Định hướng phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam trong tiến trình hội nhập

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP XI MĂNG 1.1 Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh 4 1.1.1 Mô hình quản trị chiến lược toàn diện 4 1.1.2 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường bên ngoài 5 1.1.3 Ảnh hưởng từ môi trường nội bộ 6 1.1.4 Xác định các mục tiêu của ngành 7 1.1.5 Xây dựng chiến lược ngành 7 1.2 Sơ lược về ngành công nghiệp xi măng 8 1.2.1 Đặc điểm của ngành công nghiệp xi măng 8 1.2.2 Chủng loại xi măng 9 1.2.3 Công nghệ sản xuất xi măng 10 1.2.4 Tầm quan trong của ngành công nghiệp xi măng trong nền kinh tế quốc dân 10 1.3 Gia nhập WTO cơ hội và thách thức 11 1.3.1 cơ hội mang lại từ WTO 11 1.3.2 Thách thức 12 CHƯƠNG 2 : MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP XI MĂNG VIỆT NAM 2.1 Đánh giá về môi trường kinh doanh của ngành công ngiệp xi măng Việt Nam 14 2.1.1 Môi trường bên ngoài 14 2.1.1.1 Ảnh hưởng của yếu tố chính trị – pháp luật 14 2.1.1.2 Ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế Trung Quốc 2.1.1.3 Ảnh hưởng của yếu tố kinh tế 21 2.1.1.4 Văn hoá xã hội 22 2.1.1.5 Ảnh hưởng của yếu tố khoa học công nghệ 22 2.1.2 Môi trường bên trong 23 2.1.2.1 Nguồn nhân lực 23 2.1.2.2 Hoạt động Marketing ở các công ty xi măng 24 2.1.2.3 Nguyên vật liệu sản xuất xi măng 24 2.2 Thực trạng của ngành công nghiệp xi măng Việt Nam trong thời gian qua 25 2.2.1 Sản xuất và tiêu thụ xi măng 25 2.2.2 Giá thành sản xuất xi măng 28 2.2.3 Công nghệ kỹ thuật hiện tại 30 2.2.4 Nguồn vốn đầu tư cho ngành công nghiệp xi măng 31 2.2.5 Tình hình thực hiện đầu tư 31 2.2.6 Khuynh hướng thị trường xi măng 32 2.3 Khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp xi măng Việt Nam 33 2.3.1 Ma trận đánh giá các ỵếu tố bên ngoài 33 2.3.2 Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong 35 2.3.3 Ma trận Swot 36 Kết luận chương 2 39 CHƯƠNG 3 : NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP XI MĂNG TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP 3.1 Dự báo nhu cầu tiêu thụ xi măng ở thị trường Việt Nam 40 3.2 Quan điểm phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam 41 2.3 Tình hình thực hiện đầu tư trong thời gian tới 41 3.4 Giải pháp phát triển ngành công nghiệp xi măng trong tiến trình hội nhập 43 3.4.1 Xây dựng chiến lược dài hạn về nghiên cứu phát triển 43 3.4.2 Phân bổ, sử dụng hợp lý nguồn lực để đạt được lợi thế cạnh tranh 43 3.4.3 Giải pháp huy động vốn cho ngành công nghiệp xi măng 44 3.4.4 Đầu tư và đổi mới công nghệ 45 3.4.5 Đào tạo nguồn nhân lực 46 3.4.6 Hoạt động marketing 47 3.4.7 Đối phó với xi măng ngoại nhập trong tiến trình hội nhập 48 3.5 Một số kiến nghị về chính sách và cơ chế quản lý của Nhà nước 49 Kết luận 51 Tài liệu tham khảo Phụ lục LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài : “Mục tiêu tổng quát của chiến lược 10 năm 2001 – 2010 là : Đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao.” (Trích văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX – Trang 159) (1) Yêu cầu qui hoạch đô thị hóa ngày càng cao, kinh tế phát triển yêu cầu đáp ứng ngày càng cao của cơ sở hạ tầng nhà cửa, kho tàng, bến bãi, nhu cầu về nhà ở trong các tầng lớp dân cư ngày càng tăng, trước tình hình đó nhu cầu về xi măng tăng nhanh trong giai đoạn này bởi vì ngành công nghiệp xi măng luôn luôn gắn liền với ngành xây dựng cơ bản. Trước yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa, ngành công nghiệp xi măng cần phải được chú trọng phát triển để đáp ứng các nhu cầu về xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng hiện nay ngành công nghiệp xi măng Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức to lớn cung không đáp ứng đủ cầu trong nước thường xuyên dẫn đến tình trạng sốt xi măng gây hậu quả xấu cho nền kinh tế. Vì vậy, việc xây dựng chiến lược, tìm hướng đi chung cho ngành công nghiệp xi măng trong xu thế hội nhập dưới áp lực phát triển và cạnh tranh trong thời điểm hiện nay là việc làm cấp thiết. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài “ Định hướng phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam trong tiến trình hội nhập” 2. Mục đích nghiên cứu : Trong phạm vi nghiên cứu nhất định, luận văn này nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản sau : - Hệ thống hóa các lý luận cơ bản của việc nghiên cứu chiến lược phát triển kinh doanh trong cơ cấu phát triển nền kinh tế - Phân tích và đánh giá những ảnh hưởng của môi trường bên ngoài và bên trong ảnh hưởng trực tiếp đến ngành công nghiệp xi măng Việt Nam, phân tích thực trạng của ngành công nghiệp xi măngViệt Nam, xác định các lợi thế cũng như đe dọa đối với ngành công nghiệp này. - Từ những cơ sở trên đưa ra những giải pháp định hướng phát triển cho ngành công nghiệp xi măng Việt Nam trong tiến trình hội nhập. 3. Phương pháp nghiên cứu : Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, kết hợp các kỹ thuật nghiệp vụ như : thống kê, tổng hợp, so sánh, . Để nghiên cứu đề tài này. 4. Đối tượng nghiên cứu : Các doanh nghiệp sản xuất xi măng ở Việt Nam gồm các công ty thành viên của Tổng công ty xi măng Việt Nam, Các công ty liên doanh và các nhà máy xi măng địa phương. 5. Phạm vi nghiên cứu : Tình hình sản xuất kinh doanh xi măng ở Việt Nam, bao gồm một số nội dung chủ yếu nhằm xác định thực tế tình hình sản xuất kinh doanh xi măng ở Việt Nam để định hướng một cách đúng đắn các giải pháp nhằm phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam. 6. Kết quả nghiên cứu: Trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu này, luận văn đã đánh giá được những tác động của môi trường kinh doanh đối với ngành công nghiệp xi măng Việt Nam, thực trạng của ngành công nghệp xi măng Việt Nam trong thời điểm hiện tại để đưa ra các giải pháp định hướng phát triển ngành công nghiệp xi măng trong tiến trình hội nhập theo đúng qui trình hoạch định chiến lược. Bao gồm việc đánh giá các yếu tố tác động đến ngành công nghiệp xi măng, các dự báo có liên quan đến nhu cầu xi măng làm cơ sở để tính toán công suất cũng như phát triển các dự án xi măng để bổ sung cho nhu cầu xi măng cần thiết. Luận văn cũng đã đề ra các giải pháp định hướng phát triển cho ngành công nghiệp xi măng : các giải pháp về vốn, phân bổ nguồn lực, đổi mới công nghệ, khoa học kỹ thuật, nguồn nhân lực và các kiến nghị cần thiết để phát triển ngành công nghiệp xi măng trong tiến trình hội nhập. 7. Bố cục của Luận văn: Chương 1 : Cơ sở lý luận về ngành công nghiệp xi măng Chương 2 : Phân tích những tác động của môi trường đến ngành công nghiệp ximăng Việt Nam và thực trạng về ngành công nghiệp xi măng trong thời điểm hiện nay cũng như khuynh hướng thị trường trong thời gian tới. Chương 3 : Những giải pháp phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam trong tiến trình hội nhập

