Hình thành khái niệm dạy học môn Toán cho sinh viên ngành giáo dục Tiểu học

MỤC LỤC MƠ ĐẦU Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.2. KN dạy học 1.2.1 KN 1.2.1.1 Khái niệm về KN 1.2.1.2 Phân biệt kĩ năng và kĩ xảo 1.2.2 Quá trình dạy học 1.2.3 KN dạy học 1.2.3.1 Khái niệm về KNDH 1.2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành KNDH 1.2.4 Hệ thống KN dạy học 1.2.4.1 Nhóm KN hiểu HS 1.2.4.2 Nhóm KN thiết kế kế hoạch DH 1.2.4.3 Nhóm KN tổ chức thực hiện kế hoạch DH 1.2.4.4 Nhóm KN kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động DH 1.2.5 Cấu trúc KNDH 1.2.6 Hình thành KNDH 1.3. KN dạy học môn Toán 1.3.1 Môn Toán ở tiểu học 1.3.1.1 Mục tiêu 1.3.2.2 Đặc điểm môn Toán ở TH 1.3.2 PPDH môn Toán ở TH 1.3.2.1 Khái niệm về PPDH 1.3.2.2 Các PPDH môn Toán ở TH 1.3.2.3 PPDH các kiểu bài trong chương trình môn Toán ở TH 1.3.3 Cấu trúc KNDH môn Toán ở TH 1.3.4 Quá trình hình thành KNDH môn Toán cho SV ngành GDTH 1.4. Kết luận chương 1 Chương 2: Thực trạng KNDH môn Toán của GVTH 2.1. Khảo sát thực trạng 2.1.1. Mục đích khảo sát. 2.1.2. Đối tượng khảo sát. 2.1.3. Nội dung khảo sát. 2.1.4. Phương pháp điều tra khảo sát 2.2. Phân tích kết quả. 2.2.1. Thực trạng nhận thức của GVTH về KNDH 2.2.2. Thực trạng nhận thức của GVTH về KNDH môn Toán 2.2.3. Thực trạng KNDH môn Toán của GVTH 2.2.4. Thực trạng rèn luyện KNDH môn Toán của SV ngành GDTH 2.3. Kết luận chương 2 Chương 3: Quy trình hình thành KNDH môn Toán 3.1. Nguyên tắc xây dựng quy trình 3.1.1 Nguyên tắc mục tiêu 3.1.2 Nguyên tắc hệ thống 3.1.3 Nguyên tắc hiệu quả 3.1.4 Nguyên tắc khả thi 3.2. Những KNDH cơ bản của môn Toán cần hình thành ở SV ngành GDTH 3.2.1 KN tổ chức giám sát hoạt động học tập cho HS 3.2.2 KN dự đoán và xử lí các tình huống sư phạm xẩy ra trong giờ học Toán 3.3. Một số vấn đề cần lưu ý khi hình thành KNDH môn Toán cho SV ngành GDTH 3.3. Quy trình hình thành KNDH môn Toán của SV ngành GDTH 3.3.1 Quy trình chung 3.3.2 Quy trình cụ thể 3.4. Thử nghiệm quy trình và kết quả thử nghiệm 3.5. Kết luận chương 3 Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục MỞ ĐẦU 1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang đặt ra những nhu cầu lớn về nguồn nhân lực có trình độ cao, quá trình hội nhập khu vực và quốc tế với xu thế toàn cầu hoá đang là một thách thức lớn đối với nước ta. Nó đòi hỏi nhà nước phải có một chiến lược phát triển nhân tài. Để thực hiện thành công chiến lược con nguời của Đảng, ngành giáo dục nói chung, các trường sư phạm làm công tác đào tạo đội ngũ GV đã, đang và sẽ tiếp tục phát huy nội lực nâng mình lên đáp ứng xứng đáng với đòi hỏi của đất nước. GVTH chiếm 1/3 lực lượng GV của các cấp học cả nước. Để từng bước xây dựng và nâng cao chất lượng GVTH, đòi hỏi phải đào tạo, đánh giá xếp loại đội ngũ theo chuẩn nghề nghiệp. Chuẩn nghề nghiệp của GVTH được thể hiện trên ba lĩnh vực: Phẩm chất đạo đức, tư tưởng, chính trị; kiến thức và KN sư phạm. Đây cũng là căn cứ để các trường sư phạm đào tạo GVTH dựa vào đó để thiết kế mục tiêu, xây dựng nội dung, lựa chọn phương pháp và hình thức đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuẩn. Việc hình thành KN sư phạm nói chung và KNDH nói riêng là một trong những mục tiêu cơ bản của quá trình đào tạo GVTH có trình độ đại học theo chương trình mới. Đào tạo GVTH cần kiên trì với mục tiêu lấy việc hình thành KN của nghề dạy học làm đặc trưng nổi bật cho quá trình đào tạo ở trường sư phạm. Tuy nhiên, mặt đào tạo này cho đến nay vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn, chưa tương ứng với vốn tri thức mà sinh viên được trang bị và chưa thể hiện được sự khác biệt về chất so với các hệ đào tạo khác thấp hơn. Nguyên nhân cơ bản của thực trạng này là do nội dung, cấu trúc, và quá trình hình thành các KNDH ở trường sư phạm vẫn có những vẫn đề chưa tường minh. Bậc tiểu học có những đặc thù riêng, mỗi GV sẽ phải dạy tất cả các môn học. Do vậy, trong quá trình đào tạo ở trường sư phạm, việc hình thành KN đòi hỏi phải chi tiết, đi vào từng môn học cụ thể và có quy trình rèn luyện riêng cho mỗi môn. Có như vậy mới cung cấp cho SV một vốn KN nghề nghiệp cơ bản, tối thiểu cần thiết một cách chắc chắn, đạt được một trong những chuẩn nghề nghiệp của GVTH và tương ứng với trình độ đào tạo để họ có thể hoàn thành tốt ngay từ đầu nhiệm vụ dạy học ở trường tiểu học . Việc hình thành KNDH môn toán cho SV ngành GDTH hiện nay cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó. Hầu hết các trường sư phạm vẫn chưa xây dựng được quy trình rèn luyện KNDH môn Toán cho SV, hoạt động rèn luyện KN của SV đang còn mang tính chất tự mò mẫm là chủ yếu. Do vậy trong quá trình thực hiện họ còn gặp nhiều lúng túng và kết quả thu được từ hoạt động này nói chung là chưa cao. Chính vì vậy việc xây dựng một quy trình rèn luyện KNDH môn Toán cho SV ngành GDTH đang là một vệc làm cấp bách để nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho SV, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp cũng như nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở cấp Tiểu học hiện nay. Từ những lí do trên chúng tôi quyết định đi đến chọn đề tài nghiên cứu là : “Hình thành KN dạy học môn Toán cho SV ngành GDTH” 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU. Nhằm góp phần nâng cao chất lượng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành GDTH. 3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3.1 Khách thể nghiên cứu. Hoạt động rèn luyện KNDH của SV ngành GDTH. 3.2 Đối tượng nghiên cứu. Cấu trúc và quy trình hình thành KDDH môn toán cho SV ngành GDTH 4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4.1 Nghiên cứu lí luận: Xây dựng cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu thực trạng, từ đó đi đến việc xây dựng quy trình rèn luyện KNDH môn Toán cho SV.(ViÕt l¹i) 4.2 Nghiên cứu thực trạng: Điều tra về những vấn đề liên quan .(Cô thÓ h¬n) 4.3 Xây dựng quy trình hình thành KNDH môn Toán cho SV ngành GDTH và thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi, tính hiệu quả của quy trình . 5.GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Nếu xây dựng được một quy trình làm việc chi tiết cho việc hình thành KNDH môn Toán cho SV ngành GDTH thì có thể nâng cao chất lượng của quá trình hình thành KNDH môn Toán nói riêng cũng như KNDH nói chung cho SV ngành GDTH . 6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu lí luận của đề tài . 6.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Từ việc nghiên cứu lí luận, điều tra thực trạng lấy đó làm cơ sở để xây dựng quy trình rèn luyện KNDH môn Toán cho SV ngành GDTH . 6.4 Thực nghiệm sư phạm: Nhằm xác định tính hiệu quả và độ tin cậy của việc vận dụng quy trình . 7. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN. - Hệ thống hoá một số vấn đề về: KN, KNDH và KN dạy học môn Toán ở tiểu học. - Làm rõ thực trạng KNDH môn Toán của GVTH và việc hình thành KNDH môn Toán cho SV ngành GDTH. - Đề xuất, xây dựng quy trình rèn luyện KNDH môn Toán cho SV ngành GDTH . 8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục. Luận văn gồm có ba chương : Chương 1 : Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Thực trạng KN dạy học môn Toán của GVTH Chương 3: Quy trình hình thành KNDH môn Toán

