạch theo tuyến hàng hoá do phía Trung Quốc xác lập tại điểm thông quan Sáy Nguồn và Lục Lầm đạt 182,1 triệu USD, tăng 15,7% [18] Các mặt hàng được nhập về từ Trung Quốc trong 6 tháng đầu năm 2008 khá phong phú gồm thép, phôi thép, xi măng trắng, phân bón hoá học, vật liệu xây dựng, hoá chất, hạt nhựa, nguyên phụ liệu dệt may và da giày, máy móc thiết bị phục vụ thi công và sản xuất hàng hoá, phụ tùng ôtô, tàu thuỷ, xe máy, thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi. [18]. Đến năm 2008 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua cửa khẩu Móng Cái đạt 4,1 tỷ USD tăng 8,2 lần so với năm 2005 và chiếm 20% tổng kim ngạch thương mại hai chiều Việt –Trung [11] . Biểu đồ 2.4. Thể hiện tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua cửa khẩu Móng Cái năm 2005-2008. Bảng 2.4. Bảng so sánh giá trị của tổng kim ngạch thương mại hai chiều Viêt –Trung trong 2 năm 2005 và 2007 Đơn vị: tỷ USD Năm Tổng kim ngạch thương mại hai chiều Việt –Trung Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua cửa khẩu Lào Cai Giá trị % so với tổng kim ngạch thương mại hai chiều Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua cửa khẩu Móng Cái Giá trị %so với tổng kim ngạch thương mại hai chiều 2005 8,739 0,403 4,61 0,5 5,72 2007 15,85 0,723 4,56 2,4 15,14 Như vậy Việt Nam xuất khẩu sang Vân Nam chủ yếu là khoáng sản (quặng sắt, quặng đồng, crôm) nông –lâm –thủy sản (gỗ rừng trồng, cao su nguyên liệu, rau hoa quả, hải sản đông lạnh và khô) và một số mặt hàng tiêu dùng khác như bột giặt, đồ nhựa, giày dép. Trong đó các mặt hàng khoáng sản và nông sản chiếm tỷ trọng lớn khoảng 95% tổng kim ngạch xuất khẩu. Những mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Vân Nam là hóa chất các loại, thạch cao, giống cây trồng, phân bón, nguyên, phụ liệu thuốc lá, vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị, phụ tùng (các nhóm hàng này chiếm 70% tỷ trọng hàng nhập khẩu), hàng nông sản như hoa, quả quả tươi, rau, củ (chiếm 20%), hàng tiêu dùng chiếm (10%) [1 (Tr.109)] vvv…. Hoạt động thương mại giữa Vân Nam và Việt Nam qua cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh) và cửa khẩu Lào Cai được thực hiện thông qua 2 phương thức xuất nhập khẩu mậu dịch chính ngạch và buôn bán tiểu ngạch trong đó phần lớn là xuất nhập khẩu mậu dịch chính ngạch. Kim ngạch buôn bán tiểu ngạch trong những năm gần đây có tăng song mới kiểm soát và thu thuế được khoảng 15% -20% giá trị thực tế hàng hóa nhập khẩu [1(Tr.110)]. Tuy nhiên xuất nhập khẩu tiểu ngạch phần nào đáp ứng được nhu cầu trao đổi hàng hóa, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của người dân trên tuyến hành lang và khu vực lân cận. Ngoài ra còn có hình thức hàng đổi hàng, chuyển khẩu, quá cảnh, hợp tác kinh tế kỹ thuật. Chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại trên hành làng kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh thời gian qua tương đối đa dạng, bao gồm những thành phần như: Doanh nghiệp nhà nước, tập thể, cá nhân thuộc nhiều ngành, nhiều địa phương trong cả nước, các công ty quốc doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh và có vốn 100% vốn nước ngoài thuộc các tỉnh trên hành lang kinh tế và các tỉnh từ nhiều địa phương trong cả nước tham gia hoạt động thương mại với thị trường Trung Quốc, trong đó có hơn 130 đơn vị hoạt động [1,Tr.112]. Gắn liền với hoạt động trao đổi hàng hóa trên hành lang kinh tế là hoạt động thương mại, dịch vụ, thương mại hàng hóa phát triển khá nhanh trong thời gian vừa qua nhưng thương mại dịch vụ lại phát triển tương đối. Về dịch vụ vận tải: 70% lượng hàng hóa trao đổi trên hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh được vận chuyển bằng đường sắt, chỉ có 30% là vận chuyển bằng đường bộ [17]. Tuyến đường sắt Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng được tỉnh Vân Nam đưa vào sử dụng năm 2001 để vận chuyển hàng quá cảnh. Về kho ngoại quan: Kho ngoại quan có vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh hoạt động trao đổi hàng hóa và vận chuyển hàng quá cảnh trên hành lang kinh tế này. Thời gian qua một khối lượng hàng hóa khá lớn đã được vận chuyển quá cảnh trên hành lang này, đã lưu giữ trong kho khoảng 65% để chất lượng hàng hóa đảm bảo và phù hợp với thời gian giao nhận hàng, thời gian vận chuyển [15]. Về cảng biển: Hàng quá cảnh của tỉnh Vân Nam qua tuyến đường sắt Lào Cai –Hà Nồi –Hải Phòng để đến các nước ASEAN đều phải qua cảng Hải Phòng.Năm 2005 từ 3 - 4 triệu tấn/năm và khoảng 7 - 8 triệu tấn/năm vào năm 2010. Hàng quá cảnh của Vân Nam qua cảng Hải Phòng có thể sẽ lên tới 3 triệu tấn vào năm 2010 [17]. 2.2.1.2. Cơ cấu hàng hóa Hàng hóa xuất khẩu Việt Nam –Vân Nam qua cửa khẩu Lào Cai trong những năm qua cả tiểu ngạch và chính ngạch đều rất phong phú đa dạng có đến 150 nhóm mặt hàng và mặt hàng, gần gấp đôi hàng Việt Nam sang Vân Nam [1 Tr.116]. Đa số những mặt hàng của Việt Nam sang Vân Nam chất lượng chưa cao, giá rẻ nhưng lại phù hợp với thu nhập phần lớn người Việt Nam. Sự đa dạng hóa về mẫu mã, số lượng sản phẩm đã phần nào đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cũng như sản xuất cho các tỉnh trong hành lang. Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Vân Nam là vẫn là hàng nông, lâm, hải sản thuộc dạng thô chưa qua sơ chế nhưng chất lượng đã được nâng lên. 2.2.1.3. Hình thức thanh toán Do đa dạng của chủ thể tham gia và chủng loại hàng hóa xuất nhập khẩ, nên phương thức trao đổi và thanh toán ở đây cũng đa dạng và phong phú. Những hình thức thanh toán chủ yếu: hàng đổi hàng, hàng–tiền trao đổi và thanh toán bằng Đồng Nhân Dân Tệ ( Trung Quốc), tiền Việt Nam và USD. 2.2.1.4. Chính sách điều tiết hoạt động thương mại Hệ thống khung pháp lý để đảm bảo quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam –Vân Nam cũng như môi trường pháp lý cho đầu tư, kinh doanh, hợp tác đối ngoại của các doanh nghiệp hai nước đang ngày càng hoàn thiện. Cơ chế, chính sách xuất nhập khẩu của hai phía đều có những điều chỉnh linh hoạt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam và Vân Nam đẩy mạnh hoạt động trao đổi thương mại. Sự gia tăng trong các định chế ngân hàng và tài chính của cả hai bên tạo điều kiện thuận lợi cho thanh toán thương mại cũng như di chuyển dòng vốn giữa Việt Nam và Vân Nam. Bởi vậy có thể nói rằng sự hoàn thiện khung pháp lý về thương mại đang tạo ra động lực phát triển quan thương mại hai chiều. Như vậy với những kết quả mà hành lang kinh tế Côn Minh–Lào Cai– Hà Nội–Hải Phòng–Quảng Ninh đạt được góp phần thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam–Trung Quốc và khu vực mậu dịch tự do ASEAN–Trung Quốc phát triển. Mặc dù đã có sự biến chuyển đáng kể song sự phát triển thương mại trên hành lang vẫn còn có một số hạn chế. 2.2. 2. Những hạn chế ● Qui mô trao đổi thương mại còn nhỏ bé chưa tương xứng với tiềm năng của vùng Quy mô thương mại trên Hành lang kinh tế Côn Minh– Lào Cai– Hà Nội– Hải Phòng–Quảng Ninh còn quá nhỏ bé so với tiềm năng kinh tế của hai bên, tăng trưởng không ổn định, hàng hoá tương đối đơn điệu, chủng loại chậm thay đổi, chất lượng thấp, chủ yếu là nguyên liệu thô và khoáng sản, phương thức trao đổi trực tiếp là chủ yếu, buôn bán tiểu ngạch chiếm tỷ trọng lớn. Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam –Vân Nam qua cửa khẩu Lào Cai năm 2003 mới chỉ chiếm 5,9% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc. Cán cân thương mại Việt Nam –Vân Nam ngày càng bất lợi đối với phía Việt Nam, mức nhập siêu của Việt Nam còn quá lớn (chiếm 43,08% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam –Vân Nam qua cửa khẩu Lào Cai thời kỳ 1995 – 2003) [20], điều đó gây tác động đến việc thúc đẩy quan hệ mậu dịch phát triển cân bằng, và có thể dẫn đến sự hạn chế thương mại trên hành lang. Nhập siêu lớn ảnh hưởng không tốt đến hoạt động thương mại hai bên. Nguyên nhân cơ bản là do thiếu sản phẩm và công nghệ phù hợp với thị trường của nhau, kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển thương mại. Các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa có các doanh nghiệp, tập đoàn lớn làm đầu tàu thúc đẩy phát triển thương mại. ● Cơ cấu hàng hóa trên hành lang còn bất hợp lý Hàng hóa trao đổi mới dừng ở mức hàng hóa sơ chế, thiếu hàm lượng kỹ thuật cao, chưa đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Chất lượng hàng hoá trao đổi giữa hai bên chưa phản ánh đúng thực chất và trình độ phát triển kinh tế của mỗi bên. Tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng chiếm tỷ trọng khá lớn gây ảnh hưởng không tốt đối với người tiêu dùng. Hàng hóa trao đổi trên hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh không hoàn toàn là hàng hoá do khu vực này sản xuất ra. Hơn một nửa lượng hàng hoá xuất khẩu của tỉnh Vân Nam qua cửa khẩu Hà Khẩu sang Việt Nam là do các tỉnh khác của Trung Quốc cung cấp, và hàng nhập khẩu của Vân Nam từ Việt Nam cũng không chỉ đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của tỉnh mà còn cung cấp cho các tỉnh khác của Trung Quốc. Về phía Việt Nam, nhiều hàng hoá có trong danh mục xuất khẩu sang Vân Nam được sản xuất chủ yếu ở khu vực bên ngoài hành lang...Như cao su, cà phê, hải sản. Phạm vi hợp tác kinh tế thương mại trên hành lang kinh tế còn hẹp. Hợp tác kinh tế thương mại chỉ tập trung ở vùng biên giới, chưa vươn xa vào nội địa của hai bên. Trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vùng hành lang, Lào Cai chiếm tới 20% tổng kim ngạch hai chiều Việt Nam –Trung Quốc [20]. Các tỉnh có kim ngạch xuất khẩu lớn như Hải Phòng, Hà Nội, Hải Dương, Quảng Ninh xuất sang Vân Nam còn ít. ●Hình thức trao đổi hàng hóa trên hành lang kinh tế còn giản đơn, chưa vươn ra khỏi thị trường Trao đổi thương mại ở phía Trung Quốc cũng chỉ tập trung ở vùng biên giới. Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam–Vân Nam chủ yếu mới được thiết lập với châu Hồng Hà và châu Văn Sơn của tỉnh Vân Nam; còn phía Việt Nam thì các tỉnh như Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương trao đổi thương mại với Vân Nam còn hạn chế. Lý do của tình trạng này là do quan hệ thương mại hai bên mới được thiết lập, cản trở về giao thông do đó chi phí cao, thủ tục xuất nhập khẩu giữa hai bên chưa thực sự thông thoáng hoạt động về hợp tác kinh tế còn hạn chế ở mức độ thấp về một số lĩnh vực mà hai bên có khả năng như du lịch, kinh doanh thương mại, khai thác và chế biến khoáng sản, chế biến nông sản, giao thông, xây dựng v.v... chưa có dự án triển khai hợp tác cụ thể và đầu tư thích đáng. Chính vì vậy, thời gian qua quan hệ kinh tế Việt Nam – Vân Nam tuy có phát triển nhưng chưa thực sự tương xứng với tiềm năng và mong đợi của cả hai bên. Hệ thống dịch vụ hỗ trợ cho các hoạt động thương mại, đầu tư, du lịch còn yếu. Trong đó thương mại dịch vụ phát triển chậm, chủ yếu vẫn là du lịch và vận tải, một loạt các phân ngành dịch vụ quan trọng thậm chí chưa có. Nếu không có các dịch vụ giữ vai trò kết nối các ngành dịch vụ khác như: dịch vụ viễn thông, dịch vụ tài chính – ngân hàng, dịch vụ kinh doanh…chắc chắn rằng các hoạt động kinh tế trên hành lang sẽ rất chậm được triển khai. Ví dụ, dù đã kí hiệp định thanh toán tiền hàng trong quan hệ thương mại hai nước, việc triển khai thực hiện thanh toán dưới các hình thức: hàng đổi hàng, thanh toán bằng bản tệ, tiền mặt ngoại tệ….vẫn là chủ yếu, tự phát và không qua hệ thống ngân hàng nên tỷ lệ thực hiện qua ngân hàng mới chỉ đạt 20% - là con số không thể chấp nhận trong điều kiện kinh tế thị trường đã dần đi vào tự do hoá như hiện nay. 2.4. NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ Thứ nhất, Cơ sở hạ tầng cho trao đổi thương mại chưa phát triển. Hệ thống đường sắt, đường bộ, đường sông tuy đã được cải tạo nhưng