Đề tài Xây dựng chương trình và đề cương bài giảng cho các lớp nguồn của trường cán bộ thành phố Hồ Chí Minh

Bài Hội nhập kinh tế quốc tế - 8 tiết • Bài Đạo đức của người cán bộ, công chức – 8 tiết . (Từ khoá 1 đến khoá 3 đã có bài này – không hiểu tại sao lại bỏ đi ?) • Bài Đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh – 8 tiết (Theo đề nghị của khoa Lịch sử Đảng và tư tưởng Hồ Chí minh). • Chuyển bài Chương trình phát triển kinh tế – Văn hóa – Xã hội của TP. Hồ Chí Minh đến năm 2010 ở học phần III về phần I (Kiến thức chung). • Mỗi học phần (trừ học phần 1)tăng thêm một ngày (8 tiết) nhằm cho học viên của lớp nguồn toạ đàm với những cán bộ chủ chốt (Bí thư, chủ tịch) đương chức ở cơ sở (do Ban Tổ chức Thành uỷ chọn và triệu tập) nhằm học hỏi kinh nghiệm từ thực tiễn. Nội dung các phần học và bài giảng theo chương trình mới được dự kiến như sau:

pdf9 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 04/04/2015 | Lượt xem: 1510 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Xây dựng chương trình và đề cương bài giảng cho các lớp nguồn của trường cán bộ thành phố Hồ Chí Minh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tóm tắt Đề tài : “XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH VÀ ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG CHO CÁC LỚP NGUỒN CỦA TRƯỜNG CÁN BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” TS. Phạm Ngọc Minh (*) I. LÝ DO NGHIÊN CỨU, MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI: Đầu năm 2003, Thành uỷ chỉ đạo Tiểu ban Quy hoạch cán bộ dài hạn thuộc Ban Tổ chức Thành uỷ xét duyệt và chiêu sinh các cán bộ trẻ thuộc diện quy hoạch cán bộ dài hạn đưa về làm cán bộ chủ chốt ở cơ sở xã, phường, thị trấn để để được đào tạo trong thực tiễn. Thành uỷ cũng yêu cầu trước khi đưa về cơ sở, Ban Tổ chức Thành uỷ phối hợp với trường Cán bộ bồi dưỡng cấp tốc cho các đối tượng này những kiến thức, kỹ năng cơ bản về quản lý nhà nước ngạch chuyên viên; kiến thức và kỹ năng cơ bản về công tác đảng và công tác vận động quần chúng tại cơ sở. Chấp hành sự chỉ đạo của Thành uỷ, chương trình “bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên và kỹ năng công tác lãnh đạo, quản lý” cho lớp Cán bộ Nguồn đã được trường xây dựng và áp dụng chính thức từ ngày 18/3/2003. Qua hơn 4 năm thực hiện với 8 khoá bồi dưỡng chương trình này tại Trường Cán bộ Thành phố cho thấy chương trình có nhiều ưu điểm; nhưng cũng bộc lộ những hạn chế cần phải được điều chỉnh, sửa chưã, bổ sung. Trên cơ sở đánh giá ưu điểm và hạn chế của chương trình, điều quan trọng hơn là phải xây dựng tập bài giảng ổn định cho các lớp Cán bộ nguồn. Chính từ yêu cầu đó, chúng tôi chọn vấn đề “ Xây dựng chương trình và đề cương bài giảng cho các lớp Cán bộ nguồn của trường Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá về thực trạng nội dung, (*) Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh 1 chương trình, phương pháp, và việc tổ chức học tập cho các lớp Cán bộ nguồn, trên cơ sở đó xây dựng tập bài giảng cho lớp Cán bộ nguồn. Để đạt được mục đích trên, đề tài xác định thực hiện các nhiệm vụ sau đây: + Đánh giá thực trạng nội dung, phương pháp giảng dạy chương trình“bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên và kỹ năng công tác lãnh đạo, quản lý” và việc tổ chức học tập cho 8 lớp Cán bộ nguồn đã được bồi dưỡng tại trường. + Xây dựng tập đề cương chi tiết bài giảng cho lớp Nguồn. + Đưa ra một số kiến nghị. Đề tài hoàn thành sẽ cho ta những kinh nghiệm để xây dựng chương trình cho các lớp bồi dưỡng cuả trường - một trong những hướng chính của công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ hiện nay. Xây dựng tập bài giảng ổn định cho các lớp