pdf54 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/08/2013 | Lượt xem: 4669 | Lượt tải: 21download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Định hướng phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam trong tiến trình hội nhập, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
% Các liên doanh xi măng (2) Tên công ty Địa điểm Công suất thiết kế (triệu tấn) Sản xuất thực tế (triệu tấn) Thị phần Chinfon Hải Phòng 1.8 2.17 9.5% Holcim Kiên Giang 2.3 2.04 8.9% Luxvaski Thừa Thiên Huế 0.5 0.5 2.2% Nghi Sơn Thanh Hóa 2.15 2.11 9.3% Trang 31 2.3 1.8 1.4 1.4 0.4 1.2 2.15 2.3 1.8 0 0.5 1 1.5 2 2.5 Hoàng Thạch Bỉm Sơn Bút Sơn Hoàng Mai Hải Phòng Hà Tiên II Nghi Sơn Holcim Chinfon Sản lượng của các công ty xi măng tại Việt Nam (2) Đến thàng 07/2004, tổng sản lượng xi măng cả nước sản xuất là 13.581.670 tấn xi măng. Minh họa cho điều này. VNCC đã sản xuất 6.906.730 tấn, Các công ty liên doanh sản xuất 4.041.940 tấn và những nhà sản xuất địa phương đã sản xuất 2.633.000 tấn. Và tính đến thời điểm này Việt Nam đã nhập khẩu 1.984.000 tấn clinker để đáp ứng nhu cầu trong nước. Hiện tại, năng suất sản xuất xi măng của Việt Nam không đáp ứng được nhu cầu. Vì hiện nay nước ta phải nhập clinker để đáp ứng nhu cầu thiếu gạch nung cho sản xuất xi măng. Tổng khối lượng clinker đã nhập là 4,6 triệu tấn trong năm 2004, chủ yếu do VNCC, nhà cung cấp xi măng lớn nhất Việt Nam (51%). Xuất khẩu xi măng vẫn còn là nhiệm vụ không thể làm được của ngành xi măng Việt Nam. Trong khi nhu cầu xi măng luôn luôn vượt quá năng suất sản xuất, tất cả các nhà máy đều tập trung vào thị trường nội địa và đó là thị phần chủ yếu của họ và là nhiệm vụ hiện tại. 2.2.2 Giá thành sản xuất xi măng Hiện giá xi măng tại các tỉnh phía Bắc ở mức từ 720 đến 760.000 đồng/tấn, tại các tỉnh phía nam từ 840 đến 920.000 đồng/tấn. Dự kiến trong thời gian sắp tới giá xi măng sẽ có những biến động lớn, để tránh những biến động lớn về giá xi măng trên thị trường, gây ảnh hưởng tới tiến độ xây dựng các công trình và nền kinh tế, Bộ xây dựng đã yêu cầu các doanh nghiệp phải cố gắng giữ ổn định giá bán xi măng. Trang 32 Với sự đổi mới về mức giá, CPI tăng 7% so với tháng 12/2003, tình trạng lạm phát và hơn thế nữa giá xăng dầu tăng lên đáng kễ,…. Kết quả là giá của những nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất xi măng cũng gia tăng So sánh giá vật liệu thô sản xuất xi măng thay đổi so với giá 2004 (12) Than đá +4% Dầu Do + 30% Giấy bao +2,98% Điện +1.65% Giá Xi Măng Đất sét +2.13% Thạch cao +6.36%) Phí VC +10% Silica +2.3% Sức ép giá cả đối với xi măng Thứ trưởng Tống Văn Nga cho biết, Bộ Xây dựng và Hiệp hội xi măng Việt Nam sẽ phối hợp với các ngành liên quan xây dựng lộ trình về giá bán xi măng. Trước mắt Bộ xây dựng kiến nghị chính phủ giảm thuế nhập khẩu clinker trong khu vực ASEAN xuống còn 10% sau đó kiến nghị giảm tiếp còn 10%. Đối với clinker nhập ngoài ASEAN sẽ kiến nghị giảm từ mức 20% hiện nay xuống còn 15%. Theo Ông Nga, việc giảm thuế không chỉ giúp các doanh nghiệp vượt qua khó khăn để bình ổn thị trường xi măng mà còn phù hợp với xu hướng hội nhập khu vực mậu dịch tư do ASEAN (AFTA) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong thời gian tới. Trang 33 Hiện giá clinker trên thị trường thế giới đã tăng 20,8% so với 2004. riêng giá nhập khẩu clinker (FOB) từ Thái Lan đã lên tới 24 USD/tấn. Theo thông báo của các đối tác cung ứng nước ngoài, đến tháng 11 giá clinker sẽ là 25USD/tấn và 2006 sẽ là 28USD/tấn. Trong bối cảnh này, theo tính toán của nhiều doanh nghiệp, nếu tiếp tục sản xuất sẽ rơi vào tình trạng lỗ nặng. Riêng công ty xi măng Hà Tiên 1, đơn vị chính cung ứng xi măng cho thị trường phía Nam, ước tính mức lỗ trong năm nay khoảng 100 tỷ đồng. Do đó một số doanh nghiệp không muốn nhập ckinker và hạn chế sản xuất, dẫn đến nguy cơ thiếu hụt xi măng trên địa bàn cả nước Theo Ông Nguyễn văn Thiện – Chủ tịch Hiệp hội xi măng Việt Nam, ước tính lượng xi măng thiếu hụt ở phía Nam là gần 2 triệu tấn do đã bắt đầu mùa khô nên nhu cầu xây dựng ở khu vực này tăng cao. 2.2.3 Công nghệ kỹ thuật hiện tại Cho đến năm 2005 ngành công nghiệp Việt Nam vẫn tồn tại 03 phương pháp sản xuất xi măng : Phương pháp ướt : Gồm các nhà máy xi măng Hải Phòng, Nhà máy xi măng Hà Tiên 2 và Nhà máy xi măng Bỉm Sơn. Đặc điểm của loại công nghệ này là các chỉ tiêu tiêu hao vật tư phụ tùng thay thế, nhiên liệu, điện năng cao hơn những phương pháp khác, khả năng tự động hóa thấp, năng suất lao động thấp và phải cần nhiều nhân công. Phương pháp khô : Gồm các nhà máy xi măng Hoàng Thạch 1&2; xi măng Bút Sơn; Xi măng liên doanh Chinfon 1; xi măng liên doanh Holcim; xi măng liên doanh Nghi Sơn; xi măng liên doanh Vân Xá và một dây chuyền của xi măng Hà Tiên 2. đặc điểm của loại công nghệ này là tiết kiệm được nguyên, nhiên liệu, điện năng, vật tư phụ tùng thay thế cao hơn phương pháp ướt, khả năng tư động hóa cao và năng suất lao động cao. Phương pháp bán khô : Gồm 55 nhà máy xi măng lò đứng, các chỉ tiêu tiêu hao vật tư, phụ tùng thay thế cũng như điện năng; nguyên nhiên liệu ở mức trung bình so với hai phương pháp trên Sản xuất xi măng theo phương pháp khô so sánh về trình độ công nghệ phương pháp này tiên tiến hơn phương pháp bán khô và phương pháp ướt, đặc trưng của sự chênh lệch về công nghệ là tiêu hao vật tư, năng lượng và các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường, mức độ hoàn thiện, tự động hóa các quá trình sản xuất kinh doanh thể hiện qua năng suất lao động của Trang 34 công nhân sản xuất trực tiếp và quan trọng nhất là chất lượng của sản phẩm xi măng và clinker. 