còn lạc hậu, hạn chế khả năng lưu chuyển hàng hoá, chi phí vận chuyển cao, phía Việt Nam vận chuyển sang Vân Nam khó hơn và chi phí cao hơn. Bên cạnh đó các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu chưa phát triển như hệ thống ngân hàng, thông tin, kho ngoại quan, cơ sở vật chất cửa khẩu. Thứ hai, Còn nhiều rào cản thương mại ở hai phía Việt Nam và Trung Quốc. Thủ tục thông quan còn chậm, chi phí vận chuyển còn cao, các quy định xuất nhập khẩu không ổn định, còn mang tính cục bộ địa phương. Thứ ba, Cơ cấu hàng xuất khẩu còn nghèo nàn. Tính bổ sung hàng xuất nhập khẩu của hai bên chưa cao, hàng thô vẫn là chủ yếu do đó chủng loại hàng trao đổi chậm cải tiến. Thứ tư, Trình độ phát triển kinh tế của khu vực còn quá thấp. Thị trường của khu vực lệ thuộc vào các khu vực thị trường khác phát triển hơn. Chẳng hạn, các tỉnh phía Bắc Việt Nam có quan hệ ngoại thương khá chặt chẽ với các nước như Singapore, Malaysia, Thái Lan, những nước đã thực hiện chế độ thương mại tự do với Việt Nam trong khuôn khổ AFTA. Có thể nói với những thành tựu mà hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh đã đạt được là những bước đi quan trọng trong quan hệ hợp tác thương mại giữa hai nước Việt –Trung và trong những bước đi ấy cũng không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế của nó do vậy các nhà lãnh đạo của hai nước cần phải đưa ra những giải pháp phù hợp với tình hình của mỗi nước nhằm thúc đẩy phát triển hành lang trong tương lai. Tóm lại: Từ khi hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –Hải Phong -Quảng Ninh đi vào hoạt đạt nhiều kết quả đáng mừng, trong đó về lĩnh vực thương mại, trao đổi hàng hóa không ngừng gia tăng, cơ cầu các mặt hàng xuất nhập ngày càng đa dạng, cùng với nhiều hình thức trao đổi buôn bán đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch ngoại thương Việt –Trung lên tầm cao mới. Tuy hành lang kinh tế đã đạt được những thành tựu nhưng nó cũng không tránh khỏi hạn chế . Trước thực trạng đó các nhà lãnh đạo hai nước đưa ra giảp pháp thúc đẩy phát triển hơn nữa và giảm thiểu vấn đề còn tồn tại. CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP VÀ TRIỂN VỌNG CỦA HÀNH LANG KINH TẾ CÔN MINH–LÀO CAI–HÀ NỘI–HẢI PHÒNG- QUẢNG NINH 3.1. CÁC GIẢI PHÁP Để tận dụng những cơ hội và giảm thiểu những thách thức cho khu vực hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, trong những năm gần đây Việt Nam và Vân Nam đã có nhiều cuộc tiếp xúc nhằm đẩy mạnh sự hợp tác hơn nữa. Đồng thời đưa ra những giải pháp thúc đẩy phát triển thương mại trên tuyến hành lang kinh tế này. 3.1.1. Giải pháp phía nhà nước Một là, hai bên cần hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại của các tổ chức và doanh nghiệp liên quan đến hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng – Quảng Ninh. Điều này đòi hỏi các cơ quan nhà nước liên quan cần thường xuyên và tích cực xem xét, tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế chính sách, biện pháp còn bất cập đối với các hoạt động của các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và thâm nhập thị trường các nước thông qua hành lang, tích cực giúp họ giải quyết các tranh chấp thương mại. Hai là, phối hợp chặt chẽ giải quyết và ngăn chặn những hoạt động kinh tế bất hợp pháp như buôn lậu, hàng giả, các hoạt động khác đảm bảo an ninh quốc phòng như chống tội phạm quốc tế, phòng ngừa dịch bệnh, bảo vệ môi trường, bảo tồn di sản văn hoá, phong tục tập quán hai bên. Ba là, cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hoá hiện đại hoá, hướng tới làm ăn lâu dài coi trọng buôn bán chính ngạch hơn là buôn bán tiểu ngạch Bốn là, tăng cường quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Năm là, tạo hành làng pháp lý cho hoạt động thương mại trên hành lang kinh tế. Đẩy mạnh đàm phán, ký kết các hiệp định giữa hai bên Việt Nam và Trung Quốc nhằm tạo hành lang pháp lý ổn định, thông thoáng cho thương mại và đầu tư. Trước hết đề nghị phía Trung Quốc đàm phán để thống nhất và sớm đi đến hiệp định chung về kiểm dịch động thực vật, kiểm tra hải quan một lần, thống nhất mã hàng hoá HS đối với hàng xuất nhập khẩu, qui định về vận tải quá cảnh, cơ chế thanh toán. Xoá bỏ những ách tắc thương mại mang tính cục bộ địa phương ở hai phía. Phía Việt Nam nhanh chóng xóa bỏ những rào cản phi thuế quan nhằm tận dụng ưu thế về vị trí địa kinh tế để phát triển các ngành dịch vụ. Sáu là, tiến hành nghiên cứu phân tích những lợi thế và khó khăn khi hành lang đi vào hoạt động để chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng hành lang và khai thác tối đa lợi thế của hành lang. Trước hết cần tận dụng cơ hội để mở rộng không gian thương mại khu vực hành lang, xây dựng định hướng chiến lựơc phát triển kinh tế xã hội khu vực này và trên cơ sở đó qui hoạch phát triển các ngành kinh tế dọc theo tuyến hành lang. Bảy là, phát triển thương mại dịch vụ. Việt Nam không có nhiều lợi thế trong cạnh tranh xuất khuẩu hàng hóa với Trung Quốc hiện nay cũng như trong tương lai. Trong ngắn hạn, quan hệ thương mại hàng hóa với khu vực hành lang không mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam vì đây là khu vực kém phát triển của Trung Quốc, sản phẩm chủ yếu là công nghiệp hương trấn, chất lượng thấp. Trung Quốc đẩy mạnh quan hệ với Việt Nam vì cần thị trường hơn 87 triệu dân và đường khai thông thương mại với bên ngoài. Do đó với vị trí địa kinh tế của mình, Việt Nam nên có tầm nhìn chiến lược trong quan hệ với Trung Quốc và các nước trong khu vực là phát huy ưu thế về địa kinh tế để phát triển các ngành dịch vụ như du lịch, vận tải, quá cảnh, dịch vụ cảng và tận dụng việc xây dựng hành lang để nhanh chóng có không gian kinh tế thông thoáng và hiện đại. Tám là, phối hợp ngăn ngừa và phòng chống các hiện tượng như buôn bán lậu, gian lận thương mại, lây truyền dịch bệnh, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ môi trường. Đặc biệt cần có biện pháp hạn chế xuất khẩu tài nguyên (khoáng sản thô), động vật quý hiếm. Chín là, thiết lập Ủy ban hỗn hợp tác kinh tế Vân Nam và Việt Nam hoặc Ủy ban hỗn hợp hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội – Hải Phòng –Quảng Ninh đặt dưới Ủy ban hợp tác kinh tế thương mại Việt Trung để điều hành và xử lý các vấn đề có liên quan. Mười là, thiết lập chế độ gặp gỡ cố định. Căn cứ theo mậu dịch biên giới Việt Trung, hai bên có thể tổ chức các cuộc gặp gỡ biên giới về những vấn đề cùng quan tâm và vướng mắc cần bàn bạc giải quyết. Bộ Thương mại Việt Nam và tỉnh Vân Nam cần thường xuyên thông báo tình hình cho nhau, hiệp thương giải quyết công việc kinh tế thương mại vùng biên giới hai bên. Phía Vân Nam đã có kiến nghị cụ thể giao cho Ty ngoại thương và hợp tác kinh tế đối ngoại tổ chức, còn phía Việt Nam nên giao cho Bộ thương mại tổ chức. 3.1.1.1. Giải pháp phát triển hạ tầng Một là, tăng cường hợp tác về xây dựng cửa khẩu và các tuyến đường thông thương phát triển kết cấu hạ tầng thương mại hợp tác giao thông cần phải tiến hành trước, trong đó nhiệm vụ quan trong nhất là xây dựng, cải tạo nâng cấp các tuyến giao thông. Hiện nay, phương thức liên kết trên hành lang, chủ yếu dựa vào đường sắt Vân Nam –Việt Nam, đường bộ Côn Minh – Hà nội, đường thuỷ sông Hồng. Do sức chở của tuyến đường sắt Việt Nam có hạn, giá thành vận tải đường bộ tương đối cao, đường thuỷ theo sông Hồng chưa khai thông, nên việc xuất nhập khẩu hàng hoá, việc đi lại của du khách thường bị hạn chế. Để khắc phục tình trạng này, trước hết là hợp tác xây dựng và nâng cấp tuyến đường bộ Côn Minh –Hà Nội đoạn Lào Cai –Hà Nội ở phía Việt Nam; nâng cấp tuyến đường Côn Minh –Hải Phòng theo tiêu chuẩn quốc tế; xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại cho khu thương mại cửa khẩu Kim Thành Hà Khẩu; cải tạo và nâng cấp cụm cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân, hệ thống các kho ngoại quan, phát triển liên vận quốc tế trên bộ và trên biển. Về đường sắt, chủ yếu là nâng cấp năng lực vận chuyển như nâng cấp tuyến đường, bổ sung toa xe, tăng vòng quay. Cải tạo kỹ thuật đường sắt Việt Nam –Côn Minh kết hợp với việc xây dựng đường sắt xuyên Á trong tương lai Hai là, tăng cường hợp tác phát triển thương mại: Điều chỉnh cơ cấu sản xuất và thương mại phù hợp với nhu cầu ngày càng thay đổi của hai bên. Đồng thời, hai bên căn cứ vào điều kiện thực tiễn để đa dạng hóa các hình thức mậu dịch biên giới như mậu dịch đổi hàng, mậu dịch quá cảnh, mậu dịch chuyển khẩu, mậu dịch gia công, mậu dịch dịch vụ và hợp tác kỹ thuật...Chú trọng điều chỉnh cơ cấu thương mại, tích cực khai thác các mặt hàng xuất nhập khẩu chủ lực giữa hai bên để có thể bổ sung cho nhau. Vân Nam sẽ thúc đẩy hơn việc xuất khẩu các sản phẩm điện cơ, thiết bị toàn bộ, sản phẩm hoá chất, thiết bị thông tin và viễn thông đó là những sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao sẽ được xuất khẩu sang Việt Nam. Đồng thời áp dụng phương thức xuất nhập khẩu trực tiếp, mậu dịch gia công. Trong thương mại giữa hai bên, điều đáng chú ý là Việt Nam thường ở thế nhập siêu. Do vậy, Việt Nam cần khai thác triệt để lợi thế tự nhiên và để đẩy mạnh các mặt hàng chủ lực như nông sản, thuỷ sản, khoáng sản và lâm sản..., nhằm tạo thuận lợi cho sự phát triển cân bằng và ổn định trong quan hệ buôn bán giữa hai bên. Ngoài ra, hai bên còn tích cực ủng hộ và khuyến khích các doanh nghiệp lớn của hai bên tham gia xây dựng hành lang kinh tế, bắc cầu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của hai bên giao lưu thường xuyên lẫn nhau. Thông qua việc tổ chức hội chợ, triển lãm, hội thảo….làm tăng sức hấp dẫn đối với các doanh nghiệp để các tập đoàn lớn này đến hợp tác kinh doanh...kết hợp thương mại với các lĩnh vực khác như công nghiệp, nông nghiệp, kỹ thuật. Xây dựng các tập đoàn lớn, phát triển qui mô kinh doanh. Cần phải xây dựng thời gian biểu cho các cuộc gặp mặt định kỳ giữa hai phía nhằm thông báo cho nhau tình hình diễn biến về chính sách và các vấn đề xử lý điều tiết có liên quan. Sớm ký kết hiệp định tư pháp và hỗ trợ pháp lý biên giới Việt – Trung nhằm mang lại sự đảm bảo pháp lý cho biên mậu. Đồng thời đơn giản hóa các thủ tục mậu dịch quá cảnh để hấp dẫn hàng hoá nước thứ 3 chuyển qua Việt Nam. Có thể nói, với những khả năng hợp tác trên, thông qua hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, Việt Nam và các nước ASEAN có thể mở cửa với thị trường Trung Quốc và ngược lại. Song sự hợp tác này không cùng trình độ, một là giữa trình độ cao và trình độ thấp. Qua nhiều phương thức hợp tác, nó sẽ làm thay đổi hẳn phương thức hợp tác và giao lưu đơn nhất. Các yếu tố sản xuất sẽ đựơc tiến hành phân bổ và phân bổ lại bằng những phương thức linh hoạt, đa dạng hơn, đạt hiệu quả lớn hơn. Đẩy mạnh phát triển thương mại, dịch vụ trên hành lang kinh tế hai bên đẩy mạnh hợp tác đầu tư về kỹ thuật, coi đây là điều kiện tiên quyết để phát triển quan hệ hợp tác lâu dài và hiệu quả. Căn cứ vào tiềm lực của hai bên, trước mắt cần lấy khoáng sản, nông nghiệp làm trọng tâm hợp tác kinh tế kỹ thuật giữa Vân Nam và Việt Nam. Phía Bắc Việt Nam có nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản trong khi đó Vân Nam lại dẫn đầu về kim loại màu, kỹ thuật luyện kim tương đối tiên tiến. Sự kết hợp về kỹ thuật và tài nguyên của hai bên sẽ cùng tạo ra một ngành sản xuất có ưu thế. Điều kiện nông nghiệp của Vân Nam cũng giống như của Việt Nam, Vân Nam có thể phát huy ưu thế tương đối mạnh về kỹ thuật nông nghiệp để cung cấp cho Việt Nam các giống cây trồng, lúa, gạo, chè, thuốc lá, khoai tây, cũng như cung cấp kỹ thuật trồng trọt và máy móc thiết bị tương ứng. Phía Vân Nam cần khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực lực đến Việt Nam đầu tư xây dựng nhà máy, tham gia đấu thầu về thuỷ điện, đường sá, thủy lợi tại Việt Nam. Phía Việt Nam cũng cần khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư vào Vân Nam, đồng thời tạo điều thuận lợi về dịch vụ, khung khổ pháp lý để thu hút đầu tư của Vân Nam. Cùng với việc nâng cấp và mở rộng các tuyến đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường thuỷ, hợp tác du lịch sẽ là một lợi thế lớn trong hợp tác tiểu vùng cũng như khu vực hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng – Quảng Ninh . 