Khóa luận Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội

Nguồn nhân lực là yếu tố vô cùng quan trọng quyết định đến an toà n tín dụng, chất lượng dịch vụ và hình ảnh của Ngân hàng. Vì vậy Ngân hàng Quân Đội cần phải có các chính sách hợp lý nhằ m thu hút, đào tạo cán bộ thực hiện công tác tín dụng xuất nhập khẩu . Các chính sách này bao gồm các hoạt động sau:  Tiêu chuẩn hóa cán bộ làm công tác tín dụng Những cán bộ được chọn làm nghiệp vụ phải là những người có phẩ m chất đạo đức nghề nghiệp cao, trung thực, có trách nhiệm và tâm huyết với Ngân hàng. Cán bộ tín dụng xuất nhập khẩu phải có năng lực chuyên môn vững vàng, được đào tạo bồi dưỡng chu đáo về kiến thức chuyên môn, am hiểu thị trường, pháp luật trong nước và quốc tế, chuyên môn hóa trong thẩm định từng ngành, nghề và từng đối tượng khách hàng.

pdf125 trang | Chia sẻ: aquilety | Ngày: 27/03/2015 | Lượt xem: 1526 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khóa luận Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tạo điều kiện để người lao động phát huy hết tiềm năng cống hiến cho Ngân hàng. Phát triển mạng lưới và các kênh phân phối: Với mục tiêu trở thành một trong những Ngân hàng cổ phần hàng đầu ở Việt Nam trên mảng thị trường đã lựa chọn, Ngân hàng Quân Đội sẽ tiếp tục mở rộng mạng lưới hoạt động trên các đô thị lớn. Trong thời gian tới, mạng lưới và các kênh phân phối của Ngân hàng Quân Đội sẽ có mặt tại các thành phố lớn trên khắp cả nước như: Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà nẵng, Cần thơ, Bình Dương, Vũng Tàu, Quảng Ninh… Bên cạnh đó, các khách hàng có thể tiếp cận với dịch vụ của Ngân hàng tại bất cứ nơi nào qua hệ thống máy ATM của Ngân 92 hàng Quân Đội và các Ngân hàng thành viên trong hệ thống liên minh thẻ Vietcombank. Tầm nhìn đến năm 2010: Trở thành một Ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu tại Việt Nam trong mảng thị trường đã lựa chọn tại khu vực đô thị trọng điểm, tập trung vào: - Giữ vững và khai thác có hiệu quả mảng thị trường các doanh nghiệp truyền thống. - Phát triển một cách lựa chọn mảng thị trường các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs). - Tạo một thế mạnh trong mảng thị trường tiêu dùng. - Mở động hoạt động kinh doanh Treasury. - Phát triển mạnh hoạt động kinh doanh chứng khoán. 2. Định hướng phát triển hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu Để chuẩn bị những điều kiện cho sự hội nhập khu vực và quốc tế, tạo sức mạnh tổng hợp bản đảm năng lực cạnh tranh trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế trong những năm tới, Ngân hàng Quân Đội cần hoạch địch những mục tiêu phấn đấu cụ thể. Đối với hoạt động tín dụng: Giữ vững thị trường các khách hàng truyền thống, đặc biệt là các khách hàng có uy tín nhiều năm với Ngân hàng, đồng thời không ngừng mở rộng ra các đối tượng khách hàng khác thông qua đa dạng hoá các sản phẩm cho vay, tăng cường cho vay hợp vốn, đồng tài trợ, cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, quảng bá hình ảnh của Ngân hàng rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Từng bước tiến hành cơ cấu lại tài sản có với việc chú trọng đến mọi thành phần kinh tế làm ăn hiệu quả, vay trả sòng phẳng và có tài sản đảm bảo cho các khoản vay. Cụ thể là: - Thực hiện quan điểm kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận và tối đa hoá lợn nhuận kết hợp với thực hiện chính sách kinh tế xã hội để tạo 93 ra thế và lực trong kinh doanh. Đây là mục tiêu chính xuyên suốt quá trình hoạt động tín dụng. - Tiến hành phân loại dư nợ cho vay, phân tích chất lượng dư nợ cho vay đồng thời có biện pháp tháo gỡ khó khăn cho các đơn vị vay vốn, tạo ra năng lực sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, phấn đấu giảm thấp tỷ lệ nợ quá hạn và đảm bảo luôn ở mức dưới 2%. - Mở rộng đối tượng đầu tư, cho vay không phân biệt thành phần kinh tế trên cơ sở chọn lọc, lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo. Định hướng phát triển hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của Ngân hàng đến năm 2010 là: - Tăng trưởng tín dụng xuất nhập khẩu bình quân cả thời kỳ 2005- 2010 là 40-50%/năm, cơ cấu tín dụng trung và dài hạn đầu tư cho các dự án sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu đạt 25-30% trên tổng tín dụng xuất khẩu của Ngân hàng Quân Đội. - Phấn đấu đạt trình độ, tốc độ xử ngang hàng so với các ngân hàng thương mại trong nước và tiến tới đạt độ hơn hẳn cả về trang thiết bị và quy trình công nghệ. - Thu hút được toàn bộ ngoại tệ của khách hàng quan hệ tín dụng xuất nhập khẩu với Ngân hàng Quân Đội và từng bước thu hút được nguồn ngoại tệ vãng lai, bảo đảm khả năng cung ứng cho khách hàng nhập khẩu. - Tăng thị phần kinh doanh đối ngoại của Ngân hàng Quân Đội trên thị phần của toàn hệ thống ngân hàng thương mại. II. Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Quân Đội 1. Đa dạng hóa các hình thức tín dụng xuất nhập khẩu kết hợp với các chính sách ưu đãi 94 Trong nền kinh tế thị trường, Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển không thể chỉ dựa vào một hoặc một vài sản phẩm dịch vụ truyền thống mà phải luôn tạo ra những sản phẩm mới để phù hợp với nhu cầu, xu hướng phát triển chung của toàn xã hội. Đối với hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu, ngoài những hình thức có tính phổ thông mà Ngân hàng Quân Đội đang áp dụng như đã trình bày ở Chương II; tùy theo xu hướng biến động của lãi suất và tỷ giá ở thị trường trong và ngoài nước, Ngân hàng cần tìm hiểu, nghiên cứu và thiết lập cơ sở để triển khai áp dụng thêm các hình thức tài trợ khác nhằm đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng xuất nhập khẩu của mình (cho vay thấu chi, bao thanh toán...). Đa dạng hóa các loại hình tín dụng có nghĩa là vốn tín dụng ngân hàng phục vụ được nhiều đối tượng khách hàng với các nhu cầu khác nhau, tận dụng được nguồn vốn của mình để sinh lời và phân tán rủi ro. Sức hấp dẫn của Ngân hàng đối với khách hàng trong hoạt động kinh doanh đối ngoại được quyết định bởi tiện ích và lợi ích mà Ngân hàng mang lại cho họ. Do đó, đi đôi với việc đa dạng hóa các hình thức tín dụng, Ngân hàng Quân Đội cần kết hợp với các chính sách ưu đãi gắn liền với từng đối tượng khách hàng. Bên cạnh đó, Ngân hàng cũng có thể thực hiện một số biện pháp khác nhằm mở rộng các sản phẩm tín dụng xuất nhập khẩu dựa trên các hình thức cho vay đang được ứng dụng tại Ngân hàng:  Phối kết hợp các nghiệp vụ ngân hàng tạo thành một