Hoàn thiện hệ thống quản lý các dự án đầu tư xây dựng trong Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng

Quản lý đ ầu tư xây dựng là vấn đề lớn và rất phức tạp liên quan đến rất nhiều các chủ thể. Để nâng cao chất lượng công tác quản lý đầu tư xây dựng bao gồm rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết một cách đồng bộ và bài bản, mỗi vấn đề đều có những tác động nhất định ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý đầu tư xây dựng. Nghiên cứu để tìm ra những nguyên nhân của sự hạn chế, tồn tại từ đó đề xuất những giải pháp cho vấn đề này là rất khó khăn. Do đặc thù của lĩnh vực xây dựng là các công trình thường được đầu tư xây dựng trong thời gian dài, trong khi các cơ chế chính sách của Nhà nước thường hay thay đổi, vì vậy nên công tác phân tích đánh giá các dự án đầu tư là gặp rất nhiều khó khăn.

pdf72 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 24/12/2013 | Lượt xem: 2131 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hoàn thiện hệ thống quản lý các dự án đầu tư xây dựng trong Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
t bằng còn chậm. 2.4.2.4- Công tác đấu thầu. -Quy chế đấu thầu còn kẽ hở làm nảy sinh những vấn đề phức tạp cho các bên trong quá trình quản lý thực hiện dự án. Hiện tượng bỏ giá thầu thấp hơn so với giá trần đã được các cấp có thẩm quyền xác định, hiện tượng đấu thầu mang tính chất đối phó chứ chưa phản ánh đúng bản chất của công tác đấu thầu vẫn còn tồn tại, điều này dễ dàng nhận thấy trong hồ sơ dự thầu do mắc phải những lỗi rất cơ bản. -Các quy định của BQP về thời gian thực hiện và triển khai dự án phải tuỳ thuộc vào kế hoạch phân bổ vốn mà chưa căn cứ vào khối lượng thực hiện công việc nên vẫn còn hiện tượng chia nhỏ gói thầu để được chỉ định thầu từ đó tạo ra nhiều tiêu cực trong việc tổ chức lựa chọn nhà thầu. Dưới đây là thống kê một số dự án đã được xác định việc bỏ giá thầu quá thấp so với giá gói thầu, gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng công trình. 48 Bảng 2.3.4 Giá trị trúng thầu một số dự án so với giá gói thầu. TT TÊN GÓI THẦU Giá gói thầu Giá trúng thầu Giảm so với giá gói thầu Tỷ lệ % giá trúng thầu/ giá gói thầu Nhà thầu trúng thầu (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) 1. Xây dựng Trụ sở Cục Bản đồ. 17.280 (trđ) 14.570 (trđ) 1.710 (trđ) 84,3% Công ty 319/ QK3. 2. Xây dựng Trường đào tạo nghề Miền nam. 20.679 (trđ) 18.509 (trđ) 2.089 (trđ) 89,5% Công ty 789/BQP. 3. Nâng cấp Trường TH kỹ thuật mật mã quân đội. 14.590 (trđ) 10.238 (trđ) 4.352 (trđ) 70,1% Công ty Hương Giang/BQP. 4. Xây dựng Trụ sở làm việc Cục Kế hoạch & Đầu tư. 18.257 (trđ) 16.753 (trđ) 1.504 (trđ) 91,76% Công ty 59/ BQP. 5. Xây dựng doanh trại Đoàn 87/ Cục tác chiến điện tử. 8.737 (trđ) 7.277 (trđ) 1.460 (trđ) 83,29% Công ty 695/ BQP. 6. Xây dựng Cơ sở 2 Cục Điều tra hình sự. 25.437 (trđ) 23.227 (trđ) 2.210 (trđ) 91,31% Công ty 789/ BQP. 7. Đoàn xe 4/ Tân Sơn Nhất. 20.564 (trđ) 17.948 (trđ) 2.616 (trđ) 87,28% Công ty 789/BQP. - Hiện tượng giảm giá thầu quá mức để trúng thầu dẫn đến các hậu quả cho công tác quản lý dự án của CĐT - HIện tượng ‘quân xanh’, ‘quân đỏ’ trong quá trình đấu thầu là vấn đề hết sức phổ biến hiện nay. 2.4.2.5- Công tác giám sát, kiểm tra, nghiệm thu công việc, hạng mục và công trình hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng. - Chức năng giám sát, kiểm tra trong đầu tư xây dựng của CĐT còn nhiều khuyết tật, CĐT (thông qua các Ban QLDA) chưa thực hiện nghiêm túc giám sát hiện trường về trình tự thi công và quy trình quy phạm; chưa quán triệt quan điểm “phòng ngừa sự cố hơn là khắc phục sự cố” để loại trừ các sai phạm kỹ thuật, bảo đảm chất lượng công trình theo yêu cầu, tiết kiệm, hiệu quả; thực hiện tốt công tác giám sát - nghiệm thu 49 trong giai đoạn xây lắp có thể sớm phát hiện và kịp thời sửa đổi, bổ sung thiết kế cho phù hợp điều kiện thực tế của hiện trường, chỉnh lý các tài liệu thiết kế trong trường hợp có sai sót. - Phần lớn các CĐT trong khối BTTM đều không có năng lực chuyên môn về quản lý đầu tư và xây dựng, do vậy giám sát hiện trường đều thuê các tổ chức tư vấn giám sát thực hiện nên vấn đề chất lượng công trình hầu như khoán trắng cho đơn vị giám sát. - Trình độ CĐT trong việc xử lý các mối quan hệ giữa CĐT với thiết kế, CĐT với nhà thầu (A-B) và xử lý kịp thời hiệu quả các tình huống nẩy sinh trong quá trình quản lý, thực hiện dự án, hạn chế lãng phí, chậm tiến độ. - Chưa có quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi giám sát, nghiệm thu từng phần và toàn bộ công trình nên chất lượng hạn chế. Nếu có quy định thì việc triển khai thực hiện chưa được nghiêm khắc nên tổ chức, cá nhân được giao trách nhiệm luôn có thái độ “dĩ hoà vi quý” để được nhà thầu có sự quan tâm. - Chất lượng khảo sát thiết kế chưa tốt thể hiện là nhiều công trình có sự phát sinh lớn mà giá trị phát sinh tăng lên là do khâu khảo sát không đảm bảo. - Việc lập các hợp đồng giao nhận thầu còn sơ sài, tính ràng buộc pháp lý chưa cao, chưa đầy đủ điều khoản cụ thể về quản lý chất lượng xây dựng. 2.4.2.6- Công tác quản lý giá xây dựng. - Chức năng quản lý giá của CĐT chưa được thực hiện một cách đầy đủ do năng lực hạn chế của các CĐT. -Chế độ, chính sách của Nhà nước trong XDCB có nhiều thay đổi, điều chỉnh nên gây khó khăn cho CĐT trong thực hiện chức năng quản lý giá. Việc thay đổi giá dự toán làm đảo lộn kế hoạch vốn đầu tư của Nhà nước cũng như Bộ quốc phòng, nợ nần giữa các chủ thể kinh tế tăng lên. - Thực tế vẫn còn tồn tại dạng thực thanh, thực chi nhất là cơ chế thoả thuận giá giữa CĐT và các tổ chức xây lắp. 2.4.3 - Giai đoạn kết thúc đầu tư. 2.4.3.1- Công tác nghiệm thu công trình. - Chất lượng nghiệm thu còn hạn chế như việc bỏ qua nhiều công đoạn, nghiệm thu qua loa, khoán gọn cho nhà thầu lập thủ tục nghiệm thu… đã tập hợp các chứng từ pháp lý lỏng lẻo, thiếu chính xác nên chất lượng công trình không được đánh giá một 50 cách chính xác và là cơ hội để các bên lợi dụng việc hoàn chỉnh hồ sơ thanh toán khối lượng khống gây ảnh hưởng nghiêm trọng về kinh tế cho nhà nước. -Thất thoát vốn đầu tư XDCB của nhà nước trong khâu nghiệm thu là đáng kể và là một thiệt hại ‘kép’ vì chính khâu nghiệm thu không chính xác nhà thầu thu lợi bất chính một khoản tiền. 2.4.3.2- Công tác thanh quyết toán vốn đầu tư. - Chưa thực hiện thanh toán theo dự toán, hợp đồng nhằm khuyến khích tiến độ thực