Huy động vốn và cho vay tín dụng tại quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá

Sự ra đời của hệ thống QTDND cơ sở đã tạo thêm một kênh dẫn vốn quan trọng đến các hộ gia đình, đa dạng hoá thị trường tài chính, tín dụng ở nông thôn, góp phần thúc đẩy kinh tế, tăng cường đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, mở mang ngành nghề, dịch vụ, xoá đói giảm nghèo, từng bước đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi, hụi họ ở nông thôn, tạo công ăn việc làm cho người lao động.

pdf105 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 04/11/2013 | Lượt xem: 7983 | Lượt tải: 88download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Huy động vốn và cho vay tín dụng tại quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
và phát triển mới QTDND cơ sở, theo dự kiến của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Thanh Hoá, kế hoạch hàng năm phát triển mới từ 4-5 QTDND cơ sở tập trung ở các khu vực nông nghiệp nông thôn nhằm mục đích tăng cường huy động vốn tại chỗ để hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống ở khu vực nông thôn. - Ba là, huy động vốn và cho vay tín dụng của QTDND cơ sở góp phần phát triển kinh tế xã hội chủ yếu khu vực nông nghiệp, nông thôn Thanh Hoá Trong thực tế ở những nơi có QTDND cơ sở hoạt động người dân sẽ có thuận lợi hơn trong việc mở mang dịch vụ, ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thực hiện các mục tiêu xã hội lớn như tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, ổn định tình hình trật tự kinh tế, chính trị xã hội... Hiện nay ở nhiều vùng, địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, hoặc kể cả nông thôn khi mà Nhà nước và các tổ chức tín dụng thương mại khác còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận đồng vốn đối với người dân thì QTDND cơ sở mang lại hiệu quả cao cho sự phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn. QTDND cơ sở đã phát huy được tinh thần và nội lực của người dân để người dân giải quyết các khó khăn, vướng mắc của chính bản thân họ, đồng thời thực hiện có hiệu quả các chương trình tiết kiệm, huy động tiềm năng trong nhân dân phục vụ cho đầu tư tại chỗ, tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi trong cộng đồng dân cư. Nguyên tắc ‘Ba tại chỗ’ (huy động tại chỗ, cho vay tại chỗ, kiểm tra giám sát, quản lý tại chỗ) ‘Bốn cùng’(cùng mục tiêu, cùng tham gia quản lý, cùng chia sẻ trách nhiệm, cùng hưởng lợi) được các QTDND cơ sở vận dụng linh hoạt và phát huy lợi thế. QTDND cơ sở hướng vào khai thác tốt nguồn vốn tại chỗ trong địa bàn, cần tranh thủ sự ủng hộ mạnh mẽ của các tổ chức tài chính quốc tế thông qua Quỹ tín dụng Trung ương làm đầu mối. . Thực tế cho thấy QTDND cơ sở ra đời góp phần cung cấp các dịch vụ tín dụng, Ngân hàng cho dân cư trên địa bàn. Bất kể người dân nào nếu là thành viên cũng sẽ được hưởng các sản phẩm dịch vụ của QTDND với tư cách vừa là thành viên vừa là khách hàng. Qua hoạt động của QTDND cơ sở, ý thức tiết kiệm và tích luỹ của người dân được nâng cao, những đồng vốn nhàn rỗi được huy động để đưa vào đầu tư phục vụ cho phát triển sản xuất, mở mang ngành nghề, dịch vụ. QTDND cơ sở vừa là người quản lý một phần tài sản của thành viên, vừa là nhà cung ứng vốn cho người dân trên địa bàn nên đảm bảo tính ổn định của đầu tư lâu dài, mặt khác thông qua các hoạt động tư vấn, hỗ trợ cung cấp thông tin của QTDND mà trình độ, nhận thức của người dân cũng được nâng cao, nhiều tệ nạn hụi họ, cho vay nặng lãi được hạn chế và được đẩy lùi, ý thức làm ăn, kinh doanh sử dụng đồng vốn được cải thiện rõ rệt. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá có 42 QTDND cơ sở hoạt động với tổng nguồn vốn (số liệu đến 30/06/2008) là: 451,374 tỷ đồng. Tính trung bình mỗi QTDND cơ sở có tổng nguồn vốn hoạt động là: 10,270 tỷ đồng. Thu hút được 39.327 thành viên tham gia/ Tổng số 42 Quỹ. Thực tế thị trường nông thôn với địa bàn một xã (liên xã) thì lượng vốn như trên có ý nghĩa hết sức to lớn, tạo thêm nguồn lực mạnh mẽ hỗ trợ, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Các hoạt động trực tiếp hỗ trợ cho vay người đi xuất khẩu lao động nước ngoài, phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề, mở mang dịch vụ... được phát triển. Thành viên, hộ gia đình có điều kiện xoá đói giảm nghèo hiệu quả, hỗ trợ tích cực cho địa phương chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng trong nông nghiệp .... Mặt khác với tư cách là một doanh nghiệp, các QTDND cơ sở đóng góp một cách đáng kể khoản thuế hàng năm cho ngân sách địa phương, trực tiếp tham gia các chương trình phát triển kinh tế xã hội ở xã, phường, thị trấn, hỗ trợ đắc lực nhất cho các hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ một cách kịp thời, tạo ra nhiều việc làm và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Vì vậy huy động vốn và cho vay tín dụng tại các QTDND cơ sở trong nhiều năm qua đã khẳng định vai trò của hệ thống tín dụng hợp tác đối với địa bàn nông nghiệp, nông thôn, chính các QTDND cơ sở là một yếu tố kinh tế quan trọng, góp phần nâng cao đời sống, thu nhập của người dân ở các vùng nông thôn, đem lại ổn định trật tự chính trị, xã hội trên địa bàn, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế hộ gia đình. 3.2. Giải pháp tăng cường huy động vốn và cho vay tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá 3.2.1. Nhóm giải pháp tăng cường huy động vốn tại quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh hoá 3.2.1.1. Các loại hình huy động vốn tại quỹ tín dụng nhân dân cơ sở * Thứ nhất, là vốn điều lệ: Gồm có vốn xác lập và vốn thường xuyên. Trong đó vốn xác lập là vốn góp để xác nhận tư cách của thành viên, vốn thường xuyên cũng là vốn góp của thành viên để kinh doanh tiền tệ tín dụng và các dịch vụ ngân hàng theo hình thức phát hành cổ phiếu. Nguồn vốn này thể hiện quy mô hoạt động của từng QTDND cơ sở nên sự cần thiết tăng trưởng vốn góp trong từng giai đoạn phù hợp với quy mô hoạt động của QTDND cơ sở. Các giải pháp đối với huy động vốn điều lệ: - Một là, không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động tại QTDND cơ sở, đáp ứng được lòng tin đối với thành viên, khách hàng trên địa bàn nhằm ngày càng thu hút được thành viên mới tự nguyện xin tham gia thành viên và góp vốn điều lệ. - Hai là, tăng cường thu hút vốn thường xuyên. Tính chất vốn góp thường xuyên với mục đích là kinh doanh tiền tệ, nên mặc dù hoạt