chu trình tài trợ khép kín. Để thực hiện việc này, Ngân hàng có thể quy định trong các quy chế của Ngân hàng về điều kiện nhận tín dụng. Ví dụ quy định chỉ cho vay thực hiện hợp đồng xuất khẩu nếu khách hàng cam kết tiến hành thanh toán qua Ngân hàng Quân Đội, quy định L/C hàng xuất chỉ có giá trị thanh toán, chiết khấu tại ngân hàng thông báo, ưu tiên mua bán ngoại tệ cho khách hàng thanh toán xuất nhập khẩu thường xuyên tại Ngân hàng Quân Đội... Nếu tạo được 95 một chu trình khép kín, Ngân hàng Quân Đội sẽ thu hút khách hàng trọn vẹn về phía mình. Tuy nhiên, Ngân hàng chỉ có thể thành công khi áp dụng giải pháp này nếu dành cho khách hàng của mình những lợi ích cụ thể. Ngân hàng nên đưa ra một số ưu đãi về tín dụng, đơn giản hóa các thủ tục Ngân hàng, hạ biểu phí dịch vụ, giảm thời gian thẩm định hồ sơ xin tài trợ, giảm thời gian kiểm tra xử lý các chứng từ... Ngoài ra Ngân hàng cần tư vấn, giúp đỡ các nhà xuất nhập khẩu trong khâu ký kết hợp đồng ngoại thương, lựa chọn các điều kiện thanh toán phù hợp với từng đối tác trên thị trường, giảm thiểu rủi ro và chi phí cho khách hàng. Dưới đây là một số giải pháp mà Ngân hàng Quân Đội có thể áp dụng:  Cùng các ngân hàng khác tìm kiếm và đồng tài trợ các dự án lớn Hiện nay do huy động nguồn vốn trung và dài hạn gặp nhiều khó khăn, bên cạnh đó là những hạn chế cho vay trung, dài hạn từ nguồn vốn ngắn hạn, nên Ban lãnh đạo Ngân hàng Quân Đội không mặn mà đối với các dự án lớn, thời gian dài. Thực hiện đồng tài trợ là một giải pháp hữu ích dành cho Ngân hàng, thể hiện qua các mặt sau: - Các ngân hàng cùng nhau xem xét, thẩm định dự án sẽ có những đánh giá chính xác và trung thực hơn về tính khả thi của dự án. - Mỗi ngân hàng có thể tập trung đầu tư vào một hạng mục trong tổng dự toán nên việc giám sát tiến độ thi công để cấp phát vốn đầu tư sẽ chặt chẽ và phù hợp hơn, giảm tình trạng vốn vay bị sử dụng sai mục đích. - Các ngân hàng tài trợ cùng chia sẻ rủi ro và lợi nhuận nên sẽ cố gắng nắm bắt và cung cấp cho nhau những thông tin về dự án đầu tư và tình hình thị trường một cách thường xuyên, kịp thời nhằm xây dựng những giải pháp tối ưu mang lại lợi ích cho cả hai phía ngân hàng và doanh nghiệp. 96 - Nhiều dự án mang tính khả thi cao nhưng do nhu cầu tài trợ lớn, một mình Ngân hàng Quân Đội không thể đáp ứng được. Vì vậy đồng tài trợ là giải pháp hữu hiệu giúp Ngân hàng không bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh mang lại hiệu quả cao. 2. Xây dựng và thực hiện tốt các chiến lược kinh doanh 2.1. Lựa chọn khách hàng mục tiêu và xây dựng chiến lược khách hàng cụ thể Ngân hàng cần thực hiện định kỳ chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng. Kết quả xếp hạng khách hàng là căn cứ để Ngân hàng định hướng đầu tư tín dụng, xác định hạn mức tín dụng, lựa chọn khách hàng mục tiêu và xây dựng chiến lược khách hàng cụ thể nhằm duy trì và thu hút khách hàng tốt, ít rủi ro. Một là: Xây dựng quy chế thu hút và chăm sóc khách hàng cho từng đối tượng khách hàng cụ thể, thường xuyên tìm hiểu và chủ động tìm đến khách hàng để nắm bắt tình hình và kịp thời đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Có chính sách khách hàng mềm dẻo đối với các doanh nghiệp nhập khẩu để củng cố và giữ vững khách hàng truyền thống, khai thác thêm mảng kinh doanh xuất khẩu của các công ty lớn, thu hút các khách hàng tiềm năng như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đẩy mạnh chính sách tìm kiếm khách hàng xuất khẩu bằng các biện pháp ưu đãi về lãi suất cho vay, miễn phí dịch vụ, nới lỏng điều kiện tín dụng. Mở rộng diện phục vụ tại chỗ tới các doanh nghiệp có nhu cầu thanh toán hàng xuất khẩu, giúp đơn vị lập bộ chứng từ hàng xuất và đòi tiền hiệu quả. Có cơ chế khuyến khích khách hàng xuất khẩu bán ngoại tệ cho Ngân hàng. Chú trọng khách hàng có nhu cầu đầu tư công nghệ cao, hiện đại để sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu nhằm thiết lập cơ sở cho vay lâu dài. Hai là: Thường xuyên tham khảo các chính sách ưu đãi của các tổ chức tín dụng khác trên địa bàn để có chính sách linh hoạt về lãi suất, biểu phí dịch vụ, tỷ giá hối đoái phù hợp với từng đối tượng khách hàng và mang tính cạnh 97 tranh cao. Có ưu đãi đối với các khách hàng mục tiêu, áp dụng mức phí thấp nhất cho từng nghiệp vụ để khuyến khích khách hàng thực hiện dịch vụ trọn gói của Ngân hàng. Ba là: Tăng cường công tác quảng cáo, tiếp thị không chỉ giới hạn ở bộ phận tiếp thị mà là giao nhiệm vụ đến tất cả các phòng. Trong từng thời kỳ, có kế hoạch cụ thể để tìm kiếm và tiếp cận với các khách hàng mới có tình hình tài chính lành mạnh để thiết lập quan hệ thanh toán và quan hệ tín dụng. Tổ chức quảng cáo giới thiệu về hình ảnh của Ngân hàng Quân Đội trong hoạt động thanh toán và tài trợ xuất nhập khẩu thông qua các Hiệp hội Ngân hàng, Hiệp hội Doanh nghiệp, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó có thể tổ chức các Hội nghị khách hàng để quảng bá hình ảnh của Ngân hàng Quân Đội, qua đó có thể lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của khách hàng, xây dựng hệ thống thăm dò ý kiến khách hàng… Bốn là: Hình thanh bộ phận môi giới và tư vấn cho khách hàng về nghiệp vụ thanh toán quốc tế và tín dụng xuất nhập khẩu của Ngân hàng. Bố trí các cán bộ tư vấn giỏi về nghiệp vụ, thông thạo các thủ tục và dịch vụ ngân hàng, có trình độ hiểu biết sâu rộng, đồng thời phải có kinh nghiệm, khả năng giao dịch tốt để phục vụ và tư vấn cho khách hàng. Có thể đưa cán bộ tư vấn đến tiếp thị trực tiếp tại doanh nghiệp hoặc tham gia cùng khách hàng trong việc soạn thảo, đàm phán, ký kết hợp đồng ngoại thương nhằm đạt được thỏa thuận có lợi nhất cho khách hàng. 2.2. Chiến lược giá và lãi suất hợp lý, cạnh tranh Thực hiện xây dựng mức giá cả hợp lý, cạnh tranh cho mọi đối tượng khách hàng, có chính sách giá ưu đãi cho các khách hàng truyền thống. Lãi suất cho vay xuất nhập khẩu được xác định trên cơ sở cung cầu vốn trên thị trường và đảm bảo thu hồi cả gốc lẫn lãi. Trên cơ sở lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố, Ngân hàng Quân Đội xác định lãi suất, phí dịch vụ theo hướng sau: 98 - Khung lãi suất, biểu phí dịch vụ linh hoạt, đủ sức cạnh tranh theo từng đối tượng khách hàng. Tại từng thời điểm có thể chấp nhận mức lãi suất, phí dịch vụ thấp trong ngắn hạn để thu hút thêm nhiều khách hàng. - Đối với khách hàng quan trọng, có quan hệ tín dụng nhiều lần và có uy tín được hưởng mức lãi suất ưu đãi, cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí. 2.3. Chiến lược huy động vốn lâu dài, thích hợp với từng loại khách hàng Muốn tăng được thị phần của mình trong hoạt động tín dụng, Ngân hàng Quân Đội cần phải có đủ vốn, nhất là vốn ngoại tệ và vốn trung dài hạn để cung ứng vốn cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu. Chính vì vậy Ngân hàng Quân Đội cần phải có một chiến lược huy động vốn lâu dài thông qua việc phân loại khách hàng để có chính sách huy động vốn phù hợp và có hiệu quả cao.  