Hoàn thiện cơ chế chính sách thương mại quản lý dịch vụ quảng cáo trên truyền hình phù hợp với các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ĐHTM

I. Cơ sở lý thuyết 1. Chính sách thương mại 2. Vai trò của chính sách thương mại II. Thực trạng quảng cáo trên truyền hình 1. Thực trạng quảng cáo ở Việt Nam 2. Thực trạng quản lý, những điểm phù hợp và không phù hợp III. Nguyên nhân và giải phát hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp cam kết quốc tế 1. Nguyên nhân của sự không phù hợp 2. giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp cam kết quốc tế

doc22 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 07/09/2013 | Lượt xem: 1697 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hoàn thiện cơ chế chính sách thương mại quản lý dịch vụ quảng cáo trên truyền hình phù hợp với các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ĐHTM, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
I, LÝ THUYẾT 1, Chính sách thương mại Chính sách thương mại là hệ thống các quan điểm, chuẩn mực, thể chế, biện pháp, thủ thuật mà nhà nước sử dụng và tác động vào thị trường để điều chỉnh các hoạt động thương mại trong và ngoài nước phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế- trong từng giai đoạn nhất định. Về thực chất chính sách thương mại là một bộ phận của chính sách kinh tế của Nhà nước, nó có quan hệ chặt chẽ và phục vụ cho sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước . Các loại chính sách thương mại: Theo phạm vi tác động có chính sách thương mại nội điạ, chính sách thương mại quốc tế Theo đối tượng tác động của chính sách, có các chính sách đối với thương nhân, chính sách thương mại đặc thù đối với một số sản phẩm hoặc khu vực đặc biệt( ví dụ: chính sách thương mại đối với miền núi,vùng sâu vùng xa, hải đảo. biên giới, khu kinh tế mở, chính sách thương mại hang dệt may, hàng nông thủy sản…) Theo cơ chế quản lý có chính sách bảo hộ mậu dịch, chính sách tự do hóa thương mại. Theo các công cụ chính sách thương mại có các chính sách thuế quan và phi thuế quan Theo nội dung của chính sách thương mại, có chính sách thương nhân, chính sách thị trường, chính sách mặt hàng ,chính sách phát triển hạ tầng và công nghệ, chính sách phát triển và hỗ trợ kinh doanh. 2, Vai trò của chính sách thương mại Thứ nhất, chính sách thương mại góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả. Chính sách thương mại tích cực là một tác nhân gắn sản xuất với thị trường thế giới, dẫn dắt sản xuất đi theo tín hiệu của thị trường, từ đó thúc đẩy sự phân bố và sử dụng nguồn lực một cách hợp lý, hình thành cơ cấu kinh tế có hiệu quả. Thứ hai, chính sách thương mại là một nhân tố quan trọng trong việc khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương và của cả nước để phát triển sản xuất, mở rộng thị trường trong nước và tham gia vào thị trường thế giới, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Thứ ba, chính sách thương mại là công cụ hữu hiệu để Nhà nước thực hiện cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, tăng cường thu hút vốn đầu tư để phát triển kinh tế. Nhờ đẩy mạnh xuất khẩu và nhập khẩu có chọn lọc, cán cân thanh toán quốc tế sẽ giảm thâm hụt, trong trường hợp thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế, nếu có chính sách thương mại phù hợp và quản lý có hiệu quả thì vẫn bảo đảm mức tăng trưởng kinh tế mong muốn Thứ tư, chính sách thương mại phù hợp sẽ có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước, đồng thời bảo hộ cho một số sản phẩm trong nước sức cạnh tranh khốc liệt của nước ngoài, tạo điều kiện cho hàng hóa sản xuất trong nước vươn ra thị trường thế giới Thứ năm, chính sách thương mại còn góp phần mở rộng quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước, nâng cao vị thế nước ta trên thế giới, góp phần vào việc củng cố hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc Thứ sáu, chính sách thương mại có vai trò bảo vệ thị trường nội địa II, Thực trạng quản lý dịch vụ quảng cáo trên truyền hình Hiện nay tất cả các công ty dù lớn hay nhỏ đều phải để ý đến không chỉ là hoạt động sản xuất, cung ứng mà còn phải quan tâm tới khâu tiêu thụ sản phẩm cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm đó trên thương trường. Một trong những công cụ hiệu quả để thu hút, thuyết phục khách hang, thúc đẩy hoạt động bán hang là hoạt động quảng cáo. Đối với các doanh nghiệp, bên cạnh việc quan tâm đến các yếu tố như chất lượng, giá cả hay dịch vụ họ còn quan tâm đến quảng cáo như một vũ khí sắc bén, lợi hại nhằm thu hẹp khả năng chiếm lĩnh và cuối cùng đánh bại các đối thủ cạnh tranh trên thị trường mà mình hoạt động. Mặc dù mới chỉ hơn một thập kỷ kể từ khi Việt Nam bước vào nền kinh tế thị trường xã họi chủ nghĩa nhưng ngành quảng cáo của Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ đặc biệt là lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình. Trong nhiều năm tới, do thị trường cạnh tranh vô cùng khốc liệt, cho nên hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam sẽ vẫn còn vươn mình mạnh mẽ. Tuy nhiên do mới chỉ hình thành và phát triển hơn 10 năm qua, nên quan điểm và cách tiếp cận quảng cáo trên truyền hình chưa được hiểu và đánh giá một cách đúng mực, phương pháp và quá trình quảng cáo vẫn còn mang tính tự phát. Hoạt động quảng cáo trên