động của QTDND cơ sở không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng phải bù đắp đủ chi phí và có tích luỹ. Vì vậy muốn thu hút, huy động được vốn góp thường xuyên thì nhất thiết hoạt động QTDND cơ sở phải bù đắp được chi phí và có tích luỹ. Đồng thời hàng năm thực hiện phân phối lợi nhuận theo quy định của NHNN nhưng phải kết hợp hài hoà giữa ba lợi ích. Đó là: Nhà nước, tập thể và thành viên góp vốn. Như vậy những thành viên góp vốn mới nhận được lợi tức vốn góp ở mức hợp lý, tức là không thấp hơn lãi suất tiền gửi bình quân trong năm. Trong thực tế ngoài tinh thần trách nhiệm thành viên tham gia xây dựng QTDND cơ sở thì còn yếu tố đảm bảo về quyền lợi kinh tế cho thành viên, có như thế mới gắn kết chặt chẽ thành viên với QTDND cơ sở, mặt khác ngày càng thu hút được vốn góp của thành viên, đảm bảo quy mô phát triển của từng Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trong từng giai đoạn. * Thứ hai, vốn huy động tại chỗ. Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất trong công tác huy động vốn tại QTDND cơ sở. Chủ trương của Đảng, Nhà nước ta thành lập mô hình QTDND nhằm mục đích chủ yếu huy động vốn tại chỗ, hỗ trợ kịp thời vốn cho phát triển sản xuất ngay trên địa bàn. Qua số liệu thực tế (Biểu 2.3) thì vốn huy động tại chỗ chiếm tỷ lệ đa số trong tổng nguồn vốn hoạt động tại QTDND cơ sở, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn của thành viên trên địa bàn. Để góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn thì nguồn vốn cung ứng trên địa bàn nông nghiệp là rất cần thiết, vì vậy huy động vốn tại chỗ QTDND cơ sở là một nhiệm vụ mang tính chiến lược trong quá trình hoạt động. Một số giải pháp về huy động tiết kiệm như sau: - Một là, đa dạng hoá các loại hình huy động tiết kiệm ,ngoài những hình thức huy động vốn truyền thống của mình, QTDND cơ sở cần đưa ra nhiều hình thức phong phú hơn như: đa dạng các kỳ hạn gửi; không kỳ hạn, 01 tháng; 02 tháng đến 12 tháng, 24 tháng, hình thức rút gốc linh hoạt, gửi góp; hình thức gửi lãi suất bậc thang… với lãi suất áp dụng thật linh hoạt mềm dẻo, hợp lý, vận dụng phù hợp với diễn biến của thị trường trong từng thời kỳ. Thực hiện tốt chính sách khách hàng. - Hai là, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi đến thành viên và khách hàng. Thực tế QTDND cơ sở có nhiều lợi thế về mặt tuyên truyền, quảng cáo vì: QTDND cơ sở có địa bàn hoạt động rất gần và sát dân, cùng sinh hoạt với nhau nên mọi hoạt động tại QTDND cơ sở, khách hàng và thành viên đều nắm bắt một cách dễ dàng, mặt khác thông qua các hội nghị của Đảng, chính quyền, các đoàn thể tại các địa phương để thực hiện công tác tuyên truyền hoạt động của QTDND cơ sở sẽ đem lại hiệu quả cao. - Ba là, đổi mới phong cách phục vụ, cải tiến thời gian giao dịch. Để tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng gửi và rút tiền không ảnh hưởng đến thời gian làm việc của khách hàng, QTDND cơ sở có thể sắp xếp ca giao dịch thêm ngoài giờ hành chính, ngày nghỉ cuối tuần để tăng cường thu hút nguồn vốn phù hợp với đặc điểm của từng vùng địa phương, đồng thời trong giao dịch phải đảm bảo tính chính xác nhanh chóng, thuận tiện đối với khách hàng. Vì vậy cần phải tăng cường trang bị hệ thống tin học, nâng cao trình độ sử dụng với cải tiến thủ tục giấy tờ, phong cách giao dịch văn minh, lịch sự. * Thứ ba, huy động các nguồn vốn khác: QTDND cơ sở thông qua Quỹ tín dụng Trung ương làm đầu mối để tham gia các dự án đầu tư vào khu vực nông nghiệp nông thôn như: dự án tài chính nông nghiệp nông thôn ADB (1802) của Ngân hàng phát triển Châu á, dự án trồng cây ăn quả 1781; dự án tài chính vi mô của Tây Ban Nha (vốn ICO)… Đây là nguồn vốn vay từ các dự án lãi suất thấp hơn, thời gian sử dụng vốn dài thông thường là 5 năm, đem lại hiệu quả cao đối với thành viên, có tính tương đối ổn định đối với nguồn vốn hoạt động tại QTDND cơ sở. Giải pháp để thực hiện huy động được nguồn vốn dự án: - Một là, QTDND cơ sở cần thực hiện nghiêm túc những quy định của các dự án như: đầu tư cho vay đúng đối tượng, vốn đối ứng tham gia đúng tỷ lệ, chấp hành đúng cơ chế lãi suất, chế độ thông tin, báo cáo định kỳ, sử dụng vốn đúng mục đích, trả nợ đúng hạn…. - Hai là, chọn lọc và đầu tư các dự án phải đem lại hiệu quả cao nên trong quá trình đầu tư cần thực hiện công tác thẩm định rất chặt chẽ đúng nguyên tắc, chế độ. - Ba là, công tác quản lý, thu hồi nợ vay của thành viên và trả nợ cho dự án phải đúng hạn đảm bảo lòng tin. * Thứ tư, nguồn vốn điều hoà từ QTDND Trung ương. Ngoài các nguồn vốn trên, QTDND cơ sở còn nhận nguồn vốn điều hoà từ Quỹ tín dụng Trung ương, nhằm khắc phục có hiệu quả khi các QTDND cơ sở tạm thời thiếu vốn cho vay mùa vụ, vốn đảm bảo thanh toán, hỗ trợ chi trả tiền gửi, vốn kinh doanh. 3.2.1.2. Quy mô huy động - Một là, đối với vốn điều lệ: Quy mô huy động vốn điều lệ tuỳ thuộc vào quy mô hoạt động của từng QTDND cơ sở vì: tỷ lệ huy động vốn và tỷ lệ cho vay đối với khách hàng phụ thuộc vào vốn tự có (chủ yếu là vốn điều lệ) cụ thể: quy định cho vay một khách hàng không quá 15% vốn tự có của QTDND cơ sở, vì vậy nếu vốn điều lệ thấp thì cho vay khách hàng những món nhỏ. Hoặc quy định của các dự án là tỷ lệ huy động vốn không được vượt quá 20 lần vốn tự có, nên QTDND cơ sở muốn mở rộng quy mô hoạt động thì cần phải tăng quy mô vốn điều lệ. - Hai là, đối với vốn huy động tại chỗ. Đây là nguồn vốn chủ lực tại QTDND cơ sở tại mọi thời điểm, cũng là nguồn vốn có tính ổn định lâu dài nhất trong hoạt động. Vì vậy sự cần thiết phải mở rộng quy mô huy động, không hạn chế tỷ lệ đối với khách hàng và thành viên gửi vốn. QTDND cơ sở cần cân đối huy động vốn phù hợp với quy mô tăng trưởng vốn điều lệ nhằm đảm bảo khả năng thanh khoản cao trong giao dịch. Hiện nay QTDND cơ sở muốn được tham gia vay vốn từ các dự án thì vốn huy động không được vượt quá 20 lần vốn tự có (vốn tự có bao gồm: Vốn góp điều lệ và bổ sung vốn điều lệ hàng năm trong phân phối lợi nhuận). 