2.2.4 Nguồn vốn đầu tư cho ngành công nghiệp xi măng Đầu tư cho sản xuất xi măng đang tập trung chính vào các doanh nghiệp Nhà nước nhưng lượng vốn chủ sở hữu trong các doanh nghiệp này lại không lớn và đã dùng để đầu tư vào nhiều dự án khác. Do vậy, đa số các doanh nghiệp nhà nước phải dùng vốn vay là chính. Nguồn vốn đầu tư cho các ngành khan hiếm. Việc huy động các nguồn vốn trong nước và đầu tư trực tiếp của nước ngoài bị hạn chế trong những năm gần nay. Nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước đầu tư cho các dự án xi măng trong những năm qua không quá 25% trên tổng vốn đầu tư xây lắp (vốn thiết bị hầu như vay của nước ngoài chiếm khoảng 50% giá trị vốn đầu tư của dự án). Đối với các dự án xi măng lò đứng đầu tư trong giai đoạn 1993- 1998 phải chịu lãi suất cao và thời gian trả nợ ngắn, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả đầu tư của dự án. 2.2.5 Tình hình thực hiện đầu tư - Trong giai đoạn 10 năm qua việc đầu tư của ngành mới chỉ giải quyết được về nhu cầu xi măng của thị trường trong nước, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu xi măng của từng vùng (Bắc, Trung và Nam), cũng như sự mất cân đối giữa công suất Ckinker và công suất nghiền xi măng ( hiện thiếu khoảng 2 – 2,5 triệu tấn clinker/năm cho các trạm nghiền xi măng khu vực miền Trung và miền Nam). - Hầu hết các nhà máy xi măng lò đứng đều cần có sự hỗ trợ về vấn đề tự động hóa và cải tạo môi trường. - Chi phí đầu tư trong sản xuất xi măng cao (giá thành sản xuất giữa các nhà máy xi măng ở khu vực FDI thấp hơn so với các nhà máy xi măng Việt Nam quản lý), ngoài những yếu tố do tăng chi phí nguyên nhiên liệu ( điện, nước, than, xăng dầu,…), dịch vụ phí và cước phí vận chuyển. Riêng việc vận chuyển bằng đường sắt của các dự án xi măng lớn khai thác không hiệu quả, nhất là sử dụng cho vận chuyển xi măng hoặc clinker. Một tin đáng mừng cho ngành công nghiệp xi măng Việt Nam là : Công ty xi măng Hà Tiên 1 và Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt nam, Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Công thương Việt Nam đã ký kết hợp động tài trợ vốn cho dự án xây dựng nhá máy xi măng Bình Phước có qui mô về vốn đấu tư lớn nhất nước ( gần 4.800 tỷ Trang 35 đồng), công suất thiết kế là 2 triệu tấn/năm . nhà máy được đặt tại xã Thanh Lương- H.Bình Long- Tỉnh Bình Phước. 2.2.6 Khuynh hướng thị trường xi măng Chúng ta cần phải nhìn nhận rằng thị trường xi măng sẽ mang đến cuộc cách mạng trong thập niên tới vì nhiều lý do : • Xi măng xá sẽ thay thế vị trí của xi măng bao • Những nhà sản xuất xi măng sẽ đạt được tiêu chuẩn chất lượng như PC40 hoặc PCB40 và PCB30 sẽ biến mất trong thị trường. Sự tiến triển về mặt kỹ thuật chuyên môn sẽ được khấu trừ. • Các nhà máy xi măng lò đứng sẽ giảm về số lượng và chỉ một vài nhà máy xi măng lớn được chấp nhận tiếp tục hoạt động. • Những dự án xi măng mới sẽ được xây dựng dọc theo cả nước và nó tạo ra việc phân phối bình thường về mặt địa lý của vị trí sản xuất xi măng. • Dựa vào sự định hướng của Chính phủ, hội nhập AFTA, WTO, thuế nhập khẩu của xi măng và clinker sẽ giảm xuống còn 5%. Xi măng và clinker sẽ được nhập ngày càng nhiều hơn từ những quốc gia thừa xi măng như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia và những Nhà máy sản xuất xi măng của Việt Nam sẽ đối mặt với sự cạnh tranh dữ dội với những nhà máy xi măng ở nước ngoài. Xuất khẩu xi măng có thể là cách để giải quyết vấn đề này ngay trước mắt 2.3 Khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp xi măng Viêt Nam 2.3.1 Ma trận đánh giá các ỵếu tố bên ngoài Trang 36 TT Các yếu tố bên ngoài Mức độ quan trọng của các yếu tố Phân loại Số điểm quan trọng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiềm năng phát triển thị trường lớn, nhu cầu về nhà ở ngày càng tăng, Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định Chính trị ổn định, chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển. Năng lực sản xuất ximăng dư thừa Chủ trương đô thị hoá của Nhà nước và xây dựng các đặc khu kinh tế để kích thích phát triển kinh tế phát triển . Thu nhập khả dụng của người tiêu dùng tăng. Nhu cầu xây dựng tăng Sự tăng giá nguyên , nhiên liệu đầu vào cho SX xi măng Xu thế hội nhập khu mậu dịch tự do ASEAN và tham gia WTO Sự quản lý của Nhà nứơc và việc ưu tiên các doanh nghiệp đầu tư ngành công nghiệp xi măng Sự thiếu hụt clinker để sản xuất xi măng Nguồn vốn đầu tư cho Ngành công nghiệp xi măng 0.1 0.12 0.08 0.1 0.08 0.12 0.11 0.08 0.09 0.11 3 2 2 3 3 1 3 3 3 2 0.3 0.24 0.16 0.3 0.24 0.12 0.33 0.24 0.27 0.22 Tổng cộng 1.00 2.42 Trang 37 Nhận xét : Số điểm quan trọng tổng cộng là 2.42 (so với mức trung bình là 2.5) cho thấy khả năng phản ứng của ngành ở dưới mức trung bình đối với các cơ hội và mối đe doạ từ môi trường bên ngoài. Như đã thấy mức độ quan trọng (0.12) “ Sự tăng giá nguyên , nhiên liệu đầu vào cho SX xi măng” là yếu tố bên ngoài quan trọng nhất ảnh hưởng đến ngành công nghiệp xi măng và kế đến là “Nguồn vốn đầu tư cho Ngành công nghiệp xi măng” mức phân loại 1 và 2 của các yếu tố này cho thấy các chiến lược của ngành không ứng phó có hiệu quả với sự thay đổi giá nguyên nhiên liệu và nguồn vốn đầu tư. Vì vậy, trong xây dựng chiến lược phát triển phải chú trọng đến việc nâng cao khả năng phản ứng đối với các yếu tố trên. 2.3.2 Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong TT Các yếu tố bên trong Mức độ quan trọng của các yếu tố Phân loại Số điểm quan trọng 1 2 3 4 5 Trữ lượng các loại nguyên liệu đầu vào SX xi măng ( đá vôi, đất sét,…) Trình độ quản lý của các cấp quản lý trong ngành Tay nghề của người lao động trong ngành Lợi nhuận biên của ngành công nghiệp xi măng cao. Vốn đầu tư cao, thời gian hoàn vốn dài 0.15 0.08 0.08 0.1 0.11 3 2 2 3 1 0.45 0.16 0.16 0.3 0.11 Trang 38 6 7 8 9 10 Sự đầu tư đổi mới công nghệ, thay đổi máy móc thiết bị trong từng doanh nghiệp Hoạt động markerting ở các công ty xi măng trong nước còn yếu Tình trạng ô nhiểm môi trường Chất lượng sản phẩm xi măng ngày càng được cải tiến tốt hơn Sự cạnh tranh của những công ty cùng ngành 0.12 0.08 0.09 0.1 0.09 2 2 4 4 3 0.24 0.16 0.36 0.4 0.27 Tổng cộng 1.00 2.61 Nhận xét : Số điểm quan trọng tổng cộng là 2.61 cho thấy ngành xi măng Việt Nam đang ở mức độ TB khá về vị trí chiến lược nội bộ tổng