Nguồn. II- NỘI DUNG TÓM TẮT : Nội dung của đề tài gồm 2 chương, chương 1 phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn và thực trạng việc thực hiện chương trình bồi dưỡng cho các lớp nguồn từ tháng 9/2003 (lớp nguồn 1) đến tháng 12/2007 (lớp nguồn 8). Trong đánh giá thực trạng, đề tài đã nêu những ưu điểm và hạn chế của chương trình đã thực hiện cho 8 lớp nguồn cụ thể như sau: 1- Ưu điểm của chương trình và việc tổ chức thực hiện: Với nội dung và thời lượng được kết cấu theo chúng tôi là khá hợp lý, chương trình này đảm bảo những nội dung cơ bản của chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên do Học Viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh qui định, những kiến thức và kỹ năng cơ bản về công tác đảng và công tác vận động quần chúng tại cơ sở. Trên cơ sở kết quả thực hiện chương trình và tổng hợp ý kiến phản hồi từ phiá học viên qua 8 khoá đào tạo cho thấy : Chương trình này tương đối phù hợp và bổ ích cho đối tượng tham dự là cán bộ nguồn của Thành ủy, đáp ứng nhu cầu 2 bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ và kinh nghiệm công tác ở cơ sở. Chương trình này được xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa lý luận và thực tiễn. Ở từng phần học, nhiều nội dung bài giảng có kết cấu thêm phần bài tập xử lý tình huống, câu hỏi thảo luận… Nhiều tình huống đã xảy ra và có thể xảy ra mà cán bộ ở cơ sở có thể gặp phải trong quá trình công tác được đưa ra, học viên tham gia mổ xẻ, xử lý tình huống, qua đó củng cố kiến thức đã học và tháo gỡ những vướng mắc trong nhận thức của học viên về công tác lãnh đạo quản lý ở cơ sở. Qua 6 (sau này là 5 học phần), học viên được trang bị những kiến thức nền tảng về chuyên môn, nghiệp vụ như : Những vấn đề chung về nhà nước và pháp luật, một số ngành luật cơ bản, công vụ, công chức; về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND – UBND cấp cơ sở và của một cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở; thẩm quyền của lãnh đạo cấp cơ sở – chủ tịch, bí thư; vấn đề thủ tục hành chính, xử lý vi phạm hành chính; vấn đề quản lý Nhà nước về môi trường, đô thị, đất đai, tài chính… Học viên cũng được trang bị những kiến thức, kỹ năng công tác Đảng và công tác vận động quần chúng ở cơ sở. Đó là những vấn đề cơ bản về công tác xây dựng Đảng, những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và sinh hoạt của Đảng, các kỹ năng trong công tác cán bộ, công tác đảng viên, công tác kiểm tra và kỷ luật, công tác cấp ủy về bí thư. Quan điểm của Chủ nghĩa MáLênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng; những nội dung, phương thức và kỹ năng vận động quần chúng; kỹ năng giao tiếp, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở… Với những kiến thức được trang bị qua 6 (sau này là 5 học phần), học viên có nhận thức sâu hơn, chắc chắn hơn, giúp học viên vững vàng tự tin trong công tác, xử lý công việc ở cơ sở đúng đắn và hiệu qủa hơn. Theo số liệu khảo sát từ học viên thì chương trình bồi dưỡng cho các lớp nguồn được đánh giá khá tốt. Các tiêu chí đặt ra đều đạt ở mức tương đối khá. Cụ thể như sau: - Tính khoa học của chương trình đạt 6.6 điểm 3 - Tính hệ thống đạt 6.7 điểm - Tính phù hợp với đối tượng học viên đạt 6.5 điểm. - Tính thiết thực liên quan đến công việc đạt 6.6 điểm - Tính hữu ích đối với công việc đạt 6.5 điểm - Tính cập nhật, hiện đại đạt 6.0 điểm - Đánh giá chung về sự liên quan và hữu ích của toàn bộ chương trình đạt 6.3 điểm Một thực tế quan trọng khác cũng được xem là căn cứ khách quan để đánh giá mặt ưu điểm của chương trình là thực trạng bố trí, sử dụng cán bộ, công chức sau khi được đào tạo bồi dưỡng ở các lớp nguồn. Theo số liệu của Ban Tổ chức Thành ủy cho