3.2.1.3. Đối tượng huy động vốn - Thứ nhất, đối với vốn điều lệ: QTDND cơ sở chỉ được huy động vốn của các thành viên kể cả vốn xác lập và vốn thường xuyên. Vì vậy muốn tăng vốn điều lệ thì QTDND cơ sở cần phải phát triển (có nghĩa là kết nạp) thành viên mới, mặt khác tăng cường huy động vốn thường xuyên nhưng đảm bảo quy định một thành viên không được góp vốn điều lệ quá 30% tổng số vốn góp của QTDND cơ sở đó. - Thứ hai, vốn huy động tại chỗ. Tức là vốn huy động tiết kiệm dân cư. QTDND cơ sở được phép huy động vốn nhàn rỗi trên địa bàn với mọi đối tượng: thành viên, khách hàng là cá nhân, hộ gia đình các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội, các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Đối tượng huy động nguồn vốn này rất phong phú và đa dạng. QTDND cơ sở cần thiết phải mở rộng đối tượng huy động vốn mới có thể đáp ứng được nhu cầu vốn đối với thành viên. Giải pháp về mở rộng đối tượng huy động vốn đối với QTDND cơ sở là: Từng bước cải tiến nâng cao chất lượng hoạt động, tạo ra thương hiệu trong hoạt động kinh doanh tiền tệ trên thị trường, mặt khác giữ lòng tin đối đối với thành viên và khách hàng, đồng thời tăng cường tuyên truyền về hoạt động của QTDND cơ sở trên nhiều phương diện: thông tin đại chúng, các hội nghị, tờ rơi ..v.v nhằm thu hút ngày càng nhiều đối tượng tham gia. 3.2.2. Nhóm giải pháp về cho vay tín dụng tại quỹ tín dụng nhân dân cơ sở với phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Thanh hoá 3.2.2.1. Thực hiện tốt chính sách khách hàng Đối với QTDND cơ sở hiện nay, theo quy định khách hàng vay vốn phải là thành viên của QTDND cơ sở. Muốn mở rộng cho vay thì phải thực hiện tốt chính sách phục vụ chăm sóc thành viên, cũng như chiến lược phát triển thành viên mới nhằm thu hút được những khách hàng là thành viên kinh doanh có hiệu quả. - Xác định công tác tư vấn chăm sóc thành viên, là nhiệm vụ quan trọng đối với QTDND cơ sở. - Thường xuyên coi trọng công tác tổ chức Đại hội thành viên hàng năm, hội nghị các tổ thành viên, hội thảo … nhằm trang bị thêm kiến thức sử dụng vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh, đầu tư các dự án, hạch toán kinh tế… của các thành viên đem lại hiệu quả cao. - Quan tâm và giữ được thành viên là khách hàng truyền thống đã và đang quan hệ tín dụng với QTDND cơ sở, thực hiện tốt chính sách ưu đãi đối với khách hàng. - Thường xuyên đánh giá và phân loại lựa chọn thành viên tốt để áp dụng chính sách biện pháp phù hợp. Cho vay tương xứng với khả năng tài chính, khả năng quản lý của từng thành viên. - Thực hiện tốt chính sách thành viên sẽ tạo nên mối quan hệ gần gũi QTDND cơ sở và thành viên là khách hàng. Tạo điều kiện QTDND cơ sở nắm bắt được nhu cầu của thành viên vay vốn, mục đích sử dụng vốn, khả năng tài chính ... để có những biện pháp thích ứng kịp thời, đồng thời phát hiện những khó khăn của thành viên để tìm giải pháp giúp đỡ hỗ trợ nhằm hạn chế những rủi ro trong công tác tín dụng [23]. 3.2.2.2. Nâng cao chất lượng thẩm định khách hàng - QTDND cơ sở phải thường xuyên nắm bắt các thông tin chính xác, cập nhật về thành viên vay vốn để hạn chế rủi ro, thông qua các kênh thông tin từ thôn trưởng, các thành viên khác, để nắm bắt và xử lý kịp thời. - Thực hiện thẩm định về năng lực tài chính, dự án, phương án thành viên có kế hoạch đầu tư vốn, kết hợp giữa các kỹ năng phân tích với kiểm tra thực tế, tính khả thi của phương án. - Thẩm định tư cách của thành viên, tức là uy tín của thành viên đối với QTDND cơ sở. Đây cũng là khâu rất quan trọng đối với cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở vì: do tính chất hoạt động của mô hình này cho vay chủ yếu là tín chấp với thành viên, có nghĩa là cho vay phần lớn không có tài sản đảm bảo mà chỉ dựa vào lòng tin, tín nhiệm của thành viên đối với QTDND cơ sở. Vì vậy thẩm định về tư cách của thành viên cần phải rất thận trọng. 3.2.2.3. Đa dạng hoá phương thức cho vay Đặc điểm chủ yếu của QTDND cơ sở là hoạt động ở khu vực nông nghiệp,, nông thôn, nhu cầu vốn ở khu vực này rất đa dạng như: nhu cầu vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh, đầu tư có tính chất mùa vụ, đầu tư các dự án trang trại, làng nghề, dịch vụ đời sống, nhu cầu tín dụng .. nên cần đa dạng hoá các phương thức, loại hình cho vay đối với thành viên. Điều đó đòi hỏi nghiên cứu, nắm bắt kịp thời nhu cầu vốn của thành viên, căn cứ vào tính chất của từng dự án, phương án để cho vay phù hợp với thời gian sử dụng vốn, số vốn cho vay, phương thức cho vay như: cho vay từng lần, hạn mức tín dụng; cho vay trả góp… nhằm phát huy hiệu quả sử dụng vốn. Thực tế tại các QTDND cơ sở trên địa bàn hiện nay chưa thực hiện đa dạng hoá hình thức, phương thức cho vay đối với thành viên bởi nhiều nguyên nhân: do trình độ cán bộ còn hạn chế, nguồn vốn còn khó khăn, chưa chủ động… Một số QTDND cơ sở đã gây không ít khó khăn cho thành viên vay vốn, cụ thể như: phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng tại các QTDND cơ sở hầu như chưa được thực hiện, chủ yếu chỉ mới cho vay từng lần đối với thành viên, nên rất không thuận lợi cho những thành viên vay vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh có tính chất vay trả thường xuyên. Giải pháp thực hiện đa dạng hoá phương thức cho vay tại QTDND cơ sở. - Thứ nhất, cần chủ động về nguồn vốn, đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, đáp ứng nhu cầu vay vốn của thành viên: vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn… Hiện nay đa số các QTDND cơ sở trên địa bàn chủ yếu huy động vồn ngắn hạn nên không thể đầu tư cho vay trung và dài hạn. - Thứ hai, tập trung nâng cao trình độ cán bộ QTDND cơ sở, đặc biệt là cán bộ làm công tác tín dụng. Cần phải nghiên cứu, phân tích, đánh giá từng thành viên vay vốn, mục đích xin vay vốn… để áp dụng các hình thức, phương thức cho vay phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn. 3.2.2.4. Tăng cường quản lý cho vay đối với thành viên Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, tăng vòng quay vốn tín dụng và công tác thu nợ đạt kết quả, cần tập trung những giải pháp sau: - Thứ nhất, cần xác định thời hạn cho vay vốn phù hợp với mục đích sử dụng vốn, hay nói cách khác phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của thành viên. - Thứ hai, xác định thời kỳ trả nợ vay, QTDND cơ sở cần xem xét, tính toán thời gian thu hồi vốn phù hợp với đặc điểm luân chuyển vốn và nguồn thu nhập của thành viên (khách hàng). Nhất là đối với cho vay trung dài hạn, phương thức thu nợ cần quy định cho phù hợp với thực tế tình hình sản xuất kinh doanh và thu nhập của thành viên. - Thứ ba, về mức trả nợ: cần xác định mức trả nợ của từng món vay phù hợp với mức doanh thu của chu kỳ sản xuất kinh doanh, với mức thu nhập và các nguồn thu khác (đối với cho vay tín dụng) của thành viên. - Thứ tư, hạn chế nợ quá hạn: nợ quá hạn là nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng, ứ đọng vốn, giảm hiệu quả cho vay, mất khả năng thanh toán… nên cần tập trung ngăn chặn nợ quá hạn phát sinh. Cần thực hiện tốt ở các khâu sau: + Hoạch định chiến lược kinh doanh, chiến lược phát triển thành viên, kết nạp thành viên phải được chọn lọc, phải đảm bảo các điều kiện theo quy đinh như: tư cách thành viên, chấp hành tốt các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, có ý thức xây dựng tập thể .v..v. + Phân loại thành viên để đầu tư cho vay hợp lý với từng đối tượng thành viên + Thẩm định dự án, phương án cho vay, tài sản đảm bảo món vay. + Quyết định mức cho vay + Thực hiện kiểm tra, kiểm soát trước trong và sau khi cho vay + Khi có nợ quá hạn phát sinh thì phải thực hiện phân loại nợ quá hạn theo thời gian, khả năng thu hồi, phân tích nguyên nhân và tìm mọi biện pháp thu hồi nợ quá hạn. + Đối với những khoản nợ cho vay do cán bộ tín dụng thiếu trách nhiệm, hoặc tiêu cực thì phải xử lý quy trách nhiệm vật chất. + Đối với những khoản nợ khó đòi, QTDND cơ sở phải tích cực đôn đốc, nhắc nhở và bằng các biện pháp phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền, chính quyền địa phương hỗ trợ để thu nợ. Trong quá trình thực hiện các khâu trên, QTDND cơ sở phải thật khách quan, trung thực, và phân định trách nhiệm đối với cán bộ tín dụng và cán bộ quản lý liên quan đến giải quyết cho vay. - Thứ năm, thực hiện gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc miễn giảm một phần lãi suất cho vay khi nợ quá hạn do nguyên nhân bất khả kháng: lũ lụt, thiên tai, dịch bệnh.v..v tạo điều kiện hỗ trợ thành viên tiếp tục sản xuất, kinh doanh tạo thu nhập để trả nợ. 3.2.2.5. Xác định lãi suất và các khoản chi phí dịch vụ hợp lý Lãi suất cho vay luôn là vấn đề được QTDND cơ sở và thành viên quan tâm , bởi vì đối với thành viên thì lãi là khoản chi phí phải trả cho việc sử dụng vốn, còn đối với QTDND cơ sở thì lãi cho vay để bù đắp các khoản chi phí và đem lại khoản lợi nhuận cho đơn vị. Định giá chính xác các khoản cho vay để đưa ra một mức giá hợp lý và để thu hút được thành viên có dự án hiệu quả kinh tế cao là điều hết sức cần thiết. Vì vậy cần phải xác định lãi suất phù hợp. Xác định lãi suất và dịch vụ hợp lý cần thực hiện những giải pháp sau: - Một là, cần áp dụng mức lãi suất hợp lý có sức hấp dẫn phù hợp với từng ngành nghề và luôn đảm bảo tính ưu đãi trong cho vay đối với thành viên có phương án, dự án mới, có quy mô lớn hơn. - Hai là, chủ động nắm bắt diễn biến của thị trường trên địa bàn, linh hoạt áp dụng mức lãi suất tiền gửi và cho vay nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng huy động vốn và cho vay thành viên. - Ba là, giảm thiểu các chi phí trong hoạt động trên cơ sở tổ chức bộ máy gọn nhẹ, tiết kiệm các khoản chi phí chưa cần thiết. - Bốn là, việc áp dụng lãi suất phải thực sự mềm dẻo, linh hoạt để lãi suất cho vay, huy động vốn gắn chặt và phù hợp với nền kinh tế, đặc biệt phù hợp với địa bàn nông nghiệp, nông thôn. 3.2.3. Nhóm giải pháp về mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở 3.2.3.1. Giải pháp về mở rộng hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ở nước ta QTDND dự kiến sẽ phát triển về cả số lượng, chất lượng và quy mô hoạt động, đến năm 2020, hệ thống QTDND có khoảng 1.700 cơ sở (với khoảng 2.700 ngàn thành viên và tổng nguồn vốn hoạt động khoảng 30.000 tỷ đồng). QTDND Trung ương với khoảng 40 Chi nhánh hoạt động tại các tỉnh thành phố trong cả nước. Về cơ bản QTDND Trung ương sẽ có đủ khả năng phục vụ, hỗ trợ nhu cầu về vốn cho tất cả các QTDND cơ sở. Ngoài ra QTDND Trung ương có thể mở rộng các hoạt động nghiệp vụ Ngân hàng để tăng cường năng lực tài chính và hiệu quả hoạt động cho bản thân cũng như toàn hệ thống QTDND. Với dự kiến phát triển trên đây của QTDNDTW, mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động đối với QTDND cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá cần tập trung một số giải pháp sau: + Một là, về số lượng QTDND cơ sở. Hiện nay có 42 quỹ/630 xã phường trên toàn tỉnh. Như vậy số QTDND cơ sở hoạt động trên địa bàn chiến tỷ lệ rất thấp so với tổng số xã, phường. Việc thành lập mới QTDND cơ sở là cần thiết, song phải đảm bảo thật khách quan, hội tụ đủ các điều kiện. Được cấp uỷ Đảng chính quyền các cấp tỉnh, huyện và cấp xã phường nhất trí và ủng hộ, Ngân hàng Nhà nước thực hiện thẩm định chặt chẽ các điều kiện, tình hình phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu gửi vốn, nhu cầu vay vốn, trình độ cán bộ, điều kiện đường giao thông, tình hình an ninh chính trị… của từng địa phương (nơi xin thành lập QTDND cơ sở) nhằm tăng cường mở rộng số lượng QTDND cơ sở và đảm bảo chất lượng hoạt động đối với những QTDND cơ sở mới ra đời. + Hai là: mở rộng hoạt động của QTDND cơ sở trên địa bàn không chỉ về số lượng quỹ, mà từng quỹ cần mở rộng về quy mô và chất lượng hoạt động bao gồm: Về quy mô về huy động vốn và cho vay vốn: từng bước củng cố nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô hoạt động. Muốn mở rộng quy mô huy động và cho vay vốn tại QTDND cơ sở thì cần phải tăng vốn điều lệ, vì: theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, hoạt động của các tổ chức tín dụng phải đảm bảo các tỷ lệ an toàn giữa vốn tự có với các chỉ tiêu huy động vốn, dư nợ cho vay và đầu tư tài sản cố định. Cụ thể quy định cho vay một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có, nếu vốn điều lệ tại QTDND cơ sở thấp thì không thể mở rộng được quy mô cho vay những dự án phát triển sản xuất kinh doanh lớn của thành viên. + Ba là, mở rộng địa bàn hoạt động. Trước đây theo quy định mỗi QTDND cơ sở chỉ được hoạt động trong phạm vi xã, phường, đến nay căn cứ vào khả năng hoạt động của từng QTDND cơ sở, Ngân hàng Nhà nước cấp phép cho những quỹ có đủ điều kiện để mở rộng địa bàn hoạt động trong phạm vi từ 2 đến 3 xã phường. Để thực hiện mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động, ngoài việc mở rộng về quy mô hoạt động thì QTDND cơ sở cần tăng cường mở rộng địa bàn hoạt động, đây là một trong những nhiệm vụ mang tính chiến lược của hệ thống QTDND. Điều kiện để các QTDND cơ sở trên địa bàn mở rộng địa bàn hoạt động: . Thứ nhất, đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn phải có kinh nghiệm, được đào tạo qua trường lớp và qua thực tế, có đủ trình độ, năng lực và tâm huyết, nhiệt tình với công việc, đáp ứng nhu cầu quản lý QTDND. . Thứ hai, QTDND cơ sở phải có năng lực