3.1.1.2. Giải pháp về ngân hàng. Đến nay, ngân hàng mới thực hiện được chức năng thanh toán ngoại thương ở các cửa khẩu phía Bắc từ 5-10% tổng nhu cầu thanh toán chưa giữ được vai trò chủ đạo trên thị trường tiền tệ biên giới, chủ yếu vẫn thông qua hoạt động đổi tiền của tư nhân tại các cửa khẩu hoặc các chợ biên giới. Hình thức thanh toán ở các cửa khẩu chủ yếu là tiền mặt. Trong bối cảnh hình thành khu vực mậu dịch tự do, hình thức thanh toán này sẽ kìm hãm tốc độ giao dịch thương mại. Chính vì vậy cần thiết lập hệ thống thanh toán và hợp tác giữa ngân hàng hai bên. Trước mắt, ngành ngân hàng khẩn trương xây dựng hoạt động quy chế hoạt động tiền tệ trên biên giới, nghiên cứu các hình thức thanh toán quốc tế đảm bảo nhanh, chính xác, tránh rủi ro cho các doanh nghiệp. Các ngân hàng tiếp tục mở rộng quan hệ đại lý với các ngân hàng Trung Quốc. Có kế hoạch phối hợp với các ngành để thiết lập quan hệ quản lý đồng bộ về hoạt động tiền tệ trên biên giới, tích cực phòng chống tiền giả đưa vào trong nước. Tổ chức sắp xếp lại các lực lượng kinh doanh ngoại hối thuộc các thành phần kinh tế tại khu vực các cửa khẩu biên giới Việt – Trung. Các hoạt động này phải thông qua cấp phép và chịu sự quản lý chặt chẽ của ngân hàng nhà nước. Ngành ngân hàng cần tích cực tìm kiếm biện pháp đưa hầu hết các hoạt động xuất nhập khẩu sang biên giới (trừ trao đổi hàng hóa cư dân biên giới) qua thanh toán ngân hàng và tổ chức hệ thống đổi tiền thuận tiện. 3.1.2. Giải pháp về phía doanh nghiệp Về phía doanh nghiệp, cần chủ động đổi mới nhận thức và phương pháp kinh doanh theo hướng tiếp cận thị trường, nâng cao tỷ lệ chế biến bảo quản, đẩy mạnh công tác quảng cáo thương hiệu, tiến tới xây dựng hệ thống bán buôn bán lẻ tại thị trường Trung Quốc. Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam cần tập trung nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, xây dựng thương hiệu, thống nhất hành động thông qua hiệp hội ngành nghề phù hợp với yêu cầu sau khi Việt Nam gia nhập WTO và quá trình hình thành khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc vào năm 2010. Một là, lựa chọn nguồn hàng xuất khẩu. Việc Việt Nam và Trung Quốc trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã và đang mở ra một cục diện và xu thế mới trong quan hệ thương mại giữa hai nước. Trung Quốc đang dần trở thành cường quốc về xuất khẩu nên vấn đề là các doanh nghiệp Việt Nam cần có tầm nhìn lâu dài và dựa vào các yếu tố thế mạnh để xác định các mặt hàng xuất khẩu chiến lược sang thị trường Trung Quốc. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, các mặt hàng nông sản nhiệt đới như cao su, hoa quả nhiệt đới, hạt điều; đồ gỗ giả cổ, giày dép sản xuất từ cao su, các sản phẩm nhựa, linh kiện điện tử, chi tiết máy và cuối cùng là mặt hàng điện và dây cáp điện. Đánh giá về khả năng hợp tác và thúc đẩy xuất khẩu đối với một số mặt hàng công nghiệp, trong đó có ô tô, Tổng giám đốc tổng công ty công nghiệp ô tô Việt Nam Nguyễn Văn Khoa nhận định: ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc rất phát triển với nhiều chủng loại ô tô thích hợp với địa hình nước ta và được người tiêu dùng chấp nhận. Do vậy triển vọng hợp tác giữa các doanh nghiệp hai nước là rất lớn. Tuy nhiên trong chừng mực Trung Quốc có ưu thế hơn hẳn ta trong rất nhiều mặt hàng vì thế để có thể đẩy mạnh xuất khẩu, hợp tác với Trung Quốc chúng ta nên lựa chọn những mặt hàng có ưu thế, có khả năng cạnh tranh trong dài hạn, cũng như nên có chiến lược hợp lý nhằm phát triển những mặt hàng trọng tâm. Một số nguồn hàng mà chúng ta nên lựa chọn là: thủy sản, cao su, dầu thô, dược liệu đây là những mặt hàng mà chúng ta đang có thế mạnh, lại được thị trường Trung Quốc chấp nhận. Mặc dù những mặt hàng nói trên có thị trường tiêu thụ rất rộng lớn ở nhiều nơi, song xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc có thể giảm bớt chi phí vận chuyển và yêu cầu về chất lượng không quá ngặt nghèo do đó chúng ta có thể lựa chọn, nhưng trong tương lai để có thể đẩy mạnh hơn nữa đối với các mặt hàng này chúng ta nên cải tiến kỹ thuật nâng cao năng suất chất lượng. Ngoài ra đối với vùng biên giới Tây Nam Trung Quốc chúng ta cũng có thể tập trung vào các mặt hàng có triển vọng như: đồ gỗ gia dụng, nông sản và hàng công nghiệp như quần áo dệt kim, giày dép sản phẩm nhựa ..bằng việc thúc đẩy hơn nữa xúc tiến thương mại, nghiên cứu thị trường, cải tiến mẫu mã, giảm giá thành để có thể cạnh tranh với hàng Trung Quốc. Từng bước hạn chế và tiến tới ngừng xuất khẩu nguyên liệu quý, các sản phẩm đa dạng sinh học. Cần đầu tư công nghệ để nâng cao giá trị gia tăng của những mặt hàng này. Xác định khai thác dịch vụ quá cảnh, chuyển khẩu phát triển du lịch là mục tiêu chủ yếu, do vậy doanh nghiệp nên tập trung vào việc đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, các nhà quản lý giỏi, thiết lập bộ máy và tổ chức hiệu quả để phát triển dịch vụ. Hai là, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ: Cập nhập đầy đủ thông tin để xác định những lĩnh vực và mặt hàng kinh doanh của Trung Quốc có thể ảnh hưởng đến sản xuất của mình. Trên cơ sở đó điều chỉnh chiến lược kinh doanh phù hợp với điều kiện mở cửa thương mại. Không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm theo nhu cầu tiêu dùng ngày càng phát triển và nâng cao của xã hội; đầu tư đổi mới thiết bị nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành. Làm