truyền hình nước ta hiện nay vẫn còn trong tình trạng lộn xộn, kém hiệu quả và đôi khi còn gây tác hại cho người tiêu dung. Do đó vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để cải thiện tình hình và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như tạo lợi ích cho người tiêu dùng và xã hội. 1, Thực trạng hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam Chi phí quảng cáo trên truyền hình trong một số năm gần đây Có thể nói rằng, chỉ khi nước ta chính thức thi hành mô hình cơ chế thị trường và áp dụng các biện pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp cũng như gián tiếp, thì ngành quảng cáo trên truyền hình mới thực sự phát triển một cách chóng mặt với tốc độ tăng trưởng hàng năm luôn vượt 100% trong những năm đầu tiên, chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình từ năm 1993-1996 luôn ở mức năm sau gần gấp đôi hơn năm trước. Chi phí quảng cáo trên truyền hình năm 1995 đạt 34 triệu USD tăng 180% so với năm 1994, năm 1994 so với năm 1993 tăng 150% chỉ đạt 13 triệu USD. Nguyên nhân của sự tăng trưởng như vũ bão của hoạt động quảng cáo trên truyền hình đánh giá từ góc độ chi phí quảng cáo trên truyền hình đó là sự xuất hiện của các công ty liên doanh nước ngoài, cùng với các nhãn hiệu mới xuất hiện tại thị trường Việt Nam của các doanh nghiệp liên doanh này. Trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển này, ngành quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam chủ yếu phát triển về quy mô theo hướng tự phát, chất lượng của các chương trình quảng cáo trên truyền hình trong giai đoạn này vẫn chưa được chú ý. Trong một số năm trở lại đây, hoạt động quảng cáo trên truyền hình bắt đầu hướng tới con đường chuyên nghiệp hơn. Tốc độ tăng trưởng xét về mặt chi phí dành cho quảng cáo trên truyền hình trước đó có phần chững lại. Tốc độ tăng trưởng trung bình từ năm 1997 đến tháng 7năm 2003 vào khoảng 14,5%/ năm. Tuy nhiên nếu đem so sánh với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore hay Malaysia thù tốc độ tăng trưởng trong khoảng thời gian này vẫn được xem là con số mơ ước, đặc biệt ấn tượng khi mà các hoạt động quảng cáo trên mà hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam bắt đầu đi vào giai đoạn phát triển ổn định. Cũng trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng của quảng cáo trên truyền hình ở Malaysia gần như không tăng, thậm chí năm 2001 còn xuất hiện tình trạng âm (-6,1%) so với năm 2000, Thái Lan tuy có khá lớn nhưng mức tăng trưởng trung bình trong thời kỳ này cũng chỉ đạt đến mức tăng trưởng trung bình trong giai đoạn này là 10%/năm. Trong khoảng từ năm 1997-2003, năm 1998 có tốc độ tăng trưởng được coi là thấp nhất kể từ khi ngành quảng cáo trên truyền hình bắt đầu thực sự xuất hiện ở Việt Nam. Năm 1998, mức chi phí dành cho quảng cáo trên truyền hình là 41,6 triệu USD, tăng trưởng âm 2,9% so với năm 1997. Nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng chậm hơn, thậm chí tăng trưởng âm so với các năm khác chủ yếu là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu á vào cuối năm 1997 đầu năm 1998. Trái với năm 1998, năm 2000 có tốc độ nhảy vọt, tăng 49% so với năm 1999 lớn nhất trong 7 năm qua. Chi phí quảng cáo trên truyền hình của riêng năm 2000 là70,793 triệu USD. Những lý do giải thích cho sự nhảy vọt trong chi phí quảng cáo trên truyền hình của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ở Việt Nam là do tình hình kinh tế các nước đã thoát ra khỏi thời kì khủng hoảng tài chính, cũng như biện pháp thích hợp nhằm đẩy mạnh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời áp dụng các biện pháp khuyến khích hơn nữa các doanh nghiệp trong nước phát triển của Nhà nước như tiến hành áp dụng luật doanh nghiệp cuối năm 1999, cũng như th hành luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam sửa đổi. Trong khi đó từ năm 2001 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng quảng cáo trên truyền hình duy trì ở mức ổn định 14% năm, tăng nhanh gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước trong cùng thời kì, điều đó có nghĩa là mức độ đóng góp của quảng cáo trên truyền hình vào GDP ngày càng tăng lên, vị trí của quảng cáo trên truyền hình ngày càng trở nên quan trọng trong việc phát triển xây dựng doanh nghiệp mà còn trong việc góp phần xây dựng, phát triển đất nước. Trong toàn bộ lĩnh vưc quảng cáo, chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình chiếm tỉ trọng cao nhất, luôn ở mức 50% trong tổng chi phí cho hoạt động quảng cáo của các doanh nghiệp.Có thể nói hoạt động quảng cáo trên truyền hình là loại hình có chi phí cao nhất, ưu việt nhất hiện nay ở Việt Nam. Chi phí quảng cáo trên truyền hình gấp 11 lần so với hoạt động quảng cáo trên radio, gấp trên 5 lần so với chi phí do các hoạt động quảng cáo ngoài trời. Chỉ xét về mặt dành cho quảng cáo của hoạt động quảng cáo trên tạp chí và ấn phẩm là hai hoạt động quảng cáo có chi phí lớn nhất trong tổng quảng cáo nói chung, chiếm trên 80% tổng chi phí quảng cáo chung và cũng là hai loại hình quảng cáo ở Việt Nam hiện nay. Trong một vài năm ần đây, chi phí quảng cáo tên tạp chí và ấn phẩm thường chiếm tỉ trọng 25-28% năm, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của hoạt động quảng cáo này cũng luôn đạt 2 con số. Chi phí quảng cáo trên truyền hình tăng