Khảo sát tình hình ô nhiễm nguồn nước, xác định một số chỉ tiêu trong nước thải của quá trình sản xuất công nghiệp

Mục lục TrangMở đầu 1.Vai trò của nước sạch và tình trạng ô nhiễm nguồn nước . 1 1.1.Vai trò của nước 1 1.2.Phân bố của nước trên trái đất . 1 1.2.1.Nước ngọt trên bề mặt đất 1 1.2.2. Nước ngọt trong lòng đất . 2 1.3.Phân loại nước . 2 1.3.1.Nước thiên nhiên – nước sinh hoạt . 2 1.3.2.Nước thải 3 1.4. Thành phần các chất trong nước 3 1.4.1. Độ cứng . 4 1.4.2. Chlorua và sulfate . 4 1.4.3. Các muối sắt 5 1.4.4. Các muối amonium . 5 1.4.5. Khí ôxy . 5 1.4.6. Phosphous . 5 1.4.7. Độ kiềm . 6 1.5. Các tác động gây ô nhiễm nguồn nước . 6 1.5.1. Ảnh hưởng do hoạt động sống của con người 6 1.5.2. Ảnh hưởng do phát triển nông nghiệp . 7 1.5.3. Ảnh hưởng do phát triển công nghiệp và dịch vụ 7 1.5.4. Ảnh hưởng do một số nguyên nhân khác 8 1.6. Tình trạng ô nhiễm môi trường . 8 1.6.1. Tình trạng ô nhiễm môi trường tại việt nam 8 1.6.2. Trên thế giới 13 1.7. Phân loại nước thải . 15 1.7.1. Nước thải sinh hoạt . 15 1.7.2. Nước mưa 16 1.7.3. Nước thải công nghiệp và nông nghiệp 17 2. Hậu quả của ô nhiếm nước 18 2.1. Ảnh hưởng đến môi trường . 18 2.1.1. Nước và sinh vật . 18 2.1.2. Đất và sinh vật 20 2.1.3. Không khí 21 2.2. Ảnh hưởng đến con người . 21 2.2.1. Sức khoẻ con người . 21 2.2.2. Ảnh hưởng đến đời sống 27 3. Các phương pháp xử lý nước thải . 29 3.1. Phương pháp cơ học . 29 3.1.1. Song chắn rác 29 3.1.2. Lắng cát . 30 3.1.3. Lắng 30 3.1.4. Tuyển nổi 30 3.2. Phương pháp xử lý hoá học và hoá lý 31 3.2.1. Phương pháp trung hoà . 31 3.2.2. Keo tụ - tạo bông . 31 3.3. Phương pháp sinh học 32 3.3.1. Phương pháp sinh học kị khí . 32 3.3.2. Phương pháp sinh học hiếu khí . 33 4. Phân tích hàm lượng một số chỉ tiêu trong nước thải . 34 4.1. Chỉ tiêu amonium . 34 4.2. Chỉ tiêu chloride . 35 4.3. Chỉ tiêu COD (chemical oxygen demand) . 38 4.4. Chỉ tiêu BOD (biochemical oxygen demand) 41 4.5. Chỉ tiêu DO (disolved oxygen) . 44 4.6. Chỉ tiêu phosphate và tổng phosphous 48 4.7 Xác định hàm lương asen 51 Kết luận . Phụ lục Tài liệu tham khảo . Mở đầu Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên qúy giá, là yếu tố không thể thiếu cho sự sống, ở đâu có nước ở đó có sự sống. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của sự sống, quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, và thâm canh nông nghiệp ngày càng phát triển đã có nhiều ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên này. Nhiều nơi nguồn nước bề mặt thậm chí cả nước ngầm đã bị ô nhiễm nghiêm trọng gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng của nước và ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người và động vật làm giảm năng xuất và chất lượng cây trồng. Hiện nay thế giới đang rung hồi chuông báo động về thực trạng ô nhiễm môi trường toàn cầu. Môi trường đã trở thành vấn đề chung của toàn nhân loại và được toàn thế giới quan tâm, cùng với sự nóng lên của trái đất gây hiệu ứng nhà kính và xuất hiện ngày một nhiều lỗ thủng trên tầng Ozon bảo vệ trái đất khỏi các tia cực tím. Nằm trong khung cảnh chung đó của thế giới môi trường Việt Nam chúng ta xuống cấp cục bộ do chúng ta đang trong thời kỳ phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và sự tăng mật độ dân số quá nhanh ở các khu đô thị. Đi kèm với sự phát triển đó là vấn đề ô nhiễm môi trường do các nguồn rác thải, nước thải, khí thải gây ra. Tất cả các nguồn thải nói trên đều chứa đựng trong nó biết bao nhiêu loại chất độc hại. Các nguồn thải được đưa ra môi trường hầu hết đều chưa được xử lý hoặc mới xử lý sơ bộ do vậy gây ra ô nhiễm môi trường đặc biệt là môi trường nước. Những nguồn nước thải, nước thải từ các ngành công nghiệp mà trong đó có chứa rất nhiều chất độc hại từ đó đi vào cống, rãnh, sông, hồ làm ô nhiễm các nguồn nước là chủ yếu. Những chất này đi vào cơ thể từ con đường ăn uống, hô hấp chúng tích luỹ trong cơ thể con người và sinh vật gây ra những tác hại vô cùng nguy hiểm. Vấn đề là làm thế nào để đánh giá mức độ ô nhiễm cũng như xác định hàm lượng của các chất độc hại trong nước thải trước khi đưa vào môi trường. trước thực tế đó chúng em xin chọn đề tài “Khảo sát tình hình ô nhiễm nguồn nước, xác định một số chỉ tiêu trong nước thải của quá trình sản xuất công nghiệp”. Đề tài này xin đề cập đến vấn đề ô nhiễm nguồn nước và các phương pháp xử lý cũng như các phương pháp xác định một số chỉ tiêu quan trọng trong nước thải.

docx62 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 28/12/2012 | Lượt xem: 2767 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khảo sát tình hình ô nhiễm nguồn nước, xác định một số chỉ tiêu trong nước thải của quá trình sản xuất công nghiệp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA CÔNG NGHỆ HOÁ HỌC ((((( BÀI TIỂU LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ TÀI: KHẢO SÁT TÌNH HÌNH Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC, XÁC ĐỊNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU TRONG NƯỚC THẢI CỦA QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP / Sinh viên: Đoàn Thành Trung Kiên MS: 08275371 Lớp: ĐHPT2TLT GVHD: Ts. Nguyễn Văn Vinh Tp. Hồ Chí Minh năm 2010Mục lục Trang Mở đầu 1.Vai trò của nước sạch và tình trạng ô nhiễm nguồn nước 1 1.1.Vai trò của nước 1 1.2.Phân bố của nước trên trái đất 1 1.2.1.Nước ngọt trên bề mặt đất 1 1.2.2. Nước ngọt trong lòng đất 2 1.3.Phân loại nước 2 1.3.1.Nước thiên nhiên – nước sinh hoạt 2 1.3.2.Nước thải 3 1.4. Thành phần các chất trong nước 3 1.4.1. Độ cứng 4 1.4.2. Chlorua và sulfate 4 1.4.3. Các muối sắt 5 1.4.4. Các muối amonium 5 1.4.5. Khí ôxy 5 1.4.6. Phosphous 5 1.4.7. Độ kiềm 6 1.5. Các tác động gây ô nhiễm nguồn nước 6 1.5.1. Ảnh hưởng do hoạt động sống của con người 6 1.5.2. Ảnh hưởng do phát triển nông nghiệp 7 1.5.3. Ảnh hưởng do phát triển công nghiệp và dịch vụ 7 1.5.4. Ảnh hưởng do một số nguyên nhân khác 8 1.6. Tình trạng ô nhiễm môi trường 8 1.6.1. Tình trạng ô nhiễm môi trường tại việt nam 8 1.6.2. Trên thế giới 13 1.7. Phân loại nước thải 15 1.7.1. Nước thải sinh hoạt 15 1.7.2. Nước mưa 16 1.7.3. Nước thải công nghiệp và nông nghiệp 17 2. Hậu quả của ô nhiếm nước 18 2.1. Ảnh hưởng đến môi trường 18 2.1.1. Nước và sinh vật 18 2.1.2. Đất và sinh vật 20 2.1.3. Không khí 21 2.2. Ảnh hưởng đến con người 21 2.2.1. Sức khoẻ con người 21 2.2.2. Ảnh hưởng đến đời sống 27 3. Các phương pháp xử lý nước thải 29 3.1. Phương pháp cơ học 29 3.1.1. Song chắn rác 29 3.1.2. Lắng cát 30 3.1.3. Lắng 30 3.1.4. Tuyển nổi 30 3.2. Phương pháp xử lý hoá học và hoá lý 31 3.2.1. Phương pháp trung hoà 31 3.2.2. Keo tụ - tạo bông 31 3.3. Phương pháp sinh học 32 3.3.1. Phương pháp sinh học kị khí 32 3.3.2. Phương pháp sinh học hiếu khí 33 4. Phân tích hàm lượng một số chỉ tiêu trong nước thải 34 4.1. Chỉ tiêu amonium 34 4.2. Chỉ tiêu chloride 35 4.3. Chỉ tiêu COD (chemical oxygen demand) 38 4.4. Chỉ tiêu BOD (biochemical oxygen demand) 41 4.5. Chỉ tiêu DO (disolved oxygen) 44 4.6. Chỉ tiêu phosphate và tổng phosphous 48 4.7 Xác định hàm lương asen 51 Kết luận … Phụ lục Tài liệu tham khảo Mở đầu Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên qúy giá, là yếu tố không thể thiếu cho sự sống, ở đâu có nước ở đó có sự sống. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của sự sống, quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, và thâm canh nông nghiệp ngày càng phát triển đã có nhiều ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên này. Nhiều nơi nguồn nước bề mặt thậm chí cả nước ngầm đã bị ô nhiễm nghiêm trọng gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng của nước và ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người và động vật làm giảm năng xuất và chất lượng cây trồng. Hiện nay thế giới đang rung hồi chuông báo động về thực trạng ô nhiễm môi trường toàn cầu. Môi trường đã trở thành vấn đề chung của toàn nhân loại và được toàn thế giới quan tâm, cùng với sự nóng lên của trái đất gây hiệu ứng nhà kính và xuất hiện ngày một nhiều lỗ thủng trên tầng Ozon bảo vệ trái đất khỏi các tia cực tím. Nằm trong khung cảnh chung đó của thế giới môi trường Việt Nam chúng ta xuống cấp cục bộ do chúng ta đang trong thời kỳ phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và sự tăng mật độ dân số quá nhanh ở các khu đô thị. Đi kèm với sự phát triển đó là vấn đề ô nhiễm môi trường do các nguồn rác thải, nước thải, khí thải gây ra. Tất cả các nguồn thải nói trên đều chứa đựng trong nó biết bao nhiêu loại chất độc hại. Các nguồn thải được đưa ra môi trường hầu hết đều chưa được xử lý hoặc mới xử lý sơ bộ do vậy gây ra ô nhiễm môi trường đặc biệt là môi trường nước. Những nguồn nước thải, nước thải từ các ngành công nghiệp mà trong đó có chứa rất nhiều chất độc hại từ đó đi vào cống, rãnh, sông, hồ làm ô nhiễm các nguồn nước là chủ yếu. Những chất này đi vào cơ thể từ con đường ăn uống, hô hấp chúng tích luỹ trong cơ thể con người và sinh vật gây ra những tác hại vô cùng nguy hiểm. Vấn đề là làm thế nào để đánh giá mức độ ô nhiễm cũng như xác định hàm lượng của các chất độc hại trong nước thải trước khi đưa vào môi trường. trước thực tế đó chúng em xin chọn đề tài “Khảo sát tình hình ô nhiễm nguồn nước, xác định một số chỉ tiêu trong nước thải của quá trình sản xuất công nghiệp”. Đề tài này xin đề cập đến vấn đề ô nhiễm nguồn nước và các phương pháp xử lý cũng như các phương pháp xác định một số chỉ tiêu quan trọng trong nước thải. Vai trò của nước sạch và tình trạng ô nhiễm môi trường nước Vai trò của nước Nước là một nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú quanh ta, từ những dòng chảy, sông hồ, nước ngầm đến đại dương mênh mông là nơi muôn loài thuỷ sinh sinh sống, nước được sử dụng trong mọi mặt của đời sống con người và mọi loài động thực vật trên trái đất. Tuy nhiên nguồn nước sạch quí giá đang bị khai thác dần cạn kiệt, thiếu nước sạch không những ảnh hưởng đến đời sống con người mà còn ảnh hưởng đến các loại sinh vật trên trái đất cũng như mọi hoạt động sản xuất, sinh hoạt. Cuộc sống trên Trái Đất bắt nguồn từ trong nước. Tất cả các sự sống trên Trái Đất đều phụ thuộc vào nước vào vòng tuần hoàn nước. Nước có ảnh hưởng quyết định đến khí hậu và là nguyên nhân tạo ra thời tiết. Năng lượng mặt trời sưởi ấm không đồng đều các đại dương đã tạo nên các dòng hải lưu trên toàn cầu. Dòng hải lưu Gulf Stream vận chuyển nước ấm từ vùng Vịnh Mexico đến Bắc Đại Tây Dương làm ảnh hưởng đến khí hậu của vài vùng châu Âu. Nước là thành phần quan trọng của các tế bào sinh học và là môi trường của các quá trình sinh hóa cơ bản như quang hợp. Hơn 70% diện tích của Trái Đất được bao phủ bởi nước. Lượng nước trên Trái Đất có vào khoảng 1,38 tỉ km³. Trong đó 97,4% là nước mặn trong các đại dương trên thế giới, phần còn lại, 2,6%, là nước ngọt, tồn tại chủ yếu dưới dạng băng tuyết đóng ở hai cực và trên các ngọn núi, chỉ có 0,3% nước trên toàn thế giới (hay 3,6 triệu km³) là có thể sử dụng làm nước uống. Việc cung cấp nước uống sẽ là một trong những thử thách lớn nhất của loài người trong vài thập niên tới đây. Nguồn nước cũng đã là nguyên nhân gây ra một trong những cuộc chiến tranh ở Trung Cận Đông. Nước được sử dụng trong công nghiệp từ lâu như là nguồn nhiên liệu (cối xay nước, máy hơi nước, nhà máy thủy điện), là chất trao đổi nhiệt. Phân bố của nước trên Trái đất Lượng nước tự nhiên có 97% là nước mặn phân bổ ở biển và đại dương, 3,5% còn lại phân bố ở đất liền. Tổng lượng nước lớn nhưng lượng nước ngọt chỉ có thể sử dụng các nguồn sau Nước ngọt trên bề mặt đất Lượng nước mưa rơi xuống mặt đất. Nước tồn tại trong các sông, rạch, ao, hồ. Một phần rất ít nước từ đầm lầy và băng tuyết. Nước ngọt trong lòng đất Nước dưới đất có loại nước mặn, nước lợ và nước ngọt, trong đó nước ngọt chỉ có lưu lượng nhất định. Nước dưới đất được tàng trữ trong các lỗ hổng và khe hở đất đá. Tầng chứa nước Các lớp đất đá có thành phần hạt thô (cát, sạn, sỏi), khe hở, nứt nẻ, có tính thấm nước, dẫn nước tốt mà con người có thể khai thác nước phục vụ cho nhu cầu của mình gọi là các tầng chứa nước. Tầng cách nước Là tầng đất đá với thành phần hạt mịn (sét, bột sét), có hệ số thấm nhỏ, khả năng cho nước thấm xuyên qua yếu, khả năng khai thác nước trong tầng này thấp. Phân loại nước Nước là nguồn tài nguyên quý, là yếu tố không thể thiếu cho mọi hoạt động sống trên trái đất. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển của con người, đô thị hoá, công nghiệp hoá ngày càng phát triển đã ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên này. Trước tình hình nguồn nước bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, các cấp lãnh đạo, các cơ quan chức năng đã tiến hành kiểm tra nguồn nước để từ đó đưa ra các biện pháp nhằm cải thiện tình hình. Nước được phân loại như sau: Nước thiên nhiên – nước sinh hoạt Nước thiên nhiên bao gồm các nguồn nước ở sông ngòi, ao hồ, suối, mạch ngầm, biển. Nước thiên nhiên là một dị thể bao gồm các chất không tan có nguồn gốc vô cơ cũng như hữu cơ. Các chất này được xâm nhập vào nguồn nước từ đất, đá, động vật, thực vật cũng như con người… Theo nguồn phát sinh người ta chia nước thiên thành các loại sau: Nước mưa: Thường được hoà tan 1 lượng khí CO2, N2, O2 và một số khí khác. Ngoài khí hoà tan trong nước mưa còn có lẫn bụi bậm và vi trùng nên nước mưa thuộc loại nước mềm, sạch mát khi mới hứng. Nước mạch, nước ngầm: Do nước thấm trong lòng đất lâu đời tạo thành những mạch nước chảy trong lòng đất vì được chắc lọc qua nhiều tầng lớp nên nước mạch thuộc loại nước mềm, trong mát, do đó được dùng nhiều trong sinh hoạt. Nước ở trên bề mặt trái đất: Như ở ao, hồ, sông, biển… Đặc điểm của nước này thường chứa nhiều tạp chất khác nhau, tùy vào từng vùng, từng lãnh thổ… Nước uống: nước uống chủ yếu là nước ngọt tự nhiên trong đó đã được quy định cụ thể về các thành phần hóa học – vi sinh – các ion kim loại… sao cho phù hợp với quá trình trao đổi chất của con người. Nước thải Nước thải là kết quả của sự nhiễm bẩn nước bề mặt của nước tự nhiên do các hoạt động sinh hoạt, sản xuất của con người hay do quá trình phân huỷ của xác động, thực vật. Thành phần nước thải phụ thuộc nhiều vào nguồn nhiễm bẩn khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp… và các hoạt động sinh hoạt khác của con người. Trong nước thải có rất nhiều chất khác nhau tuỳ thuộc vào từng vùng, từng khu sản xuất… Nó có thể là những chất tan trong nước hay ở dạng huyền phù, nhũ tương cho đến các loại vi khuẩn… Do tương tác hoá học giữa các chất làm cho pH của môi trường thay đổi, còn các chất huyền phù, kết tủa làm ngăn cản sự phát triển của các loại vi sinh vật làm sạch nước, cản trở sự phát triển của các loài động, thực vật ở trong nước cũng như ở các vùng xung quanh. Thành phần các chất trong nước Trong nước có rất nhiều thành phần khác nhau cùng tồn tại phụthuộc vào từng vùng, từng khu công nghiệp cũng như các hoạt động sống của con người. Ví dụ: Ở vùng khai khoáng thì có nhiều các kim loại, các acid vô cơ. Ở vùng sản xuất đồ gốm thì có nhiều bari, cadimi, liti, mangan, selen… Còn vùng sản xuất da thì có nhiều canxi, hydrosunfua, natri sunfua, crom, kẽm, niken… Độ cứng (Các muối Cacium và Magiesium) Calcium và magiesium tồn tại trong nước chủ yếu ở các dạng bicarbonate (HCO3-), Carbonate (CO32-), Chloride (Cl-), Sulfate (SO42-). Hai ion này biểu thị cho độ cứng của nước. Tính cứng này thay đổi tuỳ theo hàm lượng các muối calcium và magnesium có trong nước làm ảnh hưởng đến sinh hoạt cũng như trong sản xuất. Có 2 cách để chia độ cứng: Cách 1: Chia độ cứng làm 2 loại là độ cứng carbonat và độ cứng không carbonat. Độ cứng carbonat biểu thị lượng calcium và magiesium dưới dạng muối HCO3- còn độ cứng không carbonate biểu thị muối calcium và magiesium dưới dạng Cl- và SO42-. Cách 2: Chia độ cứng làm 3 loại là độ cứng tạm thời, độ cứng vĩnh cửu và độ cứng chung hay được gọi là độ cứng toàn phần. Độ cứng tạm thời của nước biểu thị muối HCO3- của calcium và magiesium bị phân huỷ khi đun nóng. Ca(HCO3)2 = CaCO3 + CO2 + H2O Mg(HCO3)2 = MgCO3 + CO2 + H2O 2Mg(HCO3)2 = (MgOH)2CO3 + 3CO2 + H2O Độ cứng vĩnh cửu là độ cứng còn lại sau khi đun ở 100oC biểu thị tổng lượng Ca2+ và Mg2+ ở dạng muối clorua hoặc muối sunfat. Độ cứng chung là tổng của độ cứng tạm thời và độ cứng vĩnh cửu. Clorua (Cl-) và sunphat (SO42-) Cl- và SO42- hầu như có mặt trong các loại nước thiên nhiên. Nó không thể hiện tính cứng cũng như không gây tác hại trong việc sử dụng. Tuy nhiên nếu các muối này quá cao thì gây ra áp suất cao trong quá trình sử dụng nồi hơi vì nó là những hợp chất dễ tan trong nước. Mặt khác, ảnh hưởng đến sinh hoạt của con người, đến sự sống của động – thực vật trong nước khi hàm lượng quá cao. Các muối Sắt (Fe2+, Fe3+) Sắt thường tồn tại trong nước ở dạng muối Fe(HCO3)2. Khi tiếp xúc lâu với không khí, muối sắt trên dễ bị oxy hoá thành muối sắt (III) và gây cặn Fe(OH)3 làm cho nước đục. Các muối Amonium (NH4+) Amonium (NH4+) (thực ra không quá độc đối với cơ thể người (tiêu chuẩn là 3 mg/L). Nhưng trong quá trình khai thác, xử lý và lưu trữ nước, nó chuyển hóa thành nitrite và nitrate. Nitrite là chất độc rất có hại cho cơ thể. Khi người uống phải, nó sẽ chuyển hóa thành nitrosamin, một chất có tiềm năng gây ung thư. Các nghiên cứu cho thấy, 1 g Amonium khi chuyển hóa hết sẽ tạo thành 2.7 g nitrite và 3.65 g nitrate. Trong khi đó, hàm lượng cho phép của nitrite là 0.1 mg/L và nitrate là 10 – 50 mg/L. Giới hạn cho phép của Amoniac không vượt quá 30 mg/L. Khí Oxy Khí O2 có trong nước giúp ích cho các quá trình sinh hóa. Lượng oxy trong nước chủ yếu là Oxy hòa tan (DO); nhu cầu Oxy hóa học (COD) và nhu cầu Oxy sinh học (BOD). Lượng Oxy hòa tan (DO) Lượng oxy hòa tan trong nước sẽ tham gia quá trình trao đổi chất, duy trì năng lượng cho quá trình phát triển, sinh sản và tái sản xuất của sinh vật sống dưới nước. Về mặt hóa học, oxy không tham gia phản ứng với nước mà độ hòa tan của oxy trong nước phụ thuộc vào áp suất và nhiệt độ. Nhu cầu oxy sinh học (BOD) Là lượng oxy cần thiết để vi khuẩn sử dụng phân hủy chất hữu cơ dưới điều kiện hiếu khí. Chỉ tiêu này để đánh giá khả năng tự làm sạch của nguồn nước. BOD càng cao chứng tỏ mức độ ô nhiễm càng nặng. Nhu cầu oxy hóa học (COD) Là lượng oxy cần thiết để oxy hóa hết các hợp chất hữu cơ có trong nước. Nước nhiễm bẩn sẽ có độ oxy hóa cao phải tốn nhiều hóa chất cho công tác khử trùng. Phosphous Hàm lượng phosphous trong nước tồn tại dạng PO43-, được sinh ra bởi phân, rác rưởi, các hợp chất hữu cơ trong sinh hoạt và trong sản xuất thải ra. Phosphate làm hóa chất bón cây, chất kích thích tăng trưởng, chất tạo bọt trong bột giặt, chất làm mềm nước, kích thích tăng trưởng nhiều loại vi sinh vật, phiêu sinh vật, tảo… Phosphate gây nhiều tác động trong việc bảo vệ môi trường. Độ kiềm Trong thiên nhiên độ kiềm thường gây ra do sự hiện diện của các muối acid yếu tồn tại dưới dạng HCO3- như: KHCO3, NaHCO3, Ca(HCO3)2. Trong một vài trường hợp độ kiềm thường gây ra do ion OH- hay CO32- mất đi từ HCO3-. Độ kièm được chia làm 3 loại: Độ kiềm OH- Độ kiềm CO32- Độ kiềm HCO32- Các tác động gây ô nhiễm nguồn nước Ngày nay, nhu cầu phát triển kinh tế nhanh