tốt công tác tiếp thị, để đảm bảo cho mình thị trường ổn định, lâu dài và ngày càng mở rộng. Nâng cao trình độ năng lực kinh doanh, điều hành quản lý doanh nghiệp, nhất là nâng cao trình độ và kinh nghiệm kinh doanh, điều hành của giám đốc. Về hàng hóa cần chú trọng đến bao bì, nhãn mác, áp dụng hệ thống mã phổ cập đối với hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc để thuận lợi trong khâu bán lẻ tại các siêu thị, hạ giá thành sản phẩm để có thể cạnh tranh với hàng Trung Quốc, nghiên cứu xây dựng chiến lược mặt hàng thích hợp với thị trường Trung Quốc trong giai đoạn cụ thể: Về dịch vụ, lợi thế thương mại của Việt Nam trong hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh là các loại hình dịch vụ như vận tải, thông tin, điện, kho vận, cầu cảng, dịch vụ ..chính vì vậy, các doanh nghiệp cần tập trung khai thác lợi thế này để phát triển các loại hình dịch vụ thích hợp sử dụng tuyến hành lang kinh tế với tính chất là dịch vụ quá cảnh của hàng Trung Quốc và các nước lân cận thông qua cảng biển Hải Phòng, Quảng Ninh. Trên cơ sở đầu tư của nhà nước cho cơ sở hạ tầng, các doanh nghiệp cần có biện pháp để khai thác hiệu quả các công trình này, đồng thời phối hợp với nhà nước tiếp tục hoàn thiện kết cấu hạ tầng, mở rộng qui mô khai thác dịch vụ Ba là, mở rộng các phương thức hoạt động thương mại: Các doanh nghiệp chủ động mở rộng các phương thức hoạt động kinh doanh như tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, lưu kho ngoại quan để quá cảnh hàng hóa xuất nhập khẩu. Phát triển các hình thức xuất khẩu dịch vụ như du lịch, vận tải biển, và dịch vụ giao nhận hàng quá cảnh và các loại dịch vụ khác. Các doanh nghiệp cũng cần tổ chức các công ty con hoặc văn phòng đại diện gần cửa khẩu để tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch, mua bán hàng hóa đồng thời có thể giới thiệu sản phẩm của mình đối với bạn hàng được dễ dàng hơn. Sử dụng các phương thức mua bán và thanh toán linh hoạt, phù hợp với đối tượng và tính chất mặt hàng xuất khẩu để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Cùng với việc mở rộng các mặt hàng kinh doanh xuất khẩu hiện có thế mạnh, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động liên kết với doanh nghiệp Trung Quốc để ký hợp đồng xuất khẩu dài hạn, xây dựng kế hoạch xuất nhập khẩu ổn định. Khai thác cơ hội tham gia các hội chợ, triển lãm để giới thiệu mặt hàng của mình, khai thác nguồn hàng của nước bạn và phát triển phương thức xuất nhập khẩu tại chỗ. Tăng cường hợp tác theo phương hướng về sản xuất hàng xuất khẩu để tăng kim ngạch xuất khẩu. Bốn là tăng cường lĩnh vực hợp tác kinh doanh: Các doanh nghiệp cần xem xét chuyển dần từ buôn bán thuần túy sang hợp tác liên doanh, sản xuất lắp ráp tiêu thụ hàng hóa tại thị trường hai nước và xuất khẩu sang nước thứ 3 như liên doanh sản xuất đồ điện gia đình, thức ăn gia súc, giày dép, may mặc, thực phẩm… Các doanh nghiệp cần mạnh dạn đầu tư sản xuất và kinh doanh sang nước ngoài, tổ chức sản xuất xây dựng mạng lưới tiêu thụ và huy động vốn, tận dụng nguyên liệu và thị trường Trung Quốc. Tăng cường hợp tác với Trung Quốc trong các lĩnh vực chế biến hàng nông lâm hải sản để tăng dần tỷ trọng chế biến trong cơ cấu hàng xuất khẩu sang Trung Quốc và mở rộng xuất khẩu sang các thị trường khác. Hình thức hợp tác với Vân Nam –Trung Quốc có thể chú ý phát triển kiểu đầu tư trực tiếp, như vậy vừa có thể tránh hàng rào thuế quan, lại có thể tận dụng ưu thế về tài nguyên. 3.1.3.Giải pháp hoàn thiện chính sách thương mại 3.1.3.1. chính sách xuất nhập khẩu ♦ Hạn ngạch: Trong quan hệ buôn bán giữa Vân Nam –Việt Nam, nước ta nên qui định được phép xuất khẩu hoặc ở mức độ nào đó nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong nước khỏi sự thiếu hụt tạm thời đặc biệt lương thực. Ngoài ra việc áp dụng hạn ngạch xuất khẩu còn đảm bảo phục vụ nhu cầu trong nước cho Việt Nam về lâu dài. Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam cũng qui định hạn ngạch nhập khẩu chính sách này với mục đích bảo hộ giá cả thị trường nội địa của nước ta, làm giảm hàng hóa của Trung Quốc có giá thấp hơn tràn vào Việt Nam. Khi giá của hàng hóa của Trung Quốc thấp hơn có thể dẫn đến một số doanh nghiệp bị phá sản do chi phí sản xuất cao. Do đó việc áp dụng chính sách hạn ngạch xuất nhập khẩu là góp phần hoàn thiện chính sách thương mại. ♦ Giấy phép: Là cơ quan có thẩm quyền cho phép các nhà kinh doanh, các doanh nghiệp được xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Để các mặt hàng đổi giữa hai nước thông qua hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh ngày càng đa dạng và thuận tiện hơn thì cơ quan chức năng có thẩm quyền Việt Nam- Vân Nam tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp hai bên có cơ hội trao đổi những mặt hàng để bổ sung cho nhau. Cần phải đơn giản hóa thủ tục cấp giấy phép, thời gian cấp giấy phép phải được rút ngắn. Giảm chi phí việc cấp giấy phép. ♦ Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa: Bất cứ mặt hàng nào khi xuất khẩu hay nhập khẩu trên thị trường đòi hỏi phải nghi rõ nguồn gốc xuất xứ. Đối tác giữa Vân Nam – Nam khi xuất khẩu (nhập khẩu) hàng hóa yêu cầu phải gửi kèm chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa này. ♦ cấm xuất, nhập khẩu: Việc thúc đẩy buôn bán hàng hóa trên hành lang kinh tế Côn Minh–Lào Cai–Hà Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh là mong muốn, là chiến lược đặt ra trong hợp tác quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam- Vân Nam (Trung Quốc) trong bối cảnh hiện nay. Nhưng sự thúc đẩy cần phải có chọn lọc cần có chính sách qui định rõ ràng những mặt được phép xuất khẩu, nhập khẩu còn những mặt hàng nào cấm xuất và nhập khẩu. Việt Nam đã cấm xuất khẩu những loại động thực vật quý hiếm nằm trong danh sách đỏ của quốc gia. Cấm nhập khẩu những mặt hàng