doc84 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 05/02/2013 | Lượt xem: 5720 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hình thành khái niệm dạy học môn Toán cho sinh viên ngành giáo dục Tiểu học, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hức quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của HS. 63 ( 35 %) 110 ( 61,1 %) 7 ( 3,9 %) Kết quả bảng 5 cho thấy: - Có 32,8% số GV được hỏi cho rằng họ rất thành thạo trong việc xác định mục tiêu, yêu câu của một bài lên lớp cụ thể trong toàn bộ chương trình môn Toán. Có đến 63,9% cho rằng họ ở mức thành thạo. Chỉ có 3,3% cho rằng họ còn khó khăn, lúng túng trong việc xác định mục tiêu, yêu cầu của một bài lên lớp cụ thể trong toàn bộ chương trình môn Toán ở TH. - Chỉ có 12,2% số GV được hỏi cho rằng họ rất thành thạo trong việc phân tích, lựa chọn nội dung cho một bài học cụ thể trong chương trình môn Toán. Có đến 64,4% số GV cho rằng họ ở mức độ thành thạo. Có 23,3% cho rằng họ còn khó khăn lúng túng trong việc phân tích, lựa chọn nội dung cho một bài học cụ thể trong toàn bộ chương trình môn Toán ở TH. - Chỉ có 6,1% ý kiến của GV cho rằng họ rất thành thạo khi lựa chọn và sử dụng các phương pháp, phương tiện, hình thức dạy học phù hợp với nội dung của bài học, trình độ và điều kiện học tập của HS. Đa số GV (74,5%) ở mức độ thành thạo và có 19,4% còn gặp khó khăn lúng túng trong việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học phù hợp với nội dung của bài học, trình độ và điều kiện học tập của HS. - Có 24,4% ý kiến của GV được hỏi cho rằng họ rất thành thạo trong việc thết kế các hoạt động dạy học chủ yếu. Có đến 60,6 % ý kiến GV cho rằng họ ở mức độ thành thạo. Chỉ có 15% trong tổng số GV được hỏi cho rằng họ còn gặp khó khăn lúng túng khi sử dụng KN này. - Chỉ có 13,9 % ý kiến GV cho rằng họ thành thạo trong việc tổ chức giám sát các hoạt động học tập cho HS trong giờ học Toán. Có 55% GV cho rằng họ ở mức độ thành thạo và 31,1% cho rằng họ còn gặp khó khăn lúng túng khi sử dụng KNDH này. - Chỉ có 8,3% số ý kiến GV được hỏi cho rằng họ rất thành thạo trong việc dự đoán xử lí các tình huống sư phạm xấy ra trong giờ học Toán. Có 53,9% số GV cho rằng họ ở mức độ thành thạo. Một lượng GV không nhỏ trong tổng số GV được hỏi (37,8%) cho rằng họ còn gặp khó khăn lúng túng khi dự đoán và xử lí các tình huống sư phạm xẩy ra trong tiết toán. - Có 35% số ý kiến GV được hỏi cho rằng họ rất thành thạo trong việc tổ chức quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của HS. Có đến 61,1 % số GV cho rằng họ ở mức độ thành thạo. Chỉ có 3,9% trong tổng số GV được hỏi cho rằng họ còn gặp khó khăn lúng túng trong quá trình tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của HS. * Bảng 6: Đánh giá của CBQL giáo dục TH về KNDH môn Toán của GVTH TT Các KNDH môn Toán Mức độ Rất thành thạo Thành thạo Khókhăn lúng túng 1 KN xác định mục tiêu yêu cầu của một bài lên lớp cụ thể trong toàn bộ chương trình môn Toán. 9 ( 30 % ) 17 ( 56,7 % ) 4 ( 13,3 % ) 2 KN phân tích và lựa chọn nội dung cho một bài học cụ thể trong chương trình môn Toán. 3 ( 10 % ) 18 ( 60 % ) 9 ( 30 % ) 3 KN lựa chọn và sử dụng các phương pháp, phương tiện, hình thức dạy học phù hợp với nội dung của bài học, trình độ và điều kiện học tập của HS. 1 ( 3,3 % ) 21 ( 70 %) 8 ( 26,7%) 4 KN thiết kế các hoạt động dạy học chủ yếu. 7 ( 23,3 % ) 17 ( 56,7 % ) 6 ( 20 % ) 5 KN tổ chức, giám sát các hoạt động học tập cho HS trong giờ học Toán. 2 ( 6,7 % ) 17 ( 56,7 % ) 11 ( 36,6 %) 6 KN dự đoán và xử lí các tình huống sư phạm có thể xẩy ra trong giờ học Toán. 2 (6,6%) 15 (50%) 13 (43,4%) 7 KN tổ chức quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của HS. 10 (33,3 %) 18 (60%) 2 ( 6,7% ) Qua kết quả điều tra ở bảng 6 ta thấy: - Có 30% số ý kiến của đồng chí CBQL giáo dục TH được hỏi cho rằng GVTH rất thành thạo trong việc xác định mục đích, yêu cầu của một bài lên lớp cụ thể trong toàn bộ chương trình môn Toán ở TH. Có 56,7% cho rằng GVTH đạt được ở mức độ thành thạo và chỉ có 13,3% cho rằng GVTH còn gặp khó khăn lúng túng ở KN này. - Chỉ có 10% số ý kiến của CBQL giáo dục TH cho rằng GVTH rất thành thạo trong việc phân tích và lựa chọn nội dung cho một bài học cụ thể trong chương trình môn Toán. Có đến 60% CBQL giáo dục TH được hỏi cho rằng GVTH đạt mức độ thành thạo ở KN này. Có 30% số ý kiến cho rằng GVTH còn gặp khó khăn lúng túng khi phân tích và lựa chọn nội dung cho một bài học cụ thể. - Chỉ có 3,3% số ý kiến của CBQL giáo dục TH cho rằng GVTH rất thành thạo trong việc lựa chọn phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học phù hợp với nội dung bài học, trình độ và điều kiện học tập của HS. Có 70% số ý kiến cho rằng GVTH đạt được sở mức thành thạo và 26,7% số ý kiến cho rằng GVTH còn gặp khó khăn lúng túng ở KNDH này. - Có 23,3% số ý kiến của CBQL giáo dục TH được hỏi cho rằng GVTH rất thành thạo trong việc thiết kế các hoạt động dạy học chủ yếu. Có đến 56,7% CBQL giáo dục TH cho rằng GVTH đạt được ở mức thành thạo và chỉ có 20% cho rằng GVTH còn khó khăn lúng túng ở KNDH này. - Chỉ có 6,7% số ý kiến CBQL giáo dục TH cho rằng GVTH rất thành thạo trong việc tổ chức, giám sát các hoạt động học tập cho HS trong giờ học Toán. Có 56,7% số ý kiến cho rằng GVTH đạt đuợc ở mức thành thạo và 36,6% số ý kiến cho rằng GVTH còn gặp khó khăn lúng túng ở KNDH này. - Chỉ có 6,6% ý kiến trong tổng số CBQL giáo dục TH được hỏi cho rằng GVTH rất thành thạo trong việc dự đoán và xử lí các tình huống sư phạm có thể xẩy ra trong giờ học Toán. Có 50% số ý kiến cho rằng GVTH đạt được ở mức độ thành thạo và cũng có đến 43,4% số ý kiến cho rằng họ còn khó khăn, lúng túng ở KNDH này. - Có 33,3 % số ý kiến của CBQL giáo dục TH cho rằng GVTH rất thành thạo trong việc tổ chức quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của HS và 60 % ý kiến cho rằng GVTH đạt được ở mức độ thành thạo. Chỉ có 6,7 % số ý kiến cho rằng GVTH còn gặp khó khăn lúng túng ở KNDH này. So sánh đối chiếu kết quả điều tra ở bảng 5 và bảng 6 chúng tôi rút ra một số kết luận sau đây: - Giữa sự đánh giá của GVTH và CBQL giáo dục TH không có sự chênh lệch đáng kể, tuy sự đánh giá của CBQL giáo dục TH có thấp hơn so với đánh giá của GVTH. Ví dụ, khi đánh giá về KN tổ chức giám sát các hoạt động học tập của HS trong giờ học Toán chỉ có 31,1% số GV được hỏi cho mình gặp khó khăn, lúng túng còn CBQL giáo dục TH cho rằng có đến 36,6% GVTH còn gặp khó khăn, lúng túng. - Kết quả trên cũng cho thấy số GVTH đạt được ở mức rất thành thạo nhiều nhất là KN tổ chức quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của HS. ( GVTH tự đánh giá 35%, CBQL giáo dục TH 33,3%). - KN giáo viên còn gặp khó khăn lúng túng nhất trong quá trình dạy học môn Toán theo kết quả chúng tôi điều tra được là: KN dự đoán và xử lí các tình huống sư phạm có thể xẩy ra trong giờ học Toán.