về tài chính, khả năng khai thác nguồn vốn tốt, trong quá trình hoạt động có bước tăng trưởng hàng năm khá kể cả về số lượng và chất lượng. . Thứ ba, địa bàn mở rộng phải được khảo sát, đánh giá như: nơi xin thành lập QTDND cơ sở mớ,i đặc biệt phải được sự đồng tình, hỗ trợ thống nhất cao của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương nơi xin mở rộng. Đồng thời được Ngân hàng Nhà nước cấp phép hoạt động. . Bốn là: nâng cao chất lượng hoạt động QTDND cơ sở. Thực tế trong hoạt động Ngân hàng nói chung và hệ thống QTDND nói riêng, việc mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động là hai mặt của một vấn đề, có quan hệ chặt chẽ với nhau, vì QTDND cơ sở phải liên tục và thường xuyên nâng cao chất lượng hoạt động thì mới có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường như hiện nay. Mặt khác chất lượng hoạt động tốt, gây được uy tín đối với thành viên và khách hàng, được nhân dân tin tưởng thì QTDND cơ sở ngày càng thu hút được nhiều khách hàng và thành viên tham gia. Để đáp ứng điều đó thì cần phải mở rộng quy mô, mở rộng địa bàn hoạt động. 3.2.4. Nhóm giải pháp về quản lý rủi ro Kinh doanh tiền tệ - tín dụng là kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt, đồng thời rủi ro là căn bệnh đồng hành của hoạt động cho vay đối với tổ chức tín dụng nói chung và QTDND cơ sở nói riêng. Rủi ro có tính đa dạng, khó lường trước, vì vậy QTDND cơ sở cần phải thực hiện dự báo rủi ro và có biện pháp phòng ngừa, muốn vậy cần phải thực hiện biện pháp sau: * Thứ nhất, phân loại rủi ro, kiểm soát và quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng, cụ thể. - Xác định rủi ro: trong quá trình hoạt động cho vay hàng ngày, QTDND cơ sở cần phải nhận biết được tiềm ẩn những rủi ro gì, thuộc đối tượng nào. - Định hướng rủi ro: tính toán mức độ rủi ro, nắm bắt các nguồn rủi ro có thể xảy ra, định lượng rủi ro phù hợp với quy mô hoạt động tín dụng. - Điều tiết rủi ro: cần phân tích, đánh giá thực trạng và có biện pháp chủ động điều tiết rủi ro, hạn chế rủi ro, điều chỉnh cơ cấu cho vay, đa dạng hoá rủi ro, quy định hạn mức cho vay đối với từng ngành, từng lĩnh vực… trong từng thời kỳ một cách cụ thể. - Giám sát rủi ro: thường xuyên kiểm tra để sớm phát hiện rủi ro, theo dõi nắm bắt các loại, các ngành nghề, các đối tượng cho vay có rủi ro, từ đó có kế hoạch đề phòng, cảnh báo rủi ro. * Thứ hai, phân tích hiệu quả kinh doanh, tài chính theo nhóm thành viên, đánh giá khả năng thu hồi nợ gốc, lãi đối với từng món vay để có biện pháp quản lý thích hợp đối với từng nhóm thành viên nhằm hạn chế rủi ro. Thực hiện trích lập dự phòng theo quy định và phù hợp với thông lệ quốc tế. * Thứ ba, phân tích và nhận ra mối quan hệ đe doạ cũng như cơ hội kinh doanh từ môi trường kinh doanh của thành viên, từ đó đề ra nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể trong hoạt động cho vay ở mỗi thời kỳ, thời điểm khác nhau, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro. * Thứ tư, tăng cường và nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động cho vay, thực hiện kiểm tra, tập trung vào kiểm tra việc chấp hành chế độ chính sách cho vay, chấp hành quy trình cho vay, các quy định bảo đảm tiền vay… nhằm phát nhằm hạn chế rủi ro. 3.2.5. Nhóm giải pháp về phát triển sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội nông nghiệp, nông thôn 3.2.5.1. Phát triển sản phẩm mới về huy động vốn Ngoài những sản phẩm truyền thống đang có về huy động vốn, QTDND cơ sở cần bổ sung thêm các loại sản phẩm tiền gửi mới, phù hợp với tình hình thực tế, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội khu vực nông nghiệp, nông thôn như: - Hình thức tiết kiệm gửi góp đối với các hộ có thu nhập trung bình và thấp. Đặc biệt tập trung vào đối tượng cán bộ công chức, viên chức Nhà nước và các hộ tiểu thương, kỳ hạn gửi vào cũng được áp dụng linh hoạt để phù hợp với từng đối tượng, số tiền gửi hàng tháng có thể linh động phù hợp với tính chất không ổn định trong thu nhập của các đối tượng gửi: về lãi suất, bao gồm lãi suất cố định gửi lần đầu và tỷ lệ phần trăm theo sự biến động của thị trường tiền tệ. Cơ chế rút tiền và kết thúc cũng linh hoạt, bảo đảm quyền lợi cho người gửi. - Huy động tiền gửi tiết kiệm người cao tuổi. ở khu vực nông thôn, con cái trưởng thành hoặc đi làm trong Nhà nước hoặc làm ở các doanh nghiệp và đều có ý thức dành một khoản tiền để phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già. Vì vậy QTDND cơ sở cần đưa ra sản phẩm mới này với lãi suất ưu đãi cao hơn một chút so với lãi suất huy động thông thường, đồng thời đa dạng các kỳ hạn gửi, quy định độ tuổi nam từ 60 tuổi, nữ từ 55 tuổi trở lên. Như vậy hình thức huy động này bao hàm chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với người cao tuổi trên địa bàn, mặt khác còn mang tính chất động viên, khích lệ những thành viên trong gia đình tiết kiệm, nhằm thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. - Đảm bảo lợi ích thực của người gửi tiền vào QTDND cơ sở Tại thời điểm này, do biến động thị trường tiền tệ, tỷ lệ lạm phát tăng cao nên nhiều khách hàng gửi tiền tiết kiệm chưa yên tâm, đã sử dụng vốn đó vào mục đích khác như mua vàng, bất động sản, mua ngoại tệ … vì vậy QTDND cơ sở cần đưa ra một sản phẩm mới như: huy động tiền gửi tiết kiệm VND với lãi suất được điều chỉnh theo từng thời điểm khi có quyết định của thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về thực hiện lãi suất cơ bản mới. Tức là lãi suất tiền gửi của khách hàng sẽ được điều chỉnh tăng (hoặc giảm) khi thực hiện trần lãi suất cơ bản mới và mặt bằng lãi suất huy động tại thời điểm điều chỉnh. Thực hiện hình thức huy động này, QTDND cơ sở cần phải linh hoạt trong việc ký hợp đồng tín dụng cho vay với lãi suất cũng phải thực hiện theo hình thức thả nổi tức là cũng được điều chỉnh theo từng thời điểm (vì nguồn vốn huy động chủ yếu là để cho vay) nhằm đảm bảo kế hoạch tài chính. 