có chất kích thích, chất cháy nổ gây nguy hiểm đến tính mạng con ngưòi như pháo, các loại đồ chơi trẻ em mang tính bạo lực như súng và những mặt hàng quốc cấm. 3.1.3.2. Thuế Thuế quan là thuế gián thu đánh vào hàng hóa khi chúng di chuyển từ lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ hải quan khác. Nó là công cụ kinh tế được sử dụng lâu đời nhất và phổ biến nhất trong chính sách thương mại quốc tế. Thuế có thể hạn chế số lượng nhập khẩu và xuất khẩu của hàng hóa. Các doanh nghiệp hai bên cần phải có chính sách điều chỉnh sao cho phù hợp và đảm bảo cho quá trình trao đổi hàng hóa diễn ra ổn định. Hàng hóa của Việt xuất khẩu sang Trung quốc chủ yếu là nông –lâm –thuỷ - hải sản. nhưng những mặt hàng này vẫn chị thuế xuất khẩu. Nhưng do giữa tỉnh Vân Nam –Việt Nam nằm trên hành lang kinh tế cùng mậu dịch biên giới nên phía nhà nước Việt Nam áp dụng mức thuế ưư đãi, hàng hóa Việt Nam có khả năng canh trên thị trường Trung Quốc. Cần đầy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thuận lợi hóa các khâu liên quan xuất khẩu như: thuế, hải quan 3.1.3.3.Tín dụng xuất khẩu Đây là hình thức kkhuyến khích xuất khẩu bằng cách nhà nước lập quỹ tín dụng xuất khẩu hỗ trợ cho hệ thống ngân hàng thương mại giảm lãi suất cho vay đối với sản xuất xuất khẩu. Tiếp tục ưu tiên tín dụng và bảo đảm cung ứng đủ vốn cho nông dân và các doanh nghiệp thu mua nguyên liệu đặc biệt là các hàng nông sản, thuỷ sản, công nghiệp chế biến xuất khẩu. Quỹ hộ trợ xuất khẩu là giúp các doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng do không có tài sản thuế chấp. Quỹ hộ trợ xuất khẩu sẽ đứng ra bảo lãnh các khoản vay, cung cấp các khoản vay tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu trên hành lang kinh tế Côn Minh–Lào Cai–Hà Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh để các doanh nghiệp đầu tư công nghệ hiện đại và đảm bảo vốn huy động . 3.2. TRIỂN VỌNG CỦA HÀNH LANG KINH TẾ CÔN MINH-LÀO CAI-HÀ NỘI-HẢI PHÒNG-QUẢNG NINH Vì hành lang kinh tế này đặt trong ACFTA nên triển vọng là khả quan bởi yêu cầu thúc đẩy ACFTA phải bắt đầu từ các đột phá. Hành lang này sẽ là một trong các đột phá để khai thông các chương trình hợp tác trong khuôn khổ ACFTA. Trung Quốc đã là thành viên WTO và vào năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO nên điều kiện này sẽ có hiệu ứng tích cực để thị trường hai bên trở nên hấp dẫn hơn với các đối tác bên ngoài khu vực. Hành lang kinh tế sẽ trở thành địa chỉ hấp dẫn hơn khi nó là hình ảnh tích cực của vùng kinh tế biên mậu tự do điển hình để làm cầu nối cho sự thâm nhập của các nhà đầu tư và kinh doanh quốc tế vào thị trường nội địa của cả Việt Nam và Trung Quốc. Cùng nối với hành lang kinh tế Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng và vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ, hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh sẽ tham gia tạo lập một tam giác phát triển, kết nối tất cả các tỉnh miền Đông Nam và miền Tây Nam (Trung Quốc) cùng với toàn bộ các tỉnh miền núi và đồng bằng Bắc Bộ (Việt Nam) thành một trung tâm phát triển đáng kể của Đông và Đông Nam Á. Đây có thể coi là vùng đệm rất có tiềm năng trong quan hệ liên kết giữa ASEAN (thông qua tuyến hành lang Đông Tây) với các tỉnh miền Tây Nam và Duyên hải Đông Nam Trung Quốc cũng như sự gia tăng hoạt động kinh tế thương mại giữa các nền kinh tế Đông Á đối với tam giác phát triển này, thích ứng với xu hướng và triển vọng ra đời của khu vực mậu dịch tự do toàn Đông Á nay mai. Với sự hợp tác của hai nước về hạ tầng kỹ thuật trên tuyến hành lang kinh tế này đã tạo thuận lợi cho việc thông thương, trên bộ cũng như qua các cảng biển sẽ mở ra nhiều triển vọng trong việc thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước Việt –Trung và đưa kim ngạch thương mại hai chiều lên 17,6 tỷ USD vào năm 2010, 30 tỷ USD và 50 tỷ USD vào năm 2015 và 2020 [12]. Trong tương lai, hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng –Quảng –Ninh với lợi thế sẽ phát huy tốt vai trò của mình, ngày càng thúc đẩy sự phát triển kinh tế trên lĩnh vực thương mại, du lịch, và đầu tư ở khu vực hành lang nói riêng và trong quan hệ hai nước Việt Nam –Trung Quốc nói chung. Về thương mại đã có nhiều thương nhân Trung Quốc đã sang Việt Nam buôn bán tại các chợ cửa khẩu như: Móng Cái (Quảng Ninh ), cửa khẩu Lào Cai, cửa khẩu Hữu Nghị Quan (Lạng sơn )…..và nhiều gian hàng doanh nghiệp thâm nhập vào thị trường Việt Nam thông qua khu kinh tế cửa khẩu. Gần đây hội chợ thương mại lần thứ 13 được tổ chức giữa Việt Nam và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đã diễn ra tại Quảng Ninh, đây là cơ hội để hai bên giới thiệu về sản phẩm, quảng bá về hình ảnh sản phẩm nhằm tiến tới hợp tác ký kết các hợp đồng thương mại. Hành lang kinh tế này không chỉ là nơi diễn ra giao thương giữa Việt Nam và Trung Quốc mà còn diễn ra giữa Việt Nam-ASEAN, Trung Quốc –ASEAN, và các nước khác trong khu vực. Như vậy xét trên các khía cạnh đã phân tích, hoàn toàn có thể khẳng định rằng hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai –Hà Nội – Hải Phòng –Quảng Ninh có nhiều thuận lợi để phát triển và chắc chắn sẽ là có triển vọng tốt đẹp trong tương lai. Tóm lại: Để hành lang kinh tế Côn Minh–Lào Cai–Hà Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh tiếp tục phát triển theo chiều sâu thì phía doanh nghiệp và nhà nước hai bên đã đề ra từng giải pháp cụ thể hiện tại cũng như lâu dài về sau. Trong tương lai hành lang này sẽ có nhiều triển vọng phát triển mở ra, góp phần tăng cường mối quan hệ Việt –Trung bền vững hơn. KẾT LUẬN Như vậy trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh có đủ lợi thế đón nhận để phát triển kinh tế xã hội và góp phần xây dựng mối quan hệ hai nước Việt –Trung phát triển toàn diện và bền vững. Trong thời gian qua hành lang kinh tế này đã và đang phát huy tốt