( GVTH tự đánh giá 37,8%, CBQL giáo dục đánh giá 43,4%) Về cơ bản GVTH đạt được ở mức độ thành thạo ở các KNDH môn Toán, tuy nhiên cũng còn một số lượng không lớn GVTH vẫn còn gặp vướng mắc, khó khăn ở một số KNDH môn Toán nhất định, điều này chắc chắn nó sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy học môn Toán ở TH. 2.2.4. Thực trạng rèn luyện KNDH môn Toán của SV ngành GDTH. Để điều tra thực trạng rèn luyện KNDH môn Toán của SV ngành GDTH, chúng tôi đã tiến hành điều tra khảo sát 60 sinh viên cuối khoá (khoá 44) của ngành GDTH, trường Đại học Vinh. a. Thực trạng. * Bảng 7: Kết quả điều tra nhận thức của SV ngành GDTH về KNDH môn Toán cơ bản và quan trọng nhất. TT KNDH môn Toán cơ bản và quan trọng nhất Tần số ý kiến 1 KN Tổ chức, giám sát các hoạt động học tập của HS trong giờ học Toán. 26 ( 43,4%) 2 KN Xác định mục tiêu yêu cầu của một bài lên lớp cụ thể. 17( 28,3%) 3 KN giảng dạy đúng phương pháp bộ môn. 12(20%) 4 KN phân loại HS, dạy học đúng đối tượng HS. 5 (8,3%) Từ kết quả điều tra ở bảng 7 có thể thấy, ý kiến của SV ngành GDTH về KNDH môn Toán cơ bản và quan trọng nhất tập được trung ở 4 KN: KN tổ chức, giám sát các hoạt động học tập của HS trong giờ học Toán; KN xác định mục tiêu yêu cầu của một bài lên lớp cụ thể; KN giảng dạy đúng phương pháp bộ môn và KN phân loại HS, dạy học đúng đối tượng . Mặc dù số lượng ý kiến giữa các KNDH không chênh nhau mấy nhưng tập trung đông nhất vẫn là ý kiến cho rằng KN tổ chức, giám sát các hoạt động học tập của HS trong giờ học Toán là KNDH môn Toán cơ bản và quan trọng nhất chiếm 43,3%, trong khi đó các ý kiến còn lại là 28,3%, 20% và ít nhất là 8,3%. * Bảng 8: Kết quả điều tra về KNDH môn Toán mà SV còn gặp vướng mắc và khó khăn nhất trong quá trình luyện tập và sử dụng. TT Những KNDH mà SV còn gặp nhiều vướng mắc và khó khăn trong quá trình luyện tập và sử dụng. Tần số ý kiến 1 KN xử lí các tình huống sư phạm có thể xẩy ra trong giờ học Toán. 39 ( 65 % ) 2 KN tổ chức, giám sát các hoạt động học tập cho HS trong giờ học Toán . 9 (15 % ) 3 KN phân loại, dạy học đúng đối tượng HS. 8 ( 13,3 % ) 4 K N trình bày bảng 4 (6,7 % ) Kết quả điều tra ở bảng 8 cho thấy, đa số SV đang còn gặp vướng mắc, khó khăn ở KN xử lí các tình huống sư phạm có thể xẩy ra trong giờ học Toán (chiếm 65% số ý kiến). Có 15% cho rằng họ còn gặp vướng mắc khó khăn trong quá trình luyện tập và sử dụng ở KN tổ chức, giám sát các hoạt động học tập cho HS trong giờ học Toán. Có 13,3% số ý kiến cho rằng đó là KN phân loại, dạy học đúng đối tượng HS và chỉ có 6,7% cho rằng họ còn gặp vướng mắc, khó khăn ở KN trình bày bảng trong quá trình dạy học môn Toán . * Chúng tôi cũng đã tiến hành khảo sát đánh giá chung về mức độ thành thạo của các SV ngành GDTH khi sử dụng KNDH môn Toán sau quá trình luyện tập ở trường Đại học. Cơ bản số ý kiến của SV cho rằng sau quá trình luyện tập ở trường Đại học mức độ KNDH môn Toán họ đạt được trước khi tốt nghiệp là ở mức thành thạo ( 68,3% ). Có 25% số ý kiến cho rằng họ còn lúng túng và chỉ có 6,7% số ý kiến của SV họ rất thành thạo khi sử dụng các KNDH môn Toán . Kết quả điều tra trên cho thấy, mức độ đạt được của việc rèn luyện KNDH môn Toán của các SV ở trường Đại học chưa đạt được kết quả như mong muốn, vẫn còn nhiều SV chưa đạt ở mức thành thạo cơ bản trong khi đó có rất ít SV đạt ở mức rất thạo thạo. Vậy nguyên nhân cụ thể của thực trạng này là do đâu? b. Nguyên nhân của thực trạng. Qua kết quả điều tra, chúng tôi thấy có một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến kết quả rèn luyện KNDH môn Toán của SV ngành GDTH chưa đạt được kết quả như mong muốn là: SV chưa biết gắn liền tri thức khoa học và sư phạm mà họ được lĩnh hội ở trường Đại học với thực tiễn dạy học môn Toán ở trường TH. Năm thứ nhất của khoá học SV được tiếp thu các học phần về lí thuyết cơ sở của toán học như: Lí thuyết tập hợp và logic Toán; số tự nhiên; đại số sơ cấp; hình học sơ cấp..vv. Đây là những kiến thức toán học cơ bản đóng vai trò là cơ sở nền tảng để xây dựng nội dung chương trình môn Toán ở tiểu học. Thế nhưng, hầu hết SV đều gặp khó khăn khi học các học phần này, đó là chưa nói đến việc liên hệ kiến thức đó vào việc dạy học môn Toán ở TH như thế nào.Thực tế công tác rèn luyện KHDH cho thấy quá trình học tập của SV chưa biết kết hợp một cách chặt chẽ giữa kiến thưc lí thuyết với nội dung thực hành. Hạn chế này của SV, một phần do khả năng tiếp thu toán học của SV ngành GDTH chưa được nhanh nhạy, một phần do giảng viên trong quá trình giảng dạy chưa có được những PPDH xác đáng giúp SV tiếp cận vấn đề một cách dễ dàng hơn. Bản thân SV chưa có một phương pháp học tập và rèn luyện các KNDH môn Toán một cách khoa học và hợp lí. Điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu vì rằng ngay đầu vào của SV ngành GDTH đã có những bất cập, SV được thi tuyển cả hai khối (khối tự nhiên và khối xã hội) nhưng khi vào học lại học chung một chương trình cho nên chất luợng học Toán của đa số SV chưa cao và không đồng đều. SV không có được niềm hứng thú, say mê đối với bộ môn Toán học thì chắc chắn họ sẽ không dày công suy nghĩ để tìm ra được phương pháp học tập tối ưu. Như thế, chắc chắn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành KNDH môn Toán cho SV. Quá trình rèn luyện KNDH môn Toán của SV ở trường Đại học chưa có một quy trình rèn luyện thật cụ thể và chi tiết. Trong những năm qua SV ngành GDTH trường Đại học Vinh ngay từ học kỳ 2 của năm thứ nhất đã được nhà trường bố trí xuống thực hành tại các trường TH trong Thành phố Vinh. Chương trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm mà nhà trường đề ra về cơ bản đã có ý nghĩa thiết thực đối với vấn đề hình thành và rèn luyện KNDH các môn học nói chung và KNDH môn Toán nói riêng, giúp SV sớm là quen với hoạt động dạy học ở trường TH, giúp họ kiểm nghiệm được kiến thức lí thuyết được học trên giảng đường với điều kiện thực tế, các em có nhiều cơ hội hơn để rèn luyện các KNDH với đối tượng thật và môi trường thật. Tuy nhiên, hoạt động này của SV vẫn còn tồn tại những bất cập nhất định, trong các đợt thực hành tại trường TH, nhà trường mới chỉ cung cấp cho SV một bản kế hoạch rèn luyện tương đối khái quát chung cho cả đợt và chung cho tất cả các môn học chứ chưa cung cấp được cho SV những quy trình làm việc cụ thể và chi tiết của từng môn, từng KNDH riêng biệt trong mỗi đợt thực hành. Do đó, có thể nói hoạt động thực hành của SV tại trường TH chưa thực sự phát huy hết tác dụng tối ưu của nó, kết quả rèn luyện KNDH nói chung và KNDH môn Toán nói riêng của SV qua các đợt thực hành là chưa cao. Hầu như không có SV nào được hỏi cho rằng thời lượng dành cho việc rèn luyện KNDH môn Toán trong chương trình đào tạo của trường Đại học là quá ít, nhưng có một số ý kiến cho rằng thời gian đi thực hành ở trường TH nằm trong quỹ thời gian SV học tập ở trường sư phạm nên họ khó có thể đảm nhiệm hai nhiệm vụ đó trong cùng một lúc. Theo chúng tôi, quan điểm này là chưa xác đáng bởi vì kiến thức lí thuyết mà SV được học ở trường sư phạm cần được kiểm nghiệm cụ thể qua thực tế. Một số SV còn có tư tưởng học Toán tốt là có thể dạy tốt được môn Toán mà không cần rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. Quan điểm này là hoàn toàn sai, vì rằng trên cơ sở SV đã nắm chắc kiến thức cơ bản về môn Toán, về PPDH môn Toán ở TH, để có được KNDH cần phải trải qua một quá trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, được bắt đầu từ các đợt thực hành từ học kỳ 2 của năm thứ nhất, kiến tập sư phạm ở năm thứ 3, tập giảng ở trường Đại học trong học kỳ 1 của năm thứ 4 và cuối cùng là thực tập sư phạm ở học kỳ 8. Một thực tế cho thấy, do quan niệm sai lầm nên hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên đối với một số SV đang còn nặng về mặt hình thức, SV thực hiện nội dung rèn luyện mang tính bắt buộc chứ chưa có sự nổ lực tự giác. Ví dụ, khi tham gia dự giờ của bạn hay của GVTH đòi hỏi SV phải xem trước bài dạy thậm chí soạn trước khi dự giờ nhưng điều này rất ít SV làm được. Thực trạng trên đây cho thấy KNDH môn Toán của SV ngành GDTH sau khi kết thúc khoá học vẫn chưa được hình thành một cách vững chắc, SV còn khó khăn lúng túng khi sử dụng một số KNDH đặc biệt KN sự đoán và xử lí các tình huống sư phạm có thể xẩy ra trong giờ học Toán. Nguyên nhân của thực trạng xuất phát từ cả hai phía, từ phía chủ quan bản thân mỗi SV và khách quan từ kế hoạch, chương trình đào tạo của nhà trường Đại học, một trong những nguyên nhân cốt lõi hiện nay là ở nhà trường sư phạm việc hình thành KNDH môn Toán vẫn chưa xây dựng được một quy trình làm việc cụ thể và chi tiết cho SV. 2.