thấy : số lượng cán bộ được bố trí công tác và phát huy được hiệu quả rất cao: 323/334 học viên tham dự các khoá học chiếm 96,7%. Điều này khẳng định chất lượng của chương trình bồi dưỡng cho các lớp nguồn. Các lớp Nguồn được ban tổ chức Thành uỷ và lãnh đạo trường đặc biệt quan tâm. Trước mỗi khoá học, học viên được Ban tổ chức và lãnh đạo trường quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Thành uỷ đối với lớp học. Giữa các khoá học đều có các buổi làm việc rút kinh nghiệm của Ban Tổ chức Thành uỷ và Ban Giám hiệu nhà trường với lớp để kịp thời rút kinh nghiệm và điều chỉnh. Việc bố trí giáo viên chủ nhiệm và đội ngũ giảng viên cũng được Ban Giám hiệu chọn lựa kỹ càng. Nhìn chung, công tác tổ chức học tập cho các lớp Nguồn là chu đáo và chặt chẽ. 2 - Những hạn chế của chương trình và việc tổ chức thực hiện: Qua tổng kết bế giảng các lớp nguồn, các cuộc họp rút kinh nghiệm cuả Ban giám hiệu với các lớp nguồn và qua phiếu thăm dò 230 học viên đã học, chúng tôi thấy chương trình bồi dưỡng cho các lớp nguồn và việc tổ chức thực hiện chương trình còn có những hạn chế sau đây: Thứ nhất: Giáo trình chưa hoàn chỉnh, manh mún; Học phần I gồm 2 tập tài liệu; Học phần II và phần III là những đề cương bài giảng riêng lẻ, có nội 4 dung đề cương bài giảng là một quyển sách (QLNN về tôn giáo); Có đề cương là giáo án điện tử. Học phần IV và V đóng chung thành một tập tài liệu. Một số nội dung trong chương trình không có đề cương phục vụ cho học tập, nghiên cứu : cải cách hành chính (học phần II); Chương trình phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội của thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010, QLNN về nông thôn (Học phần III); Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, kỹ năng giao tiếp; Bài tập xử lý tình huống (Học phần V)… Thứ 2, Chương trình rộng, nhiều nội dung cần được chuyển tải nhưng thời gian học lại được nhiều lần rút ngắn. Trong suốt khoá học, học viên liên tục tiếp cận những nội dung mới trong khi chưa nắm vững (chưa kịp tiêu hoá) những nội dung cũ. Rất khó khăn để tiếp thu, dung nạp tất cả nội dung trong điều kiện thời gian eo hẹp . Việc hình thành kỹ năng, khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tế ở cơ sở càng khó khăn hơn. Trong khi đó lại bố trí quá nhiều thời gian dành cho việc đọc tài liệu, ôn tập và thi học phần. Sự phân bổ, sắp xếp tiết học chưa hợp lý, thời gian trống quá nhiều mà lẽ ra nên dùng cho nghe giảng, thảo luận, làm bài tập xử lý tình huống. Theo số liệu khảo sát, chỉ đạt 4.6 điểm thời lượng chương trình chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển tải nội dung (Xem bảng tổng hợp trong phụ lục 1– trang). Thứ ba, Về phương pháp giảng dạy, mặc dù đã được lưu ý từ khi xây ựng chương trình và nhắc nhở qua các lần tổng kết các khoá học và các buổi rút kinh nghiệm giữa lớp với Ban Giám hiệu, nhưng trong quá trình thực hiện, các bài giảng còn nặng về lý thuyết, thiếu phần thực hành (thảo luận, bài tập xử lý tình huống). Thời gian dành cho thực hành quá ít, gần như không bố trí tiết cụ thể trong chương trình. (Trừ học phần V có 4 tiết làm bài tập xử lý tình huống chính trị). Trong mỗi đề cương bài giảng đa số đều có câu hỏi thảo luận, bài tập nhưng việc có thực hiện nội dung này hay không và thực hiện nội dung này như thế nào là do giảng viên đứng lớp quyết định. Theo góp ý của học viên thì nội dung này 5 thực hiện còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu của người học. (Theo kết quả phiếu điều tra học viên thì điểm cho phần liên hệ thực tiễn và kỹ năng vận dụng, thực hành chưa đạt yêu cầu (dưới 5 điểm – Xem phụ lục 1 trang 25). Lẽ ra cần bố trí thời gian dành cho thực hành nhiều hơn, cụ thể