hiện dự án nên dẫn đến sự đầu tư dàn trải không tập trung và kém hiện quả. - Có trường hợp việc nghiệm thu khối lượng khống để giữ kế hoạch vốn, không ít CĐT đã thông đồng ký hợp thức các chứng từ. - Kho bạc nhà nước chưa tổ chức bộ phận thẩm định một cách khách quan trước khi thanh toán. Việc chậm quyết toán đã gây những khó khăn cho CĐT: CĐT trở thành con nợ của các nhà thầu và đến lượt mình nhà thầu là con nợ của các đơn vị cung ứng vật liệu và ngân hàng. Trả lãi ngân hàng thì lợi nhuận của nhà thầu sẽ bị ảnh hưởng, phải chăng có khoản thu nào đó sẽ được hình thành trong quá trình quản lý lỏng lẻo hiện nay và điều đó có thể lý giải cho việc chất lượng các công trình mau xuống cấp. - Khối lượng tài liệu, hồ sơ hoàn thành công trình để phục vụ báo cáo quyết toán vốn đầu tư theo quy định của Nghị định 16/2005/QĐ-BXD là rất lớn, phải lập thành nhiều bộ là một trong các nguyên nhân của chất lượng hồ sơ hoàn công thiếu chính xác, ngoài ra việc không thực hiện nghiêm công tác nghiệm thu hoàn thành công việc theo quy định nên chất lượng hồ sơ hoàn công cũng rất hạn chế. 2.4.3.3- Chi phí cho hoạt động quản lý của CĐT. Về cơ bản đối với công trình xây dựng chi phí Ban quản lý dự án theo công văn số 1751/2007/BXD-VP ngày 14/8/2007 của Bộ Xây dựng là có thể đủ để ban quản lý hoạt động trong điều kiện thông thường. Tuy nhiên với các quy định về sử dụng chi phí quản lý dự án đầu tư, trong đó các quy định về thanh toán chi phí quản lý dự án có nhiều thủ tục khó thực hiện hoặc mang tính chất giấy tờ, dẫn đến sự đối phó của CĐT trong việc hợp thức chứng từ. Các yêu cầu về đăng ký và cấp phát kinh phí QLDA thủ tục rườm rà gây bị động cho CĐT. 2.4.3.4- Công tác bảo trì bảo dưỡng công trình. Phần lớn các công trình chưa có chế độ bảo trì, bảo dưỡng này, nguyên nhân do khi lập dự án đầu tư chưa có phần chi phí này trong Tổng mức đầu tư. 51 CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH Ở BỘ TỔNG THAM MƯU - BỘ QUỐC PHÒNG 3.1- Nhu cầu công tác đầu tư xây dựng ở Bộ Tổng tham mưu trong những năm tới. Trong những năm tới, cùng với sự phát triển kinh tế Việt nam, nhu cầu đầu tư xây dựng của nước ta nói chung và của Bộ quốc phòng nói riêng là rất lớn. Mục tiêu của Bộ Quốc phòng đến năm 2020 phải bảo đảm một cách đầy đủ, kịp thời mọi mặt công tác hậu cần, từng bước thực hiện Nghị định 123 của Chính phủ, nâng cao đời sống bộ đội như: hoàn thiện cơ sở vật chất, bảo đảm đầu tư xây dựng công trình nước sạch cho bộ đội, trang thiết bị bệnh xá Bộ Quốc phòng, trang bị doanh cụ đủ tiêu chuẩn cho các cơ quan, đơn vị, đảm bảo đủ diện tích làm việc, diện tích ở tập thể cho các cơ quan đơn vị đóng quân ngoài Sở chỉ huy, chính vì vậy mà nhu cầu đầu tư xây dựng trong những năm tới là ngày một gia tăng. Với xu thế phát triển chung của xã hội, nhu cầu đầu tư và xây dựng ở Bộ Tổng tham mưu là ngày một tăng điều đó được thể hiện qua bảng dưới đây: Bảng 2.3.1 Danh mục đầu tư một số DA. STT TÊN DỰ ÁN, CÔNG TRÌNH ĐỊA ĐIỂM THỜI GIAN TMĐT (Triệu đồng) (1) (2) (3) (4) (5) TỔNG SỐ 384.743 A DỰ ÁN, CÔNG TRÌNH BỘ DUYỆT 172.433 I Công trình chuyển tiếp 131.933 1 Trụ sở Cục Kinh tế Hà nội 10-13 35.744 2 Trụ sở Cục Bản đồ Hà nội 10-13 38.215 3 Trung tâm BĐKTMM- Cục Cơ yếu Hà nội 10-13 15.774 4 Trung tâm TDTT Bạch Mai - C55 Hà nội 10-14 19.992 5 Doanh trại Tiếu đoàn 5- Lữ đoàn 144 Hà nội 10-13 15.100 6 Nhà làm việc BQL dự án 46 Hà nội 10-14 7.108 52 II Công trình mở mới 40.500 1 Nâng cấp trường trung cấp mật mã Hà Nam 12-15 25.000 2 Nhà làm việc Ban quản lý dự án 47 Hà nội 12-15 15.500 B DỰ ÁN, CÔNG TRÌNH BỘ UỶ QUYỀN 192.310 I Công trình chuyển tiếp 80.140 1 Nhà phục hồi chức năng vận động viên Hà nội 10-13 5.799 2 Trạm khách Đồ sơn ( GĐ2 ) Hải Phòng 10-13 13.000 3 Trạm khách Tam Đảo Vĩnh Phúc 10-13 5.100 4 Doanh trại đoàn 95 Đà Nẵng 10-14 12.000 5 Trung tâm kỹ thuật TT80 Hà nội 10-13 12.655 6 Doanh trại Đoàn 84 Hà nội 10-14 16.996 7 Trung tâm T95 Hà nội 10-14 14.590 II Công trình mở mới (2013) 112.170 1 Trung tâm Phú Cát Hà Tây 13-15 16.990 2 Trạm nguồn điện C59B (2 trạm) Tp HCM 13 5.980 3 Trạm cấp phát xăng dầu Đoàn xe 4 Tp HCM 13 6.980 4 Nhà công vụ C -Trích sài / Cục QLHC Hà nội 13-15 4.800 5 Hệ thống kè đập giữ nớc Ba Vì Hà Tây 13 9.860 6 Khối LV dịch vụ Trường CĐ nghề số 8 Đồng nai 13-14 22.000 7 Khai thác nuớc ngầm Đồ Sơn Hải phòng 13-14 6.990 8 Nhà làm việc và nghỉ A8/Tân Sơn Nhất Tp HCM 12-13 8.250 9 Hạ tầng, sân đường cấp điện nớc A1/ Tân Sơn Nhất Tp HCM 12-13 6.320 10 Nhà ở Đại đôi D 4- Lữ đoàn 144 Hà nội 12-13 7.000 11 Thư viện điện tử nghành thông tin KHCN- Môi trường Hà nội 12-14 17.000 TỔNG CỘNG (26 DỰ ÁN) Kế hoạch đầu tư xây dựng trong những năm tới được triển khai trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO và quá trình hội nhập toàn diện về kinh tế sẽ tác động nhiều mặt đến quân đội. Chính sách của nhà nước và Bộ Quốc phòng về công tác xây dựng tiếp tục được hoàn thiện như: các văn bản pháp quy, yêu cầu triển khai thực hiện công tác đầu tư xây dựng, sử dụng các nguồn vốn, chống lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng, đẩy nhanh quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành, khắc phục tình trạng nợ đọng trong xây dựng cơ bản, thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Trong thời gian qua, mặc dù 53 chất lượng công tác quản lý đầu tư xây dựng chưa đạt được những yêu cầu mong muốn nhưng bộ máy điều hành và quản lý công tác xây dựng đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm, từng bước hoàn thiện về cơ cấu quản lý, quy trình quản lý và quá trình thực hiện để ngày một nâng cao chất lượng công tác quản lý. