Khóa luận Hiệu quả kinh tế nuôi tôm ở xã Vinh Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

Tăng cường đầu tư các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng các vùng nuôi tôm cao triều, chủ yếu tập trung một số hạng mục như: Kênh cấp nước, ao lắng, ao xử lý nước thải, trạm bơm, hệ thống điện cho các vùng có quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. - Nhà nước cần có chính sách đầu tư cơ sở hậu cần phục vụ nghề NTTS như dịch vụ chế biến, tiêu thụ sản phẩm, ổn định giá cả thúc đẩy nghề NTTS phát triển. * Đối với địa phương: - Đề nghị có chính sách hổ trợ giá giống, nhất là nguồn giống nuôi đối với diện tích chuyển đổi, tăng cường quản lý sản xuất giống trên địa bàn, kiểm soát chặt chẻ chất lượng giống các tỉnh nhập về, kiểm tra chất lượng thức ăn công nghiệp, hóa chất thuốc phòng trị bệnh nhằm hạn chế hàng hoá không đảm bảo chất lượng để ngư dân yên tâm đầu tư sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao. - Tiến hành xử lý đối với các hộ không chấp hành theo sự chỉ đạo của UBND, BCĐ, các tổ thả tôm trước thời vụ, không thực hiện cải tạo ao hồ trước khi thả tôm vào ương, nuôi, không chịu mua thuốc xử lý khi hồ mình bị dịch bệnh, không chấp hành đầy đủ nôi quy, quy chế vùng nuôi. - Đề nghị chính quyền địa phương quan tâm hơn nữa công tác chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ mở nhiều lớp tập huấn cho các hộ nuôi trồng ở địa phương. Nghiên cứu các vùng nuôi tìm ra các đối tượng nuôi phù hợp, tổ chức thực hiện nhiều mô hình nuôi thí điểm tại địa phương nhằm giúp địa thực hiện chuyển đổi mô hình nuôi trong thời gian đến đạt nhiều kết quả hơn. - Có chính sách hổ trợ giá giống cho các hộ ương để gắn trách nhiệm, quyền lợi cho các hộ tham gia nuôi trống thuỷ sản. Sớm ban hành chính sách hổ trợ cho các hộ dân nuôi trồng bị thiệt hại do dịch bệnh xảy ra. - Để tạo điều kiện cho nhân dân chủ động trong việc kiểm tra, kiểm dịch tôm nuôi, có chính sách hổ trợ chi phí chạy mẫu kiểm tra máy PCR. Trường Đại học Kinh tế

pdf64 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 03/08/2017 | Lượt xem: 707 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Hiệu quả kinh tế nuôi tôm ở xã Vinh Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ao hồ, KHKT. Những chi phí này được thể hiện qua bảng sau: Bảng 10: Chi phí đầu tư cơ bản năm 2011 của các hộ điều tra Chỉ tiêu ĐVT Tổng BQC QCCT BTC 1. Tổng số hộ điều tra Hộ 50 30 20 2. DT nuôi tôm BQ 1 hộ Ha 0,72 0,88 0,49 3. Vốn XDCB BQ 1 hộ Trđ/hộ 31,54 26,80 38,65 4. Vốn XDBQ 1 ha Trđ/ha 41,80 30,45 79,71 5. MMTB BQ 1 hộ Trđ/hộ 13,88 11,82 16,98 6. MMTB BQ 1 ha Trđ/ha 18,40 13,43 35,01 ( Nguồn: Số liệu điều tra) Trong nuôi tôm diện tích mặt nước là đầu vào không thể thay thế được, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nghề nuôi tôm. Với diện