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2. Khảo sát nhằm tìm hiểu : - Thực trạng nhận thức của GVTH về KNDH. - Thực trạng nhận thức của GVTH về KNDH môn Toán - Thực trạng KNDH môn Toán của GVTH. - Thực trạng rèn luyện KNDH môn Toán của SV ngành GDTH. Đối tượng tham gia khảo sát: - GVTH đang trực tiếp đứng lớp dạy học từ lớp 1 đến lớp 5 ở một số trường TH thuộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Số lượng GV tham gia khảo sát 180 GV. - CBQL giáo dục TH là chuyên viên phụ trách TH phòng GD&ĐT, Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường TH thuộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Số lượng CBQL tham gia khảo sát 30 CBQL. - SV năm thứ 4 (khoá 44) ngành GDTH trường Đại Học Vinh. Thời điểm khảo sát, khi SV kết thúc đợt thực tập sư phạm ở trường TH. Số lượng SV tham gia khảo khát 60 SV. Theo kết quả điều tra, đa số ý kiến cho rằng : - KN dạy học cơ bản và quan trọng nhất: KN tổ chức, giám sát các hoạt động học tập của HS trong giờ học. - KNDH môn Toán cơ bản và quan trọng nhất cũng là: KN tổ chức, giám sát các hoạt động học tập của HS trong giừo học Toán. - KNDH môn Toán mà GV cũng như SV còn gặp nhiều vướng mắc, khó khăn nhất trong quá trình luyện tập và sử dụng là: KN dự đoán và xử lí các tình huống sư phạm có thể xẩy ra trong giờ học Toán. Nhìn chung về kết quả rèn luyện KNDH môn Toán của SV còn chưa đạt kết quả như mong muốn, tỉ lệ SV “lúng túng” khi luyện tập cũng như sử dụng một số KNDH còn cao trong khi đó tỉ lệ ở mức “rất thành thạo” lại quá ít. Nguyên nhân cơ bản của thực trạng một phần do hạn chế từ phía SV, một phần do nhà trường Đại học vẫn chưa xây dựng được một quy trình rèn luyện KNDH môn Toán thật cụ thể và chi tiết cho SV ngành GDTH. Chương 3. Quy tr×nh h×nh thµnh kü n¨ng d¹y häc m«n To¸n cho sinh viªn ngµnh Gi¸o dôc tiÓu häc 3.1 NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG QUY TRÌNH Để xây dựng quy trình hình thành KNDH môn Toán cho SV ngành DGTH đạt kết quả tối ưu, nhằm phục vụ cho việc nâng cao chất lượng đào tạo công tác công việc dạy học cho SV khi ra trường, quy trình phải được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau. 3.1.1. Nguyên tắc mục tiêu. Nguyên tắc này đòi hỏi quy trình đề xuất phải hướng vào việc hình thành ở SV một hệ thống các KNDH môn Toán cần thiết, phù hợp với mục tiêu, nội dung, PPDH môn Toán ở tiểu học đề ra. 3.1.2. Nguyên tắc hệ thống. Nguyên tắc này yêu cầu quy trình đề ra phải thể hiện được các giai đoạn, các bước hình thành kĩ năng dạy học môn Toán cho SV một cách cụ thể, rõ ràng và được sắp xếp theo một trật tự phù hợp với tiến trình dạy học môn Toán. Cụ thể, việc thực hiện giai đoạn trước, bước trước phải là cơ sở để thực hiện giai đoạn sau, bước sau. Và khi tất cả các giai đoạn, các bước được thực hiện xong hay quy trình được khép lại cũng là lúc mà SV đã hình thành được những kĩ năng dạy học môn Toán đề ra. 3.1.3. Nguyên tắc hiệu quả. Nguyên tắc này đòi hỏi quy trình hình thành KNDH môn Toán ở tiểu học cho SV đã đề xuất phải đem lại hiệu quả thực sự. Cụ thể SV khi được hướng dẫn để hình thành KNDH theo quy trình đó đạt được kết quả như mong muốn. 3.1.4. Nguyên tắc khả thi. Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu, quy trình được đề xuất có thể áp dụng được vào trong quá trình hình thành KNDH cho SV ngành GDTH. Để đạt được điều đó thì quy trình đề xuất phải phù hợp với nội dung chương trình rèn luyện nghiệp vụ của các trường sư phạm và đại đa số SV ngành GDTH phải thích ứng được với nó. 3.2 NHỮNG KNDH MÔN TOÁN CẦN HÌNH THÀNH CHO SV NGÀNH GDTH. Dựa trên cơ sở lí luận về KNDH các môn học, các KNDH môn Toán ở tiểu học cơ bản thống nhất với các KNDH chung. Tuy nhiên do mục tiêu, nội dung chương trình và PPDH môn Toán có những đặc thù riêng. Điều đó đòi hỏi việc dạy học môn Toán của GVTH cũng phải có những KNDH riêng. Cụ thể GVTH khi dạy học môn Toán cần có những KNDH sau: - KN xác định mục tiêu, yêu cầu của một bài lên lớp cụ thể trong toàn bộ chương trình môn Toán tiểu học . - KN phân tích và lựa chọn nội dung bài học.(Nắm được vị trí của mảng kiến thức đó trong toàn bộ chương trình môn Toán và biết huy động kiến thức mà HS đã được học trước đó để bổ trợ cho việc nắm kiến thức mới) . - KN lựa chọn và sử dụng các phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học phù hợp nội dung của bài học, trình độ và điều kiện học tập của HS. - KN thiết kế các hoạt động dạy học chủ yếu. (Mục tiêu của các hoạt động, cách thức tiến hành, thời gian cho hoạt động đó) . - KN tổ chức, giám sát các hoạt động học tập cho HS trong giờ học Toán. (Tổ chức các mối quan hệ giữa GV và HS giữa HS và tài liệu học, giữa HS với nhau giúp HS chiếm lĩnh tri thức mới và cách thức hành động mới trong tiết học Toán) . - KN dự đoán và xử lí các tình huống sư phạm có thể xẩy ra trong giờ học Toán. - KN tổ chức quá trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán của HS. Tuy nhiên trong giới hạn của đề tài này, chúng tôi không xây dựng quy trình hình thành KNDH cho tất cả các KNDH môn Toán cần có của GVTH mà chỉ tập trung xây dựng quy trình cho một số KNDH cơ bản, quan trọng và những KNDH mà theo chúng tôi ở GVTH cũng như SV ngành GDTH đang còn gặp nhiều vướng mắc, khó khăn trong quá trình dạy học môn Toán. Cụ thể, chúng tôi sẽ xây dựng quy trình hình thành KNDH môn Toán cho hai KN sau: 3.2.1 KN tổ chức, giám sát các hoạt động học tập cho HS. Dựa trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn về việc nhận thức của GVTH cũng như của SV ngành GDTH về KNDH nói chung và KNDH môn Toán nói riêng, đa số ý kiến đều thống nhất cho rằng KNDH cơ bản và quan trọng nhất trong dạy học môn Toán mà GVTH cần phải có: “KN tổ chức giám sát các hoạt động học tập cho HS.