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là việc chưa hoàn thiện của các văn bản quy phạm pháp luật dẫn đến sự thay đổi, điều chỉnh một cách thường xuyên; sự phân cấp ủy quyền còn nhiều vấn đề bất cập gây ra sự chồng chéo trong công tác quản lý điều hành; sự mất cân đối giữa nhu cầu đầu tư của các cơ quan đơn vị vẫn lớn mà khả năng đảm bảo ngân sách chỉ có hạn. Với những đặc điểm và tình hình trên, yêu cầu nhiệm vụ công tác đầu tư xây dựng ở Bộ Tổng tham mưu trong những năm tiếp theo có các nội dung sau:  Về công tác quy hoạch: Xem xét, điều chỉnh quy hoạch đã phê duyệt từ những năm trước cho phù hợp với phát triển lâu dài, bền vững. Chỉ đạo lập quy hoạch đầu tư xây dựng cho các cơ quan đơn vị còn lại. Đẩy mạnh công tác phê duyệt quy hoạch chi tiết vị trí đóng quân của các đơn vị làm cơ sở cho việc đầu tư theo khả năng đảm bảo ngân sách trong từng năm, từng thời kỳ. * Trọng tâm đầu tư xây dựng: - Đối với nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước: + Tập trung xây dựng hoàn chỉnh hệ thống trường đào tạo nghề, trụ sở các cơ quan khối pháp chế, hệ thống trại giam quân sự, + Trường bắn quốc gia, các công trình huấn luyện, các công trình kết cấu hạ tầng. - Đối với nguồn vốn quốc phòng thường xuyên: + Tập trung xây dựng các Trụ sở làm việc của các cơ quan thuộc đầu mối BTTM. + Xây dựng doanh trại cho các đơn vị ổn định về tổ chức và vị trí đóng quân theo quy hoạch được duyệt, ưu tiên các đơn vị có doanh trại cũ nát, các cơ quan phải di chuyển theo quy hoạch, đơn vị mới thành lập. + Xây dựng các trường quân sự, hệ thống nhà kho, các công trình bảo đảm hạ tầng kỹ thuật. - Đối với nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia: 54 + Xây dựng khu chăn nuôi, tăng gia sản xuất, trồng rừng, nước sạch và vệ sinh môi trường. - Đối với nguồn vốn khác: + Xây dựng các khu nhà khách, khu nghỉ dưỡng. + Xây dựng các Trụ sở làm việc của các đơn vị kinh doanh. * Một số mục tiêu chính về đầu tư xây dựng: - Căn cứ kế hoạch xây dựng 5 năm 2014- 2020 của Bộ Tổng tham mưu đã được xác định, hoàn thành các mục tiêu chính như: các Trụ sở làm việc, các cơ quan đơn vị đóng quân trong và ngoài khu vực Sở chỉ huy của Bộ Quốc phòng, hoàn chỉnh các hệ thống Trại giam quân sự, Trường Trung học và đào tạo nghề, Trung tâm Thể dục thể thao và Trung tâm huấn luyện thuộc Bộ Tổng tham mưu, các Trạm sửa chữa xe, Trại chăn nuôi, các khu Nhà khách nghỉ dưỡng, nhà ở tập thể công vụ. - Quán triệt chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về phân cấp uỷ quyền quyết định đầu tư, trên cơ sở các văn bản pháp qui của Nhà nước và BQP. - Bộ Tổng Tham mưu chủ trì hướng dẫn các cơ quan chức năng hoàn thiện quy trình quản lý đầu tư xây dựng mà cụ thể là hoàn thiện cơ cấu tổ chức, chức trách nhiệm vụ và quy chế hoạt động của Hội đồng thẩm định Bộ Tổng tham mưu. 3.2- Quan điểm xây dựng các giải pháp hoàn thiện quản lý các dự án đầu tư xây dựng. Để có thể xây dựng các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư và xây dựng thực sự hiệu quả cần phải xuất phát từ các quan điểm có tính chất nguyên tắc như sau: 3.2.1- Lấy mục tiêu hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư để định hướng và xác lập các giải pháp hoàn thiện. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thể hiện ở các khâu của quá trình đầu tư và giai đoạn khai thác vận hành công trình. Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, người ta thường sử dụng một số chỉ tiêu tài chính như nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh… Hiệu quả sử dụng vốn là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả của quá trình thực hiện một dự án đầu tư và đó cũng là mục tiêu hàng đầu với bất kỳ một nhà đầu tư nào khi quyết định bỏ vốn đầu tư. 3.2.2- Trên cơ sở phân tích các tồn tại để đưa ra các giải pháp hoàn thiện. 55 Các giải pháp hoàn thiện được đưa ra phải trên cơ sở phân tích những tồn tại hiện nay của công tác đầu tư xây dựng nhìn từ góc độ của CĐT và vận dụng những kinh nghiệm quốc tế, khu vực, nhưng đảm bảo phù hợp với điều kiện cụ thể của nền kinh tế và pháp luật hiện hành của nhà nước Việt nam. Như vậy với quan điểm trên, các giải pháp hoàn thiện phải được xây dựng trên cơ sở đáp ứng được việc giải quyết những vấn đề bất cập cụ thể trong quá trình thực tế thực hiện đầu tư xây dựng trong thời gian qua, các giải pháp phải đảm bảo giải quyết được vấn đề yếu kém trong công tác quản lý. 3.3- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình ở Bộ Tổng tham mưu. Sơ đồ 3.1 Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống quản lý các dự án trong Bộ Tổng tham mưu 3.3.1- Hoàn thiện môi trường pháp lý và quá trình quản lý thực hiện các dự án đầu tư. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH Ở BTTM. Hoàn thiên môi trường pháp lý và quá trình quản lý. Tăng cường việc uỷ quyền và phân cấp QL. Đổi mới cơ chế kế hoạch hoá vốn đầu tư XDCB. Nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, thẩm định và phê duyệt các DA ĐT. Nâng cao chất lượng công tác đấu thầu. Đổi mới khâu thanh, quyết toán vốn đầu tư. Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng công trình. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên môn, hiểu sâu về lĩnh vực xây dựng tham gia vào các Ban QLDA. Hoàn thiện bộ máy quản lý đồng bộ thống nhất trong việc lập, tổ chức thực hiện và điều hành DA. 56 3.3.1.1- Về môi trường pháp lý: Về phía nhà nước cần thực hiện việc rà soát và hệ thống hoá văn bản pháp luật một cách thường xuyên để làm cơ sở xây dựng và ban hành các văn bản hợp nhất hoặc sửa đổi, bổ sung huỷ bỏ các văn bản không còn phù hợp, đảm bảo việc hiểu và thực hiện các điều khoản được thống nhất trong mọi vùng, giữa các chủ thể, hạn chế những điểm chưa nhất quán, tạo ra sơ hở trong thực tế khi thực hiện ảnh hưởng đến chất lượng quản lý. Về phía BQP, trên cơ sở các văn bản pháp quy của nhà nước ban hành, căn cứ vào tình hình thực tế và tính chất đặc trưng các công trình xây dựng trong quân đội, BQP cần sớm ban hành các chỉ thị, hướng dẫn kịp thời tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia quá trình quản lý dự án đầu tư xây dựng khi triển khai thực hiện. 3.3.1.2- Về việc quản lý: Vấn đề bất cập hiện nay là trình độ, năng lực và cơ cấu tổ chức của CĐT chưa được đảm bảo, hình thức sử dụng các cơ quan tư vấn chuyên ngành giúp việc trực tiếp cho CĐT chưa phổ biến và chưa phải bắt buộc. Do đó, trong các văn bản pháp quy cần quy định cụ thể yêu cầu về năng lực, tổ chức, nhiệm vụ, các quy định chế tài và cả những quy định quyền hạn của CĐT và tiến tới mô hình sử dụng các Ban quản lý dự án có tính chất chuyên nghiệp hoặc bắt buộc sử dụng tư vấn trong quản lý đầu tư và xây dựng. Thực hiện nghiêm chế độ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của CĐT với cấp có thẩm quyền, đảm bảo chỉ CĐT có đầy đủ năng lực pháp lý và năng lực thực hiện mới được quản lý theo hình thức CĐT trực tiếp quản lý thực hiện dự án. Còn lại, các CĐT không đủ năng lực quản lý thì thuê tư vấn nhưng phải có sự tham gia của cán bộ chuyên môn về xây dựng của cơ quan quản lý ngành (cán bộ của Cục Hậu Cần) trong ban quản lý dự án để hướng dẫn CĐT trong quá trình triển khai thực hiện dự án, tránh tình trạng khoán trắng