Học thuyết của Khổng Tử dưới góc nhìn triết học văn hóa

Thứ ba, Khổng Tử đã thấy được vai trò to lớn của giáo dục đạo đức cho mọi người, với chủ trương “hữu giáo vô loài”. Chính khi con người có đạo đức họ mới ý thức được bổn phận và trách nhiệm của mình trong xã hội, có như thế xã hội mới ổn định, thịnh vượng, hạnh phúc. Tư tưởng này của ông là một điểm sáng mang tính nhân văn. Tuy nhiên, hạn chế của ông khi chủ trương chỉ dạy người quân tử để cai trị, còn người dân thì để sai khiến, để họ an phận với địa vị của mình, chủ trương dạy con người ta về đạo đức mà chưa chú trọng đến dạy ngành nghề. Thứ tư, quan điểm về đạo đức của người thầy và thái độ của người học. Với chủ trương “tiên học lễ hậu học văn” nhằm đào tạo một con người có đạo đức, có nhân cách tốt đẹp trước khi học chữ. Đây cũng là quan điểm có ảnh hưởng sâu sắc đến nền giáo dục của Trung Quốc và Việt Nam. Và nó vẫn còn có giá trị trong việc xây dựng nội dung giáo dục của nước ta hiện nay.

ppt24 trang | Chia sẻ: tienthan23 | Ngày: 19/02/2016 | Lượt xem: 1973 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Học thuyết của Khổng Tử dưới góc nhìn triết học văn hóa, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
HỌC THUYẾT CỦA KHỔNG TỬ DƯỚI GÓC NHÌN TRIẾT HỌC VĂN HÓANHÓM 2:Ngô Trung PhátTrần Thị Như YếnTrương Vủ UyếnNguyễn Thị HàTăng Tài ĐứcTÀI LIỆU THAM KHẢONguyễn Thanh Bình: Học thuyết chính trị- xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.Doãn Chính (Chủ biên): Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.Doãn Chính (Chủ biên): Lịch sử triết học Phương Đông, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2012.Doãn Chính (Chủ biên): Từ điển triết học Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.Lê Qúy Đôn: Tứ Thư ước giản, Nxb. Từ điển bách khoa, 2010, (Bản dịch của Nguyễn Bích Ngô).Nguyễn Tài Thư (Chủ biên): Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993.Viện nghiên cứu Hán Nôm: Ngữ văn Hán Nôm, t.1, Tứ Thư, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002.NỘI DUNG TRÌNH BÀYQuan điểm về vũ trụ và con ngườiMột số nội dung quan trọng trong học thuyết đạo đức của Khổng TửÝ nghĩa học thuyết đạo đức của Khổng Tử dưới góc độ triết học văn hóaKết luậnĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ- CHÍNH TRỊ- XÃ HỘIThời Xuân ThuKinh tế: chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt; có sự phân công lao động; xuất hiện tiền tệ.Xã hội: hình thành một tầng lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực. Thương nhân có nhiều người kết giao với chư hầu và công khanh đại phu, gây nhiều ảnh hưởng với chính trị đương thời. Chính trị: Chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn trọng, đầu mối các mối quan hệ về chính trị quân sự giữa Thiên tử và các nước chư hầu ngày càng lỏng lẻo, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được tôn trọng như trước. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ- CHÍNH TRỊ- XÃ HỘIChính trị thời Xuân Thu483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ/ khoảng 242 năm Lãnh chúa bóc lột nhân dân lao động năng nề. Thiên tai thường xuyên xảy raCướp bóc diễn ra khắp nơi Mâu thuẩn trong giai cấp thống trị trở nên gay gắtLễ nghĩa cương thường đảo lộn, đạo đức suy đồi. Tôi giết vua, con hại cha, vợ chồng anh em chia lìa thường xuyên xảy ra.TIỀN ĐỀ LÝ LUẬNThế giới quan thần thoại tôn giáo và quan điểm duy tâm chủ nghĩa trở thành hình thái ý thức hệ thống trị trong thời kỳ Hạ - Chu. Đó là quan điểm đề cao “Thiên mệnh”Giai cấp quý tộc thống trị tự cho mình là con của Trời, có thể thay trời để cai trị thiên hạ, phục tùng vua chúa chính là phục tùng Trời. Họ cho rằng con người có thể thông đạt và tiếp xúc với quỷ thần bằng cách cúng bái, bói toán. Họ đã sáng tạo ra các hình thức nghi lễ tôn giáo để thờ cúng các vị thần linh để cầu cho sự bình an.Tư tưởng tiến bộ vô thần đối nghịch với thế giới quan tôn giáo đã có bước phát triển mới. Họ đã giải thích thế giới bằng chính các sự vật, hiện tượng đó chính là quan điểm ngũ hành, âm dương. Họ bắt đầu nghi ngờ sự công minh của trời, phê phán sự cai trị tàn bạo của giai cấp thống trị trên mặt đất. Đồng thời, họ đề cao vị trí của con người, đặc biệt là của nhân dân lao động, người làm ra của cải vật chất. Họ có quan điểm tiến bộ về lịch sử khi cho rằng một xã hội ổn định, một vị vua tồn tại là phụ thuộc vào người dân, nếu vua không được lòng dân thì trước sau cũng bị lật đổ. Những tư tưởng tiến bộ đó được thể hiện trong Kinh Thư, Kinh Thi và Kinh Dịch.CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆPKhổng Tử (551 – 479 TCN) tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ. Khổng Tử mồ côi cha năm lên 3 tuổi. Năm 15 tuổi, bắt đầu dốc sức vào việc học hành và đạt được sự kính trọng, ngợi khen là người hiếu lễ và thông đạt. Ông đã từng làm quan nhưng sau đó từ quan và chu du các nước Tề, Tống, Vệ để du thuyết về học thuyết của mình nhưng không được trọng dụng. Năm 484 TCN (khi đã 68 tuổi), Khổng Tử trở về quê hương mình là nước Lỗ, sau 13 năm chu du, truyền bá học thuyết của mình. Suốt đời với mong muốn cải biến xã hội, giáo hóa đạo đức con người, cứu thiên hạ nhưng không được vua các nước chư hầu trọng dụng. Ông mở trường dạy học.Khổng Tử đã hệ thống hóa những tri thức, tư tưởng đời trước và quan điểm của ông thành học thuyết đạo đức - chính trị nổi tiếng. Ông là người sáng lập ra trường phái Nho gia vào cuối thời Xuân thu. QUAN ĐIỂM VỀ VŨ TRỤTrong quan niệm về thế giới, một mặt Khổng tử thừa nhận sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động, biến hóa một cách tự nhiên theo “đạo” vốn có của nó, chứ không phụ thuộc vào mệnh lệnh của Trời. Đó là yếu tố duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát - một bước tiến so với quan điểm duy tâm, thần bí, tôn giáo phổ biến thời đó. Mặt khác, ông lại cho rằng Trời có ý chí và có thể chi phối vận mệnh của con người, đó lại là bước lùi trong tư tưởng triết học của ông. Điều này cho thấy sự mâu thuẫn và tính chất hai mặt trong tư tưởng triết học của ông về thế giới.QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜITrờiCon ngườiĐấtKhổng Tử cho rằng con người là kết quả bẩm thụ tinh khí của âm – dương, trời - đất mà sinh thành, tuân theo “thiên lý”, hợp với đạo “trung hòa”. Từ quan điểm này, Khổng Tử cho rằng, bản tính con người có nguồn gốc từ trời, là nguyên lý tự nhiên trời phú cho con người và con người bẩm thụ lấy. Khổng Tử viết: “Nhân chi sơ sinh dã trực - Người ta sinh ra ban sơ tính là ngay thẳng”Khổng Tử cũng cho rằng: Trí thông minh, sự khôn ngoan của con người đối lập với mê tín quỷ thần. Tuy nhiên, do tin có “Thiên mệnh” nên Khổng Tử coi việc hiểu biết mệnh trời là một điều kiện tất yếu để trở thành con người hoàn thiện. QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜICon ngườiQuân tửTiểu nhânNhư vậy, trong mối quan hệ giữa con người và vũ trụ, Khổng Tử đã đặt con người làm vị trí trung tâm, có vai trò quan trọng trong vũ trụ hơn hẳn các loài vật. Con người với trí tuệ của mình, có thể biến đổi cải tạo thế giới, hơn thế nữa, con người còn có trí tuệ để tiếp nhận tri thức, đạo đức để trở nên con người hoàn thiện hơn. QUAN ĐIỂM VỀ “NHÂN”, “TRÍ”, “DŨNG”Chữ “nhân” trong triết học Khổng Tử có ý nghĩa rất rộng, bao hàm nhiều mặt trong đời sống của con người, có lúc trừu tượng, có lúc cụ thể, tùy theo trình độ, hoàn cảnh mà ông diễn đạt nội dung của nó một cách khác nhau. Ý nghĩa về mặt luân lý: “Người mà không có lòng nhân đức làm sao thi hành lễ tiết? Người mà chẳng có lòng nhân đức làm sao dùng âm nhạc” (Luận ngữ, Bát dật, 3); Ý nghĩa về mặt chính trị: “Cho nên làm việc chính trị là ở biết dùng người, muốn giữ được người tài giỏi phải khéo tu tập lấy thân mình, muốn tu theo đạo phải nhờ ở đức nhân” (Trung dung, 20); Ý nghĩa về mặt vũ trụ luận: “Mùa xuân sinh ra vạn vật, mùa hạ làm vạn vật trưởng thành, đó là nhân vậy” (Lễ ký, Nhạc ký).QUAN ĐIỂM VỀ “NHÂN”, “TRÍ”, “DŨNG” “Nhân” có hàm nghĩa là đức nhân, “nhân” là đức tính toàn thiện nhất, là cái gốc đạo đức của con người, nên “nhân” chính là đạo làm người. Đạo làm người được Khổng Tử nói đến tựu chung lại thể hiện cách ứng xử trong mối quan hệ giữa trời - con người - đất. Trong đó, con người đóng vị trí là trung tâm của vũ trụ. Do đó con người hấp thụ cả đạo của trời và đất. Do đó đức nhân là đức tính quan trọng nhất. Đức “nhân” theo Khổng Tử có thể yên lặng, vững chãi như núi, bao nhiêu đức tính khác đều bởi đó mà sinh ra. Đức nhân chính là cái gốc mà từ nó sản sinh ra các đức tính tốt đẹp khác. Do đó tu dưỡng để có đức nhân chính là trở nên con người hoàn thiện.QUAN ĐIỂM VỀ “NHÂN”, “TRÍ”, “DŨNG”“Trí” được hiểu là sự minh mẫn nói chung để phân biệt, đánh giá con người và tình huống, qua đó tự xác định cho mình cách ứng xử cho phải đạo. con người muốn có trí thì phải học, phải được giáo dục. “Dũng” đó là lòng can đảm, là sức mạnh để làm chủ tình thế của con người. Khổng Tử nhấn mạnh đến mặt tích cực của dũng đó chính là sự can đảm, có chính kiến khi bảo vệ điều lẽ phải, chống lại cái ác, cái sai trái. Trong quan điểm về đạo đức của Khổng Tử, các cặp phạm trù “nhân, trí, dũng” không tách rời nhau. Những phạm trù