với mục tiêu lợi nhuận cao, con người đã lờ đi các tác động ảnh hưởng đến các nhân tố tự nhiên và môi trường một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển và các nước nghèo đã làm cho môi trường nước bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng hơn. Sự gia tăng dân số quá nhanh là nguyên nhân chính gây áp lực lên nguồn nước. Vì nhu cầu nước cho phát triển nông nghiệp để gia tăng lương thực thực phẩm, phát triển công nghiệp để gia tăng hàng hóa và gia tăng thêm nhiều hình thức dịch vụ… Ảnh hưởng do hoạt động sống của con người Các dòng nước mặt (sông, kênh rạch…) đặc biệt là ở vùng đô thị đều bị ô nhiễm trầm trọng bởi rác thải, nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư xả vào kênh rạch chưa qua xử lý. Tình trạng lấn chiếm lòng, bờ sông kênh rạch để sinh sống, xả rác và nước thải trực tiếp trên bề mặt gây ô nhiễm nước mặt,cản trở lưu thông của dòng chảy, tắc nghẽn cống rãnh tạo nước tù. Môi trường yếm khí gia tăng phân hủy các hợp chất hữu cơ, không những gây mùi hôi thối, ô nhiễm nguồn nước và môi trường mà còn gây khó khăn trong việc lấy nguồn nước mặ để xử lý thành nguồn nước sạch cấp cho nhu cầu xã hội. Nhu cầu nước sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt và các hoạt động khác của con người gia tăng, dẫn đến tình trạng khai thác nước dưới đất tràn lan gây cạn kiệt nguồn nước và ảnh hưởng đến môi trường như sụp lún, nhiễm mặn… Giữa nước mặn và nước nhạt có một ranh giới, khi hoạt động khai thác nước dưới đất quá mức đường ranh giới này sẽ tiến dần đến công trình khai thác, mực nước mặn xâm nhập dần, đẩy lùi mực nước ngọt vào sâu và làm nhiễm mặn các công trình khai thác trong khu vực. Ảnh hưởng do phát triển nông nghiệp Việc chăn nuôi gia súc gia cầm ở hộ gia đình vùng nông thôn còn chưa có ý thức tiết kiệm nguồn nước trong việc vệ sinh, vệ sinh chuồng trại, chưa có hệ thống xử lý chất thải nước thải, phần lớn cho vào ao hồ, bể tự hoại để thấm vào đất dễ gây ô nhiệm môi trường đặt biệt là nguồn nước ngầm. Việc nuôi các bè cá, bè tôm trực tiếp trên các dòng nước mặt sông rạch đã làm ô nhiễm nguồn nước do một số nguyên nhân: thức ăn của cá dư thừa, sự khuấy động nguồn nước, sự cản trở lưu thông dòng mặt. Với tình trạng sử dụng bừa bãi, tùy tiện các loại hóa chất trong phân bón, các loại thuốc kích hoạt phát triển cây… Nhiều hệ thống kênh mương tưới tiêu nội đồng đã bị ô nhiễm nguồn nước và phát tán rộng. Hệ thống tưới tiêu và hình thức tưới tiêu không hợp lý là nguyên nhân gây thất thoát lưu lượng nước lớn trong ngành trồng trọt. Ảnh hưởng do phát triển công ngiệp và dịch vụ Việc gia tăng nhiều nhà máy, xí nghiệp từ quy mô nhỏ hộ gia đình đến quy mô lớn dẫn đến nhu cầu về nguồn nước tăng, không những nước phục vụ cho sản xuất mà còn phục vụ sinh hoạt cho một số lượng lớn công nhân từ nhiều vùng khác nhau tập trung về. Đặc biệt ở các khu vực chưa có hệ thống cấp nước, mật độ khai thác nước dưới đất sẽ gia tăng nhanh, từ đó dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn nước và sụp lún đất. Các chất thải công nghiệp như khối, bụi…tạo nên mưa axít không những làm thay đổi chất lượng nước ngọt, mà còn ảnh hưởng xấu đến đất và môi trường sinh thái. Việc xả nước thải sản xuất từ các nhà máy, khu chế xuất khu công nghiệp chưa được xử lý vào sông rạch, ao hồ gây ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất. Thậm chí có nơi còn cho nước thải chảy tràn trên mặt đất để tự thấm xuống đất hoặc đào các hố dưới đất để xả nước thải làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tầng nước dưới đất. Ảnh hưởng do một số nguyên nhân khác Hệ thống kênh rạch không được nạo vét dẫn đến tích tụ một khối lượng lớn các vật chất hữu cơ từ nước thải, rác thải gây bồi lắng và ảnh hưởng đến việc tiêu thoát của dòng nước. Các bãi chôn rác không đạt yêu cầu kỹ thuật, nước rỉ ra từ rác thấm vào mạch nước ngầm hoặc cho chảy tràn trên mặt đất vào kênh rạch. Các dòng nước mặt trên sông, kênh rạch còn bị ô nhiễm do xăng dầu của các tàu bè đi lại, hoặc các sự cố vận chuyển khác trên sông, biển. Ảnh hưởng do chưa có ý thức về sử dụng và bảo vệ nguồn nước như sử dụng bừa bãi hoang phí, không đúng mục đích sử dụng. Tình trạng ô nhiễm môi trường Nước cũng như không khí, ánh sáng không thể thiếu được trong cuộc sống của con người. Hãy thử tưởng tượng đến một ngày nào đó mọi nguồn nước trên trái đất đều bị nhiễm bẩn thì thế giới này sẽ ra sao. Chính vì vai trò quan trọng của nước đối với sự sống nên các quốc gia đều dành sự quan tâm đến việc giữ gìn nguồn nước, nhất là nước sạch. Các nhà khoa học tính toán tổng lượng nước trên trái đất khoảng 1.390.000.000 km3, trong đó lượng nước mặt, nước ngầm hơn 8.600.000 km3, còn lại chủ yếu là nước biển. Tài nguyên nước, nhất là nước ngọt ngày càng ít và xu hướng nhiễm bẩn lan rộng đang là mối đe dọa đối với nhiều nước trên thế giới. Tình trạng ô nhiễm môi trường tại việt nam Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại. Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải. Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng... cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép. Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư. Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn. Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/L, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu… Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực. Với nước ta, sự phát triển công nghiệp, dịch vụ trong những năm vừa qua thiếu cân nhắc về bài toán bảo vệ môi trường đã làm nguồn nước bị ô nhiễm và môi trường bị hủy hoại. Ở nhiều tỉnh, thành phố tình trạng ô nhiễm đã đến mức báo động. Nước trên sông Tô Lịch ở Hà Nội đen đặc, bốc mùi hôi thối. Ở thành phố Hồ Chí Minh cá chết trắng trên sông Sài Gòn. Ở Quảng Nam, mức độ ô nhiễm nguồn nước chưa đến mức báo động nhưng đã xuất hiện nhiều nỗi lo. Chất thải của các nhà máy thải ra sông cộng với sự khai thác quá mức đã làm nguồn cá bống sông Trà cạn kiệt. Xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh chuyên làm nghề khai thác cá bống với 200 chiếc ghe ở xóm An Lộc, An Phương giờ thì phần lớn đã chuyển sang nghề khai thác cát, sạn. Đặc sản cá bống sông Trà chính hiệu bày bán ở các hàng quán trở nên rất hiếm. Không ít người dân Sơn Tịnh ra đất QuảngNam đánh bắt cá bống trên sông Thu Bồn mang về Quảng Ngãi bán cho các nhà hàng. Cá bống Quảng Nam mình rổ hoa, thân lép, thịt bở không thể sánh với cá bống mú, cá bống cát sông Trà. Nước ở một số con sông, ao hồ trong tỉnh cũng bị ô nhiễm do hóa chất và nhiều loại chất thải. Chừng hai mươi năm trước, cứ sau mùa lũ lụt là rộ lên mùa cá đồng. Dân ven sông làm nghề lưới, nghề câu, úp nơm, thả lờ có nguồn thu nhập khá từ cá đồng. Giờ thì lác đác, người làm nghề chài lưới ven sông phải tìm kế sinh nhai từ nghề khác. Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương). Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng.   Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 - 400.000 m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4, NO2-, NO3- ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời. Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; ôxy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP. Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800-12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu. Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khoẻ nhân dân. Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản, tổng diện tích mặt nước sử dụng cho nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2001 của cả nước là 751.999 ha. Do nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước. Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thuỷ triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam. Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người dân về vấn đề môi trường còn chưa cao… Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường. Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước. Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu (chẳng hạn như chưa có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn nước). Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng. Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn. Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước.   Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường nước còn rất thấp (một số nước ASEAN đã đầu tư ngân sách cho bảo vệ môi trường là 1% GDP, còn ở Việt Nam mới chỉ đạt 0,1%). Các chương trình giáo dục cộng đồng về môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng còn quá ít. Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường nước còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng (Hiện nay ở Việt Nam trung bình có khoảng 3 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân, trong khi đó ở một số nước ASEAN trung bình là 70 người/1 triệu dân)... Không chỉ nguồn nước bị ô nhiễm mà xung quanh chúng ta tất cả đều bị ô nhiễm, từ không khí cho đến đất đai canh tác bởi chất thải công nghiệp và sinh hoạt. Chúng ta đã lấy đi từ môi trường tất cả những gì cần thiết nhất cho cuộc sống nhưng lại trả cho môi trường những phế thải. Điều bất hợp lý này đang diễn ra hàng ngày đã làm phá vỡ sự cân bằng về môi trường sinh thái và hủy hoại cuộc sống không chỉ trong hiện tại mà cả tương lai. Luật Bảo vệ môi trường của nhà nước ban hành dường như đã không góp phần cải thiện được tình trạng ô nhiễm môi trường tràn lan. Một khi nước sạch và môi trường chưa được xem là tiêu chí của phát triển thì rất khó cho việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn xã hội đối với việc bảo vệ, giữ gìn nguồn nước sạch và môi trường. Nếu như GDP tăng lên, việc làm được tạo ra nhiều, thu nhập được cải thiện nhưng môi trường càng ngày càng xấu đi thì liệu có đảm bảo được sự phát triển bền vững. Bởi không thể gọi là phát triển nếu chúng ta luôn bị bệnh tật và thiên tai đe dọa nhiều hơn. Về mặt nhận thức, muốn bảo vệ môi trường trước hết phải bảo vệ nguồn nước, không khí bởi nguồn nước sạch cho cuộc sống giống như máu lưu thông trong cơ thể. Trách nhiệm này không của riêng ai mà là của toàn xã hội, của nhiều thế hệ nối tiếp. Nếu chúng ta lấy đi của môi trường quá nhiều thứ mà môi trường không thể tái tạo được cũng tức là chúng ta đang lấy vào một phần cuộc sống của con cháu, của thế hệ kế tiếp. Nếu chúng ta thải ra môi trường những thứ độc hại, những thứ mà môi trường không thể phân hủy được thì sẽ làm cho cuộc sống của thế hệ mai sau không chắc chắn, không thật sự bền vững. Nhận thức đúng sẽ dẫn đến hành động đúng. Nếu 84 triệu người trong cả nước mỗi người một năm chỉ trồng một cây xanh thôi thì cũng chính là hành động bảo vệ và tái tạo nguồn nước. Nếu mỗi người không thải rác bừa bãi, không góp phần làm bẩn môi trường thì cuộc sống sẽ xanh và đẹp gấp nghìn lần. Muốn bảo vệ môi trường trước hết phải tiết kiệm, đặc biệt là tiết kiệm nguồn nước. Khai thác quá mức nguồn nước sẽ làm cho nó mau cạn kiệt và để lại hậu quả khôn lường. Vừa tiết kiệm, mỗi người cũng cần có hành vi bảo vệ và phục hồi môi trường bằng nhiều cách như: không chặt phá cây xanh, không thải rác bừa bãi, không làm bẩn nguồn nước. Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước sạch và môi trường. Tuy nhiên một mình nhà nước sẽ rất khó hoàn thành được công việc hệ trọng và khó khăn này. Chính vì vậy sự tham gia của toàn xã hội với ý thức tích cực của mọi công dân sẽ là yếu tố quyết định cho việc bảo vệ nguồn nước sạch và bảo vệ môi trường. Trên thế giới Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp độ đáng lo ngại. Tiến độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến bộ phát triển kỹ nghệ. Ta có thể kể ra đây vài thí dụ tiêu biểu. Anh Quốc chẳng hạn: Ðầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch. Nó trở thành ống cống lộ thiên vào giữa thế kỷ này. Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi người ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt. Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phân tán và nhiều sông lớn, nhưng vấn đề cũng không khác bao nhiêu. Dân Paris còn uống nước sông Seine đến cuối thế kỷ 18. Từ đó vấn đề đổi khác: các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5.000 km sông của Pháp bị ô nhiễm mãn tính. Sông Rhin chảy qua vùng kỹ nghệ hóa mạnh, khu vực có hơn 40 triệu người, là nạn nhân của nhiều tai nạn (như cháy nhà máy thuốc Sandoz ở Bâle năm 1986) thêm vào các nguồn ô nhiễm thường xuyên. Ở Hoa Kỳ tình trạng thảm thương ở bờ phía đông cũng như nhiều vùng khác. Vùng Ðại hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario đặc biệt nghiêm trọng. Năm 1984, Bhopal (Ấn Độ) là nơi đã xảy ra một tai nạn kinh hoàng khi nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu Union Carbide India. thải ra ngoài môi trường 40 tấn izoxianat và metila. Theo viện Blacksmith, chính lượng khí độc hại này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ của hàng trăm nghìn người dân và khiến 15.000 người tử vong. Thật đáng lo ngại khi vấn đề ô nhiễm ở khu vực này vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để. Người ta nghi ngờ rằng các mạch nước ngầm đã bị nhiễm độc. Năm 2000, vụ tai nạn hầm mỏ xảy ra tai công ty Aurul ( Rumani) đã thải ra 50-100 tấn xianu và kim loại nặng (như đồng) vào dòng sông gần Baia Mare ( thuộc vùng Đông- Bắc). Sự nhiễm độc này đã khiến các loài thuỷ sản ở đây chết hàng loạt, tổn hại đến hệ thực vật và làm bẩn nguồn nước sạch, ảnh hưởng đến cuộc sống của 2,5 triệu người. Cubatao( Brazil), thành phố của hàng lọat các khu liên hợp công nghiệp cơ khí và hoá dầu. Nhưng các công ty ở đây đã “vô tư” thải các chất thải công nghiệp ( kẽm, fenola, thuỷ ngân, dầu) vào các dòng sông của thành phố từ nhiều thập kỉ nay. Việc xử lý nguồn nước thải chưa được thực hiện đầy đủ theo đúng quy định. Người dân thành phố thường xuyên mắc các bệnh liên quan đến đường hô hấp, mặc dù Ngân hàng thế giới đã khuyến cáo Brazil áp dụng các điều luật bảo vệ hệ sinh thái nghiêm khắc trong những năm qua. Cho đến những năm cuối thời kì chiến tranh lạnh, Dzerzhinsk luôn là trung tâm lớn về sản xuất vũ khí hoá học. Theo báo cáo của Blacksmith, vấn đề nhiễm độc mạch nước ngầm luôn được đặt ra., tuổi thọ trung bình chỉ khoảng 40 tuổi với cả hai giới. Nằm tại khu vực chính giữa đất nước Trung Quốc, dòng sông Huai dài 1978 km được coi như nơi ô nhiễm nhất của nước này do các chất thải công nghiệp, động vật và nông nghiệp, Mức độ mắc các bệnh cao bất thường của cộng đồng dân cư sống gần lưu vực sông đã khiến chính phủ phải xếp nguồn nước của con sông ở mức độ ô nhiễm độc hại nhất. Tuy nhiên, chính phủ Trung Quốc hiện đang cùng với Ngân hàng thế giới nỗ lực giải quyết tình trạng này. Kabu (Bắc Ấn Độ) - Thành phố trên sông, với 2,4 triệu dân, là nơi tập trung của nhiều xưởng thuộc da. Những khảo sát, nghiên cứu của Chính phủ đã cho thấy một vài khu vực có mạch nước ngầm đã bị nhiễm độc do phẩm nhuộm, các chất hoá học độc hại (crom, chì). Một chuơng trình chỉ đạo làm sạch nguồn nước ngầm đang được triển khai. Marilao( Philipine) Hệ thống các sông gần vùng ngoại ô tỉnh Bulacan ở Philipines là nơi lưu thông hàng hoá cho các khu vực thuộc da, tinh chế kim loại, đúc chì. Các chất ô nhiễm gây ra các vấn đề về sức khoẻ cho cư dân trong vùng và xa hơn nó còn gây hại tới ngành đánh bắt tại vịnh Manille. Cơn bão Katrina đã gây thiệt hại lớn nhất về tiền của cũng như sinh mạng trong lịch sử nước Mỹ và cũng đã gây ra hàng loạt những trận lụt ở New Zealand, điều đó kéo theo sự ô nhiễm trên diện rộng do kim loại nặng có lẫn trong đất và cặn dầu ở hai nước này. Những nỗ lực khắc phục ô nhiễm đang được các nhà chức trách liên đoàn và quốc gia nghiên cứu cùng với kế hoạch xây dựng lại các thành phố bị tàn phá. Phân loại nước thải Theo tiêu chuẩn việt nam 5980:1995 và ISO 6107/1:1980 nước thải là nước đã được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó. Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng: Nước thải sinh hoạt, là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu công sở, trường học và các cơ sở tương tự. Nước thải công nghiệp, là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu. Nước thấm qua, là nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau,qua các khớp nối, các ông có khuyết tật hay thành hố ga, hố xí. Nước thải tự nhiên, nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố lớn hiện đại, nước mưa được gom theo hệ thống riêng. Nước thải đô thị, là thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát nước của một thành phố, thị xã… đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên. Ngoài ra căn cứ vào tính chất của nguồn thải có thể phân loại thành: Nguồn điểm (nước thải của các cơ sở công nghiệp, các khu dân cư, thành phố…) Nguồn không điểm (nước mưa chảy tràn, nước thải nông ngư nghiệp…) Nước thải sinh hoạt Các loại nước thải sinh hoạt sinh ra từ các nguồn như: từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, công sở trường học. Nước thải từ các dụng cụ vệ sinh như hố xí, chậu rửa, bồn tắm, giặt bao gồm cả nước thải sinh lý của con người. Nước thải từ nhà bếp: nước rửa, nước thải từ nhà ăn… Nước rửa nhà, sân, đường, phố… Thành phần và tính chất của nước thải sinh hoạt Đặc điểm chung của nước thải sinh hoạt là chúng chứa khoảng 58% chất hữu cơ và 42% chất khoáng. Đặc điểm cơ bản của nước thải sinh hoạt là hàm lượng cao các chất hữu cơ không bền sinh học như cacbonhydrat, protein, mỡ…chất dinh dưỡng như phôtphat, nito, vi trung, vi khuẩn, chất rắn và mùi. Thành phần và tính chất nhiễm bẩn phụ thuộc vào tập quán sinh hoạt, mức sống của người dân, mức độ hoàn thiện của trang thiết bị, trạng thái làm việc của thiết bị thu gom nước thải… Số lượng nước thải tuỳ thuộc vào điều kiện tiện nghi của cuộc sống, tập quán dùng nước của từng dân tộc. tương ứng với nhu cầu dùng nước, số lượng nước thải các khu dân cư dao động trong khoảng 130 – 150lit/người/ngày. Nước thải sinh hoạt có chứa các cặn bã các chất rắn bao gồm chất rắn vô cơ như đất cát, muối vô cơ, chất rắn hữu cơ như vi khuẩn, động vật nguyên sinh, tảo, phân rác, các chất hữu cơ như thực phẩm, dầu mỡ… các chất dinh dưỡng và vi sinh. Thành phần nước thải sinh hoạt thay đổi theo thời gian. Người ta quy ước giá trị bình quân như sau. Bảng 1: Tải lượng ô nhiễm nước thải sinh hoạt Tác nhân ô nhiễm  Tải lượng (g/ngày)  Tác nhân ô nhiễm  Tải lượng (g/ngày)   BOD5 COD Chất rắn lơ lửng Dầu mỡ Tổng nitơ  45 – 54 1.8(BOD 200 10 – 30 6 - 12  Amoni Tổng phospho Tổng coliform Fecal colifrom Trứng giun sán  2,4 – 4,8 0.8 – 4 106 - 109 105 - 106 103   Trong nước thải sinh hoạt còn chứa một số hoá chất độc hại như chất tẩy rửa, thuốc tẩy, thuốc nhuộm… Nước mưa Vào mùa mưa, nước mưa chảy tràn qua các khu vực dân cư, nhà máy, bãi chứa nguyên liệu…sẽ cuốn theo các chất rắn, các chất hữu cơ. Nếu không quẩn lý tốt nước chảy tràn này sẽ tác động tiêu cực đến nguồn nước mặt, nước ngầm và đời sống thuỷ sinh trong khu vực. Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước mưa chảy tràn ước tính vào khoảng 0.5 – 1.5 mgN/L, 0.004 – 0.03mgP/L, 10 – 20 mgCOD/L, 10 – 20 mg TSS/L. so với nước thải nước mưa khá sạch, vì vậy có thể tách riêng nước mưa khỏi nước thải và thải trực tiếp qua cống thoát. Đường thoát nước phải có bộ phận chắn rác trước khi đổ ra cống thoát tránh tắc nghẽn đường cống. Nước thải công nghiệp và nông nghiệp Số lượng và thành phần phụ thuộc vào dạng sản xuất được trình bày dưới bảng sau: Bảng 2: Các tác nhân ô nhiễm điển hình trong nước thải công nghiệp Công nghiệp  Chất ô nhiễm chính  Chất ô nhiễm phụ   Chế biến sữa  BOD, pH, SS  Màu, tổng P, N, TOC, độ đục   Chế biến đồ hộp, rau quả  BOD, COD, pH, SS, TDS  Màu, tổng P, N, TOC,   Chế biến rượu bia  BOD, pH, SS, N, P, chất rắn có thể lắng  TDS, màu, độ đục. bọt nổi   Chế biến thịt  BOD, pH, SS, dầu mỡ, độ đục, chất rắn có thể lắng  NH4+, TDS, P, màu   Xay bột  BOD, SS  COD, pH, TOC, TDS   Luyện thép  Dầu mỡ, pH, NH4+, CN-, Cr, phenol, SS, Fe, Sn, Zn  Clo, SO42-   Cơ khí  COD, dầu mỡ, SS, CN-, Cr, Zn, Ni, Pb, Cd    Thuộc da  BOD5, COD, SS, maud kim loại nặng, NH4+, dầu mỡ, phenol, sulfua  P, N, TDS, tổng colifrom   Xi măng  COD, pH, SS  Cromat, P, Zn, sulfua, TDS   Phân bón hoá học     Phân đạm  NH4+, TDS, NO3-, SO42-, ure  pH, PO43-, SO42-, hợp chất hữu cơ   Phân lân  TDS, F, pH, P, SS  Al, Fe, Hg, N, SO42-, uranium   Hoá chất hữu cơ  BOD, COD, pH, TSS, TDS, dầu nổi  Độ đục, clo hữu cơ, P, kim loại nặng, phenol   Hoá chất vô cơ  Độ acid, độ kiềm, TSS, SS, TDS, Cl-, SO42-, pH  BOD, COD, TOC, phenol, F, silicat, CN-, kim loại nặng   Hoá dầu  NH4+, BOD, COD, Cr, dầu, pH, phenol, SS, TDS, sulfua  Cl-, CN-, Pb, N, P, TOC, Zn, độ đục   Hậu quả của ô nhiễm nước Ảnh hưởng đến môi trường Nước và sinh vật nước: a) Nước Nước ngầm: Ngoài việc các cặn lơ lửng trong nước mặt, các chất thải nặng lắng xuống đáy sông, sau khi phân huỷ, 1 phần lượng chất được các sinh vật tiêu thụ, 1 phần thấm xuống mạch nước bên dưới (nước ngầm) qua đất, làm biến đổi tính chất của loại nước này theo chiều hướng xấu (do các chất chứa nhiều chất hữu cơ, kim loại nặng…),bên cạnh đó, việc khai thác nước ngầm bừa bãi và người dân xây dựng các loại hầm chứa chất thải cũng góp phần làm suy giảm chất lượng nước ngầm, làm cho lượng nước ngầm vốn đã khan hiếm, nay càng hiếm hơn nữa. Nước mặt: Do nhiều nguyên nhân khác nhau, gây ra sự mất cân bằng giữa lượng chất thải ra môi trường nước (rác thải sinh hoạt, các chất hữu cơ,…) và các sinh vật tiêu thụ lượng chất thải này (vi sinh vật, tảo,…) làm cho các chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng,… không được phân huỷ, vẫn còn lưu lại trong nước với khối lượng lớn, dẫn đến việc nước dần mất đi sự tinh khiết ban đầu, làm chất lượng nguồn nước bị suy giảm nghiêm trọng. b) Sinh vật nước: Ô nhiễm nước ảnh hưởng trực tiếp đến các sinh vật nước, đặc biệt là vùng sông, do nước chịu tác động của ô nhiễm nhiều nhất. Nhiều loài thuỷ sinh do hấp thụ các chất độc trong nước, thời gian lâu ngày gây biến đổi trong cơ thể nhiều loài thuỷ sinh, một số trường hợp gây đột biến gen, tạo nhiều loài mới, một số trường hợp làm cho nhiều loài thuỷ sinh chết. Trong 4 ngày liên tiếp (từ 18 - 21.10), tôm, cá chết hàng loạt tại kinh Giữa Nhỏ (ấp Đầm Cùng, xã Trần Thới, huyện Cái Nước, Cà Mau), cạnh Xí nghiệp chế biến thuỷ sản Nam Long thuộc Công ty cổ phần xuất khẩu thuỷ sản Cái Đôi Vàm (Cadovimex). Nước trong kinh đen ngòm và mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. Đi đến đầu kinh cạnh Xí nghiệp chế biến thuỷ sản Nam Long thì thấy nước thải trong bãi rác sinh hoạt của xí nghiệp này đang tràn xuống kinh. Xác cá chết trên kinh Giữa Nhỏ, huyện Cái Nước (tỉnh Cà Mau). Đây là con kinh chạy dài gần 4 km, nối từ bãi rác của Xí nghiệp chế biến thuỷ sản Nam Long với sông Cái Nước - Đầm Cùng, có hàng trăm hộ dân lấy nước từ dòng kinh này để nuôi cá, tôm. Đại dương tuy chiếm ¾ diện tích trái đất, nhưng cũng không thể không chịu tác động bởi việc nước bị ô nhiễm, mà một phần sự ô nhiễm nước đại dương là do các hoạt động của con người như việc khai thác dầu, rác thải từ người đi biển,… gây ảnh hưởng không nhỏ đến đại dương và các sinh vật đại dương, làm xuất hiện nhiều hiện tượng lạ, đồng thời làm cho nhiều loài sinh vật biển không có nơi sống, một số vùng có nhiều loài sinh vật biển chết hàng loạt… Hiện tượng thủy triều đen: Tình trạng chất lượng nước hồ giảm đột ngột nghiêm trọng và tình trạng cá chết hàng loạt trong nhiều ngày kể từ thập niên 1970. Hiện tượng này được các nhà khoa học gọi tên là “thủy triều đen”. Phân tích các mẫu nước hồ lấy từ nhiều nước trên thế giới cho thấy hiện tượng “thủy triều đen” thường xảy trong hồ nước vào mùa thu. Khi đó, chất hữu cơ dưới đáy hồ bắt đầu phân hủy dưới tác dụng của các vi sinh vật, làm thiếu ôxy dưới đáy hồ, giảm hàm lượng pH và tăng nồng độ các gốc axít kali nitrat. Chu kỳ này làm tăng tình trạng thiếu ôxy trong nước và lây lan hợp chất sunfua, biến nước hồ có màu đen và mùi hôi. Trong quá trình thay đổi chất lượng nước, các hoạt động của con người như thải chất thải công nghiệp và sinh hoạt vào hồ cũng có thể tạo ra “thủy triều”. Thủy triều đỏ: Sự phát triển quá mức của nền công nghiệp hiện đại đã kéo theo những hậu quả nặng nề về môi trường, làm thay đổi hệ sinh thái biển. Mặt khác, sự ô nhiễm nước biển do các chế phẩm phục vụ nuôi tôm, dư lượng các loại thuốc kích thích, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật... góp phần làm tăng vọt tần suất xuất hiện thuỷ triều đỏ ở nhiều nơi trên thế giới và ở Việt Nam. Không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế biển, thuỷ triều đỏ còn làm mất cân bằng sinh thái biển, ô nhiễm môi trường biển. Khi gặp những môi trường thuận lợi như điều kiện nhiệt độ, sự ưu dưỡng của vực nước... các loài vi tảo phát triển theo kiểu bùng nổ số lượng tế bào, làm thay đổi hẳn màu nước. Các nhà khoa học gọi đó là sự nở hoa của tảo hay “thuỷ triều đỏ”. Thuỷ triều đỏ phá vỡ sự cân bằng sinh thái biển, gây hại trực tiếp đối với sinh vật và con người. Một số loài vi tảo sản sinh ra độc tố. Vì vậy, con người có thể bị ngộ độc do ăn phải những sinh vật bị nhiễm độc tố vi tảo. Thuỷ triều đỏ là tập hợp của một số lượng cực lớn loài tảo độc có tên gọi Alexandrium fundyense. Loài tảo này có chứa loại độc tố saxintoxin, đã giết chết 14 con cá voi trên vùng biển Atlantic, vào năm 1987. Đất và sinh vật đất: a) Đất Nước bị ô nhiễm mang nhiều chất vô cơ và hữu cơ thấm vào đất gây ô nhiễm nghiêm trọng cho đất. Nước ô nhiễm thấm vào đất làm : Liên kết giữa các