quát. Cần chú ý các yếu tố về vốn đầu tư cho doanh nghiệp, đầu tư đổi mới công nghệ, thay đổi máy móc thiết bị và hoạt động marketing ở các doanh nghiệp xi măng để các công ty xi măng có thể ứng phó kịp thời với sự thay đổi của môi trường nội bộ. Cần tiếp tục duy trì, củng cố những mặt mạnh, và không ngừng đổi mới, cải thiện, khắc phục những mặt yếu kém 2.3.3 Ma trận Swot A. Điểm mạnh : - Tổng sản phẩm quốc nội liên tục tăng ổn định qua các năm - Tình hình chính trị ổn định, các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển. Trang 39 - Nhà nước có chính sách bảo hộ và khuyến khích các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp xi măng - Các nguyên liệu đầu vào sản xuất xi măng dồi dào và chất lượng tốt - Sản phẩm xi măng được cải tiến và theo kịp nhu cầu về chất lượng của thị trường. B. Điểm yếu : - Sự phân bổ chưa hợp lý về địa điểm đặt nhà máy và thị trường tiêu thụ - Trình độ quản lý và trình độ chuyên môn chưa đáp ứng với nhu cầu thực tiễn - Hoạt động marketing trong bán hàng còn yếu, không mang tính chuyên môn - Các dự án đầu tư cho xi măng triển khai chậm - Nguồn vốn đầu tư cho ngành công nghiệp xi măng chưa được huy động một cách hiệu quả nhất C. Cơ hội : - Tiềm năng phát triển thị trường lớn, Chủ trương đô thị hóa của Nhà Nước và nhu cầu đầu tư xây dựng ngày càng tăng - Sự phục hồi kinh tế của các nước trong khu vực và thế giới - Có sự hỗ trợ về nguồn vốn đầu tư của Ngân hàng D. Nguy cơ : - Giá nguyên, nhiên liệu ngày càng tăng làm ảnh hưởng đến giá thành sản xuất xi măng cũng như chi phí vận chuyển - Sự hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đấn sự cạnh tranh của các quốc gia trong khu vực - Nạn ô nhiểm môi trường đang được chính phủ quan tâm Trang 40 MA TRẬN SWOT SWOT Các cơ hội (O) : 1.Tiềm năng phát triển thị trường lớn, Chủ trương đô thị hóa của Nhà Nước và nhu cầu đầu tư xây dựng ngày càng tăng 2.Sự phục hồi kinh tế của các nước trong khu vực và thế giới 3.Có sự hỗ trợ về nguồn vốn đầu tư của Ngân hàng Các đe doạ (T) : 1.Giá nguyên, nhiên liệu ngày càng tăng làm ảnh hưởng đến giá thành sản xuất xi măng cũng như chi phí vận chuyển 2.Sự hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đấn sự cạnh tranh của các quốc gia trong khu vực 3. Nạn ô nhiểm môi trường đang được chính phủ quan tâm Các điểm mạnh (S) : 1. Tổng sản phẩm quốc nội liên tục tăng ổn định qua các năm 2.Tình hình chính trị ổn định, các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển. 3.Nhà nước có chính sách bảo hộ và khuyến khích các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp xi măng 4.Các nguyên liệu đầu vào sản xuất xi măng dồi dào và chất lượng tốt 5.Sản phẩm xi măng được cải tiến và theo kịp nhu cầu về chất lượng của thị trường. Kết hợp SO : S1, S2, S3, S5, + O1, O2, O3 Đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất sx đủ xi măng đáp ứng nhu cầu thị trường S4 + O3 : Xây dựng chiến lược dài hạn về nghiên cứu phát triển nền công nghiệp xi măng Kết hợp ST : S1, S2, S3, S5 + T2: Xây dựng chính sách phát triển hợp lý trong tiến trình hội nhập S1, S2, S3, S5 + T1, T3: Đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất xi măng để giảm thiểu chi phí nguyên nhiên liệu, giảm thiểu ô nhiểm môi trường Các điểm yếu (W) : 1.Sự phân bổ chưa hợp lý về địa điểm đặt nhà máy và thị trường tiêu thụ 2.Trình độ quản lý và trình độ chuyên môn chưa đáp ứng với nhu cầu thực tiễn 3.Hoạt động marketing trong bán hàng còn yếu 4.Các dự án đầu tư cho xi măng triển khai chậm 5.Nguồn vốn đầu tư cho ngành công nghiệp xi măng chưa được huy động một cách hiệu quả nhất Kết hợp WO : W1 + O1, O2 : Phân bổ, sử dụng hợp lý nguồn lực để đạt được lợi thế cạnh tranh W2,W3,W4,W5 + O1, O2 : - Xây dựng chính sách marketing hợp lý - Đào tạo cán bộ quản lý Kết hợp WT : W5 + T2 : Giải pháp huy động vốn hợp lý từ nhiều nguồn Trang 41 Kết luận chương 2 Theo phân tích trên, Ngành công nghiệp xi măng Việt Nam bị tác động bởi nhiều yếu tố như Chính trị, pháp luật, kinh tế, môi trường kinh doanh quốc tế, văn hóa xã hội, khoa học công nghệ, các yếu tố thuộc môi trường nội bộ như nguồn nhân lực, hoạt động marketing, nguyên vật liệu,…. Và thông qua sự phân tích thực trạng của ngành công nghiệp xi măng Việt Nam về năng lực sản xuất và tiêu thụ xi măng, nguồn vốn, thực trạng về khoa học công nghệ, khuynh hướng thị trường và việc phân tích ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài, bên trong cũng như ma trận về những điểm mạnh ,yếu, cơ hội, nguy cơ của ngành, chúng ta đã xác định được những thuận lợi và thách thức mà ngành xi măng Việt Nam đang đứng trước, cụ thể là : Qui hoạch mạng lưới sản xuất xi măng chưa theo kịp nhu cầu thị trường. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, hiện trạng đó bắt nguồn từ nhiều phía, trong đó có hai nguyên nhân cơ bản : Thiếu tầm chiến lược, đầu tư vốn dàn trải. Mặc khác có những dự án được xác lập đúng quy hoạch, biết đón trước nhu cầu nhưng xây dựng chậm chạp. Nguyên nhân trước tiên do thiếu vốn, các dự án đầu tư chủ yếu là vốn vay, vốn vay bị trục trặc , tiến độ xây dựng bị đình trệ. Qua phân tích chúng ta cũng nhận thấy được nguồn nguyên liệu để sản xuất xi măng ở Việt nam có trữ lượng lớn đây là một yếu tố thuận lợi. Tổng sản phẩm quốc nội liên tục tăng và ổn định qua các năm, tình hình chính trị ổn định, các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, Nhà nước có chính sách bảo hộ và khuyến khích các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp xi măng. Bên cạnh đó, sự phân bổ chưa hợp lý về địa điểm đặt nhà máy và thị trường tiêu thụ. Trình độ quản lý và trình độ chuyên môn chưa đáp ứng với nhu cầu thực tiễn, hoạt động marketing trong bán hàng còn yếu, các dự án đầu tư cho xi măng triển khai chậm. Trang 42 CHƯƠNG 3 : NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP XI MĂNG VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP 3.1 Dự báo nhu cầu tiêu thụ xi măng ở thị trường Việt Nam Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp xi măng đến năm 2010 đã được Chính phủ phê duyệt ( QĐ số 970/1997/QĐ-TTg, ngày 14/11/1997) trong đó dự báo về nhu cầu tiêu thụ xi măng đến năm 2010 cũng đã được xem xét, tính toán điều chỉnh lại cho phù hợp với nhu cầu xi măng trong nước Dự báo nhu cầu và sản lượng