tích bình quân chung của các hộ điều tra là 0,72 ha/hộ, đây là một lợi thế để phát triển nghề nuôi tôm. Trong đó hình thức nuôi QCCT là 0,88 ha/hộ, BTC là 0,49 ha/hộ. Sự chênh lệch diện tích giữa hai hình thức là do đặc điểm nuôi của hình thức QCCT là lợi dụng điều kiện tự nhiên về diện tích lẫn nguồn thức ăn. Và đa số diện tích các hồ nuôi theo hình thức QCCT là nằm ở những vùng thấp triều, do đó chiếm diện tích mặt nước lớn hơn hình thức nuôi BTC. Tuy nhiên chiếm ưu thế về diện tích mặt nước nhưng mức độ đầu tư XDCB của các hộ nuôi QCCT lại thấp hơn so với các hộ nuôi BTC. Cụ thể: Các hộ nuôi QCCT Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 28 vốn XDCB bình quân 1 hộ là 26,80 tr.đ, thấp hơn các hộ nuôi BTC với vốn XDCB bình quân 1 hộ là 38,65 tr.đ. Bên cạnh đó vốn XDCB BQ 1 ha của các hộ QCCT là 30,45 tr.đ thấp hơn vốn XDCB bình quân 1 ha của các hộ BTC là 79,71 tr.đ. Sự chênh lệch này là điều tất nhiên vì hình thức nuôi BTC đòi hỏi ao hồ phải được xây dựng đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, việc chú trọng đầu tư XDCB giúp ao hồ kiên cố, tránh hiện tượng sụt lở đất và các nguồn gây bệnh xâm nhập vào ao nuôi. Bên cạnh đó việc chú trọng về đầu tư MMTB của các hộ QCCT cũng thấp hơn các hộ BTC. Cụ thể là MMTB bình quân 1 hộ QCCT là 11,82tr.đ, các hộ BTC là 16,98 tr.đ/hộ. Tương ứng MMTB bình quân 1 ha của các hộ QCCT là 13,43 tr.đ cũng thấp hơn MMTB 1 ha của các hộ nuôi BTC là 35,01 tr.đ. Do QCCT là hình thức nuôi đơn giản, với ao nuôi chỉ cần một máy bơm nước, và một số ngư cụ khác như ghe, nò sáo, lừ Hình thức nuôi BTC ngoài những ngư cụ trên bắt buộc phải có ngoài ra còn đòi hỏi phải có máy sục khí, bên cạnh đó hình thức nuôi BTC còn đầu tư một số ao chuyên dự trữ nước để đưa vào ao nuôi và xử lý nước trước khi thải ra ngoài. Như vậy mức đầu tư về XDCB và MMTB của các hộ nuôi tôm là tương đối lớn, đó là chưa kể một khoản vốn lưu động khá cao mà các hộ phải bỏ ra như chi phí về giống, tu bổ ao hồ, thuê lao động, thức ăn Lượng vốn này vượt ra ngoài khả năng kinh tế của các hộ nuôi. Do đó để tiến hành sản xuất nhiều hộ phải đi vay mượn từ các nguồn như ngân hàng, người thân 2.2.2 CHI PHÍ ĐẦU TƯ NUÔI TÔM NĂM 2011 CÁC HỘ ĐIỀU TRA Trong sản xuất nông nghiệp, NTTS là một trong những nghành đòi hỏi mức độ đầu tư vốn lớn, là nghành sản xuất mang tính rủi ro cao. Do đó nếu thành công sẽ đem lại mức thu nhập cao góp phần cải thiện đời sống của các hộ nuôi, còn nếu thất bại đó là một khoản nợ khó có thể trả. Để nắm được mức độ đầu tư của các hộ nuôi tôm chúng ta xem xét bảng 11: Đối với 1 ha nuôi tôm thì tổng chi phí sản xuất của các hộ nuôi QCCT là 64,31 tr.đ, BTC là 119,35 tr.đ cao hơn các hộ QCCT là 55,04 tr.