vai trò của mình trong quan hệ thương mại giữa hai nước cũng như đáp ứng phù hợp với đường lối chiến lược của nước ta là nhằm từng bước cải thiện dần dần đời sống của nhân dân vùng biền giới phía Bắc nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, có tiềm năng phát triển kinh tế nhưng chưa được khai thác triệt để, do đó phát triển tuyến hành lang Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh tạo cơ sở bền vững nhằm khai thác tối đa lợi thế của khu vực, nâng cao mức sống và thu nhập cho người dân, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng trong cả nước. Đặc biệt thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế của các tỉnh thuộc khu vực hành lang, góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam. Việc xây dưng và phát triển hành lang kinh tế còn là mục tiêu chiến lược lâu dài của hai nước, trao đổi buôn bán không chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp giữa hai nước mà còn mở rộng không gian, tạo lan tỏa ra bên ngoài đưa sản phẩm ra những thị trường xa hơn ở các khu vực trên thế giới. Hợp tác phát triển trên hành lang này cũng là cơ hội để Việt Nam và các tỉnh Vân Nam trao đổi những khoa học kỹ thuật cho nhau… Hơn nữa hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai–Hà Nội –Hải Phòng – Quảng Ninh đóng vai trò không nhỏ trong việc thúc đẩy, gia tăng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt –Trung trong năm qua và đạt được những thành tựu đáng kể trên một số lĩnh vực như thương mại, dịch vụ du lịch, đầu tư... Đây là điều đáng mừng cho chính phủ hai bên để đẩy mạnh hợp tác song phương nên tầm cao mới. Hai bên cần có những chính sách phù hợp, tạo ra môi trường cho các tỉnh, thành phố, doanh nghiệp Việt Nam, ASEAN giao thương, buôn bán với Vân Nam và các tỉnh miền Tây Trung Quốc qua các cửa khẩu quốc tế. Điều này đã được lãnh đạo hai nước Việt Nam-Trung Quốc thống nhất chỉ đạo tập trung đầu tư cho, xây dựng các khu kinh tế cửa khẩu trở thành khu kinh tế cửa khẩu quốc tế lớn và hiện đại để phục vụ yêu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa, cũng như nhu cầu vận tải hàng hóa quá cảnh từ Trung Quốc, Việt Nam, ASEAN. Nhiều dự án đầu tư giữa hai nước chủ yếu tập trung vào xây dựng và nâng cấp hệ thống hạ tầng cơ sở giao thông quan trọng đảm bảo cho quá trình vận chuyển được thông suốt. Đến nay hoạt động buôn bán qua các cửa khẩu nằm trên hành lang Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh diễn ra rất sôi động và tấp nập, biểu hiện rõ nét là kim ngạch thương mại xuất nhập khẩu qua cửa khẩu tăng mạnh so với những trước. Hàng hóa lưu thông trên tuyến hành lang ngày càng nhiều và đa dạng hơn, hình thành nên các chợ trung tâm, chợ lớn có nhiều người Trung Quốc sang thuê cửa hàng để bán hàng hóa. Bên cạnh đó thì hoạt động du lịch phát triển tương đối, nhiều khách du lịch Trung Quốc đã thông qua khu cửa khẩu để đến thăm quan địa danh nổi tiếng của nước ta. Thông qua hành lang kinh tế này giúp chúng ta thu hút khách ngày càng nhiều khách du lịch tới Việt Nam, là dịp để Việt Nam quảng bá giới thiệu hình ảnh đất nước mình đến các nước bạn bè trên thế giới để họ biết được một nước Việt Nam với nhiều khu di tích danh lam thiên nhiên đẹp huyền bí và đầy sức cuốn hút. Tuy nhiên hành lang này vẫn có nhiều vấn đề còn tồn tại, chúng ta chưa khai thác được hết tiềm năng của vùng, hoạt động quản lý chưa được chặt chẽ vẫn diễn ra tình trạng buôn lậu, việc trao đổi hàng giả, hàng kém chất lượng vẫn còn, thời gian làm thủ tục kéo dài….Trước những mặt còn hạn chế như vậy cần đặt ra những giải pháp thích hợp để thúc đẩy phát triển hành lang, giảm thiểu tối đa những hạn chế. Trong đó điều đầu tiên quyết định nhất là giao thông vận tải. Do đó, việc nâng cấp và cải tạo các tuyến đường bộ, đường sắt là cần thiết. Ngoài ra cần phát triển mạnh các dịch vụ phục vụ các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa (dịch vụ cảng biển, kho bãi ), cải cách thủ tục hành chính, giảm cước phí vận tải. Tăng cường hợp tác về thương mại, du lịch và đầu tư trên hành lang. Đẩy mạnh đàm phán, ký kết các hiệp định giữa hai bên Việt Nam và Trung Quốc nhằm tạo hành lang pháp lý ổn định, thông thoáng cho thương mại, đầu tư và du lịch ngày càng phát triển hơn. Cần đơn giản về thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá, thủ tục xuất nhập cảnh, thuế quan, kiểm dịch, bảo đảm an ninh, an toàn cho các tổ chức, doanh nghiệp, du khách và cá nhân. Xây dựng cơ chế điều hành linh hoạt, hiệu quả giữa các cơ quan hải quan, kiểm dịch, thương vụ, thông tin hàng hoá, thị trường giá cả, giải quyết kịp thời những vướng mắc trong quá trình hoạt động. Thường xuyên tổ chức đưa các đoàn đi thăm quan khảo sát tình hình hoạt động ở khu vực cửa khẩu để nắm bắt thông tin thị trường qua đó đáp ứng đúng nhu cầu hàng hóa, nâng cao khẳ năng cạnh tranh của các hàng hóa và dịch vụ. Phải đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm cũng như chất lượng của nó. Để tránh bị thua thiệt trong buôn bán thì các doanh nghiệp phía Việt Nam phải hiểu rõ luật thương mại mà Trung Quốc đã qui định. Như vậy với những gì mà hành lang kinh tế Côn Minh –Lào Cai –Hà Nội –Hải Phòng –Quảng Ninh đã gặt hái được là nhân tố tiếp thêm sức mạnh để quan hệ Việt –Trung tiếp tục đơm hoa kết trái, đóng góp tích cực vào hòa bình và thịnh vượng của cộng đồng ASEAN và cộng đồng Đông Á. Do thời gian có hạn và bản thân em mới là một sinh viên mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu lý luận là chủ yếu, về mặt thực tiễn còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các nhà khoa học các nhà chuyên môn để khóa luận của em được hoàn thiện và nâng cao hơn nữa.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docVai trò của Hành lang kinh tế- Côn Minh –Lào Cai – Hà Nội –Hải Phòng – Quảng Ninh trong hợp tác thương mại giữa hai nước Việt –Trung.doc
Luận văn liên quan