xi măng cung cấp cho thị trường đến năm 1010 (3) 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Cung cấp 28,9 33,6 38,2 45,8 50,7 55,2 Nhu cầu 29,2 33,0 36,5 40,1 44,2 48,6 - 0,3 0,6 1,7 5,7 6,5 6,6 Dự báo về sản lượng cung cấp và nhu cầu về xi măng (3) 0 10 20 30 40 50 60 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Cung cấp Nhu cầu Theo dự báo về nhu cầu tiêu thụ và sản lượng dự kiến sản xuất thì trong năm 2005 nhu cầu trong nước vẫn vượt quá cung cho nên cần phải Trang 43 nhập clinker để đáp ứng nhu cầu trong nước. Nhưng từ năm 2006 trở đi cung sẽ vượt quá cầu do nhiều dự án đầu tư cho công nghiệp xi măng đi vào hoạt động đây là vấn đề đặt ra cho chúng ta trong việc tiêu thụ xi măng trong tiến trình hội nhập 3.2 Quan điểm phát triển ngành công nghiệp xi măng Quan điểm chung Các chiến lược đề ra phải phù hợp với đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước theo chủ trương : ƒ Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự định hướng CNXH. Việc phát triển kinh tế phải giữ vững độc lập tự chủ theo con đường phát triển đi lên CNXH mà chúng ta đã lựa chọn. ƒ Xây dựng một nền kinh tế mở đa phương hoá, đa dạng hoá với các quan hệ kinh tế đối ngoại, hướng mạnh về xuất khẩu thay thế nhập khẩu theo xu thế mở cửa đón nhận đầu tư, hợp tác và phân công lao động quốc tế , giúp chúng ta đón nhận vốn đầu tư , khoa học kỹ thuật nước ngoài nhằn khai thác hiệu quả tiềm năng của nước nhà . ƒ Tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh , công bằng, bảo đảm nâng cao sức cạnh tranh chung của ngành giúp cho nền kinh tế hội nhập. Bảo đảm đạt được hài hòa lợi ích doanh nghiệp và kinh tế xã hội Quan điểm ngành và mục tiêu cụ thể của từng doanh nghiệp ƒ Các giải pháp chiến lược đề ra phải phù hợp tình hình chung của ngành như tình hình cung - cầu , phải phù hợp với định hướng phát triển chung theo qui hoạch ngành, chất lượng xi-măng chung của ngành, sự áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật…nhằm đáp ứng nhu cầu cần thiết cho sự phát triển kinh tế -xã hội. ƒ Các giải pháp chiến lược đề ra phải phù hợp với tình hình chung của doanh nghiệp Việt Nam trong tình hình hiện tại. Ngoài ra do các công ty có những đặc trưng khác nhau nên ngoài những chiến lược chung, chúng ta nên có những giải pháp riêng phù hợp với đặc điểm từng công ty. 3.3 Tình hình thực hiện đầu tư trong thời gian tới - Sẽ có 21 dự án xi măng được đưa vào hoạt động từ năm 2005 đến năm 2008 Trang 44 - Năm 2006 cung sẽ đáp ứng đủ cầu trong nước Hiện nay cả nước có 13 Nhà máy xi măng lò quay và 53 nhà máy xi măng lò đứng ( tổng công suất thiết kế 22,017 triệu tấn) và 33 cơ sở nghiền xi măng (tổng công suất thiết kế trên 5 triệu tấn/năm). Theo qui hoạch phát triển của ngành xi măng và trên cơ sở các nhà máy xi măng đang được đầu tư xây dựng, thì sẽ có thêm 21 nhà máy xi măng mới được đưa vào hoạt động trong giai đoạn 2005 – 2008. 21 dự án nhà máy mới có tổng công suất thiết kế là 30,25 triệu tấn, hiện đang được gấp rút đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động từ năm 2005- 2008. cụ thể mốc thời gian các nhà máy đi vào hoạt động : • Cuối năm 2005 có nhà máy xi măng Hải Phòng mới, nhà máy xi măng Sông Gianh • Năm 2006 có 2 dự án xi măng Yên Bình (Yên Bái), xi măng Sông Thao (Phú Thọ) • Năm 2007 có 3 dự án hoàn thành là xi măng Bình Phước, Xi măng Thái nguyên, Xi măng Chifon Hải Phòng 2 • Năm 2008 có 14 dự án nhà máy xi măng hoàn thành, ước tính đến năm 2007 nguồn cung sẽ lên đến 36,5 triệu tấn đủ để đáp ứng nhu cầu khoảng 35,3 triệu tấn và đến năm 2008 sẽ dư thừa khoảng 2 triệu tấn, dự báo nhu cầu năm 2008 sẽ khoảng 40,1 triệu tấn và cung đạt 42,5 triệu tấn. Ngoài những dự án được xây theo kế hoạch, ngành xi măng còn có thêm 12 nhà máy xi măng với tổng công suất thiết kế l2 7,95 triệu tấn/năm . những nhà máy này sẽ đi vào hoạt động năm 2007- 2009. hiện có 13 dự án tiềm năng kêu gọi đầu tư là xi măng Sông Gianh 2 (Quảng Bình), xi măng Tây Thanh Hoá, xi măng Điện Biên, xi măng Bạch Đằng (Hà Nam), xi măng Nam Đông(Thừa Thiên Huế), xi măng Bắc Cạn, xi măng Hà Tĩnh, Bình Phước 2, Thăng Long 2, Hạ Long 2,…. cộng thêm 20 nhà máy xi nmăng lò đứng đã có kế hoạch chuyển đổi sang lò quay trong giai đoạn từ nay đến năm 2009. Để cân đối cung cầu đến năm 2020, ngành xi măng sẽ phải tiếp tục đầu tư vào các dự án tiềm năng, trước hết đầu tư và mở rông các dự án có điều kiện giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển clinker và xi măng. 3.4 Giải pháp phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam trong tiến trình hội nhập Trang 45 3.4.1 Xây dựng chiến lược dài hạn về nghiên cứu phát triển ¾ Nguồn clinker hiện nay các công ty chúng ta còn phụ thuộc rất nhiều vào lượng clinker nhập khẩu, đây chỉ là giải pháp tình thế và ngắn hạn về lâu dài chúng ta không thể phụ thuộc quá lớn vào clinker nhập khẩu do đó cần phải nghiên cứu nguồn sản xuất clinker trong nước, với giá thành có sức cạnh tranh mạnh hơn clinker nhập khẩu. ¾ Cần có những qui hoạch cụ thể để xây dựng các cụm xi măng để phục vụ nhu cầu thị trường trong nước . không để cho tình trạng khan hiếm xi măng xảy ra như trong thời gian qua. Điển hình như Bộ Xây dựng đang lập qui hoạch 4 cụm công nghiệp sản xuất xi măng, gồm cụm Đông Bắc, Tây Bắc, miền Trung – Tây nguyên và miền Nam. Cụm Đông Bắc gồm các nhà máy xi măng Hải Phòng, Hoàng Thạch, Cẩm Phả, Chinfon, Phúc Sơn với sản lượng 15 triệu tấn/năm. Cụm Tây Bắc gồm các nhà máy xi măng Hùng Vương, Yên Bái, Thái Nguyên, Sơn La, Lai Châu với sản lượng 6 triệu tấn/năm. Cụm miền Trung gồm các nhà máy xi măng : Bỉm Sơn, Nghi Sơn, Bút Sơn, Tam Điệp, Hoàng Mai với sản lượng 20 triệu tấn/năm và cụm phía Nam gồm các nhà máy xi măng Hà Tiên I, Hà Tiên II, Bình Phước, Tây Ninh với sản lượng 6 triệu tấn/năm Việc quy hoạch 4 cụm xi măng nhằm phục vụ nhu cầu tại chổ theo vùng và những khu vực cùng sâu vùng xa, các công trình trọng điểm tại địa phương, góp phần giảm chi phí vận chuyển, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, giúp các doanh nghiệp chủ động hơn trong liên kết sản xuất, kinh doanh bình ổn thị trường và đầu tư xây mới. ¾ Riêng đối với cụm công nghiệp xi măng Miền Trung, có sản lượng lớn nhất trong 4 cụm, cần đề nghị Chính phủ cho khôi phục cảng sông Nam Định