đạo đức này hòa quyện vào nhau, trong đó phạm trù “Nhân” đóng vai trò là hạt nhân của học thuyết. Từ nó sản sinh ra các phạm trù đạo đức khác. Khổng Tử nói: “Trí, nhân, dũng, ba đức đó là sự đạt đức của thiên hạ vậy. Người quân tử nên “tu thân thì lấy đạo, tu đạo thì lấy đức nhân” (Trung Dung, 20). HỌC THUYẾT NHÂN TRỊ “Chính danh” thực chất là khôi phục lại và duy trì trật tự lễ nghĩa, đẳng cấp danh phận xã hội, do đó để thực hiện chính danh, Khổng Tử đề cao “lễ”, coi lễ là phương tiện để thực hiện chính danh. DANHTHỰCNhất định “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” (Luận Ngữ, Nhan Uyên, 11). “Chính danh là làm mọi việc cho ngay thẳng” (Luận Ngữ, Nhan Uyên, 1)TRỊ NƯỚCCHÍNH DANH“Danh bất chính, tắc ngôn bất thuận; ngôn bất thuận, tắc sự bất thành; sự bất thành, tắc lễ nhạc bất hưng; lễ nhạc bất hưng, tắc hình phạt bất trúng; hình phạt bất trúng, tắc dân vô sở thố thủ túc” (Luận Ngữ, Tử Lộ, 3).Vua- TôiCha- ConAnh- EmBằng hữuVợ- ChồngQUAN NIỆM VỀ NGƯỜI CÓ ĐỨC NHÂNNgười có đức nhân phải là người “trước làm những điều khó, sau mới nghĩ đến thu hoạch kết quả - Nhân giả tiên nan, nhi hậu hoạch; khả vị nhân hỹ” (Luận ngữ, Ung dã, 20). Người có đức nhân có thể gặp họa sát thân chứ nhất định không hại nhân, do đó họ luôn tự kiềm chế mình để tuân theo lễ tiết của xã hội. Người có đức nhân sẵn sàng, vui vẻ sống trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù đấy là vinh hoa, giàu có hay nghèo đói, túng thiếu. “Người có nhân cái cao nhất là đức nhân của mình” (Luận ngữ, Lý ngân, 2). Và luôn thực hiện đức nhân mọi nơi, mọi lúc. QUAN NIỆM VỀ NGƯỜI CÓ ĐỨC NHÂNNgười có đức nhân còn là người luôn biết tu dưỡng đạo đức cá nhân của mình cho hợp ý trời, được lòng người. Người có đức nhân là người làm được năm điều trong thiên hạ: “Cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Đối với người khác, người có đức nhân trước hết phải là người biết thương yêu người khác. Theo Khổng Tử, người muốn đạt đức “nhân” phải là người có “trí” và “dũng”. Có thể có người “trí” mà không có “nhân”, nhưng không thể là người “nhân” mà thiếu “trí”. QUAN ĐIỂM VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Trong quan điểm giáo dục, Khổng Tử chủ trương dùng “nhân” để giáo hóa con người, cải biến xã hội từ loạn thành trị, thể hiện tính nhân bản của ông. Khổng Tử chủ trương “hữu giáo vô loại” nghĩa là giáo dục không phân biệt ai, đã là con người thì cần phải được giáo dục. Khổng Tử đưa ra nguyên tắc của người giáo dục là phải luôn làm gương cho người học. Bên cạnh đó, người dạy học còn phải coi trọng việc xác định đối tượng giáo dục qua ngôn ngữ và hành vi của họ để xác định nội dung giáo dục cho phù hợp. QUAN ĐIỂM VỀ MẪU NGƯỜI LÝ TƯỞNGQUÂN TỬ 1. Khi trông thì để ý đặng thấy cho minh bạch,2. Khi nghe thì lắng nghe cho rõ ràng, 3. Sắc mặt thì giữ cho ôn hòa, 4. Tướng mạo thì giữ cho khiêm cung, 5. Nói ra thì giữ bề cho trung thật, 6. Làm việc thì trọng sự kính cẩn, 7. Có điều gì nghi hoặc thì liệu mà hỏi han, 8. Khi giận giữ thì nghĩ đến sự hoạn hạn có thể xảy ra, 9. Khi