toàn bộ các khâu của quá trình đầu tư cho tư vấn. 3.3.2- Đổi mới cơ chế kế hoạch hoá vốn đầu tư xây dựng. Đổi mới cơ chế kế hoạch hoá vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo hướng phải thực hiện bằng được việc xây dựng kế hoạch 5 năm với chất lượng cao nhất và công khai kế hoạch đầu tư đó để các bên được biết. Điều này sẽ tạo ra môi trường lành mạnh, bình đẳng và là cơ sở pháp lý quan trọng để các ngành, các cấp và đặc biệt là CĐT chủ động trong lập, trình duyệt kế hoạch đầu tư. Để đảm bảo tính đúng đắn, khoa học của kế hoạch đầu tư, việc xây dựng kế hoạch sẽ được thực hiện dưới hình thức đề tài, dự án hay hợp đồng và CĐT giám sát, kiểm tra quá trình lập kế hoạch đảm bảo kế hoạch được xây dựng một cách khoa học, tiên tiến và hiện thực. Để nâng cao năng lực xây dựng kế hoạch thì trước hết phải dựa 57 vào tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, mục tiêu chính trị, chiến lược và kế hoạch đầu tư. Nhanh chóng xây dựng hoàn chỉnh quy hoạch phát triển xây dựng đến năm 2020. Sau khi đã có định hướng phát triển kinh tế thì cần triển khai nhanh chóng việc lập quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng trên phạm vi toàn quân. Để thực hiện tốt mục tiêu trên, khi lập kế hoạch vốn cần tuân thủ theo các bước như sau: * Khảo sát nhu cầu và dự báo nhu cầu xây dựng từ cơ sở. Để công tác khảo sát có chất lượng cần đảm bảo một số công việc như sau: + Có đội ngũ cán bộ chuyên môn trình độ cao ở các ban Hậu cần các Cục, do đó công tác cán bộ cần được quan tâm đúng mức để tuyển chọn những cán bộ theo đúng chuyên ngành vào làm việc tại những vị trí phù hợp. + Thường xuyên cử cán bộ thị sát cơ sở nhằm thống kê đầy đủ, chính xác về thực trạng, nhu cầu xây dựng. + Căn cứ vào tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm để làm căn cứ phân tích về sự ảnh hưởng giữa tốc độ tăng GDP và tốc độ tăng nhu cầu đầu tư xây dựng. * Lập danh mục các dự án cần đầu tư: Với những công trình XD không đáp ứng yêu cầu thì cần thiết phải đầu tư nâng cấp, hoặc phải đầu tư xây dựng mới. Thống kê số lượng các dự án cần phải đầu tư. Khi thống kê số lượng dự án cần đầu tư thì cần chú ý thuyết minh cụ thể về các dự án, phân loại các dự án theo các tiêu chí như: vị trí, quy mô vốn, thứ tự ưu tiên... tạo thuận lợi trong việc lựa chọn các dự án ưu tiên đầu tư. * Lựa chọn các danh mục đầu tư: Nhu cầu đầu tư xây dựng các đầu mối là rất lớn, trong khi các nguồn lực cho đầu tư có hạn, vì vậy cần phải sắp xếp thứ tự ưu tiên đầu tư theo các tiêu chí như: quy mô vốn đầu tư, khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu về an ninh quốc phòng... Sau khi sắp xếp danh mục các dự án cần đầu tư theo thứ tự ưu tiên để trình cơ quan quản lý ngành (Cục Hậu Cần) cần xem xét, lựa chọn. Cục Hậu cần phân tích, đánh giá, lựa chọn các DA theo các tiêu chuẩn về xu hướng đầu tư phát triển đã được phê duyệt và thứ tự ưu tiên trình Thủ trưởng BTTM phê duyệt * Lập kế hoạch vốn đầu tư: Kế hoạch vốn đầu tư XD từ ngân sách nhà nước cũng như ngân sách quốc phòng thường xuyên phải được lập và thông báo sớm cho CĐT trước ngày 01 tháng 01 hàng năm. Trong quyết định đầu tư phải xác định mức vốn đầu tư hàng năm. Khi xây dựng kế hoạch vốn hàng năm chỉ cần căn cứ vào quyết định đầu 58 tư để bố trí kế hoạch vốn. Bỏ cơ chế lập, phê duyệt và thông báo kế hoạch khối lượng. Căn cứ hợp đồng giao nhận thầu và kết quả thực hiện của nhà thầu thi công công trình để cấp phát vốn, công trình nào hoàn thành sớm, đảm bảo chất lượng thì khuyến khích trong việc bố trí và cấp phát vốn, không nên nhất nhất căn cứ vào kế hoạch vốn để cấp vốn. Trình tự lập kế hoạch vốn được thể hiện theo sơ đồ sau: Sơ đồ 3.4.1 Trình tự lập kế hoạch vốn đầu tư xây dựng. So với sơ đồ kế hoạch hoá vốn đầu tư xây dựng 2.1 (trang 24), sơ đồ 3.4.1 có những ưu điểm sau: - Cơ quan quản lý ngành là cơ quan có nghiệp vụ về công tác quản lý đầu tư xây dựng nên việc dự báo nhu cầu về đầu tư xây dựng sẽ được thực hiện một cách bài bản và chính xác. - Việc lập danh mục các dự án cần đầu tư được thực hiện khách quan, tránh tình trạng các CĐT vì lợi ích riêng mà lập danh mục đầu tư thiếu tập trung và thiếu trọng điểm. - Việc phân tích đánh giá lựa chọn các dự án của cơ quan quản lý ngành về xây dựng góp phần nâng cao công tác quản lý đầu tư xây dựng được thực hiện chặt chẽ, có hệ thống và có kế hoạch. 1. Các cơ quan quản lý ngành dự báo nhu cầu đầu tư xây dựng để xác định dự án 2. Cơ quan quản lý ngành lập danh mục các DAĐT, lựa chọn, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, trình BTTM. 3. Cục Hậu Cần phân tích, đánh giá, lựa chọn các DA hợp lý, trình BTTM. 4. BTTM quyết định bố trí vốn kế hoạch cho các DA được lựa chọn 5. Cục Hậu Cần xây dựng kế hoạch đầu tư cho từng dự án cụ thể 59 - Việc xây dựng kế hoạch cụ thể của Cục Hậu Cần cho từng dự án sẽ làm tăng vai trò quản lý ngành của các cơ quản nghiệp vụ điều đó cũng đồng nghĩa với việc tăng vai trò quản lý của Bộ đối với các CĐT. Tuy nhiên, với việc tập trung quản lý trong công tác lập kế hoạch vốn đầu tư cho cơ quan quản lý nghiệp vụ dễ dẫn đến tình trạng tiêu cực nên cần phải có những giải pháp kết hợp để làm tăng tính hiệu quả cơ chế kế hoạch hóa vốn đầu tư xây dựng. 3.3.3- Nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, thẩm định và phê duyệt các Dự án đầu tư. Để nâng cao chất lượng thẩm tra, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư, Nhà nước cần giao trách nhiệm cụ thể cho các Bộ quản lý ngành xây dựng và ban hành đầy đủ các tiêu chuẩn, định mức một cách khoa học sát với thực tế. Nên tận dụng và tham khảo các tiêu chẩn và định mức của các nước tiên tiến trên thế giới, áp dụng phù hợp với điều kiện Việt nam. Hệ thống tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật hiện nay của chúng ta vẫn còn thiếu và nhiều định mức lạc hậu, bất hợp lý và không phù hợp với thực tế do vậy cần thiết đầu tư kinh phí, phân giao nhiệm vụ rõ ràng, cần đặt ra kế hoạch và tiến độ thực hiện… để nghiên cứu, ban hành đầy đủ các tiêu chuẩn định mức phù hợp với thực tế hiện nay. Trong thời gian qua, Nhà nước và Bộ xây dựng đã ban hành một số tiêu chuẩn định mức mới làm cơ sở cho các chủ thể tham gia áp dụng, tuy nhiên việc thống nhất áp dụng vẫn chưa cao, nhiều định mức chưa phù hợp với việc áp dụng trong thực tế và hiệu quả mang lại chưa đạt được mục tiêu mong muốn. Để nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, thẩm