( Tổ chức các mối quan hệ giữa GV và HS, giữa HS với tài liệu học và giữa HS với nhau, giúp HS chiếm lĩnh tri thức mới và cách thức hành động mới trong tiết học Toán)”. Vì rằng, KNDH này gần như bao quát toàn bộ các KNDH còn lại, khi tiến hành rèn luyện KN tổ chức giám sát các hoạt động học tập của học sinh thì gần như tất cả các KN khác đều được thể hiện ra. Hơn nữa, việc tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học về cơ bản là hoạt động chủ yếu của người GV, có tác dụng quyết định đối với chất lượng hiệu quả của hoạt động dạy học. Nếu tổ chức tốt hoạt động học tập cho HS chứng tỏ GV đó đã xác định đúng mục tiêu của bài dạy, đã lựa chọn đúng phương pháp và hình thức dạy học cũng như việc thiết kế các hoạt động dạy học đã được vạch ra một cách cụ thể và chi tiết …vv. “KN tổ chức giám sát các hoạt động học tập cho HS. (Tổ chức các mối quan hệ giữa GV và HS, giữa HS với tài liệu học, giữa HS với nhau giúp HS chiếm lĩnh tri thức mới và cách thức hành động mới trong tiết học Toán)” thể hiện rõ nhất vai trò hướng dẫn, tổ chức của người GV trong quá trình dạy học. Vai trò đó được thể hiện thông qua ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, việc sử dụng đồ dùng dạy học, việc làm mẫu, việc khéo léo động viên. Dựa vào những đặc trưng trên của KN cùng với những nét đặc thù của môn Toán tiểu học, trong KNDH này chúng tôi phân chia thành hai nhóm nhỏ KN sau: a. Nhóm KNDH chung: Là những KN mà GV phải sử dụng trong tất cả các tiết học Toán, không thể bỏ qua được ở bất cứ một tiết học nào, nó bao gồm các KNDH sau: * KN giới thiệu bài: Lôi cuốn sự chú ý của HS bằng cách đưa HS vào các tình huống có vấn đề. Tình huống có vấn đề sử dụng trong tiết Toán thường đơn giản, có thể là một bài toán lời giải còn bỏ ngỏ hoặc một câu hỏi có vấn đề, cũng có thể là một trò chơi. (khác với lối vào bài của phân môn Tiếng Việt). * KN trình bày bảng: Một yêu cầu chung của trình bày bảng ở tiểu học là cần phải đẹp, khoa học, hợp lí. Đối với môn Toán, đây là một KN không thể thiếu bởi vì toán học đòi hỏi sự lôgíc, chặt chẽ cao. Các kiến thức được GV trình bày sẽ đọng lại trên bảng cho đến hết tiết học. * KN trình bày lời giảng: Sử dụng ngôn ngữ phù hợp với đối tượng HS và đặc trưng ngôn ngữ môn Toán, từ ngữ cần dễ hiểu nhưng khi đã sử dụng thuật ngữ toán học cần chính xác, khoa học. Nên có nhiều cách diễn đạt khác nhau để HS dễ hiểu rõ một vấn đề toán học. Nên bắt đầu bài giảng bằng cách đặt một vấn đề lôi cuốn sự chú ý của các em vào bài học, bắt đầu bài giảng từ dễ đến khó…vv. * KN sử dụng câu hỏi: Đây là một trong những KN quan trong trong quá trình tiến hành tổ chức hoạt động học tập cho HS ở bất kì một môn học nào. Nó chính là chìa khoá giúp GV tổ chức tốt mọi hoạt động tập của trò, đồng thời cũng là nút mở dẫn dắt trò đi tới tri thức mới trong mỗi bài học. Để có được KN đặt câu hỏi trong quá trình dạy học môn Toán đòi hỏi GVTH phải sử dụng một cách hợp lí, linh hoạt các loại câu hỏi sau: Câu hỏi về kiến thức cơ bản: Câu hỏi có tác dụng kiểm tra và cũng cố kiến thức mà HS bắt buộc phải ghi nhớ để vận dụng cho đúng, loại câu hỏi này có thể sử dụng khi kiểm tra bài cũ hoặc cũng cố bài, nhiều khi cũng có thể sử dụng trong quá trình hướng dẫn HS làm bài tập giúp HS nhớ lại một công thức, khái niệm toán học mà các em đã được học trước đó. Câu hỏi nêu chi tiết bài học: Đây là loại câu hỏi nhằm tái hiện lại nội dung cụ thể các phần của bài học, đi vào những khía cạnh, những mặt khác nhau của đối tượng đang khảo sát, giúp HS nắm và hiểu bài một cách đầy đủ. Hiểu một cách đơn giản hơn, đây là những câu hỏi GV sử dụng trong quá trình hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung kiến thức mới, là cơ sở dẫn dắt giúp các em phát hiện ra kiến thức mới của bài học. Câu hỏi khái quát, tổng hợp: Là loại câu hỏi giúp HS hệ thống hoá bài học, có cách đánh giá, nhận thức đầy đủ bao quát một vấn đề, một đối tượng trước khi vận dụng nó vào thực tế. Cụ thể, trong môn Toán, dạng câu hỏi này sẽ giúp HS khái quát được các công thức, quy tắc và khái niệm toán học. Câu hỏi định hướng: Loại câu hỏi này đặt ra không nhằm mục đích để HS trả lời các tri thức đã tiếp thu và nghi nhớ. Nó có chức năng định hướng, bổ sung thông tin giúp HS phát hiện ra logic và bản chất của vấn đề. Trong dạy học toán ở tiểu học, những câu hỏi định hướng của GV sẽ giúp HS tháo gỡ được những vướng mắc, khó khăn trong quá trình giải bài tập. Việc sử dụng câu hỏi định hướng sẽ góp phần đáng kể cho quá trình dạy học tích cực, thầy chỉ là người hướng dẫn và gợi mở chứ không phải làm thay trò hết thảy mọi việc mà trò phải tự mình tìm lấy tri thức. Câu hỏi nêu vấn đề: Là những câu hỏi tạo nên được trạng thái tâm lí độc đáo nhằm giải quyết những “mâu thuẫn” của tư duy mà dựa vào đây GV có thể cài đặt những thông tin cần thiết tạo nên vấn đề cần hỏi. Có thể nói đây là loại câu hỏi có ý nghĩa tích cực vì nó không chỉ “khơi nguồn” cho tư duy mà nó còn tập trung “năng lượng” và “cường độ” tư duy của HS trước những vấn đề được xem là hóc búa. Loại câu hỏi này có thể dùng để mở rộng, đào sâu kiến thức toán cho những HS khá, giỏi nhưng cũng có thể dùng để mở đầu cho một tiết học, chỉ khi nào HS chiếm lĩnh kiến thức mới của bài học thì lúc đó vấn đề câu hỏi của GV đặt ra ở đầu buổi học mới được giải quyết. Không nhất thiết phải sử dụng tất cả các loại câu hỏi trong một tiết học. Tuỳ vào đối từng đối tượng học sinh cũng như mục đích cần đạt mà GV có thể lựa chọn loại câu hỏi cho phù hợp. Vấn đề đặt ra ở đây, khi đặt một câu hỏi GV phải xác định được năm yếu tố: Mục đích đặt câu hỏi; nội dung câu hỏi; đối tượng sử dụng câu hỏi; thời gian tiêu tốn của câu hỏi và đáp án của câu hỏi. Để sử dụng câu hỏi một cách có hiệu quả trong một tiết học yêu cầu đòi hỏi người GV phải có KN sử dụng câu hỏi một cách tổng hợp: - KN thiết kế câu hỏi. - KN đặt câu hỏi. * Kĩ năng sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán : Đồ dùng dạy học môn Toán không phức tạp như các môn Địa lí, Lịch sử hay Khoa học (bản đồ, biểu đồ, thí nghiệm..vv) mà chủ yếu là các đồ dùng trực quan. Tuy nhiên để sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán có hiệu quả yêu cầu GV có được những KN cơ bản khi sử dụng mỗi loại đồ dùng, một trong những KN quan trọng nhất quyết định chất lượng hiệu quả của việc sử dụng đồ dùng dạy học đối với chất lượng dạy học môn Toán chính là KN lựa chọn và sử dụng đồ dùng đúng thời điểm. * KN làm chủ giáo án, làm chủ thời gian của tiết học: Giáo viên phải chủ động được thời gian và kế hoạch dạy học của mình, đảm bảo truyền tải đủ nội dung trong đúng phạm vi thời gian cho phép. * KN tổ chức các hình thức học tập khác nhau cho HS ở trong lớp: Giáo viên tiểu học không thể duy trì một hình thức dạy học duy nhất trong một tiết học, đặc biệt đối với môn Toán là bộ môn tương đối khô khan. Vì vậy, cần sử dụng linh hoạt nhiều hình thức dạy học khác nhau trong một tiết học nhằm kích thích được hứng thú và niềm say mê học tập cho các em, tránh sự nhàm chán, đơn điệu. Một số hình thức dạy học thường được dùng như: - Dạy học cá nhân: Nhằm tạo điều kiện để phát huy tối đa năng lực của mỗi HS. Dạy học cá nhân đòi hỏi GV có KN quan sát, phát hiện khó khăn của từng HS để đưa ra được những gợi ý, hoạt động động phụ giúp HS kém hoàn thành được công việc học tập. Đồng thời, cần có những câu hỏi nâng cao để HS khá giỏi không cảm thấy nhàm chán, vì họ có khả năng hoàn thành công việc sớm hơn những HS khác. - Dạy học theo nhóm: Hình thức dạy học này nhằm rèn KN giao tiếp, giúp HS có khả năng hợp tác với tập thể, có khả năng thích ứng được với hoàn cảnh, phát triển ngôn ngữ và tư duy. Để dạy học theo nhóm có kết quả tốt đòi hỏi GV có KN phân chia nhóm một cách khoa học và hợp lí tuỳ vào nội dung bài học và đối tượng HS cụ thể. Hơn nữa, việc giao nhiệm vụ cũng phải thật rõ ràng và cụ thể. HS phải bàn bạc, thảo luận, thực hành để hoàn thành nhiệm vụ được giao. - Dạy học toàn lớp: GV dạy học toàn lớp khi cần thông báo, giải thích tổng kết ý kiến của HS, hướng dẫn cho cả lớp thực hiện nhiệm