và hệ thống đường sắt khu vực này để phục vụ việc vận chuyển xi măng ra miền bắc hoặc miền Nam khi có nhu cầu cân đối thị trường trong nước. 3.4.2 Phân bổ, sử dụng hợp lý nguồn lực để đạt được lợi thế cạnh tranh Các chuyên gia trong ngành cho rằng, do điều kiện các địa lý tự nhiên, nguồn nguyên liệu như đá vôi, đất sét để sản xuất xi măng chủ yếu chỉ tập trung ở khu vực miền bắc, nên việc tập trung các nhà máy xi măng tại đây là hợp lý. Nhưng thực tế, lượng xi măng tiêu thụ tại các tỉnh phía bắc chỉ chiếm khoảng 45%, còn lại là miền Nam và miền Trung nên trước Trang 46 tình hình giá xăng gia tăng ( kéo theo chi phí vận chuyển gia tăng), cần tăng công suất và xây dựng thêm các nhà máy tại miền Trung và miền Nam. ¾ Các công ty trong khu vực cần phải xây dựng kế hoạch sử dụng máy móc thiết bị, bố trí sản xuất hợp lý nhằm phát huy tối đa năng lực lò nung, máy nghiền,… các công ty cần cần chú ý nhiều hơn đến chất lượng sửa chữa vì hiện tại hiện tượng dừng tất cả dây chuyền để sửa chữa ngoài kế hoạch còn nhiều, thời gian sửa chữa phải đảm bảo theo đúng dự kiến nhằm đảm bảo cho kế hoạch duy trì ổn định sản lượng sản xuất. ¾ Các nhà máy xi măng miền Bắc tiêu thụ xi măng tại khu vực miền Nam thì phải tốn chi phí vận chuyển và việc vận chuyển này sẽ làm tăng chi phí, hiện tại chi phí vận chuyển xi măng chiếm khoảng 20% giá thành nếu vận chuyển từ Bắc vào Nam. Vì vậy cần phân bổ các nhà máy xi măng ở Miền Bắc và Miền Nam hợp lý. ¾ So với các nước trong khu vực điều kiện vận chuyển trong thời gian tới với chi phí vận chuyển gia tăng , làm cho chi phí mỗi tấn xi măng tăng cao đây là một lợi thế không nhỏ đối với các doanh nghiệp xi măng tại Việt Nam. Cần xúc tiến kế hoạch xuất khẩu xi măng đối với các nước có cùng đường biên giới với Việt Nam trong thời gian tới để tận dụng lợi thế về cự ly vận chuyển. 3.4.3 Giải pháp huy động vốn cho ngành công nghiệp xi măng ¾ Huy động từ các tầng lớp dân cư thông qua các hình thức bán cổ phần, phát hành cổ phiếu. Đây là một phần vốn khá “dồi dào” nhưng hiện các dự án xi măng chưa thể huy động vốn đầu tư từ nguồn này. ¾ Những dự án đầu tư xây dựng nhà máy cơ khí chế tạo hoặc mua sắm thiết bị phục vụ cho chế tạo thiết bị trong nước, nhằm chế tạo các thiết bị cho các nhà máy xi măng, thay thế một phần thiết bị nhập khẩu cần được vay vốn ưu đãi từ quỹ hỗ trợ phát triển; các dự án xi măng nhằm sản xuất clinker để phục vụ các trạm nghiền cũng cần thiết được vay vốn từ quỹ này. ¾ Các chủ đầu tư phải chủ động tìm kiếm nguồn vốn trước khi triển khai thực hiện lập dự án đầu tư xi măng. Phải tính toán hiệu quả và thời gian hoàn vốn cho dự án một cách nghiêm túc, sát với thực tế, có phương án sử dụng vốn tiết kiệm để thuyết phục người cho vay vốn. Trang 47 ¾ Các chủ đầu tư cũng nên mạnh dạn phát hành trái phiếu công trình hoặc bán cổ phần rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, kễ cả bán cổ phần cho người nước ngoài,… 3.4.4 Đầu tư và đổi mới công nghệ Theo thống kê đến năm 2003, các nhà máy xi măng trong toàn quốc đã có công suất 23,9 triệu tấn và sản lượng thực hiện đạt 14,38 triệu tấn. Trong đó, khối xi măng lò quay có tổng công suất 15,91 triệu tấn và đang triển khai đầu tư 10 dự án mới, một số dự án khác đang chuẩn bị triển khai; khối xi măng lò đứng có trên 50 cơ sở và gần như đã trả hết nợ vay, hiệu quả kinh tế ngày càng cao; khối các trạm nghiền hiện có 26 cơ sở, công suất thiết kế là 3,97 triệu tấn. Mặc dù vậy, đâu đó vẫn xảy ra tình trạng chậm tiến độ. Theo phân tích có rất nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng trên nhưng chủ yếu là do công tác đền bù giải phóng mặt bằng bị chậm, công tác khảo sát mỏ, địa chất công trình không đầy đủ dẫn đến kéo dài thời gian thi công gói thầu và làm tăng tổng mức đầu tư,…. Và nhất là khả năng thu xếp tài chính của các dự án đang gặp khó khăn. Hiện nay cùng với 10 dự án nhà máy xi măng lò quay bao gồm Tam điệp, Hùng Vương, Bỉm Sơn(mở rộng), Tây Ninh và cho phép chuẩn bị đầu tư các dự án xi măng Bút sơn 2, Tràng An, Sơn La. Theo dự kiến thì mỗi dự án này cần lượng vốn đầu tư từ 100 đến 300 triệu USD. Như vậy, tổng vốn đầu tư cho các dự án đã cần khoảng hơn 3.100 triệu USD. Một thực tế cho thấy là phần lớn các chủ đầu tư dự án với vốn ban đầu chỉ bằng 10% tổng mức đầu tư. Bà Vũ Thị Hòa- Vụ trưởng Vụ kinh tế tài chính (Bộ xây dựng ) cho rằng : “ để đảm bảo yêu cầu đẩu tư và hạn chế rủi ro thì nguồn vốn ban đầu của chủ đầu tư phải đạt 30%. Vậy số còn lại của dự án, chủ đầu tư phải huy động từ nhiều nguồn như vốn tín dụng ưu đãi, vốn vay thương mại, vốn góp cổ phần của các doanh nghiệp Nhà nước,… nhưng việc huy động không phải dễ dàng bởi còn nhiều bất cập từ cả bên vay và bên cho vay….” ¾ Cần tổ chức lại hệ thống quản lý, cung ứng và phương thức kinh doanh cho phù hợp với tình hình hiện nay. ¾ Chuyển đổi công nghệ nung clinker từ lò đứng sang lò quay phương pháp khô. Đây là giải pháp cần thiết để đạt được các mục tiêu sau : ƒ Nâng cao chất lượng và thay đổi đẳng cấp sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển bền vững. Trang 48 ƒ Mở rộng sản xuất để phát triển doanh nghiệp, tăng nguồn thu ngân sách cho địa phương ƒ Cải thiện điều kiện làm việc và đảm bảo an toàn cho người lao động ƒ Giảm thiểu ô nhiểm môi trường ƒ Tận dụng tối đa cơ sở vật chất của dây chuyền sản xuất hiện có để giảm vốn đấu tư và rút ngắn tiến độ thi công các hạng mục công trình đầu tư bổ sung ƒ Góp phần tạo điều kiện cho các ngành cơ khí, điện, tự động hóa và các ngành khác có liên quan trong nước phát triển. 