Đối với các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội Những khách hàng này mở tài khoản tiền gửi, tiền vay vừa bằng nội tệ, vừa bằng ngoại tệ tại Ngân hàng với mục đích chính là phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình một cách thuận lợi. Kênh huy động từ doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng bởi nguồn vốn này chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn huy động được. Để tăng cường huy động vốn từ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Ngân hàng Quân Đội cần thực hiện một số biện pháp như: Tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp xuất nhập khẩu sử dụng tiền gửi trên tài khoản một cách linh hoạt, đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ kịp thời để thanh toán cho doanh nghiệp. Ngân hàng dành cho doanh nghiệp những điều kiện phục vụ thuận lợi như về mức ký quỹ mở L/C, thực hiện biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài khoản tiền gửi, giảm chi phí trong giao dịch thanh toán… Bên cạnh đó Ngân hàng cần thực hiện các chính sách thu hút và giữ vững các doanh 99 nghiệp có mức tiền gửi lớn: ưu đãi phí, rút ngắn thời gian thực hiện các giao dịch, đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán và chi trả tiền mặt của khách hàng.  Đối với khu vực dân cư Đây là nguồn vốn mang tính ổn định và luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trên tổng nguồn vốn huy động được của Ngân hàng Quân Đội. Vì vậy Ngân hàng cần áp dụng các hình thức huy động vốn khác nhau để tiếp tục duy trì và nâng cao hiệu quả của kênh huy động vốn này. - Chính sách lãi suất tiền gửi hợp lý: nghĩa là một chính sách vừa đảm bảo khối lượng vốn huy động vừa đảm bảo mức chi phí huy động vốn không quá cao. Tuy nhiên tăng lãi suất tiền gửi hợp lý và linh hoạt trong từng thời kỳ để thu hút vốn không phải là một vấn đề đơn giản vì đây là chi phí đầu vào cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, nếu chi phí quá cao thì lợi nhuận sẽ giảm. Vì vậy Ngân hàng Quân Đội cần căn cứ vào nhu cầu về vốn trong từng thời kỳ mà đưa ra mức lãi suất huy động cho phù hợp, tránh tình trạng ứ đọng vốn trong Ngân hàng; đồng thời phải luôn theo dõi tình hình lãi suất của các ngân hàng thương mại khác để điều chỉnh lãi suất cạnh tranh với mặt bằng lãi suất trên thị trường. - Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt: Ngân hàng Quân Đội cần mở rộng các hình thức tài khoản cá nhân, mạnh dạn đưa vào áp dụng các hình thức thanh toán như séc, Visa Card, Master Card…. Mặc dù trước mắt có thể chưa tạo được nguồn thu nhập nhưng nó có ý nghĩa mở rộng dịch vụ Ngân hàng vừa đẩy mạnh việc thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi từ mọi tầng lớp dân cư vào quỹ Ngân hàng. - Phát hành trái phiếu ngân hàng để tăng huy động vốn trung và dài hạn: Với đặc tính có thể chuyển nhượng được, trái phiếu là một công cụ huy động vốn rất linh hoạt. Người nắm giữ trái phiếu khi cần thu hồi vốn có thể dễ dàng bán trái phiếu trên thị trường hay mang trái phiếu đến cầm cố vay vốn 100 tại Ngân hàng. Ngoài ra việc phát hành trái phiếu tạo điều kiện cho Ngân hàng đẩy mạnh hoạt động chứng khoán.  Đối với các tổ chức tài chính tín dụng: Ngân hàng Quân Đội cần tìm kiếm các đối tác để cho vay vốn, đồng tài trợ các dự án lớn để phân tán rủi ro và giải quyết các dự án lớn, đó là: các ngân hàng thương mại quốc doanh, các ngân hàng thương mại cổ phần, liên doanh và các công ty bảo hiểm... Đối với các tổ chức tài chính tín dụng nước ngoài, tuy Ngân hàng Quân Đội còn gặp nhiều khó khăn trong việc đặt quan hệ về huy động vốn do lãi suất cao và thủ tục phức tạp, nhưng ngay từ bây giờ, việc tìm hiểu các đối tác tiềm năng và các thủ tục pháp lý cần thiết là rất quan trọng. Với sự chuẩn bị đầy đủ, trong tương lai, Ngân hàng Quân Đội sẽ triển khai thành công hoạt động kinh doanh đối ngoại, thu hút được nhiều ngoại tệ từ các nguồn tài trợ, ủy thác đầu tư từ các Chính phủ, các tổ chức tín dụng quốc tế... qua đó có thể tăng cường các hoạt động đồng tài trợ, cho vay hợp vốn, tiếp nhận ủy thác, đầu tư tài chính trong lĩnh vực xuất nhập khẩu; đồng thời có thể trao đổi thông tin, học hỏi kinh nghiệm quản lý điều hành, mở rộng các hình thức đào tạo cán bộ làm công tác tín dụng xuất nhập khẩu.  Đầu tư phát triển dịch vụ kiều hối Hiện nay lượng kiều hối chuyển về Việt Nam hàng năm rất lớn, lên đến hàng tỷ USD, nhưng do chưa được quan tâm đúng mức nên lượng tiền thu hút vào Ngân hàng Quân Đội còn rất hạn chế. Đây là nguồn huy động ngoại tệ vừa dồi dào vừa ít tốn kém chi phí. Do vậy Ngân hàng Quân Đội cần đầu tư phát triển dịch vụ kiều hối bằng cách: - Tăng cường quảng cáo, hướng dẫn khách hàng có nhu cầu nhận tiền ở trong nước lựa chọn hình thức chuyển tiền phù hợp để thông tin cho người thân ở nước ngoài. Ngân hàng Quân Đội có thể xúc tiến xây dựng mạng lưới các Ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài để khách hàng lựa chọn. 101 - Đảm bảo tổ chức thanh toán nhanh chóng, thuận tiện, phí dịch vụ hợp lý dể khách hàng có thể bán cho Ngân hàng số ngoại tệ mà họ có được, tránh việc người dân sau khi nhận kiều hối lại mang ra thị trường tự do bán. Ngân hàng có thể xem xét việc ấn định tỷ giá mua ngoại tệ kiều hối cao hơn tỷ giá chính thức mà Ngân hàng công bố. 3. Xây dựng và hoàn thiện các biện pháp phòng ngừa, quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu 3.1. Nâng cao chất lượng thẩm định và đánh giá phương án kinh doanh xuất nhập khẩu Nâng cao chất lượng thẩm định và đánh giá các dự án sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu là một yêu cầu luôn được đặt ra trong công tác thẩm định để Ngân hàng có thể chủ động từ chối những dự án kém hiệu quả và mở rộng cho vay các dự án có hiệu quả. Trong công tác cho vay, 3 khâu tác nghiệp quan trọng mà nhân viên Ngân hàng cần thực hiện, đó là: kiểm soát trước, kiểm soát trong, kiểm soát sau khi cho vay. Trong đó, kiểm soát trước khi cho vay (thẩm định khách hàng và đánh giá phương