hạt keo đất bị bẻ gãy, cấu trúc đất bị phá vỡ. Thay đổi đặc tính lý học, hóa học của đất. Vai trò đệm, tính oxy hóa, tính dẫn điện, dẫn nhiệt của môi trường đất thay đổi mạnh. Thành phần chất hữu cơ giảm nhanh làm khả năng giữ nước và thoát nước của đất bị thay đổi. Một số chất hay ion có trong nước thải ảnh hưởng đến đất : Quá trình oxy hóa các ion Fe2+ và Mn2+ có nồng độ cao tạo thành các axit không tan Fe2O3 và MnO2 gây ra hiện tượng “nước phèn” dẫn đến đóng thành váng trên mặt đất (đóng phèn) Canxi, magie và các ion kim loại khác trong đất bị nước chứa axit cacbonic rửa trôi thì đất sẽ bị chua hóa b) Sinh vật đất Khi các chất ô nhiễm từ nước thấm vào đất không những gây ảnh hưởng đến đất mà còn ảnh hưởng đến cả các sinh vật đang sinh sống trong đất. Các ion Fe2+ và Mn2+ ở nồng độ cao là các chất độc hại với thực vật. Cu trong nguồn nước ô nhiễm từ các khu công nghiệp thải ra thấm vào đất không độc lắm đối với động vật nhưng độc đối với cây cối ở nồng độ trung bình. Các chất ô nhiễm làm giảm quá trình hoạt động phân hủy chất của một số vi sinh vật trong đất Là nguyên nhân làm cho nhiều cây cối còi cọc, khả năng chống chịu kém, không phát triển được hoặc có thể bị thối gốc mà chết Có nhiều loại chất độc bền vững khó bị phân hủy có khả năng xâm nhập tích lũy trong cơ thể sinh vật. Khi vào cơ thể sinh vật chất độc cũng có thể phải cần thời gian để tích lũy đến lúc đạt mức nồng độ gây độc. Không khí: Ô nhiễm môi trường nước không chỉ ảnh hưởng đến con người, đất, nước mà còn ảnh hưởng đến không khí. Các hợp chất hữu cơ, vô cơ độc hại trong nước thải thông qua vòng tuần hoàn nước, theo hơi nước vào không khí làm cho mật độ bụi bẩn trong không khí tăng lên. Không những vậy, các hơi nước này còn là giá bám cho các vi sinh vật và các loại khí bẩn công nghiệp độc hại khác. Một số chất khí được hình thành do quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ trong nước thải như SO2, CO2, CO,… ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường khí quyển và con người, gây ra các căn bệnh liên quan đến đường hô hấp như: niêm mạc đường hô hấp trên, viêm phổi, viêm phế quản mãn tính, gây bẹnh tim mạch, tăng mẫn cảm ở những người mắc bệnh hen,… Ảnh hưởng đến con người Sức khỏe con người: a) Do kim loại trong nước: Các kim loại nặng có trong nước là cần thiết cho sinh vật và con người vì chúng là những nguyên tố vi lượng mà sinh vật cần tuy nhiên với hàm lượng cao nó lại là nguyên nhân gây độc cho con người, gây ra nhiều bệnh hiểm nghèo như ung thư, đột biến. Đặc biệt đau lòng hơn là nó là nguyên nhân gây nên những làng ung thư. Các ion kim loại được phát hiện là hợp chất kìm hãm ezyme mạnh. Chúng tác dụng lên phôi tử như nhóm –SCH3 và SH trong methionin và xystein. Sau đây là một số kim loại có nhiều ảnh hưởng nhiêm trọng nhất. Trong nước nhiễm chì Chì có tính độc cao đối với con người và động vật. Sự thâm nhiễm chì vào cơ thể con người từ rất sớm từ tuần thứ 20 của thai kì và tiếp diễn suốt kì mang thai. Trẻ em có mức hấp thụ chì cao gấp 3-4 lần người lớn. Mặt khác thời gian bán sinh học chì của trẻ em cũng dài hơn của người lớn. Chì tích đọng ở xương . Trẻ em từ 6 tuổi trở xuống và phụ nữ có thai là những đối tượng mẫn cảm với những ảnh hưởng nguy hại của chì gây ra. Chì cũng cản trở chuyển hóa canxi bằng cách trực tiếp hay gián tiếp thông qua kìm hãm sự chuyển hóa vitamin D. Chì gây độc cả cơ quan thần kinh trung ương lẫn thần kinh ngoại biên. Chì tác động lên hệ enzyme, đặc biệt là enzyme vận chuyển hiđro. Khi bị nhiễm độc, người bệnh bị một số rối loạn cơ thể, trong đó chủ yếu là rối loạn bộ phận tạo huyết (tủy xương) . Tùy theo mức độ nhiễm độc có thể gây ra những tai biến như đau bụng chì, đường viền đen Burton ở lợi, đau khớp, viêm thận, cao huyết áp vĩnh viễn, liệt, tai biến lão nếu nặng có thể gây tử vong. Tác dụng hóa sinh của chì chủ yếu gây ảnh hưởng đến tổng hợp máu, phá vỡ hồng cầu. Chì ức chế một số enzyme quan trọng trong quá trình tổng hợp máu do tích đọng các hợp chất trung gian của quá trình trao đổi chất. Chì kìm hãm quá trình sử dụng O2 và glucozo để sản xuất năng lượng cho quá trình sống. Sự kìm hãm này có thể nhận thấy khi nồng độ chì trong máu khoảng 0,3mg/l. Khi nồng độ chì trong máu lớn hơn 0,8mg/l có thể gây ra hiện tượng thiếu máu do thiếu hemoglobin. Nếu hàm lượng chì trong máu khoảng 0,5-0,8mg/l sẽ gây rối loạn chức năng của thận và phá hủy não. JECFA đã thiết lập giá trị tạm thời cho lượng chì đưa vào cơ thể có thể chịu đựng được đối với trẻ sơ sinh và thiếu nhi là 25mg/kg thể trọng. Hơn 90% lượng chì trong máu tồn tại trong hồng cầu. Dạng lớn nhất và tốc độ chậm là trong khung xương, chu kì bán hủy là 20năm, dạng không bền hơn nằm trong mô mềm. Tổng số tích lũy suốt đời của chì có thể từ 200mg-500mg. Chì trong hệ thần kinh trung ương có xu hướng tích lũy trong đại não và nhân tế bào. Trong nước nhiễm thủy ngân Thủy ngân vô cơ chủ yếu ảnh hưởng đến thận, trong khi đó methyl thủy ngân ảnh hưởng chính đến hệ thần kinh trung ương. Sau khi bị nhiễm độc người bệnh dễ cáu gắt, kích thích, xúc động, rối loạn tiêu hóa rối loạn thần kinh, viêm lợi, rung chân. Nếu bị nhiễm độc nặng có thể tử vong. Độc tính của thủy ngân tác dụng len nhóm sunfuahydryl (-SH) của hệ thống enzyme. Sự liên kết của thủy ngân với màng tế bào ngăn cản sự vận chuyển đường qua màng và cho phép dịch chuyển kali tới màng. Điều này dẫn đến sự thiếu hụt năng lượng trong tế bào và gây rối loạn thần kinh. Chính vì nguyên nhân này những trẻ sơ sinh nhiễm methyl thủy ngân từ mẹ sẽ bị tác động lên hệ thần kinh trung ương, mắc các bệnh như tâm thần phân liệt, kém phát triển trí tuệ, co giật. Nhiễm độc methyl thủy ngân còn dẫn tới phân lập thể nhiễm sắc, phá vỡ thể nhiễm sắc và ngăn cản sự phân chia tế bào. Trong môi trường nước, thủy sinh vật có thể hấp thụ thủy ngân vào cơ thể, đặc biệt là cá và các loài động vật không xương sống, cá hấp thụ thủy ngân và chuyển hóa thành methyl thủy ngân (CH3Hg+) rất độc với cơ thể người. Chất này hòa tan trong mỡ, phần chất béo của các màng và trong tủy. Trong nước nhiễm Asen Asen gây ra ba tác động chính tới sức khỏe con người là: làm đông keo protein, tạo phức với asen(III) và phá hủy quá trình phốt pho

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxKhảo sát tình hình ô nhiễm nguồn nước, xác định một số chỉ tiêu trong nước thải của quá trình sản xuất công nghiệp.docx