định và phê duyệt các dự án cần tập trung vào một số giải pháp sau: - Đảm bảo quy trình lập, thẩm định và phê duyệt các DAĐT, được thể hiện thông qua sơ đồ dưới đây: 60 Sơ đồ 3.4.2 Quy trình lập, thẩm định và phê duyệt DA ĐT. Với việc thực hiện nghiêm các bước theo sơ đồ trên sẽ đạt được những mục tiêu sau đây: + Nâng cao chất lượng công tác tư vấn do CĐT có quyền lựa chọn cho mình tổ chức tư vấn phù hợp, đáp ứng các yêu cầu của dự án và của CĐT. + Hạn chế những tiêu cực khi có sự chỉ định đích danh các tổ chức tư vấn mà chưa thực sự quan tâm đến chất lượng của các tổ chức này. 2. Ban QLDA gửi công văn yêu cầu đơn vị tư vấn điều tra, khảo sát lập DAĐT 3. Đơn vị tư vấn lập đề cương KSTK và lập DAĐT trình Ban QLDA 5. Ban QLDA ký hợp đồng KSTK lập DAĐT với đơn vị tư vấn 6. Đơn vị tư vấn tiến hành điều tra, khảo sát, thiết kế lập dự án và nộp hồ sơ đến Ban QLDA 7. Ban QLDA trình CĐT thẩm định thiết kế cơ sở của DAĐT 8. Đơn vị tư vấn hoàn thiện hồ sơ, nộp cho CĐT(qua Ban QLDA) 9. CĐT trình Cục Hậu cần thẩm định DAĐT 10. Cục Hậu cần cùng với các cq quản lý ngành tổ chức thẩm định DAĐT, trình TTMT quyết định phê duyệt 1. CĐT lựa chọn đơn vị tư vấn lập dự án 4. Ban QLDA xem xét, trình CĐT quyết định phê duyệt đề cương 61 + Quán triệt thực hiện chế độ ủy quyền và phân cấp quản lý trên tinh thần giao toàn bộ quyền hạn và trách nhiệm cho CĐT. + Việc triển khai dự án theo đúng trình tự góp phần nâng cao chất lượng của từng công đoạn tránh tình trạng vừa triển khai thi công vừa hoàn thiện thủ tục hồ sơ làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp khó khắc phục trong quá trình tổ chức thực hiện dự án. - Nâng cao chất lượng tư vấn: Chất lượng các các sản phẩm tư vấn là yếu tố rất quan trọng trong việc đảm bảo điều kiện cho CĐT thực hiện quản lý dự án và phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, kỹ sư tư vấn. Do đó, nâng cao chất lượng tư vấn là nâng cao trình độ chuyên môn của các kỹ sư tham gia vào công tác tư vấn. Do vậy, cần có cơ chế và quy định quản lý chặt chẽ trình độ của kiến trúc sư, kỹ sư và việc phân cấp kiến trúc sư chủ trì cấp 1, 2; các kỹ sư, kỹ sư chủ nhiệm đồ án, chủ trì thiết kế phải có phân biệt thứ bậc; chuyên gia quản lý dự án, giám đốc điều hành dự án… đều phải được tiêu chuẩn hoá để CĐT có thể lựa chọn được những tổ chức tư vấn đáp ứng yêu cầu công việc của mình, khắc phục hiện tượng “rút kinh nghiệm” triền miên đối với các tổ chức tư vấn như hiện nay. Với thực trạng chất lượng công tác tư vấn đang còn nhiều vấn đề bất cập như hiện nay, để CĐT có thể lựa chọn tốt nhất tổ chức tư vấn cho mình, BTTM cần có cơ chế quy định rõ ràng trong việc mở rộng phạm vi lựa chọn các tổ chức tư vấn của CĐT. Chỉ những dự án, công trình đặc biệt, liên quan đến bí mật quốc gia và an ninh quốc phòng thì mới ưu tiên các tổ chức tư vấn trong quân đội đồng thời có những quy định riêng. Các dự án, công trình còn lại cho phép CĐT thông báo mời thầu các tổ chức tư vấn có năng lực trong và ngoài quân đội để CĐT lựa chọn đơn vị cung cấp sản phẩm tư vấn tốt nhất cho mình trên tinh thần cạnh tranh lành mạnh và công bằng. - Đổi mới cách xác định chi phí tư vấn, thiết kế theo hướng không xác định theo tỷ lệ dự toán công trình để tránh việc nhà thiết kế nâng giá công trình quá mức cần thiết để được thiết kế nhiều và giảm trách nhiệm đối với sản phẩm của mình, gây lãng phí vốn đầu tư và những vấn đề tiêu cực khác. - Chế độ bảo hiểm sản phẩm tư vấn: đề nghị có quy định về việc bảo hiểm sản phẩm bằng chính tài sản của mình (bao gồm cả tiền vốn và tài sản cố định), hoặc trước khi tham gia vào tổ chức tư vấn cần phải có tài sản cầm cố để đảm bảo cho sản phẩm tư vấn của mình và cùng với nó là cần phải có quy định cụ thể nâng cao chi phí cho các sản phẩm tư vấn, đảm bảo các chi phí cũng như chất xám bỏ ra của các tổ chức tư vấn. 62 - Việc lựa chọn tổ chức tư vấn của CĐT: CĐT phải có quyền chủ động lựa chọn tổ chức, cá nhân có năng lực để lập thiết kế dự toán thông qua đấu thầu hoặc bằng các hình thức khác. Đây là một hoạt động mang tính chất kinh tế nên để cho các nguyên tắc và quy luật kinh tế điều chỉnh, tuyệt đối không được dùng mệnh lệnh trong quân đội để tham gia điều chỉnh hành vi này. - Việc sử dụng tổ chức tư vấn thẩm định phương án kỹ thuật: để CĐT tập trung vào công tác quản lý dự án, nên mở rộng quy định CĐT được chủ động ký hợp đồng với một tổ chức có chức năng thẩm định thiết kế và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các nhận xét về thiết kế dự toán mà mình đã thẩm định, CĐT chỉ thực hiện chức năng quản lý công tác thẩm định. Để giảm bớt thủ tục hành chính, tạo thế chủ động cho CĐT, đề nghị sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt thiết kế- tổng dự toán có thể uỷ quyền cho CĐT phê duyệt thiết kế thi công (thiết kế chi tiết) đối với những phần việc có mức độ kỹ thuật đơn giản. Khi thực hiện uỷ quyền, CĐT có trách nhiệm sử dụng bộ phận chuyên môn có đủ năng lực hoặc thuê tổ chức tư vấn thẩm định và phải báo cáo kết quả thẩm định đến cấp có thẩm quyền và các cơ quan có liên quan. CĐT chịu trách nhiệm về quyết định phê duyệt của mình. 3.3.4- Nâng cao chất lượng công tác đấu thầu. Luật đấu thầu cần có quy định cụ thể, rõ ràng việc phân chia dự án thành các gói thầu và các biện pháp đảm bảo thực hiện. Việc phân chia dự án thành các gói thầu phải được xác định khi thiết kế được phê duyệt để vừa đảm bảo phân chia phù hợp yêu cầu, quy trình thi công phù hợp khả năng cấp vốn đồng thời đảm bảo việc thực hiện gói thầu có tính khả thi. Tránh tình trạng phân chia nhỏ gói thầu theo kế hoạch phân bổ vốn để được chỉ định thầu gây rất nhiều tiêu cực và ảnh hưởng xấu đến hiệu quả quản lý. Công tác chấm thầu cần phải thuê các tổ chức có tư cánh pháp nhân, có năng lực, có kinh nghiệm tham gia thực hiện công việc, tổ chức tư vấn làm việc độc lập và chịu trách nhiệm đến cùng đối với sản phẩm tư vấn của mình. Muốn vậy, trước hết cần phải thực hiện nghiêm cơ chế lựa chọn nhà thầu tư vấn, đồng thời có các chế tài thưởng, phạt rõ ràng và phải thật nặng đối với các tổ chức tư vấn để vừa nâng cao trách nhiệm vừa có tác dụng răn đe, buộc các tổ chức tư vấn thực hiện chức trách nhiệm vụ của mình một cách nghiêm minh, đúng trình tự và đảm bảo chất lượng. 