thấy mối lợi thì nghĩ đến điều nghĩa” (Luận ngữ, Qúy Thị, 10)XÃ HỘI LÝ TƯỞNG Thứ nhất, xã hội lý tưởng là một xã hội thái bình, ổn định, có trật tự, có kỷ cương, mọi cái trong xã hội đều là của chung, mọi người trong xã hội đều có quyền lợi, được chăm sóc, đều bình đẳng, sống hòa mục, nhân ái. Thứ hai, xã hội lý tưởng là một xã hội có đạo đức và có đời sống vật chất tương đối đầy đủ. Xã hội có đạo đức được biểu hiện ở những dấu hiệu cơ bản: vua thánh - tôi hiền; mọi người đều được chăm sóc, nuôi dưỡng, đều có đạo đức và sống có đạo đức. Thứ ba, xã hội lý tưởng là một xã hội có giáo dục, mọi người trong xã hội đó phải được giáo dục, giáo hóa. Ý NGHĨA HỌC THUYẾT ĐẠO ĐỨC CỦA KHỔNG TỬ DƯỚI GÓC NHÌN TRIẾT HỌC VĂN HÓA Thứ nhất, Đức Nhân, Nghĩa của Khổng Tử đã làm cho con người có sự đối xử nhân ái, khoan dung, độ lượng với nhau. Đức lễ, với hệ thống các qui định chặt chẽ đã giúp con người có thái độ và hành vi ứng xử với nhau theo thứ bậc, theo khuôn phép. Đây là quan điểm có giá trị lâu bền theo thời gian, nó đã ảnh hưởng sâu sắc trong văn hóa Trung Quốc, Việt Nam Thứ hai, Khổng Tử đã nhận thấy được vị trí và vai trò của nhân dân lao động, lực lượng tạo ra của cải vật chất trong cơ cấu xã hội, tuy nhiên ông cũng còn có mâu thuẫn khi phân chia con người trong xã hội thành hai loại người là người quân tử và kẻ tiểu nhân. Ý NGHĨA HỌC THUYẾT ĐẠO ĐỨC CỦA KHỔNG TỬ DƯỚI GÓC NHÌN TRIẾT HỌC VĂN HÓA Thứ ba, Khổng Tử đã thấy được vai trò to lớn của giáo dục đạo đức cho mọi người, với chủ trương “hữu giáo vô loài”. Chính khi con người có đạo đức họ mới ý thức được bổn phận và trách nhiệm của mình trong xã hội, có như thế xã hội mới ổn định, thịnh vượng, hạnh phúc. Tư tưởng này của ông là một điểm sáng mang tính nhân văn. Tuy nhiên, hạn chế của ông khi chủ trương chỉ dạy người quân tử để cai trị, còn người dân thì để sai khiến, để họ an phận với địa vị của mình, chủ trương dạy con người ta về đạo đức mà chưa chú trọng đến dạy ngành nghề. Thứ tư, quan điểm về đạo đức của người thầy và thái độ của người học. Với chủ trương “tiên học lễ hậu học văn” nhằm đào tạo một con người có đạo đức, có nhân cách tốt đẹp trước khi học chữ. Đây cũng là quan điểm có ảnh hưởng sâu sắc đến nền giáo dục của Trung Quốc và Việt Nam. Và nó vẫn còn có giá trị trong việc xây dựng nội dung giáo dục của nước ta hiện nay.Ý NGHĨA HỌC THUYẾT ĐẠO ĐỨC CỦA KHỔNG TỬ DƯỚI GÓC NHÌN TRIẾT HỌC VĂN HÓAThứ năm, nét đặc sắc trong quan điểm về đạo đức chính trị là chú trọng đến vấn đề tu dưỡng đạo đức cá nhân, đặc biệt là chú ý đến đạo đức người cầm quyền (những người có chức, quyền). Thứ sáu, tư tưởng chính danh giúp cho con người xác định được nghĩa vụ và trách nhiệm của mình để từ đó suy nghĩ và xử thế đúng trong các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, khi đề cao quá những chuẩn mực đạo đức của những quan hệ này nó trở nên khắt khe và là nhưng rào cản sự phát triển mang tính cá nhân.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • ppthoc_thuyet_cua_khong_tu_duoi_goc_do_7096.ppt
Luận văn liên quan