trưởng với tốc độ vừa cao vừa ổn định, trung bình trong một vài năm gần đây là 14,5%. Chi phí cho các chương trình quảng cáo trên truyền hình của các doanh nghiệp thuê quảng cáo biến động theo từng tháng và có xu hướng gắn liền với vòng quay mua sắm của người tiêu dùng Việt Nam. b.Thực trạng quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam theo lĩnh vực sản phẩm. Các chương trình quảng cáo trên truyền hình trong những năm gần đây tập trung vào các sản phẩm như mĩ phẩm và các sản phẩm làm đẹp, thực phẩm, đồ uống, các sản phẩm, dược phẩm là chủ yếu. Có thể nói rằng trong một vài năm trở lại đây, các sản phẩm làm đẹp, mĩ phẩm luôn chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng chi phí quảng cáo, điển hình như các sản phẩm như sữa rửa mặt, các sản phẩm làm trắng da của các hãng sản xuất tên tuổi như Unilever, Kao, LG…Cũng chiếm một tỉ trọng không kém lĩnh vực làm đẹp, các sản phẩm đồ uống cũng chiếm một vị trí đáng kể trong tổng chi phí cho quảng cáo trên truyền hình, khoảng 15-17% vớ những sản phẩm nổi tiếng như nước ngọt của Coca cola, pepsi cola,…, nước tăng lực Number 1 của công ty bia Bến Thành, nước uống tinh khiết của Vital, các sản phẩm bia nổi tiếng như Tiger, Heineken của tập đoàn các nhà máy bia Việt Nam. Các sản phẩm khá cá biệt như dược phẩm cũng quảng cáo một cách khá công phu và tốn kém với chi phí quảng cáo chiếm 6%. Mức độ quảng cáo các sản phẩm thực phẩm, các sản phẩm làm sạch trong nhà cũng có chi phí quảng cáo trên truyền hình tương tự. Số chi phí còn lại giành cho quảng cáo các sản phẩm như ô tô, xe máy, các sản phẩm điện tử. Cơ cấu phân bổ chi phí quảng cáo trên truyền hình như vậy là hợp lý bởi các sản phẩm như đồ uống, thực phẩm, các sản phẩm làm đẹp, các sản phẩm làm sạch trong nhà là các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày, do đó quảng cáo trên truyền hình hàng ngày là một biện pháp trực quan vô cùng hữu hiệu nhằm mục đích nhắc nhở người tiêu dùng nhớ đến các sản phẩm của doanh nghiệp mình. Một lý do khác là số lượng các doanh nghiệp trong lĩnh vực nêu trên khá lớn, thị trường cạnh tranh khốc liệt, do đó dẫn đến một thực tế là muốn tồn tại các doanh nghiệp buộc phải thực hiện các biện pháp để yểm trợ, xúc tiến hoạt động bán hàng và không một biện pháp tiếp cận nào có thể thu hút người tiêu dùng một cách nhanh nhất với lượng nhiều nhất như ở hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Lý do tiếp theo để giải thích sự hợp lí trong cơ cấu phân bố chi phí quảng cáo trên truyền hình theo lĩnh vực đó là kênh phân phối. Các doanh nghiệp, các tập đoàn sản xuất các sản phẩm nêu trên chỉ có thể tiếp cận gián tiếp đến người tiêu dùng thong qua mạng lưới các đại lý, các nhà bán lẻ, do vậy để tiếp cận một cách trực tiếp với người tiêu dùng các doanh nghiệp này chỉ có một biện pháp hữu hiệu để giới thiệu một cách chính xác nhất các đặc tính, các công dụng của sản phẩm đó là quảng cáo trên truyền hình. c.Các công ty thuê quảng cáo trên truyền hình Việt Nam trong những năm gần đây Tính đến những năm 2002 số lượng các công ty thuê quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam là 680 tỉ tăng 4 đơn vị thuê quảng cáo trên truyền hình so với năm 2001. Nhìn chung các công ty thuê quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam đa phẩm là các công ty 100% vốn nước ngoài hoặc các công ty liên doanh. Với một ngân sách quảng cáo khổng lồ, các doanh nghiệp này tiến hành các chiến lược quảng cáo rầm rộ trên truyền hình với nhiều đợt quảng cáo khác nhau. Trong khi đó các doanh nghiệp trong nước do nguồn vốn hạn chế, ngân sách dành cho quảng cáo bị bó hẹp nên việc quảng cáo trên truyền hình có phần âm thầm và lẻ tẻ không hình thành chiến dịch quảng cáo cũng như các đợt quảng cáo, chỉ có một vài các doanh nghiệp thực sự thực hiện các chiến dịch quảng cáo trên truyền hình một cách chuyên nghiệp và bài bản chẳng hạn như công ty bia Bến Thành, công ty bia Hà Nội hay công ty bia Halida. Trong 5 năm qua, Unilever Việt Nam vẫn khẳng định mình là nhà thuê quảng cáo hàng đầu ở Việt Nam với chi phí quảng cáo trung bình trong năm 15 triệu USD. Trong năm 1999, Unilever Việt Nam chi khoảng 14 triệu USD cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình, đến năm 2000 con số đạt mức kỷ lục là 20 triệu USD. Tiếp theo phải kể đến đối thủ số một của Unilever ở Việt Nam cũng như trên thế giới, đó là P&G Việt Nam chỉ đạt vào khoảng 3-4 triệu USD, trong đó chi phí quảng cáo trên truyền hình của hãng năm 1999 là 4.118.000USD, năm 2000 là 3.290.000USD và ước tính năm 2003 chi phí quảng cáo trên truyền hình của P&G Việt Nam ước tính cũng khoảng gần 4 triệu USD. Tập đoàn nhà máy bia Việt Nam trong những năm gần đây đã thu được nhiều thành công đáng kể, chiếm được thị phần khá lớn trên thị trường đồ uống Việt Nam. Thông qua hai công ty quảng cáo hàng đầ trên thế giới là Bates World Wide và Love&Parters, tập đoàn các nhà máy Việt Nam đã trình diễn những chương trình quảng cáo ngoạn mục theo những trường phái khác nhau cho hai loại sản phẩm là bia Tiger và Heiniken. Chi phí quảng cáo trên truyền hình hàng năm của công ty trong những năm qua vòa khoảng 2,4 triệu USD. Coca cola Việt Nam tuy không còn rầm rộ như một vài năm trước nhưng vẫn đứng trong top 10 nhà thuê quảng cáo trên truyền hình lớn nhất ở Việt Nam trong vòng 5 năm trở lại