63 Để nâng cao chất lượng công tác đấu thầu, chấm thầu cần quan tâm đến một số khía cạnh như sau: Đơn giản hoá thủ tục hành chính trong đấu thầu: Ban hành các mẫu văn bản về kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu tương ứng với mỗi loại hình công tác đấu thầu để CĐT và các bên có thể nhanh chóng thực hiện các thủ tục của mình; uỷ quyền cho CĐT thực hiện một số nội dung của công tác đấu thầu và cấp có thẩm quyền chỉ thẩm định và phê duyệt kế hoạch đấu thầu và kết quả đấu thầu. Quy định rõ điều kiện áp dụng từng loại hợp đồng, khuyến khích áp dụng loại hợp đồng trọn gói để hạn chế phát sinh cả về đơn giá lẫn khối lượng, nên khuyến khích thực hiện một loại hợp đồng đó là hợp đồng trọn gói theo giá khoán gọn. Tất cả các phát sinh đều phải được phân tích đánh giá của các chuyên gia và các cơ quan chức năng, làm rõ nguyên nhân và đề ra giải pháp xử lý phù hợp đảm bảo tính hiệu quả. Trường hợp có phát sinh lớn phải đấu thầu lại. Đối với các dự án, công trình thuộc BTTM, cần đưa ra các tiêu chí cụ thể trong việc xác định các dự án, công trình được áp dụng theo phương thức chỉ định thầu. Khi dự án (công trình) thỏa mãn các tiêu chí chỉ định thầu thì cần đơn giản hoá các thủ tục tiếp theo để triển khai thực hiện dự án mà không nên thực hiện theo các thủ tục tại điều 35 Nghị định số 111/2006/NĐ-CP hướng dẫn các thủ tục hồ sơ đối với phương thức chỉ định thầu nhằm hạn chế các thủ tục rườm rà và kinh phí không cần thiết. Nâng cao trách nhiệm của nhà thầu trong việc thực hiện hợp đồng bằng việc tăng tỷ lệ bảo lãnh lên một mức độ nào đó trong thực hiện hợp đồng, cơ chế xử phạt vi phạm hợp đồng. Đổi mới thủ tục xét thầu: Đối với loại đấu thầu mua sắm hoặc xây lắp, thống nhất hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu theo mẫu chung, nhà thầu chỉ điền thông tin theo mẫu yêu cầu của bên mời thầu (bên mời thầu đã ký tên, đóng dấu), nhằm đơn giản thủ tục và chính xác hoá khi đánh giá kết quả đấu thầu, hạn chế tiêu cực, không khách quan có thể xảy ra. Để đảm bảo tính cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà thầu, cần sớm ban hành các quy định, chế tài về chống phá giá trong đấu thầu. Cụ thể: đối với các gói thầu trúng giá với giá thấp đến 10% so với giá gói thầu thì cần có các quy định cụ thể đối với các trường hợp này, cần thiết phải nâng cao mức tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng cao hơn so với quy định (có thể tăng lên đến 20%) để ràng buộc và nâng cao trách nhiệm nhà 64 thầu trúng thầu, nhằm nâng cao chất lượng công trình xây dựng; cần cho phép CĐT được quyền trích một phần kinh phí tiết kiệm được thông qua đấu thầu để thuê tổ chức tư vấn hoặc tăng cường cán bộ kỹ thuật, khuyến khích vật chất để đảm bảo giám sát chặt chẽ quy trình, quy phạm kỹ thuật thi công về khối lượng, chất lượng. Đối với gói thầu có quy mô lớn, tính chất kỹ thuật phức tạp cần quy định cụ thể việc cần thiết phải tổ chức đấu thầu lựa chọn tư vấn giám sát đảm bảo chất lượng công tác giám sát, quản lý hiện trường. Mở rộng hơn nữa các hình thức đấu thầu để có thể lựa chọn được nhà thầu tốt nhất thực hiện dự án: Để làm được điều này cần phải có quy định cụ thể, đối với những công trình có liên quan đến bí mật an ninh quốc phòng thì chỉ định thầu hoặc đấu thầu hạn chế trong phạm vi các doanh nghiệp trong quân đội, còn lại các công trình khác nên lựa chọn hình thức đấu thầu rộng rãi cả về tư vấn và thi công. 3.3.5- Đổi mới khâu thanh toán, quyết toán vốn đầu tư. Đối với công tác thanh quyết toán vốn đầu tư hiện nay đang còn nhiều vấn đề mà hiệu quả của nó là chưa cao, thời gian quyết toán công trình kéo dài, một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là sự phối hợp của các cơ quan chức năng là rất hạn chế. Hiện nay, với việc phân công Cục Hậu cần phụ trách về mặt khối lượng còn Phòng Tài chính phụ trách về mặt đơn giá, như vậy là bất hợp lý và tạo ra sự không thống nhất vì đây là 2 vấn đề không thể tách rời, nên chăng là sự giám sát lẫn nhau của hai cơ quan chức năng này nhằm nâng cao tính chính xác và chặt chẽ của công việc, còn việc thực hiện thì chỉ nên để một cơ quan để tránh tình trạng chồng chéo trong nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của mỗi cơ quan, gây lãng phí không cần thiết. Cơ quan thanh toán phải chịu trách nhiệm đảm bảo đủ vốn thanh toán kịp thời theo hợp đồng mà CĐT đã ký với nhà thầu khi có khối lượng nghiệm thu, có trách nhiệm hướng dẫn CĐT các thủ tục cần thiết trong hồ sơ thanh quyết toán vốn. Cần phải có cơ chế cho việc tạo nguồn để chi trả cho khối lượng XD hoàn thành (CĐT vay vốn để trả). Hiện nay chưa có chế tài để buộc các nhà thầu, CĐT phải quyết toán đúng giá trị, khối lượng; quy định rõ trách nhiệm của người thanh toán, người đề nghị thanh toán nên trách nhiệm các chủ thể này còn rất hạn chế, phải gắn quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm để làm tăng tính hiệu quả. 65 Đề nghị xem xét lại cơ chế thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư trên cơ sở nâng cao trách nhiệm của CĐT, CĐT có quyền thuê tổ chức kiểm toán độc lập kiểm toán báo cáo quyết toán của mình. 3.3.6- Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng công trình. Cùng với sự phát triển không ngừng về cơ sở hạ tầng và nền kinh tế xã hội, cơ chế quản lý xây dựng cơ bản cũng được đổi mới kịp thời với yêu cầu, do đó xét về mức độ tổng thể của chất lượng dịch vụ và chất lượng công trình không ngừng được nâng cao. Công tác quản lý chất lượng đã ngày càng được mọi người coi trọng, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp tỉnh táo nhận ra rằng, tạo ra được sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao là biện pháp có hiệu quả để cạnh tranh trên thị trường, là sự đảm bảo cơ bản để có được khách hàng, chiếm lĩnh thị trường và phát triển doanh nghiệp. Trách nhiệm toàn diện đối với công tác quản lý chất lượng thuộc về CĐT và cơ chế này phải được đảm bảo bằng chế tài thực hiện, trong đó chú ý giám sát nhà thầu thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình. Tuy nhiên để đảm bảo chất lượng công trình, không chỉ CĐT và nhà thầu mà cần thiết có sự phối hợp chặt chẽ của các chủ thể tham gia mà đặc biệt là nhà thầu và CĐT- chủ thể trực tiếp thực hiện dự án. CĐT bắt buộc phải thực hiện việc thông qua kế hoạch, tiến độ, điều kiện đảm bảo thực hiện hợp đồng của nhà thầu trước khi triển khai thi công xây lắp, trong đó chú ý biện pháp thi công và tiến độ cung ứng thiết bị máy móc. CĐT có trách nhiệm giám sát nhà thầu thực hiện đầy đủ kế hoạch thi công đã được thông qua: đưa đúng, đủ, kịp thời vật tư, thiết bị, nhân công để thi công theo đúng hợp đồng đã ký kết. Trường hợp phát hiện có gian lận so với cam kết sẽ phải bồi thường, chịu phạt theo hợp đồng. Nhà thầu phải nghiêm túc thực hiện việc tự giám sát, tự nghiệm thu chất lượng trước khi báo CĐT thực hiện nghiệm thu (nghiệm thu sơ bộ) phần việc nghiệm thu hoàn thành. CĐT chỉ tiến hành nghiệm thu khi đã có thủ tục tự nghiệm thu của nhà thầu. Đổi mới cơ chế quản lý chất lượng công trình theo hướng gắn chặt trách nhiệm của người tư vấn giám sát thi công. Xác lập rõ mối quan hệ CĐT và tư vấn giám sát (người giám sát) theo cơ chế hợp đồng đảm bảo tính chất độc lập hoạt động trong công tác giám sát. Người giám sát phải được hưởng phụ cấp trách nhiệm cao. Tiêu chuẩn hoá cán bộ giám sát về trình độ, phẩm chất đạo đức, và người giám sát phải có khoản tiền ký cược đảm bảo trách nhiệm. 