vụ học tập, tổ chức cho cả lớp trao đổi ý kiến về một vấn đề nào đó. b. Nhóm KNDH chuyên biệt: Là những KN dùng để tiến hành tổ chức các hoạt động học tập cho HS dựa vào cấu trúc riêng của từng kiểu bài cụ thể ở mỗi lớp, bao gồm các KNDH môn Toán sau: * KN tổ chức, tiến hành các hoạt động học tập cho HS trong tiết “hình thành kiến thức mới”. * KN tổ chức, tiến hành các hoạt động học tập cho HS trong tiết “thực hành, luyện tập, ôn tập”. Trong phần PPDH các kiểu bài, chúng tôi đã phân chia PPDH các kiểu bài ở mỗi khối lớp có sự khác nhau. Chính vì vậy, việc xây dựng quy trình hình thành “KN tổ chức, tiến hành các hoạt động học tập cho HS trong tiết hình thành kiến thức mới” cũng được phân theo khối lớp sẽ được trình bày một cách cụ thể hơn trong quá trình chúng tôi xây dựng quy trình ở phần sau. 3.2.2. KN dự đoán và xử lí các tình huống sư phạm xẩy ra trong giờ học Toán. Thông qua kết quả nghiên cứu thực tiễn việc nhận thức của GTTH về KNDH cũng như thực trạng KNDH môn Toán của GVTH chúng tôi thấy rằng: Việc dự đoán và xử lí các tình huống sư phạm xẩy ra trong giờ học Toán hiện nay vẫn đang còn là một vấn đề tương đối khó khăn với không ít giáo viên tiểu học. Hầu hết GV thường lúng túng trước các tình huống. Nguyên nhân dẫn đến KN dự đoán và xử lí các tình huống sư phạm trong giờ Toán của GVTH còn hạn chế là : - Do GV không có kĩ năng phán đoán trước tình huống . - Nhiều GV chưa có được một kiến thức Toán học vững chắc nên khi gặp những tình huống ngoài dự kiến hoặc những tình huống phức tạp không đủ kiến thức để giải quyết. - Nguyên nhân thường gặp nhất dẫn đến khả năng xử lí tình huống yếu, kém của GV là khả năng phản ứng của GVTH trước các tình huống chậm, có thể họ đủ khả năng để giải quyết tình huống đó nhưng ngay tức thì không biết làm thế nào dẫn đến làm cho giờ học trở nên bế tắc. Xuất phát từ những nguyên nhân trên chúng ta thấy rằng, việc hình thành KN dự đoán và xử lí tình huống sư phạm trong dạy học môn Toán cho GVTH cũng như SV ngành GDTH là một điều hết sức khó khăn. Để có được KN này đòi hỏi sự cố gắng cũng như năng lực vốn có của bản thân người GV là chủ yếu, mọi tác động bên ngoài chỉ là thứ yếu. Nói như vậy để thấy được rằng ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường sư phạm, SV cần phải có ý thức tập luyện để hình thành KN này ít nhất phải đạt được ở mức độ tối thiểu. Để thuận lợi cho việc hình thành “KN dự đoán và xử lí các tình huống sư phạm xẩy ra trong giờ học Toán”, chúng tôi phân thành những KN chi tiết hơn để xây dựng quy trình, cụ thể: - KN dự đoán trước các tình huống có thể xẩy ra trong tiết Toán: Đây chính là khả năng dự đoán trước các tình huống của GV. Trong quá trình thiết kế các hoạt động học tập cho HS, căn cứ vào nội dung của bài học cũng như đặc điểm nhận thức HS của lớp mình về môn Toán mà GV có thể dự đoán được HS sẽ vướng mắc ở những chổ nào. Cũng có thể GV chủ động chuẩn bị trước những tình huống gài bẫy để tạo ra các tình huống thú vị trong tiết học Toán. - KN xử lí các tình huống sư phạm xẩy ra trong tiết học đã được dự đoán trước: Nếu tình huống diễn ra theo dự định của GV từ trước, GV xử lí tình huống đó theo kế hoạch mà mình đã định - KN xử lí các tình huống sư phạm xẩy ra trong tiết học mà chưa được dự đoán trước: KN xử lí các tình huống ngoài dự đoán, đối với loại tình huống này GV có thể xử lí được ngay cũng có thể không, vấn đề đặt ra ở đây là người GV có phải được KN xoay chuyển tình huống, làm thế nào để HS luôn tin tưởng vào năng lực của mình. Nếu biết GV có thể giải thích ngay cho HS tại lớp nhưng nếu chưa nắm vững bản chất của vấn đề thì không nên trả lời HS một cách qua loa đại khái vì rằng toán học đòi hỏi tính chính xác cao. Chúng tôi hy vọng rằng, với việc phân chia KNDH thành những KN nhỏ hơn như vậy để xây dựng quy trình sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc hình thành những KNDH môn Toán cơ bản cho SV ghành GDTH. 3.2.3. Một số vấn đề cần lưu ý khi hình thành KNDH môn Toán cho SV ngành GDTH. Trong đề tài này chúng tôi chỉ tập trung xây dựng quy trình hình thành KNDH môn Toán cho hai KN cơ bản: “KN tổ chức giám sát các hoạt động học tập cho HS.( Tổ chức các mối quan hệ giữa GV và HS, giữa HS với tài liệu học, giữa HS với nhau giúp HS chiếm lĩnh tri thức mới và cách thức hành động mới trong tiết học Toán)” và “KN dự đoán và xử lí các tình huống sư phạm xẩy ra trong giờ học Toán”. Điều đó không có nghĩa những KNDH môn Toán còn lại là không quan trọng và cần thiết, SV cần phải luyện tập một cách tích cực để hình thành được tất cả các KNDH môn Toán cần có nói riêng cũng như KNDH các môn học khác nói chung, đạt được ở mức cần thiết tối thiểu trước khi kết thúc khoá học. Hệ thống tri thức có ảnh hưởng đến việc hình thành KN. Để hình thành KNDH môn Toán trước hết SV phải trang bị cho mình một hệ thống tri thức toán học cơ bản về Toán đại cương: Đại số sơ cấp, hình học sơ cấp, cấu trúc đại số, lí luận dạy học môn Toán, PPDH môn Toán …vv, đó là những kiến thức cơ bản bắt buộc SV phải nắm. Ngoài ra, SV còn phải nắm vững kiến thức và có KN giải Toán tiểu học từ mức độ dễ đến khó…vv. Hệ thống tri thức này nó sẽ quy định việc hình thành KNDH của SV, SV nào có một hệ thống tri thức vững chắc thì việc hình thành KNDH sẽ trở nên thuận lợi hơn và ngược lại. Dạy Toán ở tiểu học theo tình thần đổi mới là sử dụng các PPDH hiện đại dựa trên cơ sở tổ chức các hoạt động học tập thích hợp cho học sinh. Vì thế cần phải trang bị cho SV các PPDH hiện đại trong dạy học môn Toán, giúp cho SV nắm vững các PPDH môn Toán ở tiểu học cũng như tổ chức hướng dẫn cho SV nắm vững quy trình sử dụng từng phương pháp và cách thức phối hợp các phương pháp trong giờ học Toán. 3.3 QUY TRÌNH HÌNH THÀNH KNDH MÔN TOÁN CHO SV NGÀNH GDTH 3.3.1 Quy trình chung. Bước 1: - Xác định rõ mục đích, yêu cầu cần đạt của các môn Toán cần hình thành. - Xác định rõ cách thức, điều kiện hành động của những KNDH đó.(Xem l¹i) Bước 2: Huy động những kiến thức đã học có liên quan đến KNDH môn Toán cần hình thành. Bước 3: Tổ chức tập luyện (vừa quan sát mẫu vừa tập luyện theo mẫu). Tổ chức cho SV tập luyện các KNDH môn Toán thông qua các tiết tập giảng ở trường sư phạm và ở trường tiểu học . Bước 4: Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả rèn luyện KNDH môn Toán của SV. 3.3.2 Quy trình cụ thể Trong giới hạn đề tài này chúng tôi chỉ xây dựng quy trình hình thành KNDH môn Toán cho hai KN : “KN tổ chức giám sát các hoạt động học tập cho HS. (Tổ chức các mối quan hệ giữa GV và HS, giữa HS với tài liệu học, giữa HS với nhau giúp HS chiếm lĩnh tri thức mới và cách thức hành động mới trong tiết học Toán)” và “KN dự đoán và xử lí các tình huống sư phạm xẩy ra trong giờ học Toán”. Để thuận lợi cho việc tập luyện của SV, chúng tôi sẽ đi vào xây dựng quy trình chi tiết và cụ thể cho từng KNDH môn Toán một như đã phân chia ở trên. 3.3.2.1. Quy trình hình thành KN tổ chức, giám sát các hoạt động học tập cho HS. a. Nhóm KNDH chung. * KN giới thiệu bài. Bước 1: Lựa chọn ngữ liệu và hình thức giới thiệu sao cho phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS cũng như nội dung trọng tâm của bài. Ngữ liệu dùng để giới thiệu là một tình huống, một câu hỏi, một bài toán có vấn đề mà HS chưa thể trả lời và có đáp số ngay được, đối với những bài có nội dung đơn giản hoặc HS đã được học sang tiết thứ 2 GV có thể đi thẳng vào giới thiệu trọng tâm nội dung bài học mới. VD1: Với bài “ Mi- li- mét vuông. Bảng đơn vị đo diện tích” (Toán 5), có thể sử dụng những câu hỏi sau: 1.Em nào liệt kê được tất cả những đơn vị đo diện tích đã học theo thứ tự từ lớn đến bé? 2. Xăng- ti-mét vuông đã phải là đơn vị bé nhất chưa ? Bước 2: GV chốt lại vấn đề và ghi tên bài lên bảng. VD2: Ở VD1, sau khi đặt câu hỏi 2, để HS suy nghĩ một lúc rồi GV mới chốt lại vấn đề: Xăng- ti- mét vuông chưa phải là đơn vị đo diện tích bé nhất, để biết được đơn vị nào là đơn vị đo diện tích bé nhất hôm nay chúng ta sẽ học bài “Mi- li- mét vuông. Bảng đơn vị đo diện tích”.