đây. Với chi phí quảng cáo trên truyền hình lên tới hàng triệu USD, Coca Cola luôn tạo ra những chương trình quảng cáo trẻ trung, mới lạ. Hàng năm công ty bỏ ra khoảng 2,5 triệu USD phục vụ quảng bá thương hiệu của mình trên truyền hình. d.Các nhãn hiệu được quảng cáo trên truyền hình trong một số năm gần đây Từ năm 1999 trở lại đây đã có nhiều chiến dịch quảng cáo trên truyền hình khác nhau được tung ra để khẳng định các nhãn hiệu cũng như thương hiệu của các doanh nghiệp. Bằng việc xuất hiện nhiều lần trên truyền hình mà tên của một số nhãn hiệu đã được người tiêu dùng sử dụng để thay thế cho tên một mặt hàng nào đó. Năm 1999, nhãn hiệu bột giặt omo được Unilever cho xuất hiện trên truyền hình với số lần phát song nhiều nhất trong 5 năm trở lại đây hơn 3000 lần. Tiếp theo phải kể đến là chương trình quảng cáo giới thệu sản phẩm xe máy Future mới của công ty Honda Việt Nam, các chiếc xe Future lần lượt xuất hiện trên truyền hình đến 1549 lần trong năm 1999, thuê quảng cáo trên truyền hình lớn ở Việt Nam. Hai nhãn hiệu khác của Unilever là dầu gội đầu Sunsik và Clear cũng được trình làng khá thuyết phục với số lần xuất hiện trên truyền hình trên 2000 lần. Trong năm 2000 nhãn hiệu dầu gội đầu Clear của Unilever Việt Nam vươn lên vị trí số một về số lần quảng cáo trên truyền hình. Số lần được quảng cáo trên truyền hình của nhãn hiệu năm 2000 và 2010, vượt xa nhãn hiệu thứ 2 là kem đánh răng P/S. Nhãn hiệu P/S cũng của Unilever Việt Nam có số lần phát song trên truyền hình là 1609 lần. Đứng thứ 3 cũng là một nhãn hiệu khác của Unilever Việt Nam, đó là nhãn hiệu bột giặt Omo, xuất hiện trên truyền hình 1204 lần. Nhãn hiệu Coca Cola vẫn giữ được vị trí so với năm trước và có số lần phát song là 1200 lần trong năm. Tuy có chi phí quảng cáo thấp, song nhãn hiệu Doublemin lại có số lần phát song tương đối lớn 1195 lần, đứng thứ năm trong bản tổng sắp 5 nhãn hiệu có số lần quảng cáo nhiều nhất. Thứ tự các nhãn hiệu này sẽ thay đổi rất lớn, do cuối năm các doanh nghiệp thường đua nhau tiến hành các chương trình quảng cáo trên truyền hình nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng, đặc biệt là những tháng gần tết. Bởi đây là thời kì người tiêu dùng mua sắm nhiều nhất trong năm. 2,Thực trạng quản lý,những điểm phù hợp và không phù hợp của dịch vụ quảng cáo trên truyền hình aThực trạng quản lý dịch vụ quảng cáo trên truyền hình Hiện nay hoạt động quảng cáo về cơ bản được Chính phủ giao cho hai Bộ quản lý đó là Bộ thong tin và truyền thông, Bộ văn hóa, thể thao và du lịch (Bộ VH,TT&DL) Bộ Thông tin & Truyền thông thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong đó có quảng cáo quy định tại Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 Bộ Thông tin & Truyền thông thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong đó có quảng cáo quy định tại Nghị định số Bộ Thông tin & Truyền thông thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong đó có quảng cáo quy định tại Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ Trách nhiệm và quan hệ phối hợp. Bộ Thông tin và Truyền thông: Thực hiện việc cấp phép đối với hoạt động quảng cáo trên báo chí; Tổ chức đăng ký đối với hoạt động quảng cáo trên mạng thông tin máy tính và quản lý hoạt động quảng cáo trên xuất bản phẩm. Chủ trì và phối hợp với Bộ VH- TT&DL tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành và xử lý các vi phạm các quy định của pháp luật đối với hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Bộ VH, TT& DL: Chỉ đạo hư ớng dẫn các Sở VH, TT& DL phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông quản lý hoạt động quảng cáo trên truyền hình Phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông trong công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về quảng cáo đối với hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Sở Thông tin và Truyền thông: Thực hiện quản lý Nhà n uớc về hoạt động quảng cáo trêntruyền hình trên địa bàn tỉnh thành phố. Chủ trì phối hợp với Sở VH, TT& DL thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật quảng cáo và xử lý các vi phạm trong phạm vi quyền hạn trên địa bàn tình thành phố. Theo tinh thần hai văn bản trên, quảng cáo trên truyền hình do Bộ Thông tin & Truyền thông cùng ngành dọc quản lý Nhà nước là chính. Bộ VH, TT& DL cùng ngành dọc thực hiện phối hợp quản lý. Quảng cáo ngoài trời, trong nhà với các loại hình do Bộ VH, TT& DL. Cơ chế tổ chức này tuy có mang lại kết quả nhất định trong quản lý Nhà nước đối với hoạt động quảng cáo nhưng cũng bộc lộ những hạn chế dẫn tới kém hiệu quả, chưa phát huy hết được sức mạnh của tổ chức Nhà nước và của xã hội vào tham gia quản lý. Ở đây, sự phân quyền giữa các bộ, ngành làm cho quyền lực không tập trung, không đủ sức mạnh và sự thống nhất cao. Đối với quảng cáo, Bộ Thông tin & Truyền thông chỉ có lợi thế về quản lý công nghệ truyền phát và hầu như các phần còn lại của quảng cáo lại thuộc về Bộ VH, TT& DL. Vì thực chất quảng cáo là lĩnh vực văn hóa nghệ thuật tổng hợp gồm nhiều chuyên ngành cụ thể như quay phim, chụp ảnh, nhạc, kịch v.v... nên đều có quan hệ chặt chẽ với Bộ VH, TT& DL. Cơ chế phối hợp như trên không phát huy thế chủ động, kỹ năng chuyên môn và kinh nghiệm quản lý của Bộ VH, TT& DL. Tiếp theo, cơ chế này mới bao gồm hai bộ cùng các cơ sở thuộc ngành dọc tới