66 Quán triệt và thực hiện nghiêm quy trình quản lý chất lượng trong Nghị định số 209/2004/NĐ-CP. Trong trường hợp các thủ tục không đảm bảo theo Nghị định số 209 quy định thì kiên quyết không cho ứng vốn cũng như quyết toán vốn theo hạng mục công việc. Đối với những công trình mà CĐT thuê tư vấn, ngoài việc ký kết hợp đồng với những điều khoản cụ thể, rõ ràng, CĐT cần phải có sự kiểm tra hiện trường một cách thường xuyên, liên tục để sớm phát hiện những sai sót, cũng như những yếu tố mới nảy sinh trong quá trình thi công để đề ra biện pháp xử lý kịp thời mang lại hiệu quả cao. Mặt khác, với sự bám sát hiện trường một cách thường xuyên sẽ làm cho công tác xây dựng được thực hiện theo đúng trình tự, đúng quy trình, quy phạm hạn chế việc thoả thuận về giá, khống khối lượng giữa người giám sát và nhà thầu cũng như cắt bớt những công đoạn thi công ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng. Với nhu cầu đầu tư xây dựng công trình ngày một gia tăng, để nâng cao chất lượng công tác quản lý chất lượng công trình, cần thiết phải thực hiện một số công việc sau: - Cơ quan quản lý ngành (Cục Hậu Cần) cử cán bộ có chuyên môn tham gia giám sát hiện trường cùng với CĐT, nhà thầu và tư vấn giám sát. Cán bộ tham gia giám sát phải là người có phảm chất đạo đức và tâm huyết nghề nghiệp tốt, có kinh nghiệm quản lý hiện trường và có chứng chỉ hành nghề theo quy định. - Cần thiết phải trang bị máy móc kỹ thuật hiện đại để hỗ trợ cho con người trong việc kiểm tra giám sát chất lượng công trình. - Có chế độ đãi ngộ thích đáng với trách nhiệm được giao để họ yên tâm thực hiện tốt chức trách nhiệm vụ của mình. - Có kế hoạch kiểm tra hàng tuần, hàng quý của cơ quan quản lý cấp trên và tổ chức những cuộc họp công trường để nhận được những ý kiến đóng góp từ công nhân và những người người lao động trực tiếp để có biện pháp xử lý kịp thời. - Hàng ngày, cán bộ giám sát có trách nhiệm báo cáo với trưởng ban QLDA về tiến độ và tình hình triển khai công việc, trong đó có những nhận xét sơ bộ về việc áp dụng các quy trình, quy phạm trong quá trình tổ chức thực hiện, đồng thời lên kế hoạch của những công việc sắp triển khai. - Trích kinh phí quản lý dự án hoặc kinh phí tiết kiệm được công tác đấu thầu để trả lương phụ thêm lương chính cho cán bộ giám sát kỹ thuật hiện trường. 67 - Cần thiết thiết lập nên hệ thống quy trình quản lý chất lượng phù hợp với đặc điểm, tính chất của các công trình trong quân đội, trên cơ sở đó các nhà thầu chỉ tập trung làm theo. 3.3.7- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên môn của các Ban quản lý dự án. Vấn đề cán bộ và chất lượng cán bộ là vấn đề hết sức quan trọng, nó có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, phải nghiên cứu và quy hoạch tổ chức lại cán bộ sao cho gọn nhẹ, có hiệu lực và có hiệu quả. Cơ quan cấp quản lý nhà nước chỉ đảm nhiệm chức năng hoạch định chính sách, chế độ và kiểm tra việc thực hiện các chế độ chính sách ấy, không bao biện làm thay cho cơ sở. Thành lập các công ty chuyên nghiệp thay cho các ban quản lý dự án như hiện nay nhằm nâng cao năng lực và chất lượng quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình. Tiêu chuẩn hoá cán bộ và tổ chức tốt công tác đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước cho phù hợp; xác định chính thức chức danh kỹ sư quản lý dự án để có sơ sở tiêu chuẩn hoá nhân lực, cán bộ của các Ban quản lý dự án, cơ quan chuyên môn giúp việc cho CĐT tiến tới yêu cầu bắt buộc với cán bộ QLDA (chủ nhiệm điều hành dự án) phải có chứng chỉ hành nghề. Để xây dựng được lực lượng cán bộ chuyên môn sử dụng lâu dài cần chú trọng kế hoạch đào tạo mới những cán bộ trẻ, có năng lực để đưa vào quy hoạch cán bộ lãnh đạo trong tương lai. Cần phải tạo điều kiện thuận lợi, công bằng cho đội ngũ cán bộ có khả năng cạnh tranh lành mạnh, cần phải có chế độ đãi ngộ thích đáng đối với những cán bộ có bằng cấp, có trình độ, có kinh nghiệm, có như thế mới nâng cao được chất lượng cán bộ. CĐT đánh giá lại đội ngũ cán bộ hiện có cả về chất lượng và số lượng để có kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng lại. Công tác đào tạo kỹ sư tư vấn và cán bộ chuyên ngành kỹ thuật cần được đổi mới ngay từ khâu đào tạo trong các trường đại học: điều chỉnh nội dung và phương pháp đào tạo để tạo ra lớp kỹ sư tư vấn đảm bảo kỹ thuật chuyên môn; đồng bộ cả về chuyên môn, ngoại ngữ các kiến thức pháp luật, kiến thức KT-XH và công nghệ chuyên ngành. 68 Đảm bảo điều kiện vật chất, tinh thần để cho cán bộ yên tâm công tác thông qua chế độ tiền lương phải khá hơn ở lĩnh vực doanh nghiệp và tiến tới việc trả lương theo trình độ chuyên môn, vị trí công việc, trách nhiệm công việc với mục đích phải đảm bảo cuộc sống đầy đủ để họ chuyên tâm vào công tác chuyên môn, hạn chế vấn đề tiêu cực trong các cán bộ quản lý nhà nước. 3.3.8- Hoàn thiện bộ máy quản lý đồng bộ thống nhất trong việc lập, tổ chức thực hiện và điều hành dự án. Vấn đề hoàn thiện bộ máy quản lý là một yêu cầu khách quan, phù hợp với quy luật phát triển. Để quản lý có hiệu quả thì vấn đề chuyên môn hoá bộ máy quản lý là cần thiết, tránh những chồng chéo về nhiệm vụ và trách nhiệm trong quản lý. Phải xây dựng chế độ đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề quản lý. Phải đào tạo được một đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ năng lực chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, am hiểu pháp luật để tham gia vào các Ban quản lý dự án. Phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan làm công tác XDCB trong BTTM