(đồng thời GV ghi tên bài lên bảng). * KN trình bày bảng. Bước 1: Căn cứ vào nội dung của từng tiết học để dự tính trước các phần bảng cần trình bày. Bước 2: Kết hợp giảng và ghi những nội dung cần thiết lên bảng. Nội dung ghi lên bảng trong quá trình dạy học môn Toán thường được sắp xếp theo trình tự sau: - Tên môn học (Toán) - Tên bài - Sau khi ghi tên môn học và tên bài nếu là tiết “hình thành kiến thức mới” bảng thường được chia làm hai phần: Phần tay trái của bảng ghi bài toán bao gồm cả lời giải (nếu có) hoặc ví dụ và các quy tắc, phép toán, các công thức toán học... Phần tay phải là các bài tập luyện tập, không yêu cầu GV phải ghi tất cả các bài HS làm lên bảng, với bài tập đầu tiên GV nên ghi để làm mẫu cho HS, ở bài tập số 2,3…nên thay đổi hình thức HS làm vào bảng phụ hoặc làm trực tiếp vào vở bài tập. VD1: Bài “Dấu hiệu chia hết cho 5” (Toán 4) có thể trình bày bảng như sau: Tổng số: 30 Vắng: 0 Thứ 2 ngày 6 thán 2 năm 2007 Toán Dấu hiệu chia hết cho 5 I. Ví dụ: II. Luyện tập 20:5=4 41:5=8(dư1) Bài 1. Trong các số 35; 8;57; 30:5=6 32:5=6(dư2) 4674; 3000; 945; 5553; 660. 40:5=8 53:5=10(dư3) a) Số chia hết cho 5: 35; 660 15:5=3 44:5=8(dư4) 35; 3000; 945 25:5=5 46:5=9(dư1) b) Số không chia hết cho 5: 35:5=7 37:5=7(dư2) 8; 57; 4674; 5553. 58:5=11(dư3) Bài 2: (Làm vào vở bài tập) 15:5=3(dư4) Bài 3: (Đề bài : SGK- Tr96) Dấu hiệu chia hết cho 5: Bài làm Các số có chữ số tận cùng là Các số có chứa ba chữ số 0 hoặc 5 thì chia hết cho 5. 0,5,7 và đều chia hết cho 5 là 570 , 750 và 705 . - Đối với tiết “luyện tập, ôn tập, thực hành” bảng cũng được chia thành hai phần cho HS dễ quan sát nhưng phía tay trái và tay phải của bảng đều ghi thứ tự các bài tập và cách giải của mỗi bài nếu GV thấy cần thiết. Thông thường nên chia bảng thành hai phần, tuy nhiên GV nên linh động không áp dụng một cách quá rập khuôn, tuỳ vào nội dung và dung lượng kiến thức của bài mà lựa chọn cách trình bày bảng cho hợp lí. Bước 3: Kiểm tra lỗi chính tả trên bảng. GV luôn luôn luôn kiểm tra lỗi chính tả ở trên bảng lớp. Khi phát hiện sai lỗi chính tả cần phải đính chính kịp thời, tránh gây hiểu nhầm cho HS. * KN trình bày lời giảng. Bước 1: Chuẩn bị kĩ lời giảng Xác định rõ điều cần giảng cho HS (Cái gì cần giảng?Giảng vào lúc nào? Giảng như thế nào? Vì sao cần giảng?). Nghiên cứu kĩ vấn đề cần giảng, tìm và lựa chọn ý chính rồi sắp xếp chúng theo một trật tự lôgíc đi từ dễ đến khó đồng thời ghi ra phiếu các bước đi chủ yếu của bài giảng. Bước 2: Tập giảng thử Sau khi chuẩn bị xong kế hoạch giảng, cần tự kiểm tra xem đã nắm chắc nội dung cần giảng hay chưa bằng cách giảng thử (có thể tự độc thoại). Bước 3: SV tập trình bày lời giảng trước đối tượng chính là HS Trình bày lời giảng theo kế hoạch đã chuẩn bị trước nhưng GV cũng cần phải linh động trong những trường hợp cụ thể. Trong khi giảng, GV nên đứng ở một vị trí mà tất cả HS có thể nhìn rõ GV và thầy cô cũng có thể bao quát được các em, tránh đi lại quá nhiều trong phòng học làm phân tán suy nghĩ của HS. Bước 4: SV tập kết thúc bài giảng Cuối phần giảng bài phải có phần tóm tắt nêu bật những ý chính để HS nắm chắc trọng tâm của bài học.Khi kết thúc bài giảng trong dạy học môn Toán có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau: Sử dụng những câu hỏi trực tiếp đi thẳng vào trọng tâm của bài; thông qua bài tập để nhắc lại một công thức hay một quy tắc toán học; nhiều khi GV cũng có thể kết thúc bài bằng cách tự tóm tắt nội dung trọng tâm của bài cho HS nghe. Tuỳ vào độ khó của bài cũng như đặc điểm nhận thức của HS để lựa chọn cách kết thúc bài hợp lí. * KN sử dụng câu hỏi. + KN thiết kế câu hỏi: Bước 1: Nắm vững nội dung và trình tự kiến thức của bài. Bước 2: Liên hệ các kiến thức của bài với những kiến thức toán học có liên quan mà HS đã được học trước đó. (Kiến thức HS học ở bài trước lớp hoặc kiến thức có liên quan ở những môn học khác) VD: Với bài “Dấu hiệu chia hết cho 5” kiến thức mà GV cần liên hệ là các bảng chia mà HS đã được học ở lớp 3. Bước 4: Lựa chọn loại câu hỏi phù hợp với mục đích và nội dung cần hỏi. Bước 5: Thiết kế hệ thống câu hỏi để sử dụng trong tiết Toán. VD: Khi dạy bài “Dấu hiệu chia hết cho 5”, có thể thiết kế hệ thống câu hỏi để sử dụng trong quá trình hướng dẫn HS tìm hiểu bài như sau: - Em hãy liệt kê những số chia hết cho 5? (HS liệt kê - GV ghi những số HS liệt kê lên bảng) - Em hãy liệt kê những số không chia hết cho 5? ( có số dư là 1,2,3,4,5…) - Những số ở bảng chia hết cho 5 có đặc điểm gì? (Nếu trường hợp HS không phát hiện ra GV có thể dùng câu hỏi phụ để gợi ý: Những số chia hết cho 5 là những số có chữ số tận cùng là mấy?) - Những số như thế nào thì không chia hết cho 5? - Em hãy cho biết dấu hiệu chia hết cho 5? - Số 450 có chia hết cho 5 không ? Vì sao? + KN đặt câu hỏi: Bước 1: Đặt câu hỏi cho HS. GV nêu câu hỏi cho HS, sau khi đưa ra câu hỏi GV trừ ra khoẳng thời gian ít nhất là 30 giây để hầu hết HS có để thời gian suy nghĩ. Đặc biệt với môn Toán có những câu hỏi đòi hỏi cần phải tính toán thì yêu cầu về thời gian lâu hơn. Bước 2: Chỉ định HS trả lời Một câu hỏi đưa ra không nên để duy nhất một HS trả lời, nên có khoảng 2-3 em trả lời bổ sung cho nhau. Tuỳ vào cách GV tổ chức hình thức dạy học để lựa chọn HS trả lời, dạy học cá nhân yêu cầu HS phải giơ tay, dạy học theo nhóm bắt buộc đại diện của tất cả các nhóm phải trả lời và bổ sung cho nhau, cũng có những câu hỏi đưa ra yêu cầu cả lớp phải trả lời đồng thanh. Bước 3: Nhận xét câu trả lời của HS Đối với môn Toán đòi hỏi tính chính xác cao, câu hỏi GV đưa ra bao giờ cũng có đáp án rõ ràng vì vậy khi nhận xét GV phải khẳng định được câu trả lời của HS là đúng hoặc sai hay còn thiếu sót ở những điểm nào, tránh nhận xét một cách mập mờ. Trong quá trình nhận xét GV phải biết khuyến khích và khen ngợi đối với những HS có câu trả lời hay và độc đáo. *KN sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán. Bước 1: Lựa chọn những đồ dùng dạy môn Toán học phù hợp với nội dung của bài. VD: Với bài “Hình vuông, hình tròn”(Lớp 1), Có thể chuẩn bị trước những đồ dùng như: Một số hình vuông và hình tròn bằng bìa (hoặc bẵng gỗ, nhựa) có kích thước và màu sắc khác nhau. Lựa chọn một số vật thật có bề mặt là hình tròn như quả bóng bàn, bóng đá, quả thị..vv, một số vật có bề mặt là hình vuông như hộp phấn hình lập phương, con súc sắc..vv Bước 2: Kiểm tra chất luợng đồ dùng dạy học môn Toán trước khi mang vào sử dụng. Bước 3: Sử dụng và hướng dẫn HS sử dụng trong quá trình dạy học. Trong dạy học môn Toán, đồ dùng dạy học không chỉ là phương tiện dành riêng cho GV trong việc hướng dẫn HS tiếp thu bài mà