sở. Vì vậy chưa tạo đủ quyền lực cho UBND cấp quận huyện, phòng Văn hóa Thể thao Du lịch quận huyện, cấp phường ở thành phố thậm chí tới cả Tổ dân phố, bởi lẽ quảng cáo đã tác động tới 90% dân số trong cộng đồng, tác động tới từng ngõ phố, từng hộ gia đình gây bức xúc trong công chúng. Không có sự tham gia của UBND quận, phường và tổ dân phố, xã và thôn sẽ không quản lý được (Ở nông thôn hiện nay xuất hiện nhiều tổ chức tôn giáo với nhiều hình thức thực hiện quảng cáo gây bức xúc trong công chúng). Thực tế UBND và Phòng Văn hóa Thể thao và Du lịch quận, huyện chỉ có quyền xử lý quảng cáo trên địa bàn theo lệnh của trên. Ngoài ra, cơ chế này cũng chưa tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội tham gia quản lý như các đoàn thể, các hội và nhất là hội nghề nghiệp như Hiệp hội quảng cáo, Hội Quan hệ công chúng v.v...Do vậy cơ chế này chưa phát huy được sức mạnh của hệ thống tổ chức của các cơ quan Nhà nước, của xã hội và sức mạnh của công chúng. b.Những điểm phù hợp và những điểm không phù hợp của cơ chế chính sách thương mại quản lý dịch vụ quảng cáo trên truyền hình với các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế *Những điểm phù hợp Hai, ba năm gần đây, các đoạn phim quảng cáo trên truyền hình đã có hình ảnh, lời nói (mà dân trong nghề gọi là slogan) minh họa cho các sản phẩm được trau chuốt, chọn lọc hơn. Nhiều sản phẩm chiếm được tình cảm của người xem, một phần lớn nhờ vào phim quảng cáo ấn tượng, slogan độc đáo. Mọi người vẫn còn nhớ đoạn quảng cáo chai bia Sài Gòn lùn với câu: Có thể bạn không cao, nhưng người khác vẫn phải ngước nhìn. Các em nhỏ rất thích mẩu quảng cáo về sữa tươi của Vinamilk, vì hình ảnh các chú bò ngộ nghĩnh, bài hát vui nhộn. Chỉ với vài mươi giây cho một sản phẩm trong một đoạn phim quảng cáo, làm sao vừa thể hiện được tính năng, công dụng của sản phẩm ấy, vừa tạo được hình ảnh độc đáo nhất để gây ấn tượng với người xem, là chuyện không dễ dàng. Được biết, các đoạn phim quảng cáo trước khi phát sóng, đều được nhà đài duyệt. Theo đó, các sản phẩm chỉ được quảng cáo khi có đủ giấy phép kinh doanh, hình ảnh không được phản cảm, lời nói không mang tính kích động hay nói xấu sản phẩm cùng loại, không được đề cao sản phẩm mình là số một… Không chỉ đáp ứng yêu cầu của nhà đài, bản thân các doanh nghiệp cũng tự ý thức được tầm quan trọng của các đoạn phim quảng cáo trên truyền hình, nên phải cố gắng tìm tòi để có cách thể hiện sao cho hay và ấn tượng nhất. Nhìn chung, các phim quảng cáo trên truyền hình hiện nay đều đạt được chuẩn về chất lượng hình ảnh đẹp, sắc nét. Nhiều sản phẩm còn dựng thành một câu chuyện được quay những góc máy khá đẹp. Nội dung các sản phẩm quảng cáo cũng được nhà đài lưu ý, để sắp xếp giờ phát sóng phù hợp, không như trước đây như các sản phẩm băng vệ sinh được quảng cáo tràn lan ngay cả vào… giờ ăn. Nhìn lại thị trường quảng cáo của Việt Nam những năm gần đầy với nhiều biến động và thay đổi lớn sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008. Thời gian từ cuối năm 2009 đến cuối năm 2010 thì thị trường quảng cáo của VN mới thực sự trở lại cùng với nhiều chiêu quảng cáo mới. Thời gian này cũng đã đánh dấu những bước đi đột phá của các doanh nghiệp làm quảng cáo trong nước bằng việc bắt đầu dành được thị phần quảng cáo từ các công ty QC nước ngoài bởi các sản phẩm mang thương hiệu “Made in Vietnam” đầy sáng tạo. Về cuối năm 2010 Ngân sách dành cho quảng cáo của các doanh nghiệp tăng theo từng tháng. Do sự phục hồi của kinh tế nó chung và chính sách thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phát triển, mở rông quy mô của nhà nước ta cho cuộc chạy đua với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hàng hóa nhập khẩu. Trong bối cảnh kinh tế thị trường thời hội nhập WTO đầy thách thức, thì hầu bao tiếp tục được mở chi cho quảng cáo để các doanh nghiệp nhanh chóng chiếm được thị phần trước khi quá muộn. Dự báo năm 2011 ngân sách cho quảng cáo của các công ty sẽ tiếp tực tăng, tăng mạnh từ 9 - 13% so với năm 2010 bởi sức ép ngày một lớn đến từ cánh cửa WTO. Năm 2011 được nhiều người cho rằng đây là năm của nhiều loại hình quảng mới du nhập và nhiều cách tiếp thị quảng cáo độc đáo của các Cty quảng cáo. Để chứng minh được điều đó chúng ta hãy nhìn vào những gì các nhà quảng cáo đã làm trong năm qua, thử nhớ lại và quan sát bước đi của chính mình ngay từ trong nhà rồi ra ngoài đường tìm hiểu xem cách nhà quảng cáo đã khéo léo lồng ghép vào cuộc sống hàng ngày của chúng ta mà không hay biết. Ví dụ điển hình với quảng cáo truyền hình là cuộc tấn công ồ ạt của các nhà mạng, với những thước phim QC rất ấn tượng và hài hước để ra mắt mạng 3G. Chiến dịch quảng cáo này thành công đã giúp nhà mạng đưa ra một gói dịch vụ mới tưởng chừng rất gai góc, ấy thế mà đã nhanh chóng được người tiêu chấp nhận và sử dụng rộng dãi. Để khẳng định được sự thành công của mạng 3G thì sự kiện Việt Nam được sếp hạng thứ 11 toàn cầu về lượng người truy cập internet bằng mobile. Đã nhiều người nhận định chiến lược QC trên đáng khâm phục nhất trong nhiều năm qua. *Những điểm không phù hợp: +Bất cập thời lượng phát sóng Vấn đề đáng bàn nhất với quảng cáo trên truyền hình hiện nay, chính là thời lượng phát sóng. Theo quy định, quảng cáo chiếm 5% thời lượng phát sóng. Nhưng quy định này cũng không rõ ràng nên nhà đài