số tiết trong chương trình. Qua đó hướng dẫn cho học viên cách vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế công tác ở cơ sở. Đây cũng là mục đích, yêu cầu của chương trình này. Những bài giảng được gọi là kỹ năng thì cũng thể hiện chung chung chưa chỉ ra được cách tiếp cận và xử lý công việc cụ thể là tiếp cận vấn đề như thế nào? Làm những nội dung gì? Quy trình thực hiện ra sao? … Thứ tư, Chương trình này đã được áp dụng qua 8 khoá đào tạo,sự điều chỉnh, bổ sung sát với tình hình thực tế. Tất nhiên trong quá trình giảng dạy giảng viên cũng đã có sự cập nhật những nội dung mới có liên quan đến nội dung bài giảng, đưa cho lớp photocopy để học tập,nghiên cứu (nhiều nhất là lớp nguồn 7). Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiều nội dung liên quan đến kinh tế xã hội chưa được cập nhật như: Vấn đề toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề chính quyền đô thị… một số kỹ năng liên quan đến hoạt động quản lý cũng chưa được cập nhật (nếu có cập nhật thì thời lượng và nội dung quá ngắn) như : kỹ năng giao tiếp, tin học trong quản lý, các kỹ năng quản lý (nói chuyện trước đám đông, ra quyết định, điều hành hội họp)… Theo ý kiến của học viên, nhiều nội dung của các học phần I, II, và III còn trùng lắp . Thứ năm, Trong quá trình giảng bài, giảng viên đã liên hệ với thực tiễn cuộc sống, đưa nhiều ví dụ để làm rõ thêm lý luận. Tuy nhiên, trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, có nhiều vấn đề mới nảy sinh, cần phải được tổng kết rút kinh nghiệm. Nhiều vấn đề lý luận cũng như thực tiễn đặt ra có liên quan trực tiếp đến nội dung các học phần chưa được làm sáng tỏ; chưa thực sự đáp ứng được những yêu cầu học viên, đặc biệt đối với đối tượng học viên là sinh viên mới tốt nghiệp (cán bộ tập sự ở Ban Tổ chức Thành ủy) chưa tham gia công tác, chưa có kinh nghiệm thực tiễn. Qua đánh giá thực trang nội dung và thực hiện chương trình, đề tài nêu ra những kiến nghị sửa chữa, bổ sung và đề xuất xây dựng chương trình mới áp 6 dụng cho các lớp từ lớp nguồn X trở đi nếu trường còn duy trì loại hình lớp này: cụ thể như sau: 3. Những nội dung của chương trình và thực hiện chương trình cần được sửa chữa và bổ sung: 3.1 Về đối tượng học viên: Thành uỷ và nhà trường cần thống nhất trong chiêu sinh học viên tham gia khoá học này. Các lớp đã qua cho thấy, đối tượng học viên tham dự các lớp nguồn có 2 loại: Đã tham gia công tác và chưa tham gia công tác (sinh viên vừa tốt nghiệp, cán bộ tập sự BTC Thành ủy) ví dụ như lớp nguồn 7, có 88,7% học viên là cán bộ tập sự; trong khi các lớp còn lại đa số học viên đã tham gia công tác. Hơn nữa, học viên các lớp Nguồn đã học có người vừa tham gia công tác vừa đi học, có người chưa tham gia công tác ở cơ sở. Do đối tượng khác nhau như vậy nên rất khó cho công tác đào tạo. Đề nghị bố trí học viên cùng loại đối tượng vào một lớp và nhất thiết phải học tập trung, không tham gia công tác trong quá trình học tập. 3.2 Về thời gian học tập (thời lượng) của chương trình. Tăng thêm thời gian học tập của chương trình nhằm đảm bảo chuyển tải tất cả nội dung đến với học viên. Tăng thêm thời gian học tập sẽ giúp cho học viên có điều kiện củng cố và nắm vững các kiến thức đã được học và có thời gian nghiên cứu sâu hơn. Thời lượng cụ thể căn cứ vào những nội dung cần thêm vào chương trình do chúng tôi đề xuất và được chấp thuận. 