3.4.5 Đào tạo nguồn nhân lực Hiệu quả kinh doanh phụ thuộc phần lớn vào yếu tố con người, đặc biệt là các lĩnh vực nhạy cảm với xu thế toàn cầu hóa. Đội ngũ quản lý phải có tầm nhìn chiến lược, có phương pháp làm việc hiệu quả, sử dụng các nguồn lực trong tổ chức một cách tối ưu. Trình độ quản lý và trình độ tay nghề của các cấp quản lý và công nhân trong các doanh nghiệp xi măng Việt Nam còn khá chênh lệch so với khu vực. Với đội ngũ lao động như trên thì ngành công nghiệp xi măng Việt Nam chưa thể có năng suất cao để giảm thiểu chi phí. Trong điều kiện đến năm 2010 phải đặc biệt chú trọng công tác đào tạo cán bộ. Lập qui hoạch theo hướng vừa đào tạo mới cán bộ trẻ, vừa đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý của ngành kễ cả cán bộ khoa học kỹ thuật, đào tạo ngoại ngữ, đào tạo ở trong nước và gởi đi đào tạo ở nước ngoài. Phấn đấu trong năm 2010 ngành xi măng có đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, có hầu hết các chuyên gia đầu ngành trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước cũng như quản lý sản xuất kinh doanh của ngành. ¾ Lập kế hoạch đào tạo đội ngũ chuyên gia có trình độ chuyên môn giỏi, nghiệp vụ quản lý tốt, nhất là đội ngũ công nhân lành nghề, không ngừn cập nhật kiến thức để thích ứng với tình hình mới ¾ Kết hợp kèm cặp tại chổ đối với việc đào tạo cán bộ, chuyên gia kỹ thuật, đồng thời tuyển chọn cán bộ trẻ có năng lực, có phẩm chất chuyên môn tốt gởi đi đào tạo để chuẩn bị một lượng kế thừa xuất sắc. Trang 49 ¾ Phải trang bị đồng bộ và hiện đại hóa các trường đào tạo trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học công nghệ, đào tạo cán bộ khoa học, cán bộ quản lý, ưu tiên đầu tư chiều sâu để trang bị phòng thí nghiệm hiện đại về xi măng, bê tông, kết cấu công trình,…. 3.4.6 Hoạt động marketing : ¾ Phân bổ nguồn ngân sách hợp lý cho hoạt động marketing : Ngân sách cho hoạt động marketing của các doanh nghiệp xi măng thuộc sở hữu Nhà nước thường rất thấp và không được chú trọng. Cần có một ngân sách hợp lý cho hoạt động này phục vụ cho việc nghiên cứu thị trường, chăm sóc khách hàng,… đưa ra những chính sách hợp lý và kịp thời trong việc kinh doanh xi măng, cụ thể cần tăng thêm ngân sách cho hoạt động marketing từ 5 đến 8% doanh thu. ¾ Đa dạng hóa sản phẩm : Trong quá trình phát triển cần đặc biệt ưu tiên các dự án sản xuất xi măng cao cấp, xi măng trắng, xi măng màu, xi măng bền sulfat, xi măng giếng khoan và xi măng đóng rắn nhanh,…đây là những sản phẩm mà chúng ta đang nhập với giá thành cao. Có nhiều công trình hiện nay cần rất nhiều các loại xi măng đặc chủng phù hợp với tính chất và yêu cầu của công trình như các công trình thủy điện, cầu đường và các vùng bị nhiễm mặn, phèn. Vì vậy cần sản xuất nhiều chủng loại xi măng khác nhau phù hợp với yêu cầu về kỹ thuật, mác bê tông cho nhiều dạng công trình khác nhau. ¾ Chính sách phân phối : Giải pháp tốt nhất trong điều kiện cạnh tranh trong tương lai là cung cấp hệ thống cho nợ đối với những khách hàng thương mại tức là những nhà phân phối cấp 1. Hệ thống đó phụ thuộc vào việc bán hàng trước nay của họ, khối lượng bán hàng và mối quan hệ giữa các công ty và những khách hàng thương mại. ¾ Chích sách giá : Giá xi măng bị tác động bởi nhiều yều tố đầu vào như : Than đá, dầu, thạch cao,… trong thời gian gần đây việc tăng giá các yếu tố này dẫn đến tình trạng giá bán xi măng không ổn định, gây xáo trộn thị trường B để ổn định tình hình biến động về giá trong thời gian tới cần phải có chính sách giá chung cho tất cả các loại xi măng có cùng mác, cùng chất lượng trên thị trường để tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các nhà máy xi măng. Nghiên cứu đầu tư công nghệ vào sản xuất xi măng nhằm giảm các yếu tố nhiên, nguyên liệu đầu vào để giảm giá thành xi măng tăng sức cạnh tranh trong thời gian tới. Trang 50 ¾ Dịch vụ sau bán hàng : tăng cường hỗ trợ các dịch vụ sau bán hàng như tư vấn về kỹ thuật, sử dụng xi măng, tỷ lệ pha trộn và cấp phối bê tông để không để tình trạng sự cố về bê tông trong xây dựng xảy ra. 3.4.7 Đối phó với xi măng ngoại nhập trong tiến trình hội nhập. Sản phẩm xi măng của Việt Nam đã và đang thực hiện đúng lộ trình cắt giảm thuế quan theo tiến trình hội nhập CEPT/AFTA. Theo đó giá thành sản xuất của các nhà máy xi măng hiện nay dao động ở mức 24- 27 USD/tấn (chưa kễ khấu hao). Nếu chi phí tính riêng clinker thì giá thành khoảng 20,5USD/tấn, thấp hơn mức giá FOB của clinker Thái Lan mà hiện nay ta đang nhập ( giá FOB của clinker Thán Lan mà hiện nay ta đang nhập khoảng 21- 21,5 USD/tấn). Như vậy, công chi phí vận tải về đến Việt Nam, giá clinker nhập khẩu sẽ cao hơn nhiều so với climker tự sản xuất trong nước. Đây là cơ sở để hy vọng rằng, xi măng Việt nam hội đủ điều kiện để có thể cạnh tranh trên thị trường so với xi măng ngoại nhập trong tiến trình hội nhập sắp tới. Giá bán xi măng trong nước trong thời gian qua cũng luôn được giữ ở mức giá ổn định. Hiện giá bán được dao động từ 46 đến 48,5 USD/tấn ở phía Bắc và phía Nam là 52,5 đế 58 USD/tấn, thấp hơn giá bán nội địa của các nước trong khu vực ( Malaysia là 58 đến 60USD/tấn, Indonesia 55 – 58USD/tấn, Thái Lan 65- 66 USD/tấn và Brunei là 64 đến 65 USD/tấn). Như vậy trong thời gia sắp tới khi mà lượng xi măng theo dự báo sẽ cung sẽ cao hơn cầu ở thị trường nội địa, điều này đặt ra cho chúng ta một suy nghĩ là định hướng cho việc xuất khẩu xi măng. Vì vậy nếu có chiến lược và sách lược đúng đắn thì ngành công nghiệp xi măng của chúng ta vẫn hiệu quả và đảm bảo được tính cạnh tranh trong tiến trình hội nhập. Các thị trường xuất khẩu mà chúng ta cần nhắm tới là : Thị trường Campuchia, Lào là hai thị trường xét về mặt địa lý nằm gần Việt Nam vì vậy cước phí vận chuyển tương đối thấp và với giá xi măng hiện nay của Việt nam thì có thể cạnh tranh được với các quốc gia xuất khẩu xi măng trong khu vực. Thị trường các quốc gia hầu như hòan toàn nhập xi măng như Singapore, Brunei và những quốc gia khác như : Bangladesh, Nigieria. Đây là những thị trường mà Việt Nam cần phải quan tâm nghiên cứu để định hướng cho việc xuất khẩu xi măng trong tương lai. Trang 51 3.5 Một số kiến nghị về chính sách và cơ chế quản lý của Nhà nước Đối với chính sách vế thuế ¾ Đối với cliker nhập khẩu trong thời điểm hiện nay, cần có chính sách thuế nhập khẩu hợp lý. Đây sẽ là cơ hội để doanh nghiệp tăng nhập khẩu clinker, tăng dự trữ clinker, đồng thời tăng sản lượng xi măng đáp ứng nhu cầu hiện tại và phát triển trong tương lai ¾ Có chính sách hạn chế nhập khẩu xi măng để tạo điều kiện cho các nhà máy trong nước phát triển trước khi hội nhập WTO, tạo điều kiện hỗ trợ xuất khẩu với thế suất ưu đãi. ¾ Chính sách thuế cần xem nghiên cứu lại cho phù hợp đối với xi măng lò đứng. Chính sách vốn đầu tư ¾ Tiến độ xây dựng của các dự án xi măng từ nguồn FDI phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ tăng trưởng của thị trường trong nước, nên rất khó khăn cho việc cân đối giữa cung và cầu ở tầm vĩ mô. Trong phạm vi cho