án kinh doanh) là yêu cầu quan trọng nhất và nó quyết định đến chất lượng của khoản vay cũng như việc đảm bảo tín dụng của Ngân hàng. Trong công tác kiểm soát trước khi cho vay, cán bộ tín dụng Ngân hàng cần nghiên cứu chi tiết 6 khía cạnh của người vay (6C): - Một là tư cách người vay (Character): Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người vay xin vay vốn với mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn. Vì vậy cán bộ tín dụng buộc phải nắm vững được mục đích xin vay của khách hàng, thái độ trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay, trung thực và sự nỗ lực hoàn trả nợ khi đến hạn. Nếu có bất kỳ sự giả dối nào trong kế hoạch sử dụng vốn và trả nợ như đã thỏa thuận, Ngân hàng sẽ từ chối cho vay. 102 - Thứ hai là năng lực của người vay (Capacity): Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người đi vay có đủ năng lực hành vi và pháp lý khi ký kết hợp đồng tín dụng. Trường hợp là công ty vay vốn thì người đứng ra ký kết hợp đồng là người đại diện của công ty (ghi rõ trong điều lệ của công ty) hoặc người được ủy quyền phải đúng theo quy định của pháp luật. - Thứ ba là thu nhập tiền mặt của người vay (Cash): Tiêu chí này tập trung vào câu hỏi: Người vay có khả năng tạo ra tiền để trả nợ? Nhìn chung người vay có 3 khả năng tạo ra tiền: luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập; tiền bán từ thanh lý tài sản; tiền bán từ phát hành chứng khoán. Tuy nhiên cán bộ tín dụng cần xem xét ưu tiên khả năng thu hồi nợ từ nguồn thu thứ nhất, đây là nguồn thu đầu tiên và căn bản trả nợ Ngân hàng. Bên cạnh đó cán bộ tín dụng phải đánh giá luồng tiền của khách hàng thông qua: thu nhập hay doanh thu có mức tăng trưởng cao trong quá khứ hay không?, liệu mức tăng trưởng cao này có duy trì để đảm bảo trả nợ đầy đủ các gốc lẫn lãi cho Ngân hàng hay không? - Thứ tư là vật đảm bảo tiền vay (Collateral): Cán bộ tín dụng cần nhìn trước hết vào những nguồn lợi nhuận kinh doanh có thể có của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính của công ty cần bao hàm tất cả các khoản phải trả, cả thực tế lẫn đột xuất. Đồng thời, khoản tiền cho vay cần được đảm bảo bởi giá trị tài sản có chât lượng của công ty với các yếu tố như: tuổi thọ, điều kiện và mức độ chuyên dụng của tài sản này. Tình hình thực tế đảm bảo tiền vay tại Ngân hàng Quân Đội cho thấy Ngân hàng nên áp dụng một số biện pháp cụ thể sau: + Thực hiện phương án có tài sản đảm bảo trên mọi khoản vay, kể cả việc đảm bảo bằng các tài sản hình thành từ vốn vay, các quyền đòi nợ... + Chỉ nhận cầm cố, thế chấp tài sản có tính khả mại cao. 103 + Mặc dù không có quy định về tỷ lệ cho vay trên tài sản đảm bảo nhưng Ngân hàng nên áp dụng nhất quán thực hiện mức cho vay tối đa bằng 70% giá trị tài sản đảm bảo. + Các hợp đồng thế chấp và cầm cố nên được thực hiện đầy đủ ở các phòng công chứng Nhà nước để đảm bảo đầy đủ tính pháp lý và tiến hành đầy đủ việc đăng ký giao dịch bảo đảm. - Thứ năm là các điều kiện ảnh hưởng (Conditions): Cán bộ tín dụng và nhà phân tích tín dụng phải luôn thận trọng, tính đến tình huống xấu nhất có thể xảy ra; trong đó xác định và giải thích rõ những điều kiện kinh tế, tình hình, xu hướng của ngành ngân hàng và khả năng cạnh tranh dự kiến sẽ có tác động (cả tích cực lẫn tiêu cực) đến hoạt động của Ngân hàng cũng như doanh nghiệp xuất nhập khẩu. - Thứ sáu là kiểm soát (Control): Đối với các khoản vay lớn đặc biệt là tín dụng theo dự án xuất nhập khẩu, số vốn vay lên đến hàng chục đến hàng trăm tỷ đồng thì lúc đó tiêu thức Control là vô cùng cần thiết. Những khoản vay cần được kiểm tra một cách hết sức tỷ mỉ và sát sao: kiểm tra các hoá đơn đầu ra, đầu vào, tình hình sử dụng vốn, tiến độ dự án có đảm bảo ko ?,... Việc kiểm tra này phải diễn ra đều đặn và liên tục theo định kì. Ngân hàng có thể cử người tham gia vào ban điều hành hoặc kiểm soát của doanh nghiệp vay vốn, tuy không trực tiếp điều hành nhưng những người này luôn có mặt trong các cuộc họp quan trọng của doanh nghiệp, có vấn đề gì phát sinh sẽ báo lại với tổ chức tín dụng, sau đó sẽ có những góp ý hay những điều chỉnh cần thiết. Bên cạnh đó Ngân hàng cần ban hành và thực hiện nghiêm túc quy chế kiểm tra kiểm soát các hoạt động cho vay xuất nhập khẩu; đồng thời quan tâm đến kỹ thuật và nội dung của các phương thức thanh toán bởi nó hàm chứa nhiều rủi ro nếu yếu kém về nghiệp vụ và kiến thức luật. Đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra kiểm soát phải có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức chuyên môn về kinh doanh đối ngoại, tín dụng xuất nhập khẩu và luật quốc tế. 104 Một yếu tố quan trọng nữa trong công tác thẩm định tín dụng xuất nhập khẩu là thông tin về khách hàng và dự án xuất nhập khẩu và các bên tham gia thương vụ xuất nhập khẩu phải được thu thập và xử lý một cách tổng hợp đa chiều. Các nguồn tin rất đa dạng có thể lấy từ Bộ Thương mại, các Ngân hàng đại lý hay các cơ quan chuyên môn về thẩm định tài chính dự án... Bên cạnh đó Ngân hàng Quân Đội nên thành lập một “Trung tâm phòng ngừa rủi ro” chịu trách nhiệm thu thập, phân tích và xử lý thông tin về tình hình tài chính, uy tín của các khách hàng có quan hệ với Ngân hàng; có thể coi đây là một “thư viện sống” để tra cứu những thông tin quan trọng về các bên tham gia vào quá trình tài trợ của Ngân hàng. 3.2. Bảo hiểm tín dụng xuất nhập khẩu Khi tài trợ ngoại thương, đặc biệt là cho vay để xuất khẩu, Ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng mua bảo hiểm trong quá trình vận chuyển và giao nhận hàng hoá. Chính phủ các nước khi thực hiện chương trình phát triển xuất khẩu thường trợ giúp cho việc tài trợ ngoại thương bằng cách cung ứng tín dụng xuất nhập khẩu. Qua đó một phần hoặc toàn bộ giá trị khoản tài trợ ngân hàng được Chính phủ hoàn trả nếu xảy ra rủi ro tổn thất trong khuôn khổ được bảo hiểm. Vì vậy Ngân hàng có thể có các chính sách ưu đãi về thủ tục cũng như lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp để khuyến khích hoạt động mua bảo hiểm của họ. Điều này mang lại lợi ích cho cả đôi bên Ngân hàng và doanh nghiệp. 3.3. Các phương pháp phòng ngừa rủi ro khác  Phân loại nợ và tính lập dự phòng rủi ro: Để phòng ngừa và hạn chế rủi ro, Ngân hàng phải tổ chức thống kê, phân tích, phân loại nợ quá hạn một cách đầy đủ, chính xác. Việc làm này phải được thể chế hóa trong chế độ báo cáo, trở thành một nghiệp vụ thường xuyên hàng tháng, quý, năm của Ngân hàng. 105 Hiện nay Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành quy định số 493 về việc trích lập dự phòng rủi ro rất cụ thể cho từng loại nợ, Ngân hàng Quân Đội cần căn cứ vào quy định này để yêu cầu các chi nhánh thực hiện theo đúng quy định.  Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ Công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động tín dụng trong nội bộ cần phải được thực hiện thường xuyên và kịp thời, trở thành một trong những hoạt động cơ bản của công tác quản trị điều hành. Ngân hàng Quân Đội cần tiếp tục tăng cường và hoàn thiện công tác này theo hướng: - Phòng kiểm soát liên tục giám sát việc cân đối vốn sao cho kết thúc ngày làm việc, Ngân hàng luôn phải duy trì cho ngày làm việc tiếp theo tỷ lệ tối thiểu 1:1 giữa tài sản “có” có thể thanh toán ngay so với loại tài sản “nợ” phải thanh toán ngay. - Kiểm tra tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% giữa vốn có so với tài sản “có”, kể cả cam kết ngoại bảng, được điều chỉnh theo mức độ rủi ro. - Nhanh chóng thành lập phòng thẩm định tín dụng giúp lãnh đạo Ngân hàng với nhiệm vụ tái thẩm định lại các dự án, các phương án vượt mức phán quyết tại các chi nhánh. - Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát chứng từ, kiểm tra chéo trước khi giải ngân cho khách hàng vay vốn.  Nâng cao hiệu quả quản trị ngân quỹ ngoại hối Nhiều nghiệp vụ tài trợ ngoại thương được thanh toán bằng ngoại tệ và do vậy rủi ro về hối đoái sẽ tăng lên đối với cả Ngân hàng và khách hàng. Ngân hàng cần quản lý rủi ro này bằng cách đề ra các hạn mức về trạng thái ngoại hối hoặc sử dụng các công cụ hạn chế rủi ro như: Nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn, Swap, Option... Có thể nói quản trị ngân quỹ ngoại hối tốt chính là tạo hậu phương vững chắc chống đỡ những rủi ro hối đoái của Ngân hàng trong tài trợ ngoại thương. 106  Xếp hạng tín dụng quốc gia có quan hệ ngoại thương Đây là biện pháp thường được các ngân hàng quốc tế áp dụng, qua đó xác định được mức độ rủi ro kinh tế, chính trị, xã hội... của mỗi quốc gia và hạn mức tín dụng tối đa khi tài trợ giao dịch có liên quan đến quốc gia đó. Đối với các ngân hàng vừa và nhỏ, đặc biệt là ngân hàng ở các nước đang phát triển như Việt Nam, việc xếp hạng tín dụng quốc gia có quan hệ ngoại thương mật thiết với khách hàng bản xứ cũng là một biện pháp hết sức cần thiết trong nỗ lực hạn chế rủi ro tài trợ ngoại thương của ngân hàng. Vì vậy Ngân hàng Quân Đội có thể kết hợp với các ngân hàng thương mại khác trong nước, Châu Á và thế giới sắp xếp và phân loại tín dụng của một số quốc gia có quan hệ ngoại thương nhiều với Việt Nam. 4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và công nghệ ngân hàng phục vụ cho hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu 4.1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là yếu tố vô cùng quan trọng quyết định đến an toàn tín dụng, chất lượng dịch vụ và hình ảnh của Ngân hàng. Vì vậy Ngân hàng Quân Đội cần phải có các chính sách hợp lý nhằm thu hút, đào tạo cán bộ thực hiện công tác tín dụng xuất nhập khẩu . Các chính sách này bao gồm các hoạt động sau:  Tiêu chuẩn hóa cán bộ làm công tác tín dụng Những cán bộ được chọn làm nghiệp vụ phải là những người có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cao, trung thực, có trách nhiệm và tâm huyết với Ngân hàng. Cán bộ tín dụng xuất nhập khẩu phải có năng lực chuyên môn vững vàng, được đào tạo bồi dưỡng chu đáo về kiến thức chuyên môn, am hiểu thị trường, pháp luật trong nước và quốc tế, chuyên môn hóa trong thẩm định từng ngành, nghề và từng đối tượng khách hàng. 107 Đối với các cán bộ yếu kém về đạo đức và nghiệp vụ, cần thực hiện thuyên chuyển sang bộ phận công tác khác.  Thường xuyên hướng dẫn tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn Thường xuyên có các buổi báo cáo, sinh hoạt chuyên môn để có thể phổ biến các chế độ, thể lệ... của các ngành liên quan, của Ngân hàng; gắn lý luận chung với thực tiễn để cán bộ tín dụng có thể vận dụng khi thẩm định, giải quyết các khoản vay. Tăng cường đào tạo trong nước: Ngân hàng Quân Đội cần khuyền khích các cán bộ đi học sau đại học; tham gia các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, các cuộc hội thảo... để học tập nghiên cứu thêm về các kiến thức như pháp luật, ngoại ngữ, phân tích thị trường, chăm sóc khách hàng. Tăng cường đào tạo ở nước ngoài: Ngân hàng có thể phối kết hợp với các ngân hàng nước ngoài để cử các cán bộ chủ chốt tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài, chủ yếu tập trung vào các nghiệp vụ phục vụ cho công tác tín dụng xuất nhập khẩu. Mục tiêu cuối cùng của các hoạt động này là Ngân hàng Quân Đội có thể có được đội ngũ cán bộ tín dụng nắm vững các kỹ năng: - Kỹ năng phục vụ khách hàng: đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có những kiến thức nhất định về marketing để thu hút và phục vụ khách hàng chu đáo. Bên cạnh đó cán bộ tín dụng phải nắm vững nghiệp vụ ngân hàng khác để khi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, họ có thể thu hút và mở rộng cho vay. - Kỹ năng tìm hiểu và phân tích và tổng hợp thông tin: Kỹ năng tìm hiểu thông tin đòi hỏi khả năng thu thập và khai thác thông tin hữu ích; đồng thời phải có khả năng bảo mật các thông tin này để bảo vệ quyền lợi của Ngân hàng và khách hàng của mình; khắc phục một phần tình trạng thông tin mất cân xứng giữa Ngân hàng và khách hàng nhằm mở rộng tín dụng và hạn chế rủi ro. Kỹ năng phân tích thông tin đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có khả năng 108 phân tích, phát hiện và khai thác các khía cạnh khác nhau của các thông tin thu thập được để phục vụ cho nghiệp vụ của mình. Kỹ năng tổng hợp là kỹ năng hết sức quan trọng đối với cán bộ tín dụng. Trên các dữ liệu thu thập được, cán bộ tín dụng phải có khả năng tổng hợp được điểm mạnh, điểm yếu của khách hàng và quan điểm của mình trên từng đặc điểm đó. - Kỹ năng suy diễn: Trên những nhận định về khách hàng hiện tại, bằng phương pháp suy diễn trên cơ sở khoa học, cán bộ tín dụng đưa ra những nhận định trong tương lai; giúp họ mở rộng hay thu hẹp mức tín dụng đối với khách hàng của mình đang quản lý cho phù hợp với từng thời kỳ. - Kỹ năng đàm phán với khách hàng: đòi hỏi khả năng đàm phán thương lượng với khách hàng về các vấn đề có liên quan tới việc tuân thủ các điều khoản trong chế độ, thể lệ cho vay nhằm bảo vệ quyền lợi cho Ngân hàng. 4.2. Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng Trước sự phát triển không ngừng của tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, thì một trong những yếu tố quyết định thắng lợi là áp dụng các thành tựu mới của khoa học công nghệ và hoạt động ngân hàng. Công nghệ càng hiện đại, Ngân hàng càng có thể thu thập và xử lý thông tin một cách nhanh chóng, chính xác, tạo niềm tin nơi khách hàng đến giao dịch. Việc đầu tư, đổi mới công nghệ thanh toán là rất cần thiết và cấp bách hiện nay của Ngân hàng Quân Đội để mở rộng và hoàn thiện mạng lưới thanh toán quốc tế, rút ngắn tối đa thời gian thanh toán, an toàn và tiện ích, cạnh tranh được với các ngân hàng thương mại khác. - Thay đổi chương trình phần mềm thanh toán: mà biện pháp hiệu quả nhất là mua bản quyền các chương trình phần mềm thanh toán hiện đại của nước ngoài. Việc này giúp tận dụng được lợi thế của người đi sau, tiết kiệm được thời gian và chi phí. 109 - Đầu tư nâng cấp máy móc thiết bị, mạng cục bộ và hệ thống truyền thông. Ví dụ chuyển mạng cục bộ (LAN) của các chi nhánh có hoạt động thanh toán quốc tế lớn từ cấu hình BUS sang cấu hình STAR. Bên cạnh đó Ngân hàng có thể giao cho các trung tâm công nghệ thông tin khảo sát, tìm kiếm, đưa ra các giải pháp tối ưu nhằm giải quyết các vấn đề ách tắc mạng truyền thông thông tin trong toàn hệ thống, đảm bảo thông suốt trong quá trình làm việc. - Triển khai thiết kế các phần mềm tin học liên quan đến xuất nhập khẩu, nhằm phục vụ công tác báo cáo, thống kê, lưu trữ và xử lý thông tin, phân loại khách hàng. - Thực hiện nối mạng khách hàng nhằm đáp ứng yêu cầu thu thập thông tin cập nhật nhất về tình hình tài chính, tiền tệ thế giới cũng như các nhu cầu của khách hàng, nhằm phục vụ khách hàng nhanh nhất, chính xác nhất và hiệu quả nhất. III. Các kiến nghị với chính phủ và ngân hàng nhà nƣớc 1. Đối với Chính phủ 1.1. Đảm bảo môi trường pháp lý ổn định hiệu quả Góp phần đảm bảo hiệu quả vốn tín dụng ngân hàng cấp cho nền kinh tế, môi trường kinh tế không ổn định sẽ gây cản trở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, giảm hiệu quả sử dụng vốn vay ngân hàng, và do đó dẫn đến khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc trả nợ ngân hàng. Chính sách và cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của Chính phủ và Nhà nước đang trong quá trình điều chỉnh, đổi mới và hoàn thiện. Trong đó các chính sách về thuế chưa hợp lý, thường xuyên thay đổi dẫn đến việc các doanh nghiệp chuyển hướng và điều chỉnh phương án sản xuất kinh doanh không theo kịp với sự thay đổi của cơ chế và chính sách kinh tế vĩ mô. Vì vậy Chính phủ cần hoạch định chính sách dài hạn về định hướng phát triển, chính sách về giá cả, chính sách về thuế, về ưu đãi đầu tư phát triển... ; đồng thời phải có 110 các biện pháp phù hợp nhằm đảm bảo một môi trường kinh tế ổn định cho hoạt động của các doanh nghiệp. Chính phủ cũng nên có những giải pháp thiết thực tháo gỡ những khó khăn gây ra trong khi có sự chuyển đổi, điều chỉnh cơ chế, chính sách liên quan đến toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Bên cạnh đó, Chính phủ phải đưa ra các biện pháp hữu hiệu nhằm tăng cường hiệu lực của chính sách thuế, chính sách chống và ngăn chặn hàng lậu... để đảm bảo tác dụng tích cực của các chính sách này; tiếp tục đổi mới, sắp xếp lại khu vực kinh tế quốc doanh, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp quốc doanh... Về hoạt động xuất nhập khẩu: Chính phủ cần có chính sách khuyến khích và kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu. Để thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, tạo điều kiện cho công tác thanh toán quốc tế, Chính phủ phải tăng cường hiệu lực các văn bản và thủ tục xuất nhập khẩu, phải có quy chế bắt buộc các doanh nghiệp khi đủ điều kiện về tài chính, trình độ quản lý, khả năng xuất nhập khẩu, khả năng cạnh tranh... thì mới được cấp giấy phép xuất nhập khẩu trực tiếp. Thực tế cho thấy năng lực tài chính của các doanh nghiệp nước ta hiện nay còn quá kém, hoạt động kinh doanh chủ yếu bầng vốn vay ngân hàng. Nếu kinh doanh thua lỗ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng và uy tín của ngân hàng. Vì vậy trước mắt Nhà nước và các Bộ, ngành liên quan cần tập trung rà soát lại các đơn vị, tổ chức kinh tế không đủ điều kiện xuất nhập khẩu trực tiếp thì phải chuyển sang ủy thác xuất nhập khẩu, tránh rủi ro cho các bên tham gia. Chính phủ cần tăng cường công tác kiểm soát lĩnh vực hoạt động ngoại thương và ngoại hối để kịp thời ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động kinh tế “ngầm” như buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế, rửa tiền... 1.2. Tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng Để thực hiện được điều này, Chính phủ cần có những giải pháp như: - Tăng cường các biện pháp quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp: 111 Với cơ chế mở, hiện nay thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đang phát triển một cách nhanh chóng. Mặc dù thành phần kinh tế này đã tham gia và đóng góp đáng kể vào GDP song Chính phủ và Nhà nước chưa có một chế tài nào đủ mạnh để tiến hành quản lý hoạt động kinh doanh của họ. Đặc biệt là các loại hình doanh nghiệp cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn được cấp phép hoạt động một cách khá dễ dàng, không có sự kiểm soát tính chân thực. Ví dụ như các báo cáo tài chính không có kiểm chứng hay nói cách khác là không có tính minh bạch. Đa phần các doanh nghiệp tư nhân, trách nhiệm hữu hạn... thường khai thấp lợi nhuận thu được để trốn thuế. Chính vì vậy Chính phủ cần phải có biện pháp hữu hiệu buộc các doanh nghiệp phải chấp hành Luật kế toán, chế độ kiểm toán bắt buộc nhằm đảm bảo thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh, tài chính được phản ánh một cách đầy đủ, chính xác: Tăng cường công tác giám sát, công tác thông tin báo cáo, chế độ hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp, bảo đảm tuân thủ nghiêm túc pháp lệnh kế toán thống kê; tách bạch chức năng quản lý, giám sát của một số cơ quan nhà nước với chức năng kinh doanh, tránh tình trạng làm giảm hiệu lực quản lý của Nhà nước. Trên cơ sở đó các ngân hàng mới đánh giá chính xác tình hình doanh nghiệp đồng thời đảm bảo được an toàn vốn vay của ngân hàng. - Sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước và tăng vốn tự có cho các doanh nghiệp này: Với tình hình thực tế hiện nay, các doanh nghiệp Nhà nước nói chung và doanh nghiệp quốc phòng làm kinh tế nói riêng đều kinh doanh trên mức vốn tự có rất thấp do Nhà nước cấp. Do đó nguồn vốn hoạt động kinh doanh chủ yếu của các doanh nghiệp là vay vốn từ ngân hàng. Điều này sẽ làm giảm lợi nhuận, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước và rất dễ gây mất cân đối tài chính, gây ra rủi ro cho ngân hàng. Để khắc phục điều này, Chính phủ và Nhà nước cần nhanh chóng sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước và có kế hoạch tăng vốn để giữ vững vai trò chủ đạo của thành 112 phần kinh tế Nhà nước. Các doanh nghiệp còn lại sẽ tiến hành cổ phần hóa để thu hút nguồn vốn tự có. Ngoài ra, Nhà nước cần cho phép các doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả được huy động vốn từ các hình thức như phát hành trái phiếu, vừa tăng vốn cho doanh nghiệp vừa tạo hàng hoá cho thị trường chứng khoán. 