đ . Nguyên nhân là do BTC là hình thức sản xuất cao hơn, đòi hỏi mức đầu tư cao hơn trên một đơn vị diện tích. Chi phí trung gian là một bộ phận cấu thành của tổng chi phí, chiếm tỷ trọng cao nhất. Tỷ lệ này là 76,37% đối với QCCT và 78,15% đối với BTC. Xét về mặt giá trị, hình Trư ờ g Đạ i họ Kin h tế Hu ế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 29 thức BTC phải đầu tư 93,28 tr.đ/ha, cao gấp 190% so với 49,11 tr.đ/ha của hình thức QCCT. Trong chi phí trung gian, giống là yếu tố đầu vào quan trọng quyết định sự thành bại của nghề nuôi tôm. Trong những năm qua nghề nuôi tôm ở Thừa Thiên Huế nói chung và ở Vinh Hà nói riêng gặp nhiều thất bại phần lớn là do nguồn giống không đảm bảo, chưa qua kiểm dịch cộng thêm nguồn nước ô nhiễm dẫn đến dịch bệnh và lây lan trên diện rộng. Do đó con giống khỏe mạnh, sạch bệnh là tiền đề cho một kết quả khả quan. Đối với các hộ điều tra bình quân 1 ha, các hộ QCCT đã chi 9,54 tr.đ/ha chiếm 19,43% chi phí trung gian, còn đối với các hộ BTC họ đầu tư 16,91 tr.đ/ha chiếm 18,13% chi phí trung gian. Chi phí đầu tư về con giống của hình thức BTC là cao hơn 7,37 tr.đ/ha so với hình thức QCCT do mật độ thả của hình thức BTC cao hơn, mặt khác con giống được đầu tư kỹ lưỡng, nguồn gốc rõ ràng, đã qua kiểm dịch. Theo điều tra cho thấy các hộ nuôi BTC thường mua giống tại các chủ trại thị trấn Thuận An, Phú Nhuận nguồn giống ở đây giá cả có cao hơn nhưng chất lượng đảm bảo. Còn đối với các hộ QQCT họ thường mua giống tại Đà Nẵng, tuy giá cả có rẻ hơn nhưng nguồn giống thường kém chất lượng. Chi phí thức ăn là chi phí chiếm tỷ trọng cao nhất trong tất cả các loại chi phí. Thức ăn tác động đến quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm cũng như ảnh hưởng lớn đến môi trường ao nuôi. Đối với hình thức QCCT chi phí này chiếm 61,05% chi phí trung gian, tương ứng với 29,98 tr.đ/ha, còn hình thức BTC chi phí này chiếm 60,40%, tương ứng với 56,34 tr.đ/ha. Ở mỗi hình thức nuôi có sự đầu tư khác nhau đối với mỗi loại thức ăn. Đối với hình thức nuôi QCCT là hình thức nuôi chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên cho nên thức ăn tươi chiếm tỷ trọng khá cao 13,59% chi phí thức ăn (4,07 trđ/ha), thức ăn công nghiệp chiếm chiếm 86,41% chi phí thức ăn (25,91 tr.đ/ha). Đối với nuôi BTC thì đây là một hình nuôi công nghiệp do đó hạn chế việc sử dụng thức ăn tươi mà chủ yếu thức ăn công nghiệp. Do đây là nguồn thức ăn tổng hợp cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho tôm, lại tránh được các mầm bệnh thường có trong thức ăn tươi; thức ăn công nghiệp còn bổ sung được các gia vị kích thích và thu hút tôm đến ăn giúp tăng nhanh trọng lượng tôm. Do đó thức ăn tươi chỉ chiếm 6,57% (3,7 tr.đ/ha), thức ăn công nghiệp chiếm 93,43% (52,64 tr.đ/ha). Trư ờng ạ i họ c K inh ế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 30 Bảng 11: Chi phí nuôi tôm 1 ha của các hộ điều tra Chỉ tiêu Quảng canh cải tiến Bán thâm canh BTC/QCCT Tr.