đối với quy trình hoạt động XDCB, phải thống nhất trong hướng dẫn, chỉ đạo đơn vị, không để xảy ra tình trạng chồng chéo gây khó khăn cho đơn vị. Kiện toàn bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác XDCB ở các đơn vị đầu mối. Tăng cường trách nhiệm của CĐT trong hoạt động đầu tư XDCB. Từng bước thiết lập bộ máy quản lý chuyên nghiệp và hiệu quả, nhanh chóng tách rời nhiệm vụ chính trị, an ninh quốc phòng với nhiệm vụ kinh tế, hạn chế tính mệnh lệnh trong quân đội áp dụng để điều chỉnh các hành vi trong kinh tế với quan điểm là: các hoạt động mang tính chất kinh tế thì để các quy luật kinh tế điều chỉnh trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn điều chỉnh hành vi. Đây là giải pháp mang tính tổng hợp, nó đòi hỏi sự phối hợp một cách nhịp nhàng của các bộ phận. 69 KẾT LUẬN Quản lý đầu tư xây dựng là vấn đề lớn và rất phức tạp liên quan đến rất nhiều các chủ thể. Để nâng cao chất lượng công tác quản lý đầu tư xây dựng bao gồm rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết một cách đồng bộ và bài bản, mỗi vấn đề đều có những tác động nhất định ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý đầu tư xây dựng. Nghiên cứu để tìm ra những nguyên nhân của sự hạn chế, tồn tại từ đó đề xuất những giải pháp cho vấn đề này là rất khó khăn. Do đặc thù của lĩnh vực xây dựng là các công trình thường được đầu tư xây dựng trong thời gian dài, trong khi các cơ chế chính sách của Nhà nước thường hay thay đổi, vì vậy nên công tác phân tích đánh giá các dự án đầu tư là gặp rất nhiều khó khăn. Qua nội dung nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện hệ thống quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản trong Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng.” tác giả đã tập trung giải quyết một số nội dung chính sau đây: - Làm rõ khái niệm, nội dung quản lý Nhà nước đối với công tác quản lý đầu tư và xây dựng nói chung và quản lý các dự án đầu tư xây dựng ở Bộ Tổng tham mưu nói riêng trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp quy hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng của Nhà nước Việt nam, các văn bản của Bộ Quốc phòng và các quá trình của chu kỳ đầu tư để phân tích nhiệm vụ, vai trò, trách nhiệm của CĐT và các chủ thể khác tham gia vào hoạt động đầu tư xây dựng. Thông qua các tài liệu, các kết quả nghiên cứu để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu. - Trên cơ sở lý luận về quản lý đầu tư để phân tích thực trạng công tác quản lý đầu tư và xây dựng các công trình ở Bộ Tổng tham mưu để thấy được những tồn tại, những vấn đề còn hạn chế về môi trường pháp lý, hệ thống tổ chức, trình độ năng lực chuyên môn cũng như năng lực điều hành dự án để đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý dự án đầu tư, các giải pháp chủ yếu tập trung vào các vấn đề liên quan đến quá trình quản lý dự án của các CĐT. Các giải pháp đó bao gồm: 1- Hoàn thiện môi trường pháp lý và quá trình quản lý thực hiện các dự án đầu tư. 2- Tăng cường việc uỷ quyền và phân cấp quản lý. 3- Đổi mới cơ chế kế hoạch hoá vốn đầu tư xây dựng. 70 4- Nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, thẩm định và phê duyệt các dự án đầu tư. 5- Nâng cao chất lượng công tác đấu thầu. 6- Đổi mới khâu thanh toán, quyết toán vốn đầu tư. 7- Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng công trình. 8- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên môn của các Ban quản lý dự án. 9- Hoàn thiện bộ máy quản lý đồng bộ thống nhất trong việc lập, tổ chức thực hiện và điều hành dự án. Với thời gian nghiên cứu có hạn, trong khi vấn đề nghiên cứu rộng và phức tạp. Mặc dù đã được sự tận tình giúp đỡ của các đồng nghiệp mà đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo TS. Đặng Văn Đồng và PhD Ming-Kun Lin , nhưng sự hiểu biết của bản thân còn hạn chế, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý chia sẻ của các thầy giáo, cô giáo và những người quan tâm đến lĩnh vực đầu tư xây dựng để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn. Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Nhà trường, các giảng viên hướng dân và cơ quan BTTM đã tận tình giúp đỡ tác giả hoàn thiện luận văn này. 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 1. Prof. Teresa L.Ju (2011), Tài liệu bài giảng thực hành quản trị Dự án, Chương trình EMBA liên kết giữa Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học KHCN Long Hoa. 2. Mark Saunders, Philip Lewis, Adrian Thornhill (2010), Phương pháp nghiên cứu trong kinh doanh, Nxb Tài chính, Tp HCM. 3. Phil Baguley (2007), Quản trị dự án, Nxb Thanh Hóa. 4. GS.TS.NGUT. Bùi Xuân Phong (2006), Quản trị dự án đầu tư, Học viện Bưu chính viễn thông, Hà nội. 5. PGS.TS. Nguyễn Trường Sơn, TS. Đào Hữu Hòa (2002), Quản trị dự án đầu tư, Nxb Thống kê, Hà nội. 6. Quốc hội (1995), Luật Doanh nghiệp nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 8. Quốc hội (2000), Luật Doanh nghiệp nhà nước sửa đổi, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 9. Quốc hội (2005), Luật Đầu tư , Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 10. Quốc hội (2003), Luật Xây dựng , Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 11. Quốc hội (2005), Luật Đấu thầu , Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 12. Chính phủ (2009), Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 7 tháng 2 năm 2005 về Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. 13. Chính phủ (2004), Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 về Quản lý chất lượng Công trình xây dựng. 14. Chính phủ (2007), Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2007 về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình. TIẾNG ANH 15. Scott Berkun (2005), The Art of Project Management, Prentice Hall, United States of America. 16. Chris Hendrickson (1998), Project Management for Construction, Carnegie Mellon University, Pittsburgh. 72 17. George J.Ritz (1994), Total construction Project Management, Mcgrow-Hill, United States of America. 18. Henk Hamrsen, Rutger Kramer, Laurents Sesink, Joris van Zundert (2006), Project Management Hanlbook, Data Acrhiving and Networked Services. 19. Richard Lambeck, P.E, Joht Eschemuller, P.E (2009), Urban construction Project Management, Mcgrow-Hill, United States of America.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_emba_nguyen_manh_ha_0507.pdf
Luận văn liên quan