3.2.5.2. Phát triển sản phẩm mới về cho vay tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Hiện nay đa số các QTDND cơ sở trên địa bàn đang áp dụng các sản phẩm cho vay tín dụng rất đơn điệu, chủ yếu mới thực hiện cho vay từng lần ngắn hạn đối với thành viên. Trong khi đó theo quy định thì QTDND cơ sở được cho vay với nhiều hình thức rất đa dạng như cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo hình thức trả góp, cho vay cầm cố thế chấp, thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay… Qua khảo sát thực tế thì khu vực nông nghiệp, nông thôn, thành viên có nhu cầu vay vốn với nhiều hình thức đa dang hơn vì trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển, sản xuất kinh doanh dịch vụ phát triển nên việc cung ứng và sử dụng vốn cần phải linh hoạt và đa dạng. Trước hết QTDND cơ sở cần mở thêm một số hình thức cho vay tín dụng đối với thành viên: - Một là, cho vay theo hạn mức tín dụng: phương thức này áp dụng với thành viên có nhu cầu vay vốn thường xuyên, kinh doanh ổn định, theo đó QTDND cơ sở và thành viên xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh. Trong phạm vi hạn mức tín dụng, thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng, mỗi lần rút vốn vay, thành viên và QTDND cơ sở nơi cho vay lập giấy nhận nợ kèm theo các chứng từ phù hợp với mục đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín dụng. - Hai là, cho vay trả góp: khi vay vốn, QTDND cơ sở và thành viên xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. Thực hiện hình thức này tạo điều kiện cho thành viên vay vốn mua sắm tài sản cố định như: ô tô, máy kéo, máy xay xát… phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, sinh hoạt gia đình. Căn cứ vào thu nhập, năng lực tài chính của thành viên để phân thành nhiều kỳ hạn trả nợ. Hình thức này rất thuận lợi và chủ động sử dụng vốn và trả nợ đối với thành viên, rất phù hợp với khu vực nông thôn. - Ba là, vận dụng linh hoạt các hình thức bảo đảm tiền vay. . Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản cầm cố, thế chấp. Do tính chất hoạt động của QTDND cơ sở là chỉ cho vay trong thành viên nên cho vay không có bảo đảm bằng tài sản chiếm tỷ lệ cao so với tổng dư nợ, tức là chủ yếu cho vay tín chấp đối với thành viên. Mặt khác QTDND cơ sở cũng không đặt nặng vai trò của tài sản đảm bảo, không coi tài sản đảm bảo là cơ sở quyết định cho vay mà phải chú trọng đúng mức đến các yếu tố khác như: hiệu quả của dự án, phương án, tư cách của thành viên, năng lực tài chính, khả năng thu hồi vốn… nhưng thực tế thì một số QTDND cơ sở trên địa bàn cũng đã gặp khó khăn vướng mắc khi xử lý thu hồi nợ mà không có tài sản đảm bảo. Vì vậy từng QTDND cơ sở cần phải vận dụng một cách linh hoạt đối với từng thành viên vay vốn. . Cho vay có đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Đây cũng là hình thức cho vay được Ngân hàng Nhà nước cho phép đối với QTDND cơ sở, nhưng thực tế hầu như các QTDND cơ sở chưa thực hiện hình thức này. Cho vay đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay, vốn vay được ứng trước, tài sản hình thành sau. Hình thức cho vay này áp dụng đối với thành viên mua máy móc, thiết bị phương tiện vận tải… trên cơ sở các hợp đồng kinh tế đã ký kết với đối tác cung cấp tài sản. QTDND cơ sở sẽ giải quyết cho vay khi có văn bản cam kết của thành viên và có xác nhận của bên cung cấp tài sản bổ sung hồ sơ chứng minh quyền sở hữu tài sản cho QTDND cơ sở, khi tài sản hình thành, mức cho vay theo quy định đối với tài sản hình thành từ vốn vay là không vượt quá 50% giá trị tài sản hình thành từ vốn vay. Thực hiện hình thức này vừa tạo điều kiện hỗ trợ thành viên vay vốn, sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả, vừa giúp QTDND cơ sở tăng cường quản lý giám sát thành viên sử dụng vốn vay đúng mục đích, theo dõi giám sát tài sản hình thành từ vốn vay, đồng thời tăng cường trách nhiệm của thành viên đối với món vay. 3.2.6. Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng và phát triển nhân lực của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn. Trong hoạt động QTDND cơ sở vai trò của đội ngũ cán bộ có ý nghĩa rất quan trọng. Không giống với hoạt động kinh doanh khác, hoạt động của QTDND cơ sở với đối tượng kinh doanh chủ yếu là tiền tệ, một lĩnh vực rất nhạy bén và nhiều rủi ro. Hơn nữa hệ thống QTDND cơ sở với những đặc thù riêng, và tập trung chủ yếu ở các vùng nông nghiệp, nông thôn nên khó có khả năng thu hút được các đối tượng tốt nghiệp đại học, cao đẳng chuyên ngành vào làm việc. Vì vậy để nâng cao chất lượng và phát triển nguồn nhân lực của hệ thống QTDND cơ sở, đáp ứng yêu cầu đặt ra cần tập trung một số giải pháp sau: - Thứ nhất, đổi mới cơ chế tuyển dụng, thu hút những người có năng lực, có trình độ vào làm việc tại các QTDND cơ sở. Hiện nay đa số các QTDND cơ sở với nguồn nhân lực rất hạn chế về trình độ, năng lực. Nguyên nhân chính do cơ chế tuyển dụng để lại. Từ khi mới thành lập, từng địa phương đã chọn lọc cán bộ từng trải qua các lĩnh vực công tác ở địa phương, có kinh nghiệm, có đạo đức phẩm chất tốt, tuổi đời chững chạc và trong quá trình tuyển dụng bổ sung ưu tiên con, em trong ngành, con, em của lãnh đạo. Nhất là ở khu vực nông thôn, tình làng nghĩa xóm, anh em dòng tộc… còn nặng nề cho nên công tác tuyển dụng cán bộ mới ở nhiều QTDND cơ sở chưa khách quan. Vì vậy trong điều kiện kinh doanh hiện nay và xu thế phát triển của hệ thống QTDND cơ sở, sự cần thiết phải đổi mới công tác tuyển dụng nhân lực tại các QTDND cơ sở. Tuyển dụng phải đảm bảo nhân lực có trí tuệ, thể lực có tiềm năng và có đạo đức phẩm chất tốt. Muốn vậy QTDND cơ sở phải có chính sách tuyển dụng khoa học, mang tính thực tiễn, tính đặc thù của ngành, của từng địa phương. Những công việc chủ yếu cần quan tâm: - Trước hết cần xác định nguồn nhân lực tuyển dụng vào làm việc tại các QTDND cơ sở là từ những nguồn nào, đặc điểm của từng nguồn ra sao? Nguồn chủ yếu hiện nay phải kể đến là thị trường lao động, ở đây muốn đề cập đến sinh viên tốt nghiệp các trường Đại học, cao đẳng, trung cấp. - Do đặc thù riêng nên QTDND cơ sở cần có chính sách ưu tiên, đãi ngộ.. để có thể thu hút lao động có trình độ cao và có phẩm chất tốt vào làm việc tại QTDND cơ sở. - Xác định cơ cấu nhân lực cần tuyển dụng một cách hợp lý, có nghĩa là cần bố trí vào vị trí, cán bộ tín dụng, kế toán hay ngân quỹ …để tuyển dụng phù hợp với nhu cầu công tác, với sự quan tâm lựa chọn đúng chuyên ngành đào tạo. - Thứ hai, đào tạo nguồn nhân lực, từng bước chuẩn hoá cán bộ QTDND cơ sở. Căn cứ nhu cầu thực tế và đặc thù riêng của ngành, cần xác định nhu cầu đào tạo. Có thể nói đối với hệ thống QTDND cơ sở hiện nay phải thực hiện hai chiến lược đào tạo song song đồng thời, một mặt trong ngắn hạn vẫn phải tổ chức các khoá tập huấn ngắn ngày theo từng nội dung chuyên đề cụ thể, cho từng đối tượng lãnh đạo quản lý, cán bộ chuyên môn. Mặt khác phải xây dựng được một tổ chức