nó còn là một công cụ, thông qua sử dụng đồ dùng giúp cho HS chiếm lĩnh tri thức một cách nhanh nhất.Tuy nhiên, để HS sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán có hiệu quả cần phải có sự hướng dẫn cụ thể của GV. VD: Trong bài “ Xăngtimét. Đo độ dài” (Lớp1), HS muốn biết cách đo độ dài phải trực tiếp sử dụng thước kẻ với đơn vị đo là xăngtimét trực tiếp thực hành đo dưới sự hướng dẫn của GV. * KN làm chủ giáo án, làm chủ thời gian của tiết học Toán. Bước 1: Thiết kế tốt mọi hoạt động dạy học. Bước 2: Căn trước thời gian cho các hoạt động. Bước 3: Giảng giải các nội dung thông tin theo trình tự đã định. Bước 4: Giải quyết nhanh những vướng mắc, khó khăn HS gặp phải trong quá trình tiếp nhận thông tin. Trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập cho HS, GV phải luôn luôn nắm bắt được khả năng hiểu bài của các em. Khi gặp vấn đề phức tạp, khó khăn, biết phân tích, giải thích cho dản dị, dễ hiểu hơn để HS hiểu rõ. Sẵn sàng trả lời thoả đáng những câu hỏi của HS. * KN tổ chức các hình thức dạy học khác nhau cho HS. Buớc 1: Thông báo về hình thức dạy học trước cho HS chuẩn bị. Thường chỉ thông báo khi tổ chức cho các em học nhóm hoặc kết thúc học nhóm để chuyển sang hình thức dạy học khác. Bước 2: Tổ chức các hình thức dạy học tương ứng với các hoạt động học tập của HS trong giờ học Toán. Bước 3: Kiểm tra đánh giá ưu nhược điểm khi sử dụng hình thức dạy học đó. b. Nhóm KNDH chuyên biệt: * KN tổ chức, tiến hành các hoạt động học tập cho HS trong tiết “hình thành kiến thức mới”. + Lớp 1: Bước 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu yêu cầu nội dung ở phần tình huống của phiếu học. Bước 2: Giúp HS huy động kiến thức vốn sống đã có để phát hiện và giải quyết vấn đề. Bước 3: Hình thành kiến thức mới cho HS. Bước 4: Tổ chức cho HS diễn đạt kiến thức vừa chiếm lĩnh được dưới dạng ngôn ngữ nói. GV cho HS nhắc lại công thức, quy tắc toán học nhiều lần. Hình thức tổ chức hỏi – đáp giữa GV và HS, HS đọc theo tổ hoặc cho HS đọc đồng thanh cả lớp. Bước 5: Tổ chức, hướng dẫn HS thực hành, luyện tập thông qua một số bài tập ở SGK. Có thể tổ chức hướng dẫn HS lớp 1 làm các bài tập ở SGK theo trình tự sau: (tuần tự làm từng bài một, không tiến hành cùng một lúc làm hai hoặc ba bài) - GV ghi đề bài lên bảng. (Đối với những bài bao gồm nhiều phép tính, GV chỉ nên chọn một số phép tính tiêu biểu) - Nhắc lại yêu cầu đề bài cho HS rõ.(Do đầu năm lớp 1 khả năng đọc của HS còn hạn chế, khi HS có khả năng đọc cả tiếng bước này nên để HS thực hiện) - GV cùng với HS thực hiện một đến hai phép tính (hoặc yêu cầu của bài tập). - HS tự làm bài vào vở (hoặc yêu cầu một số em lên bảng làm) - GV tổ chức cho HS chữa bài lẫn nhau - GV đưa ra kết luận. Đây là trình tự đầy đủ thường áp dụng khi hướng dẫn HS làm bài tập số 1, sang đến bài tập số 2 hoặc 3 khi HS đã quen thì GV có thể bỏ bớt một số khâu. + Lớp 2,3: Bước 1: Tổ chức cho HS tự nêu yêu cầu của bài toán (hoặc yêu cầu của phần tình huống). Bước 2: Bằng câu hỏi giúp HS phát hiện ra vấn đề cần giải quyết của bài toán (hoặc của tình huống). Bước3: Tổ chức HS tự giải quyết vấn đề của bài toán Bước 4: Tổ chức cho HS tự hình thành và chiếm lĩnh tri thức mới . Bước 5: Tổ chức, hướng dẫn cho HS thực hành, luyện tập cũng cố các tri thức vừa chiếm lĩnh được thông qua một số bài tập ở SGK. + Lớp 4,5: Vì cấu trúc của kiểu bài “hình thành kiến thức mới” ở lớp 4,5 có bản giống với lớp 2,3. Chỉ khác nhau ở chổ mức độ trừu tượng và khái quát về nội dung kiến thức của lớp 4,5 cao hơn so với lớp 2,3. Do vậy có thể áp dụng quy trình dạy học kiểu bài “hình thành tri thức mới ở lớp 2,3 cho lớp 4,5. Tuy nhiên, khi dạy học cần lưu ý đến đối tượng HS để lựa chọn hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp. * KN tổ chức, tiến hành các hoạt động học tập của HS trong tiết “Thực hành, luyện tập, ôn tập”( từ lớp 1 đến lớp 5). Bước 1: Tổ chức hướng dẫn cho HS phát hiện ra vấn đề cần giải quyết trong các bài tập. - HS đọc kĩ đề bài - HS nêu lên được đề bài yêu cầu gì? Bước 2: Giúp HS phát hiện ra kiến thức mới trong các dạng bài toán khác nhau (kiến thức được học trong tiết “hình thành kiến thức mới” ở tiết trước). Làm thế nào để HS biết được bài toán đó cần áp dụng công thức hay quy tắc toán học nào mà các em đã được học ở tiết truớc để giải. Bước 3: Tổ chức cho HS lần lượt làm các bài tập trong GSK. Bước 4: Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả làm bài tập của HS Có hai hình thức kiểm tra, có thể cho HS tự kiểm tra chéo bài của nhau hoặc GV kiểm tra bài cho HS. Thông thường trong tiết luyện tập GV nên đánh giá kết quả làm bài của HS bằng điểm số để biết được khả năng hiểu bài của các em đến đâu cũng như giúp HS nhận ra sai sót của mình trong quá trình làm bài. Bước 5: Chữa bài làm của HS. Chỉ chữa đối với những bài HS làm còn sai và chữa sau khi chấm hoặc đã kiểm tra đánh giá. Có hai hình thức chữa bài. - Đối với những bài khó thì GV nên trực tiếp chữa bài và giảng lại thật cụ thể cho HS hiểu. - Đối với bài dễ những vẫn còn những HS làm sai, GV có thể gọi những HS khá, giỏi lên chữa bài. 3.3.2.2. Quy trình hình thành KN dự đoán và xử lí các tình huống sư phạm có thể xẩy ra trong giờ học Toán a. KN dự đoán trước các tình huống sư phạm có thể xẩy ra trong giờ học Toán. Bước 1: Tìm hiểu và nắm vững đặc điểm nhận thức của HS mà mình sẽ thực hiện tiết dạy. Bước 2: Thiết kế các hoạt động học tập cho HS. Bước 3: Căn cứ vào hai bước trên để dự đoán tình huống HS có thể gặp vướng mắc khó khăn trong quá trình học tập. Bước 4: Dự kiến trước một số giải pháp xử lí tình huống b. KN Xử lí các tình huống sư phạm xẩy ra trong tiết học đã được dự đoán trước. Bước 1: Phân tích, nhận dạng tình huống. Bước 2: Xác định vấn đề trọng tâm cần giải quyết Bước 3: Lựa chọn một giải pháp tối ưu nhất trong các giải pháp đã dự kiến để giải quyết tình huống. Bước 4: Rút ra bài học kinh nghiệm. c. KN xử lí các tình huống sư phạm xẩy ra trong tiết học mà chưa được dự đoán trước. Bước 1: Phân tích và nhận dạng tình huống Bước 2: Xác định nhanh vấn đề trọng tâm của tình huống, đề ra phương hướng giải quyết. Bước 3: Lệt kê các phương án giải quyết, chọn phương án tối ưu để quyết và nêu lên cơ sở khoa học của cách giải quyết này. Có hai cách lựa chọn phương án giải quyết: - Đối với tình huống dễ, GV lựa chọn phương án tối ưu giải quyết thắc mắc ngay cho HS ngay tại lớp. - Đối với loại tình huống khó mà ngay chính bản thân GV cũng đang gặp vướng mắc khó khăn thì cần phải suy xét thật kĩ truớc lúc đưa ra câu trả lời cho HS, không trả lời HS một cách mập mờ, thiếu cơ sỏ khoa học. Nếu chưa có đáp án chính xác có thể hẹn trò dịp khác nhưng ở đây đòi hỏi người GV đó phải có được KN xoay chuyển tình huống, làm thế nào để HS luôn tin tưởng vào năng lực của mình. Bước 4: Rút ra bài học kinh nghiệm. X©y dùng c¸c tiªu chÝ ®Ó ®¸nh gi¸ møc ®é chÝnh x¸c, thµnh th¹o trong viÖc thùc hiÖn c¸c b­íc nªu trªn - Nh÷ng néi dung cña c¸c b­íc nªu trªn nªn yªu cÇu SV tù rÌn luyÖn vµ sö dông c¸c tiªu chÝ ®Ó ®¸nh gi¸ viÖc thùc hiÖn - Yªu cÇu SVchän mét néi dung d¹y häc cô thÓ ®Ó thùc hiÖn, c¶ nhãm sÏ®¸nh gi¸ theo c¸c tiªu chÝ ®· thèng nhÊtt - 3.4 THỬ NGHIỆM QUY TRÌNH VÀ KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docHình thành KN dạy học môn Toán cho SV ngành GDTH.doc
Luận văn liên quan