1.3. Hỗ trợ và khuyến khích hoạt động xuất nhập khẩu  Đối với hoạt động xuất khẩu - Chính phủ cần đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, đặc biệt là xúc tiến quan hệ thương mại đối với những thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, Liên minh EU và các nước trong khu vực. - Tổ chức tốt công tác điều tra, nghiên cứu nhu cầu thị trường nước ngoài để có chính sách cải thiện các mặt hàng xuất khẩu cho phù hợp với từng thị trường cụ thể; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp cải thiện công nghệ, hiện đại hóa dây truyền sản xuấ đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước. - Có chính sách khuyến khích, hỗ trợ xuất khẩu các mặt hàng là thế mạnh của Việt Nam như nông sản, thủy hải sản... tạo điều kiện giảm giá thành sản xuất cho các doanh nghiệp. - Hỗ trợ và gia tăng đối với bảo hiểm xuất khẩu. - Có các biện pháp bảo vệ các nhà xuất khẩu Việt Nam đương đầu với các sức ép từ các Chính phủ, thị trường và doanh nghiệp nước ngoài như các vụ kiện tụng... để tránh cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam khỏi sự hoang mang, bị động.  Đối với hoạt động nhập khẩu - Cần có các chính sách bảo hộ nền sản xuất trong nước thông qua việc cấp giấy phép nhập khẩu, quản lý bằng hạn ngạch và công cụ thuế nhằm hạn chế nhập khẩu những hàng hoá mà trong nước đã có đủ khả năng sản xuất. 113 - Cần có các chính sách hợp lý cho phép nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu như công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại... làm gia tăng năng lực sản xuất hàng hoá trong nước, góp phần phục vụ xuất khẩu. 1.4. Huy động các nguồn vốn quốc tế phục vụ cho hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu Trong việc huy động vốn, chúng ta luôn chủ trương phải phát huy yếu tố nội lực, khai thác mọi tiềm năng về vốn trong nước. Bên cạnh đó, để bổ sung cho nguồn vốn trong nước hiện chưa đáp ứng đủ nhu cầu vốn lớn cho hoạt động xuất nhập khẩu, việc thu hút vốn từ nước ngoài là hết sức cần thiết. Chính phủ có thể thu hút nguồn vốn quốc tề từ các nguồn: - Tín dụng nhà nước được ký kết bằng các hiệp định giữa các Chính phủ - Tn dụng từ các tổ chức cho vay dành cho Chính phủ các nước như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)... trong đó các tổ chức này dành cho nước hội viên những điều kiện ưu đãi theo quy định trong quy chế của tổ chức. Trong điều kiện hiện nay, nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế cũng như từ Chính phủ các nước đang có xu hướng giảm đi, trong khi số nước nghèo có nhu cầu nhận viện trợ lại tăng lên. Vì vậy Chính phủ cần có các biện pháp hữu hiệu nhằm tăng khả năng thu hút vốn từ bên ngoài như ổn định kinh tế chính trị xã hội. Bên cạnh đó Chính phủ cũng cần quan tâm tới việc thực hiện các nguồn vốn hỗ trợ sao cho có hiệu quả vì dù tiếp cận nguồn vốn này với những điều kiện ưu đãi nhưng đây vẫn là nguồn vốn vay và ta phải có nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. 2. Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2.1. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà Nước (CIC) 114 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần phát huy hiệu quả vai trò điều phối của Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) thông qua một số biện pháp: quy định các ngân hàng thương mại cung cấp thông tin về khách hàng lớn, các khách hàng có khả năng rủi ro cao. Trung tâm CIC nên có các văn bản thỏa thuận để thu thập thông tin từ các bộ, ngành như Trung tâm thông tin của Tổng cục Thống kê, Tổng cục Thuế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học – công nghệ và Môi trường, Bộ Thương mại…; đồng thời mở rộng thu thập thông tin từ nước ngoài, từ một số cơ quan thông tin tín dụng quốc tế lớn như Hiệp hội thông tin tín dụng Châu Á, Diễn đàn thông tin tín dụng ASEAN, các tổ chức tài chính, ngân hàng trong khu vực… Bên cạnh CIC, Ngân hàng Nhà nước cần nghiên cứu tổ chức trung tâm cho phép các tổ chức tín dụng có thể khai thác thông tin về tài khoản và giao dịch tài khoản của khách hàng tại tất cả các tổ chức tín dụng; đồng thời cho phép các tổ chức tín dụng có quyền khấu trừ tài khoản của khách hàng tại bất cứ tổ chức tín dụng nào để thanh toán nợ vay đến hạn mà không trả được. 2.2. Ban hành hướng dẫn phân loại nợ, xử lý các khoản nợ xấu, nợ quá hạn gần với tiêu chuẩn quốc tế Ngày 22/4/2005, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Quyết định số 493/2005/QĐ- NHNN làm cơ sở cho các ngân hàng thương mại trích lập quỹ dự phòng rủi ro. Đây là một bước phát triển mới nhằm nâng cao sự an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Tuy nhiên, bản thân văn bản này vẫn có những bất cập cần sửa đổi. Theo quy định này, dư nợ cho vay của ngân hàng được chia làm 5 nhóm, ngoài nhóm 1 thì 4 nhóm còn lại đều phải tính toán đề trích lập dự phòng rủi ro. Trong đó một khoản tiền vay để quá hạn tạm thời (dưới 3 tháng) sẽ tốt hơn phải gia hạn nợ vì đối với gia hạn nợ sẽ còn phải chịu thử thách thêm 3 tháng (đối với vay ngắn hạn), 12 tháng (đối với vay dài hạn) kể từ ngày trả nợ khoản vay đó mới được chuyển vào trong hạn và không phải trích lập dự phòng rủi ro. Như vậy, vô hình chung, quy định này đã đẩy các ngân hàng 115 “vô tư” cho nợ quá hạn tạm thời, làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng. Vì vậy kiến nghị Ngân hàng Nhà nước xem xét, quy định lại mức trích lập dự phòng rủi ro cũng như phân loại nợ vay, bảo lãnh để các ngân hàng thương mại có cơ sở thực hiện việc trích lập dự phòng rủi ro theo đúng chế độ. Mặt khác, mặc dù quy định phân loại nợ tại Quyết định 493 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã phù hợp thông lệ quốc tế, nhưng thực tế vẫn