3.3 Về nội dung của chương trình: Nên thiết kế lại chương trình gồm 6 học phần như đã thực hiện từ khoá 1 đến khoá 3. Học phần 1 là học phần về những kiến thức chung cần thiết. Tăng thêm một số bài giảng sau đây vào học phần 1 (những kiến thức chung): • Bài thế giới quan và phương pháp luận khoa họ 8 tiết (Đã áp dụng cho lớp nguồn 8 và 9) 7 • Bài Hội nhập kinh tế quốc tế - 8 tiết • Bài Đạo đức của người cán bộ, công chức – 8 tiết . (Từ khoá 1 đến khoá 3 đã có bài này – không hiểu tại sao lại bỏ đi ?) • Bài Đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh – 8 tiết (Theo đề nghị của khoa Lịch sử Đảng và tư tưởng Hồ Chí minh). • Chuyển bài Chương trình phát triển kinh tế – Văn hóa – Xã hội của TP. Hồ Chí Minh đến năm 2010 ở học phần III về phần I (Kiến thức chung). • Mỗi học phần (trừ học phần 1)tăng thêm một ngày (8 tiết) nhằm cho học viên của lớp nguồn toạ đàm với những cán bộ chủ chốt (Bí thư, chủ tịch) đương chức ở cơ sở (do Ban Tổ chức Thành uỷ chọn và triệu tập) nhằm học hỏi kinh nghiệm từ thực tiễn. Nội dung các phần học và bài giảng theo chương trình mới được dự kiến như sau: • Tổng thời gian học tập toàn khóa: 563 tiết ( Trong đó có 80 tiết nghiên cứu thực tế và viết tiểu luận tốt nghiệp). ( các phần học và các bài cụ thể tham khảo trong sản phẩm của đề tài). 3.4 Về phương pháp giảng dạy: Chương trình các lớp nguồn đã qua bộc lộ điểm yếu trong phương pháp giảng dạy là giảng viên vẫn nặng về lý thuyết, phần thực hành chưa được quan tâm đúng mức, chưa đáp ứng được yêu cầu từ phía học viên.Vì vậy,có thể nghiên cứu giảm bớt phần lý thuyết tăng cường thêm giờ thực hành (thảo luận,làm bài tập). Tăng cường trao đổi kỹ năng, nghiệp vụ, xử lý các tình huống nhằm đạt được mục đích, yêu cầu của chương trình là hướng dẫn học viên vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế công tác ở cơ sở. Nên chăng quy định tỷ lệ lý thuyết và thực hành trong những bài giảng liên quan tới kỹ năng, nghiệp vụ là 50/50. Trong quá trình giảng dạy, giảng viên cần liên hệ thực tế nhiều hơn để minh hoạ làm sáng tỏ nội dung, những vấn đề thuộc về lý luận cũng như thực tiễn, giúp học viên củng cố và nắm vững kiến thức. 8 3.5. Về tài liệu học tập: Các khoa thống nhất nội dung đề cương các bài giảng và in thành tập bài giảng cho học viên.( Phần này nhóm đề tài đã làm và in cho lớp nguồn 9 bao gồm : Bài thế giới quan và phương pháp luận khoa học. Tập bài giảng từ tập 1 đến tập 5 (vì phần kiến thức chung (học phần I mới chỉ là đề xuất của nhóm đề tài). Tập bài giảng đã được in trên cơ sở thống nhất của nhóm đề tài và các khoa, Tuy nhiên các khoa cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới theo hướng tăng cường phần kỹ năng và các bài tập xử lý tình huống). 3.6. Về hình thức thi, kiểm tra các học phần. Ngoài hình thức thi viết để kiểm tra lại kiến thức của học viên như đã thực hiện, có thể tăng cường thêm hình thức thi vấn đáp để kiểm tra khả năng ứng xử, khả năng xử lý tình huống, khả năng vận dụng kiến thức của học viên khi xử lý tình huống cụ thể. Phần kết luận Theo chỉ đạo của Thành uỷ, trường cán bộ thành phố đã xây dựng chương trình “bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên và kỹ năng công tác lãnh đạo, quản lý” cho các lớp cán bộ nguồn. Chương trình đã đượcthực hiện qua 8 khoá bối dưỡng. Thực tế cho thấy chương trình đã góp phần giúp cho các cán bộ trẻ thuộc diện quy hoạch dài hạn cho các chức danh chủ chốt ở cơ sở có những kiến thực cơ bản cần thiết của một chuyên viên; hơn nữa, chương trình còn trang bị những kiến thức và một số kỹ năng cơ bản về lãnh đạo và quản lý của một cán bộ chủ chốt ở cơ sở. Tuy nhiên, cả về nội dung chương trình, về phương pháp giảng dạy và tổ chức lớp học cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Chỉ ra được những hạn chế này và điều chỉnh, bổ sung để nhằm hoàn thiện chương trình cho các lớp nguồn là một việc làm cần thiết. Hy vọng đề tài này góp một phần vào việc thực hiện nhiệm vụ này./. 9

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfttdetailopnguon_1378.pdf