đào tạo riêng với một chiến lược đào tạo dài hạn theo các tiêu chuẩn chức danh cụ thể để chuẩn bị cho các QTDND cơ sở đang chuẩn bị thành lập mới hiện nay. Đội ngũ cán bộ hiện nay cần được đánh giá chất lượng và có chương trình đào tạo thích hợp cho từng đối tượng cán bộ, chẳng hạn chương trình đào tạo nâng cao, bổ sung các nghiệp vụ mới, hoàn thiện chương trình đại học, trung cấp đối với cán bộ trẻ có năng lực… - Thứ ba, cần thực hiện đánh giá, phân loại cán bộ các QTDND cơ sở trên địa bàn Thanh Hoá để bố trí sắp xếp lại công việc của từng cán bộ theo chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với năng lực, sở trường của từng nhân viên. Qua sự sắp xếp này QTDND cơ sở có chiến lược quy hoạch đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu cán bộ quản lý trong giai đoạn hiện nay tại địa bàn. - Thứ tư, cần có chế độ thưởng phạt xứng đáng đối với đội ngũ làm công tác quản lý và cán bộ chuyên môn tại QTDND cơ sở, gắn lợi ích của cán bộ với hiệu quả hoạt động của QTDND cơ sở, khuyến khích, động viên kịp thời những cán bộ quản lý, chuyên môn giỏi làm việc có hiệu quả. Đồng thời xử lý nghiêm minh những trường hợp gây thất thoát vốn, rủi ro tín dụng, cán bộ có biểu hiện suy thoái đạo đức gây mất lòng tin đối với thành viên và khách hàng, ảnh hưởng đến uy tín của ngành, hệ thống QTDND nói chung, QTDND cơ sở trên địa bàn Thanh Hoá [17]. Kết luận và kiến nghị * Kết luận: Sự ra đời của hệ thống QTDND cơ sở đã tạo thêm một kênh dẫn vốn quan trọng đến các hộ gia đình, đa dạng hoá thị trường tài chính, tín dụng ở nông thôn, góp phần thúc đẩy kinh tế, tăng cường đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, mở mang ngành nghề, dịch vụ, xoá đói giảm nghèo, từng bước đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi, hụi họ ở nông thôn, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay ở nước ta nói chung, tỉnh Thanh Hoá nói riêng, tình hình nguồn vốn có nhiều khó khăn, vì vậy nghiên cứu vấn đề huy động vốn và cho vay tại QTDND cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá là một trong những vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp, song có ý nghĩa thiết thực, cả về lý luận và thực tiễn. Bằng những kiến thức tổng hợp, luận văn đã tập trung nghiên cứu, đề cập và giải quyết được những nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, nghiên cứu về mặt lý luận mô hình tổ chức, hoạt động của hệ thống QTDND cơ sở và những nội dung chủ yếu về huy động vốn và cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở trên địa bàn tỉnh. Thứ hai, phân tích thực trạng huy đông vốn và cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá. Đánh giá thực trạng hệ thống tổ chức QTDND cơ sở, kết quả huy động vốn và cho vay tín dụng ở Thanh Hoá, từ đó rút ra nguyên nhân đạt được các kết quả và những hạn chế yếu kém trong hoạt động của QTDND cơ sở trên địa bàn Thanh Hoá. Thứ ba, xác định phương hướng và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn và cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá. * Kiến nghị: 1. Kiến nghị đối với Nhà nước. - Hoàn thiện và ổn định các chính sách, tạo môi trường kinh tế và pháp lý thuận lợi cho QTDND cơ sở hoạt động kinh doanh có hiệu quả. - Chính sách thuế thu nhập hiện nay đối với QTDND cơ sở là khá cao (25%) so với các doanh nghiệp, hoặc các Ngân hàng thương mại, vì QTDND cơ sở hoạt động với mục tiêu hợp tác tương trợ, không vì mục tiêu lợi nhuận. Các thành viên phải tự góp vốn để mua sắm tài sản và mọi trang bị ban đầu cho hoạt động, mặt khác QTDND cơ sở phần lớn ở khu vực nông nghiệp, nông thôn với nhiều thiên tai, thất thiệt… rủi ro hơn… Để tạo điều kiện mở rộng hoạt động tương trợ cộng đồng, khuyến khích QTDND cơ sở phát triển, đề nghị Nhà nước nghiên cứu chính sách thuế đối với hệ thống QTDND cơ sở hợp lý hơn. - Cần có chính sách quản lý đảm bảo công bằng giữa các tổ chức tín dụng quốc doanh và các tổ chức tín dụng ngoài quốc doanh trong việc khoanh nợ, xử lý rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng. Hiện nay QTDND cơ sở chưa được hưởng chính sách khoanh nợ đối với rủi ro tín dụng với bất cứ nguyên nhân nào. - Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đảm bảo sự công bằng trong cạnh tranh. 2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước. - Khẩn trương ban hành quy chế trích lập, quản lý và sử dụng quỹ an toàn hệ thống làm cơ sở để thành lập và sử dụng quỹ an toàn nhằm hổ trợ xử lý khi các QTDND cơ sở gặp khó khăn. - Cần hoàn thiện đề án kiểm toán hoạt động của hệ thống QTDND phù hợp với tình hình và điều kiện mới, từng bước nâng cao an toàn và hiệu quả trong hoạt động của hệ thống QTDND. - Tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, giám sát, chấn chỉnh hoạt động của QTDND cơ sở, không chỉ về việc chấp hành các chệ độ quy định, thực hiện các bảo đảm an toàn mà cả về việc tăng cường liên kết trong hệ thống QTDND thông qua cơ chế điều hoà vốn nội bộ (gửi vốn và vay vốn tại Quỹ tín dụng Trung ương) nhằm tăng cường liên kết hệ thống và bảo đảm an toàn cho hệ thống. 3. Kiến nghị với QTDND Trung ương. - Tăng cường hơn nữa liên kết trong hệ thống không những trong công tác điều hoà vốn giữa QTDND Trung ương với QTDND cơ sở mà Quỹ tín dụng Trung ương cần chăm sóc thành viên là QTDND cơ sở như: Tư vấn về nghiệp vụ kinh doanh, tin học và các lĩnh vực hoạt động khác. - Với chức năng là đầu mối của hệ thống, QTDND Trung ương cần tăng cường mở rộng quan hệ với các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước nhằm huy động ngày càng nhiều nguồn vốn dự án để hỗ trợ thành viên đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đồng thời tăng năng lực tài chính đối với QTDND cơ sở. 4. Kiến nghị với cơ quan hữu quan tỉnh Thanh Hoá. - Chính quyền địa phương có chính sách hỗ trợ QTDND cơ sở hoạt động cụ thể: + Về chính sách đất đai: cần tạo điều kiện cho các QTDND cơ sở thuê đất 50 năm, trả tiền thuế đất hàng năm để xây dựng trụ sở hoạt động, hiện nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá vẫn còn một số QTDND cơ sở đang phải thuê trụ sở làm việc với lý do là chưa có đất để xây dựng trụ sở. + Về chính sách thuế: cần thực hiện chính sách miễn giảm thuế đối với những QTDND cơ sở mới thành lập trong những năm đầu hoạt động; thời gian miễn thuế thu nhập doanh nghiệp là 5 năm, thời gian giảm 50% là 3 năm vì QTDND cơ sở mới được thành lập phải tự xây dựng cơ sở vật chất và trang trải mọi hoạt động bằng