vẫn có thể “lách” được. Đối với những đài truyền hình lớn, phát sóng 24/24 giờ thì 5% dành cho quảng cáo là thời lượng không nhỏ. Phần lớn quảng cáo chỉ phát vào những giờ, những chương trình có đông người xem nhất như: chương trình ca nhạc, chiếu phim, vì thế tần suất các phim quảng cáo trở nên dày đặc, khiến người xem phải chờ đợi lâu. Khán giả bực mình vì đang xem phim phải ngừng giữa chừng 2 đến 3 lần vì quảng cáo. Với những bộ phim hay, được nhiều người xem chú ý, những tập càng về sau, thời lượng quảng cáo gần bằng với thời lượng một tập phim. Nhiều chương trình, người xem đến nhức mắt vì những hàng chữ chạy dưới mà nội dung chẳng ăn nhập gì với chương trình đang phát sóng. + Số  liệu từ Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam (VAA) cả nước hiện có 3.000 doanh  nghiệp có chức năng quảng cáo. Trong số đó, chỉ có 30 doanh nghiệp nước  ngoài tham gia thị trường quảng cáo Việt Nam. Nghịch lý là, con số 30  này lại chiếm đến 80% doanh thu từ thị trường quảng cáo hiện nay tại  Việt Nam -Tình  hình sẽ khó khăn hơn nhiều khi theo cam kết tại Hiệp định thương mại  Việt- Mỹ, sau năm 2007, Việt Nam phải mở cửa hoàn toàn ngành dịch vụ  quảng cáo cho các nhà đầu tư Mỹ, tương tự, khi gia nhập WTO việc mở cửa  nói trên cũng sẽ được áp dụng với tất cả các thành viên của WTO nếu  không có cam kết gì khác. Khi ấy, riêng việc các công ty nước ngoài được  trực tiếp ký hợp đồng quảng cáo với báo, đài mà không phải thông qua  công ty quảng cáo trong nước, thì liệu 20% doanh thu có được như hiện  nay có bị suy giảm?  Điều dễ nhận thấy là, với  3 loại hình hoạt động quảng cáo hiện nay, thì loại hình thực hiện những  hợp đồng trọn gói có doanh thu cao nhất nhưng số doanh nghiệp tham gia  chỉ đếm trên đầu ngón tay. Loại thứ hai, với số lượng khoảng vài chục,  gồm những công ty chỉ chuyên về lĩnh vực nhất định quảng cáo ngoài trời,  quan hệ công chúng, tổ chức sự kiện… Loại thứ ba nhiều nhất, chủ yếu  làm gia công lại hộp đèn, bảng hiệu… hoặc thuộc những lĩnh vực phụ trợ  cho quảng cáo như thiết kế, in ấn… Loại hình này đông về số lượng nhưng  thuộc thành phần kinh tế siêu nhỏ và siêu cả nghiệp vụ thấp. - WTO đang cận kề, sẽ kéo  theo những thay đổi của thị trường quảng cáo Việt Nam. Nó sẽ tạo ra  những làn sóng đầu tư mới. Mà càng đầu tư nhiều thì chi phí quảng cáo  càng tăng. Theo ước tính, năm 2005, quảng cáo trên báo, đài chiếm khoảng  312 triệu USD. Mức doanh thu này có khả năng sẽ bị chi phối khi xu thế  quảng cáo trực tuyến thông qua internet đang có chiều hướng gia tăng. -Ba  yếu tố để tạo ra hiệu ứng tích cực của quảng cáo là: Thứ nhất, tần  suất, nếu một quảng cáo xuất hiện nhiều lần thì sẽ được mọi người biết  tới và ghi nhớ. Thứ hai, nội dung của quảng cáo, mọi người không đếm số  lần quảng cáo mà chỉ nhớ ấn tượng mà nó tạo ra. Cuối cùng là môi trường  hay phương tiện quảng cáo. Quảng cáo trên truyền hình, báo, tạp chí,  bảng hiệu, hộp đèn hay đài phát thanh sẽ tạo ra những hiệu ứng khác nhau  với người nhận thông tin. Tuy nhiên, nhìn chung hiện nay cả đơn vị tham  gia quảng cáo và đơn vị thực hiện quảng cáo đều chưa thoả mãn được ba  yếu tố trên. + Vấn đề văn hoá và tôn giáo: -Truyền hình là một phương tiện để giao lưu văn hóa giữa các quốc gia. Do đó các mẫu quảng cáo trên truyền hình ở nước này có thể được mang sang quảng cáo ở nước khác. Hình ảnh, cảnh vật cũng như diễn viên của nước này có thể xuất hiện ở trên các chương trình quảng cáo ở nước khác mà vẫn tạo được hiệu quả quảng cáo, cũng như đạt được ý đồ của công ty quảng cáo hay bên thuê quảng cáo -Do các dân tộc khác nhau, nên khi triển khai một chương trình quảng cáo, doanh nghiệp phải tính đến yếu tố văn hóa và tôn giáo. Một chương trình quảng cáo trên truyền hình có thể được diễn ra thành công ở nước này song khi đem sang nước khác rất có thể sẽ thất bại thảm hại do doanh nghiệp không lường hết được các yếu tố văn hóa và tôn giáo. Chẳng hạn như một chương trình quảng cảo trên truyền hình có hình ảnh các cô gái thiếu vải được thực hiện sẽ là ình thường đối với các nước phương tây song nó lại có tác động phản cảm đới với người tiêu dùng ở các nước phương đông đặc biệt là các nước theo đạo hồi. - Chưa đáp ứng được yêu cầu về văn hoá – thẩm mĩ: Ở đây, chúng tôi muốn nói tới những câu chữ quảng cáo vi phạm các chuẩn mực có tính truyền thống của dân tộc về văn hoá – thẩm mĩ. Ví dụ 1: Quảng cáo cho sữa tắm Dove : “ Da dẻ tụi mình cũng khác nhau. Da Hạnh nhăn như da người già. Còn da Hà khô như da rắn. Bọn mình dùng Dove trong 7 ngày... Mình thấy nó mềm và không thô ráp như ngày xưa nữa.Da Hạnh mượt như da trẻ con. Da Hà mềm như là da em bé...Không tin à? Sờ thử coi...”