phép có thể xem xét lại tiến độ đầu tư của các dự án FDI và nếu thấy cần thiết có thể rút giấy phép đầu tư đã cấp cho các nhà đầu tư. Trong trường hợp liên doanh, thì cần nâng tỷ lệ góp vốn của phía Việt Nam không thấp hơn 49% tổng vốn đầu tư của dự án, đồng thời cũng cần xem xét lại việc thực hiện cam kết của các Nhà đầu tư nước ngoài (FDI) về vấn đề tiêu thụ xi măng tại Việt Nam Chính sách khuyến khích ¾ Nhà nước cần có những chính sách ưu đãi đặc biệt cho ác dự án đầu tư sản xuất clinker qui mô lớn ở trong nước. ¾ Cần có chính sách hỗ trợ xuất khẩu sản phẩm xi măng hoặc các hình thức khác để thu hồi ngoại tệ bù đắp cho những chi phí sản xuất và đầu tư. ¾ Tăng cường năng lực các ngành cơ khí, điện tử, tự động hóa, luyện kim,… trong nước, để có đủ năng lực cho việc sản xuất phụ tùng và thiết bị thay thế cho ngành xi măng ( các thiết bị nghiền, thiết bị nung,thiết bị điều khiển, các thiết bị phi tiêu chuẩn, bi, đạn, tấm lót,…). Chính sách đào tạo nguồn nhân lực Trang 52 ¾ Nhà nước cần quan tâm đến cơ sở vật chất và trường đào tạo cho công nhân kỹ thuật và kỹ sư chuyên ngành. ¾ Liên kết đào tạo nguồn nhân lực trong nước và nước ngoài. Nhà nước phải định hướng cho sự phát triển nguồn nhân lực phù hợp với mặt bằng về tri thức và kỹ năng trong khu vực. Đối với các Bộ, Ngành liên quan : Để tháo gỡ ách tắc về vốn cho các dự án đầu tư xi măng, Bộ xây dựng nên đưa ra một số giải pháp. Chẳng hạn như việc các dự án xi măng đã được chính phủ đồng ý cho vay vốn tín dụng ưu đãi trước ngày có nghị định 106/2004/NĐ-CP, được tiếp tục vay vốn tín dụng ưu đãi. Hay những dự án đầu tư xây dựng nhà máy cơ khí chế tạo hoặc mua sắm trang thiết bị phục vụ việc chế tạo các thiết bị trong nước cho nhà máy xi măng cũng như các dự án xi măng có sản xuất clinker phục vụ các trạm nghiền được vay vốn từ Quỹ hỗ trợ phát triển,… Phải dự báo được thị trường trong nước và có những biện pháp thực tế giải quyết khi có tình trạng khan hiếm xi măng, không để một số công ty độc quyền khi có tình trạng khan hiếm xi măng xảy ra Về phía các Ngân hàng Thương mại : Cần quan tâm hỗ trợ bằng các biện pháp như trực tiếp cho vay hoặc làm đầu mối huy động vốn theo từng dự án giúp chủ đầu tư và giảm bớt các thủ tục trong quá trình đàm phán cho vay. Với các chủ đầu tư, cần chủ động tìm nguồn vốn trước khi triển khai thực hiện lập dự toán, cần tính toán hiệu quả và thời gian hoàn vốn để thuyết phục người cho vay Theo phương án đã được phê duyệt, trong 5 năm tới đây ( từ năm 2004- 2008 ) Việt Nam thực thi xây dựng 16 dự án sản xuất xi măng với tổng công suất mỗi năm 25 triệu tấn. Nếu đảm bảo tiến độ, đến năm 2008, tổng sản lượng xi măng Việt Nam đạt trên 45 triệu tấn, đủ mức phục vụ nhu cầu thị trường. Đọc qui hoạch tổng thể thì mừng nhưng lại kèm theo nỗi lo lớn. Tổng kinh phí đầu tư cho dự án này cần đến 3 tỷ USD, đây là khoản vốn phải vay hoàn toàn không nhỏ và nợ phải trả trong các khoản vay vẫn là gánh nặng đáng lo, cần có sự hỗ trợ của Ngân hàng và Chính phủ. Trang 53 KẾT LUẬN Quy hoạch ngành xi măng cũng cần phải chú trọng đến cơ cấu giá, nguồn nguyên liệu sản xuất, giao thông phục vụ ngành, dự báo nhu cầu thị trường,…. bên cạnh vấn đề nguồn vốn cho đầu tư và các giải pháp phát triển công nghiệp chế tạo nhà máy xi măng. Có như vậy mới góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện và đưa các dự án đầu tư xi măng vào sản xuất, bảo đảm ngành công nghiệp xi măng Việt Nam đến năm 2010 đạt công suất 56,15 triệu tấn và năm 2015 đạt gần 65 triệu tấn, đáp ứng nhu cầu trong nước và cạnh tranh với thị trường nước ngoài. Ngành công nghiệp xi măng Việt Nam hoàn toàn có điều kiện phát triển trong thời gian tới theo như luận văn đã xác định thể hiện qua điều kiện về nguồn nguyên, nhiên liệu đầu vào, môi trường chính trị, pháp lý và các điều kiện khác mặc dù khi phân tích thực trạng chúng ta nhận thấy còn có rất nhiều khó khăn thể hiện ở nguồn nhân lực, vốn đầu tư cho ngành, các chính sách khuyến khích đầu tư chưa hoàn chỉnh,… Luận văn đã dựa trên cơ sở lý luận về chiến lược và vận dụng những cơ sở đó để tiến hành phân tích, tổng hợp đề xuất những giải pháp chiến lược cho ngành công nghiệp xi măng Việt Nam. Để phát triển ngành công nghiệp xi măng trong thời gian tới chúng ta phải quyết tâm thực hiện các giải pháp đã đề ra ở chương 3 với quan điểm chính là góp phần cùng với các ngành khác của đất nước phát triển đồng loạt để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và chuẩn bị tốt trong tiến trình hội nhập. Luận văn đã đề ra các giải pháp phát triển các mặt chính yếu và tích cực để phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam, đầu tư nhiều hơn về công nghệ kỹ thuật, phân bổ và sử dụng hợp lý nguồn lực để đạt lợi thế cạnh tranh, các giải pháp về vốn, đào tạo nguồn nhân lực, marketing và các kiến nghị cần thiết đối với Nhà nước cũng như các Bộ ngành liên quan nhằm định hướng phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt nam. Trang 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Văn kiện Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần thứ IX – NXB Chính Trị Quốc Gia HN 2001 2. Các Báo cáo của Tổng Công ty Xi măng Việt Nam 2001 – 2002- 2003 3. Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn – Các số Tháng 11,12/2004 và các tháng 2005 4. Fred R. David – Khái Luận Về Quản Trị Chiến Lược – NXB Thống kê 5. Harold Koontz –Cyril Odonnell – Heinz Weihrich – Những Vấn Đề Cốt Yếu Của Quản Lý – NXB Khoa Học Kỹ Thuật 6. Tôn Thất Nguyễn Thiêm – Thị Trường, Chiến Lược, Cơ Cấu : Cạnh tranh về giá trị gia tăng, định vị và phát triển doanh nghiệp 7. PTS Nguyễn Danh Sơn – Mấy suy nghĩ về môi trường kinh tế xã hội cho quá trình công nghiệp hóa hiện đạihóa ở Việt Nam – NXB Chính trị Quốc gia – Hà Nội 1995. 8. PTS Lê Mạnh Hùng (chủ biên) – Kinh tế xã hội Việt Nam – Thực trạng, xu thế và giải pháp – NXB Thống kê 1996 9. TS Donald.A.Ball – Những bài học về doanh thương quốc tế – NXB Thống kê. 10. Các Báo Cáo của Công ty Xi Măng Nghi Sơn Năm 2004, 2005 11. Các Báo cáo của Xi Măng Chinfon năm 2005 12. Một số trang Web của các Công ty xi măng trong nước

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfĐịnh hướng phát triển ngành công nghiệp xi măng Việt Nam trong tiến trình hội nhập.pdf
Luận văn liên quan