có sự cách biệt nhất định và tiếp theo đó việc thực hiện của các ngân hàng thương mại trong đánh giá khách hàng, phân loại nợ,... vẫn có khoảng cách nhất định so với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới bởi đánh giá nợ của chuẩn quốc tề là khắt khe hơn nhiều so với quy định của Việt Nam. Chẳng hạn, Ngân hàng Nhà nước quy định: nợ cần theo dõi (loại 2) là nợ quá hạn dưới 90 ngày thì tiêu chuẩn quốc tế là 1-60 ngày; nợ không đạt tiêu chuẩn (loại 3) là nợ quá hạn từ 90-180 ngày thì chuẩn quốc tế là 60-90 ngày, nợ bị mất vốn (loại 5) là các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày trong khi chuẩn quốc tế là trên 180 ngày. Trong xu thế hội nhập và khi Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO cũng như các tổ chức thương mại quốc tế khác, việc tiến gần tới các quy định mang tính quốc tế là cấp thiết và phải làm ngay, kịp thời hơn nữa. KẾT LUẬN Tín dụng xuất nhập khẩu tuy là phạm trù không mới, song với xu thế mới và sự biến đổi không ngừng của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong khu vực và thế giới, vị thế của tín dụng xuất nhập khẩu không chỉ dừng lại ở thị phần của nó mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát huy lợi thế so sánh, đổi mới công nghệ, kỹ thuật của sản xuất, làm tiền đề vật chất cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước. Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, trong đó có Ngân hàng Thương mại Cổ phần 116 Quân Đội đã đóng vai trò to lớn với vị trí là cầu nối huy động vốn phục vụ cho quá trình luân chuyển hàng hóa, tiền tệ thế giới. Để phát huy hơn nữa vai trò của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội trong lĩnh vực tài trợ xuất nhập khẩu cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực thanh toán quốc tế, củng cố uy tín của Ngân hàng trên thị trường trong nước và thế giới; vấn đề đặt ra là phải tìm ra một hệ thống giải pháp cấp bách, mang tính khả thi cao nhằm phát triển hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đã hoàn thành được những nhiệm vụ chính sau: 1. Tổng hợp các lý luận tổng quan về hoạt động của ngân hàng thương mại nói chung và tín dụng xuất nhập khẩu nói riêng. Chỉ ra được các khái niệm, vai trò, chức năng, đặc điểm của hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu, từ đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu; đồng thời đưa ra những bài học kinh nghiệm về thành công và thất bại của một số nước trên thế giới trong hoạt động này. 2. Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Quân Đội qua các năm 2005-2007, qua đó rút ra được những tồn tại, hạn chế và phân tích được những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó. 3. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị ở tầm vi mô và vĩ mô nhằm phát triển hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu ở Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội nói riêng và hệ thống các ngân hàng thương mại ở Việt Nam nói chung. Với những vấn đề đạt được nêu trên, luận văn mong muốn đóng góp một phần vào sự tăng trưởng tín dụng xuất nhập khẩu, đa dạng hóa và phát triển các hình thức tín dụng xuất nhập khẩu ở Ngân hàng Quân Đội. Tuy nhiên, do hạn chế trong nhận thức và kinh nghiệm của người viết nên trong luận văn chưa đề cập được toàn diện các vấn đề về tín dụng xuất nhập khẩu cũng như không thể tránh khỏi những sai sót. Tác giả rất mong muốn nhận 117 được sự giúp đỡ và đóng góp quý báu của các thầy cô giáo để có thể bổ sung, hoàn thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng khoa học của luận văn. 118 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội (2005-2007), Báo cáo thường niên. 2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội (2005-2007), Báo cáo thu nhập – chi phí 3. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội (2005-2007), Báo cáo tín dụng. 4. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội (2005-2007), Báo cáo tổng kết. 5. PGS.TS Lê Văn Tề (2004), Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội. 6. TS. Nguyễn Văn Tiến (2002), Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, NXB Thống Kê, Hà Nội. 7. GS. Đinh Xuân Trình (2005), Giáo trình Thanh toán quốc tế trong ngoại thương, NXB Lao Động Xã Hội, Hà Nội. 8. PGS.TS Lê Văn Tư, Lê Tùng Vân (1999), Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ, NXB Thống Kê, Hà Nội. 9. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (2005), Quyết định số 493/2005/QĐ- NHNN. 10. Website chính thức của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội, Link: 119 DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG BIỂU Danh mục bảng Bảng 2.1. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động ...................................... 47 Bảng 2.2. Tốc độ tăng trưởng cho vay .......................................................... 49 Bảng 2.3. Tình hình cho vay – thu nợ ........................................................... 50 Bảng 2.4. Kết quả kinh doanh của Ngân hàng Quân Đội .............................. 57 Bảng 2.5. Biến động của hoạt động cho vay xuất nhập khẩu ........................ 62 Bảng 2.6. Biến động cho vay ngắn hạn đối với hoạt động xuất nhập khẩu ... 63 Bảng 2.7. Cơ cấu cho vay ngắn hạn đối với hoạt động xuất nhập khẩu......... 64 Bảng 2.8. Biến động cho vay trung dài hạn đối với hoạt động xuất nhập khẩu ..................................................................................................................... 65 Bảng 2.9. Cho vay xuất khẩu trực tiếp và tỷ trọng ........................................ 67 Bảng 2.10. Dư nợ cho vay xuất khẩu trực tiếp theo thời hạn ........................ 68 Bảng 2.11. Biến động cho vay bằng chiết khấu ............................................ 70 Bảng 2.12. Cho vay nhập khẩu trực tiếp và tỷ trọng ..................................... 71 Bảng 2.13. Doanh số cam kết thanh toán L/C ............................................... 72 Bảng 2.14. Điều tra trình độ cán bộ tín dụng xuất nhập khẩu và thanh toán quốc tế tại các chi nhánh Ngân hàng Quân Đội năm 2007 ............................ 85 Danh mục hình, biểu: H×nh 2.1. C¬ cÊu tæ chøc cña Ng©n hµng Th-¬ng m¹i Cæ phÇn Qu©n §éi .... 45 BiÓu 2.1. Tèc ®é t¨ng tr-ëng doanh sè thanh to¸n xuÊt nhËp khÈu ................ 53 BiÓu 2.2. Tèc ®é t¨ng tr-ëng ph¸t hµnh L/C ................................................ 54

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf4050_6946.pdf
Luận văn liên quan