. Lời giục giã “ Sờ thử coi” thật thiếu tế nhị ( nếu không nói là thô thiển ). Nó hoàn toàn không phù hợp với phong thái kín đáo, ý nhị của người phụ nữ phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Rồi ngay cả hai hình ảnh ví von “ Da Hạnh nhăn như da người già. Còn da Hà khô như da rắn. “ cũng khá thiếu thẩm mĩ, không thuận tai đối với khán giả truyền hình Nói tóm lại, để cho ngành  quảng cáo Việt Nam, mà cụ thể là các doanh nghiệp quảng cáo trong nước  phát triển mạnh và không bị thua thiệt trong thời gian tới, ngoài việc  cần biết tận dụng thời cơ, tận dụng được nguồn nhân lực giỏi về chuyên  môn… thì cần xoá bỏ những rào cản vô lý trong lĩnh vực quảng cáo để trả  nó về đúng vị trí. Âu đó cũng là mong ước của ngành quảng cáo Việt Nam  trước ngưỡng cửa hội nhập. III,Nguyên nhân và giải pháp để hoàn thiện cơ chế chính sách thương mại phù hợp với các cam kết hôi nhập kinh tế 1, Nguyên nhân của sự không phù hợp Đánh giá về sự phát triển của ngành này, ta thấy rằng quảng cáo phát triển có mối quan hệ mật thiết với sự phát triển của kinh tế. -Chính sách quản lý Nhà nước và chất lượng chương trình kém làm cho việc khai thác kinh doanh về quảng cáo còn thấp - Do quảng cáo ở Việt Nam vẫn còn sơ khai nên việc đưa các kênh truyền hình đại chúng vẫn là lựa chọn có lợi nhất cho các thương hiệu. Quảng cáo ở Việt Nam chi cho kênh truyền thong vẫn rẻ hơn các khu vực lân cận - Các quy định về quảng cáo hiện nay vẫn dựa hoàn toàn trên pháp lệnh quảng cáo năm 2001. Chúng ta chưa có luật riêng về quảng cáo để chi phối toàn ngành đặc biệt là quảng cáo trên truyền hình có liên quan đến luật sở hữu trí tuệ, công ước quốc tế và những cam kết khác của Nhà nước. - Trên thực tế những quy định riêng của chính quyền từng địa phương vẫn quan trọng và chi phối, vẫm không rõ rang cái gì cấm, cái gì không cấm, sự không thống nhất của nhau đã làm hạn chế đầu tư nước ngoài vào quảng cáo truyền hình. - Các công ty quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam chưa khẳng định được mình trên thị trường, hầu hết đều thua kém các công ty của nước ngoài do nguồn nhân lực của ta không được đào tạo chuyên nghiệp. 2, Những giải pháp để hoàn thiện cơ chế chính sách thương mại quản lý dịch vụ quảng cáo trên truyền hình phù hợp với các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế -Tổ chức laị bộ máy quản lý nhà nước về quảng cáo theo hướng tập trung về một đầu mối. Nhằm khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo giữa các cơ quan quản lý, bộ máy quản lý cần được tổ chức theo hướng tập trung hóa đồng thời đảm bảo sự phối hợp trong quản lý. Theo đường hướng đó, quảng cáo sẽ do Bộ VH, TT&DL đảm nhiệm chức năng quản lý nhà nước chung về. Cơ sở của sự tập trung hóa này là quy định tại Pháp lệnh quảng cáo số 39/2001/PL-UBTVQH10 do Ủy ban Thường vụ quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2001, Bộ VH- TT&DL là cơ quan đầu mối quản lý các hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam. Hơn nữa là Bộ VH, TT& DL quản lý nhiều Hội chuyên ngành văn hóa nghệ thuật có kỹ năng gắn với quảng cáo. Vì vậy, Bộ VH, TT& DL quản lý quảng cáo sẽ phát huy được lợi thế của mình và sẽ có kết quả khả quan hơn. Các cơ quan liên quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ VH, TT& DL để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quảng cáo ở các lĩnh vực mà cơ quan đó thực hiện vai trò quản lý nhà nước. Như vậy, Bộ VH- TT&DL sẽ quản lý các hoạt động quảng cáo dưới bất kỳ hình thức và thông qua bất kỳ phương tiện nào bao gồm: -   Báo chí gồm báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử; -   Mạng thông tin máy tính; -   Xuất bản phẩm gồm phim, ảnh, băng hình, đĩa hình, băng âm thanh, đĩa âm thanh; -   Chương trình hoạt động văn hóa, thể thao; -   Hội chợ, triển lãm; -   Bảng, biển, pa-nô, băng-rôn, màn hình đặt nơi công cộng; -   Vật phát quang, vật thể trên không, dưới nước; -   Phương tiện giao thông, vật thể di động khác; -   Hàng hóa; -   Các phương tiện quảng cáo khác theo quy định của pháp luật; Bộ VH, TT&DL cấp giấy phép thực hiện quảng cáo trên mạng thông tin máy tính, mạng viễn thông, kênh, chương trình phát thanh, truyền hình chuyên quảng cáo và đối với phụ trang, phụ bản chuyên quảng cáo, quảng cáo trên báo, tạp chí và các ấn phẩm quảng cáo. Đồng thời, Bộ cũng là cơ quan quy định cụ thể thủ tục cấp giấy phép thực hiện quảng cáo. Mặc dù Bộ VH, TT& DL thực hiện quản lý Nhà nước, quy định thủ tục cấp phép đối với quảng cáo nhưng các tổ chức truyền thông vốn có chức năng độc lập và độc lập tương đối nên có quyền xét duyệt các thông điệp và quyết định có nên truyền thông điệp đó hay không, đồng thời, có trách nhiệm pháp lý liên đới đối với những thông điệp truyền phát. Theo mô hình tổ chức trên, chức năng quản lý nhà nước về quảng cáo nên được giao cho Cục Văn hóa Thông tin cơ sở trong đó các phòng quản lý quảng cáo được thành lập theo một số nguyên tắc được cân nhắc như: loại hình quảng cáo, phương tiện quảng cáo… Có thể cân nhắc để thành lập một số phòng chuyên quản về quảng cáo với biên chế là các cán bộ chuyên môn có kiến thức chuyên sâu về quảng cáo và quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa và truyền thông. Trong điều kiện tập trung hóa chức năng quản lý có sự kết hợp với các cơ quan khác, nên thành lập Ban tư vấn bao gồm các đại diện của các cơ quan quản lý chuyên ngành với tư cách là các chuyên gia ở từng lĩnh vực (có thể huy động nguồn lực của các hội nghề nghiệp tham gia). Ban tư vấn giúp việc ở các lĩnh vực chuyên ngành khi thẩm định, cấp phép quảng cáo ở các ngành và lĩnh vực cụ thể. Ngoài ra, Ban tư vấn cũng đóng vai trò là cơ quan tư vấn cho Bộ VH, TT& DL về định hướng quản lý, các mục tiêu và phương thức quản lý hoạt động quảng cáo có hiệu quả. Thành phần Ban tư vấn nên được xác định một cách linh hoạt mà nòng cốt là Cục Văn hóa thông tin cơ sở, đủ lớn về số lượng và đủ mạnh về chuyên môn. Hoạt động của Ban tư vấn phải được đảm bảo bằng các nguồn kinh phí do Bộ VH, TT& DL quy định. Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước tập trung, thống nhất về quảng cáo, Bộ VH, TT& DL cần được tăng cường về nguồn lực trước hết là nhân sự và tài chính... Đương nhiên, cùng với sự thay đổi về cơ cấu tổ chức, cần có sự sắp xếp lại nhân sự theo hướng đảm bảo đủ số lượng chuyên viên thuộc các bộ phận chuyên quản về quảng cáo. Đồng thời, các chuyên viên quản lý phải là những người được đào tạo về quản lý nhà nước, có kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn về quảng cáo. Ngoài ra, các phương tiện làm việc cần thiết dành cho các phòng ban chức năng cũng cần được đáp ứng đủ. Bộ cũng cần tăng cường tập huấn, cung cấp thông tin, tài liệu cho các tỉnh thành/thành phố, các đơn vị hoạt động quảng cáo về pháp luật, công tác quản lý nhà nước về quảng cáo. Phối hợp tốt hơn nữa giữa các tỉnh/thành phố với các bộ, ngành đoàn thể trong việc tuyên truyền pháp luật về quảng cáo.  -Củng cố bộ máy tổ chức quản lý quảng cáo và tăng cường hoạt động quản lý ở các địa phương. Ở các địa phương, Sở VH, TT&DL sẽ là người quản lý thống nhất các hoạt động quảng cáo theo phạm vi lãnh thổ địa phương. Sở VH - TT&DL cấp giấy phép thực hiện quảng cáo trên bảng, biển, pa-nô, băng-rôn, màn hình đặt nơi công cộng, vật phát quang, vật thể trên không, dưới nước, phương tiện giao thông, vật thể di động khác. Ở cấp sở, có thể thành lập tổ hoặc phòng chuyên quản về quảng cáo trên phạm vi lãnh thổ địa phương. Đồng thời, để hỗ trợ Sở VH - TT&DL trong quản lý nhà nước về quảng cáo, có thể cân nhắc hình thành các Ban hay Hội đồng tư vấn lâm thời trong các trường hợp cần có sự tham vấn rộng rãi ý kiến của các chuyên gia ở các lĩnh vực chuyên môn. Ở cấp quận/huyện và tương đương, Phòng VH, TT& DL thực hiện vai trò quản lý nhà nước trên địa bàn theo sự phân cấp của Chính phủ. Trước hết, Phòng VH, TT&DL phải chịu trách nhiệm trước Ủy ban Nhân dân cùng cấp về quản lý hoạt động quảng cáo, kiểm tra giám sát các tổ chức cá nhân tham gia hoạt động quảng cáo trên địa bàn, phát hiện các vụ vi phạm pháp luật về quảng cáo, kiến nghị mức xử phạt hoặc xử phạt các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật quảng cáo theo phân cấp xử phạt. Ở cấp phường/xã trở xuống, Ủy ban nhân dân phường/xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các hoạt động quảng cáo nhỏ lẻ trên địa bàn xã/phường không thuộc phạm vi quản lý của các cơ quan cấp trên. Ủy ban nhân dân xã/phường cũng tham gia kiểm tra, thanh tra hoạt động quảng cáo trên địa bàn. Thực tế, trong những năm vừa qua cho thấy, chính quyền xã/phường ở một số tỉnh/thành phố còn vi phạm pháp luật quảng cáo nhiều, phổ biến là cho phép quảng cáo vượt quá thẩm quyền được phân cấp. Vì vậy, các cơ quan quản lý cấp trên cũng cần kiểm tra, giám sát thực thi chức năng quản lý nhà nước về quảng cáo của chính quyền xã/phường.   Đồng thời, các cơ quan chức năng của tỉnh/ thành phố và quận, huyện cần tiến hành chấn chỉnh, đưa vào nề nếp các hoạt động quảng cáo trên các phương tiện báo, đài, internet, quảng cáo trên phông màn, quảng cáo trong các chương trình văn hoá nghệ thuật, thể thao… Công việc cần phải làm ngay là hoàn thiện tổ chức quản lý nhà nước về quảng cáo ở cả cấp tỉnh/thành phố và cấp quận/huyện đặc biệt ở các thành phố lớn. Trong đó, các cơ quan quản lý cần được đảm bảo một cơ chế quản lý có hiệu quả, được bổ sung nhân lực, cả về số lượng và chất lượng cho bộ máy quản lý địa phương, đặc biệt là chất lượng chuyên môn. Như đã đề cập ở trên, ở các địa phương, sở VH,TT& DL sẽ là cơ quan thực hiện toàn bộ chức năng quản lý nhà nước về quảng cáo trên địa bàn tỉnh/ thành phố. Hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý tùy thuộc vào mức độ phân cấp về chức năng, quyền hạn dành cho các bộ phận quản lý quảng cáo và sự phối hợp giữa cơ quan quản lý về quảng cáo và các cơ quan, đơn vị có liên quan. Để giúp cơ quan quản lý quảng cáo ở các địa phương thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, Bộ VH,TT& DL cần triển khai các chương trình tập huấn định kỳ về công tác quản lý hoạt động quảng cáo, trao đổi về nghiệp vụ, kinh nghiệm và giới thiệu các mô hình tổ chức tốt hoạt động quảng cáo ở các địa phương trong cả nước. Thông qua các chương trình trợ giúp trực tiếp từ cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan quản lý cấp dưới nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ chuyên viên quản lý, học hỏi kinh nghiệm từ các đơn vị ở các địa phương khác. - Nhất quán cơ chế một cửa trong cấp phép quảng cáo. Trước hết, cần chấm dứt tình trạng có quá nhiều thủ tục hành chính rườm rà trong cấp phép quảng cáo hiện nay. Cùng với việc giảm bớt số giấy phép và rút gọn các khâu trong quy trình cấp phép, thống nhất việc quản lý nhà nước hoạt động quảng cáo về một đầu mối, cơ chế “một cửa” trong cấp phép quảng cáo sẽ được thực thi một cách hiệu quả. Muốn vậy, bộ phận quản lý quảng cáo từ cấp huyện/quận trở lên phải được tổ chức sắp xếp lại theo “dây chuyền” tiếp nhận hồ sơ ban đầu, thẩm định và cấp phép. Cần xác định thời gian hoàn tất thủ tục ở mỗi khâu và trách nhiệm của mỗi cá nhân chuyên viên trong quy trình cấp phép đó.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docqu7843n l nh n4327899c v7873 th432417ng m7841i.doc
  • pptBi th7843o lu7853n quan ly nha nuoc ve TM.ppt
Luận văn liên quan