nguồn vốn góp của thành viên, mà QTDND cơ sở chủ yếu hoạt động ở khu vực nông thôn, điều kiện phát triển còn chậm. - Chính quyền địa phương đặc biệt là cấp xã, phường, thị trấn cần tạo điều kiện hỗ trợ QTDND cơ sở trong việc xử lý thu hồi nợ quá hạn. Có thể nói đây là một vấn đề rất cần thiết đối với hoạt động QTDND cơ sở vì: do đặc thù riêng QTDND cơ sở cho vay chủ yếu là dựa trên tín nhiệm về tư cách thành viên, phần nhiều các món vay là không có tài sản đảm bảo. Trường hợp đặc biệt khi nợ khó đòi phát sinh thì công tác xử lý nợ của QTDND cơ sở gặp khó khăn. - Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành trong tỉnh cần quan tâm tuyên truyền mô hình kinh tế tập thể nói chung và hoạt động QTDND cơ sở nói riêng nhằm nâng cao vai trò kinh tế tập thể trong nền kinh tế quốc dân. Danh mục tài liệu tham khảo 1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (1966), Chỉ thị số 131/CT-TW ngày 28-05-1966 về củng cố Hợp tác xã tín dụng để tăng cường công tác tín dụng và quản lý tiền tệ ở nông thôn. 2. Ban Bí thư Trung ương Đảng (1994), Thông báo số 93/TB-TW ngày 12-10-1994 về việc thí điểm và mở rộng thí điểm thành lập QTDND. 3. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá (1995), Chỉ thị số 27/CT-TV ngày 5-04-1995 về triển khai thí điểm và thành lập Ban chỉ đạo của tỉnh về "thí điểm thành lập QTDND trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá". 4. Ban Chỉ đạo Trung ương (2000), Thí điểm thành lập Quỹ tín dụng nhân dân. 5. Bộ Chính trị (2000), Chỉ thị số 57/CT - TW ngày 10/10/2000 về củng cố, hoàn thiện và phát triển QTDND. 6. Nguyễn Thanh Bình (2007), “Phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn, lý luận và thực tiễn Việt Nam", Tạp chí Khoa học đào tạo Ngân hàng, (66). 7. Chính phủ (1999), Quyết định 67/CP ngày 30/09/1999 về chính sách cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn. 8. Chính phủ (1999), Nghị định số 178/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng. 9. Chính phủ (2001), Nghị định số 48/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/08/2001 về tổ chức hoạt động của hệ thống QTDND. 10. Chính phủ (2002), Nghị định số 85/2002NĐ - CP của chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 178/1999/NĐ-CP. 11. Chính phủ (2004), Nghị định số 177/2004/NĐ-CP ngày 12/10/2004 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hợp tác xã năm 2003. 12. Nguyễn Duệ (1997), Giáo trình nghiệp vụ QTDND, Nxb Thống kê, Hà Nội. 13. Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI. 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ V BCHTW khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội, Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 17. Lê Xuân Đào (2007), Hoàn thiện quản lý QTDND trên địa bàn tỉnh KomTum, Luận văn Thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 18. Hồ Chủ tịch (1945), Sắc lệnh tổ chức nông bình phố ngân quỹ. 19. Hồ Chủ tịch (1946), Sắc lệnh số 14/SL thành lập Nha tín dụng sản xuất. 20. Hội đồng Chính phủ (1972), Nghị quyết số 98/CP ngày 15-02-1972 về tăng cường quản lý tín dụng tiền tệ ở nông thôn và chấn chỉnh các hợp tác xã tín dụng. 21. Nguyễn Khải (2000), “Một số đánh giá về hoạt động của QTDND cơ sở”, Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ, (9). 22. Hoàng Sỹ Kim (2006), “Đầu tư vốn phát triển nông nghiệp - nông thôn theo xu hướng hội nhập quốc tế”, Tạp chí Ngân hàng, (61). 23. Nguyễn Thị Hoa Lý (2006), Giải pháp mở rộng tín dụng ở Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Quảng Nam đối với doanh nghiệp trên địa bàn, Luận văn Thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 24. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2005), Định hướng phát triển QTDND giai đoạn 2006-2020. 25. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2007), Lịch sử hình thành và phát triển mô hình tín dụng hợp tác và hệ thống QTDND ở Việt Nam. 26. Ngân hàng Nhà nước tỉnh Thanh Hoá (2007), Báo cáo tổng hợp số liệu QTDND cơ sở năm 1996 đến 2007. 27. Ngân hàng Nhà nước tỉnh Thanh hoá (2008), Báo cáo tổng hợp kết quả thanh tra QTDND cơ sở 6 tháng đầu năm 2008. 28. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1998), Luật các tổ chức tín dụng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 29. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1996), Luật Hợp tác xã (1996), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 30. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ( ), Luật Ngân hàng. 31. Quỹ Tín dụng nhân dân Trung ương (2005), Báo cáo thường niên (năm 2005 - 2006). 32. Quỹ Tín dụng nhân dân Trung ương (2006), Báo cáo thường niên (năm 2006-2007). 33. Quỹ Tín dụng nhân dân Trung ương (2007), Báo cáo thường niên (năm 2007-2008). 34. Quỹ Tín dụng nhân dân Trung ương chi nhánh Thanh Hoá (2000-2007), Báo cáo thường niên (năm 2000, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007). 35. Quỹ Tín dụng nhân dân Trung ương Chi nhánh Thanh Hoá (2008), Báo cáo tổng hợp số liệu hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá (từ năm 1996 đến 2008). 36. Lê Thanh Tâm (2007), “Mức độ bền vững của các tổ chức tài chính nông thôn Việt Nam. Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Khoa học đào tạo Ngân hàng, (67). 37. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (2000), Thông tư số 06 ngày 04/04/2000 về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 178-NĐ/CP của Chính phủ. 38. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (2005), Thông tư số 08/2005/TT-NHNN của thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hướng dẫn thực hiện nghị định số 48/2001/NĐ-CP của chính phủ ngày 13/08/2001 về tổ chức và hoạt động của QTDND. 39. Thủ tướng Chính phủ (1993), Quyết định số 390/TTg ngày 27/07/1993 về triển khai đề án thì điểm thành lập QTDND. 40. Thủ tướng Chính phủ (2000), Quyết định số 135/2000/QĐ-TTg ngày 28/11/2000 về củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND. 41. Thủ tướng Chính phủ (2003), Chỉ thị số 22/2003CT-TTg ngày 03/10/2003 về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết trung ương 5 (khoá IX) về kinh tế tập thể. 42. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá (1995), Quyết định số 918/UB-TH về triển khai thí điểm và thành lập Ban chỉ đạo của tỉnh về "thí điểm thành lập QTDND trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá".

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf95_505.pdf
Luận văn liên quan