đ % Tr.đ % +/- % Tổng chi phi sản xuất 64,31 100,00 119,35 100,00 55,04 186 I. Chi phí trung gian 49,11 76,37 93,28 78,15 44,16 190 1. Giống 9,54 19,43 16,91 18,13 7,37 177 2. Thức ăn 29,98 61,05 56,34 60,40 26,35 188 - Thức ăn tươi 4,07 13,59 3,70 6,57 -0,37 91 - Thức ăn công nghiệp 25,91 86,41 52,64 93,43 26,73 203 3. Thuê LĐ 0,95 1,93 2,51 2,69 1,56 264 4.Tu bổ, xử lý ao hồ 6,55 13,33 14,77 15,83 8,22 226 5. Chi khác 2,09 4,26 2,75 2,95 0,66 132 II. Khấu hao TSCĐ 3,93 6,11 7,26 6,09 3,33 185 III. Chi phí lao động gia đình 11,26 17,52 18,81 15,76 7,54 167 (Nguồn: Số liệu điều tra) Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 31 Chi phí về thuê lao động là khoản chi cần thiết mặc dù nó chiếm tỷ trọng không lớn. Khoản tiền này thường tập trung vào việc chi cho công lao động thu hoạch vào cuối vụ. Bình quân 1 ha, các hộ QCCT chi 0,95 tr.đ, còn các hộ BTC con số này là 2,51 tr.đ. Những lao động được thuê này thường là những người trong nghề, vì họ có kinh nghiệm trong việc thu hoạch. Chi phí tu bổ, xử lý ao hồ là chi phí hằng năm ở đầu mỗi vụ nuôi nhằm nâng cấp ao hồ, cũng như cải tạo, xử lý ao hồ trước khi thả giống. Chi phí này tuy không lớn nhưng có tầm quan trọng lớn trong việc loại bỏ các mầm bệnh cho tôm, ngoài ra giúp chủ động nguồn nước không phụ thuộc vào thuỷ triều, chống rò rỉ, sói mòn. Qua bảng số liệu ta thấy đối với nhóm hộ nuôi QCCT chi phí này là 6,55 tr.đ/ha chiếm 13,33% chi phí trung gian thấp hơn nhóm hộ BTC với mức đầu tư là 14,77 tr.đ/ha chiếm 15,83% chi phí trung gian. Do nhóm hộ BTC hiểu được tầm quan trọng của công tạo tu bổ, xử lý ao hồ sẽ mang lại kết quả cao hơn trong quá trình sản xuất nên mức đầu tư vào chi phí này cao hơn. Ngoài các chi phí trên thì trong chi phí trung gian còn các chi phí khác bao gồm các chi phí như điện, nhiên liệu... Trong đó nhóm hộ QCCT chi 2,09 tr.đ/ha, nhóm hộ BTC chi 2,75 tr.đ/ha. Hình thức nuôi BTC đầu tư về XDCB và máy móc thiết bị lớn hơn hình thức nuôi QCCT nên khấu hao TSCĐ của hình thức BTC cũng lớn hơn hình thức QCCT, cụ thể mức khấu hao của nhóm hộ BTC là 7,26 tr.đ/ha, gấp 185% đối với 3,93 tr.đ/ha của các hộ QCCT. Phần lớn đầu tư xây dựng cơ bản và máy móc thiết bị được đầu tư từ vụ nuôi đầu tiên và được sử dụng cho các vụ nuôi về sau. Chiếm vị trí lớn thứ hai trong tổng chi phí là chi phí về lao động gia đình. Về mặt giá trị, chi phí lao động gia đình của các hộ QCCT là 11,26 tr.đ/ha, còn đối với các hộ BTC là 18,81 tr.đ/ha. Các hộ BTC có chi phí công lao động cao hơn bởi ngoài công cho ăn, thu hoạch thì người nuôi còn thường xuyên ra ao để xem xét tình hình, kiểm tra độ mặn, làm sạch ao nuôi. Cụ thể đối với 1 ha nuôi tôm các hộ BTC bỏ ra 313,48 công lao động, các hộ QCCT là 140,81 công lao động. Nhưng đơn giá 1 công của hình thức BTC là 60 ng.đ/công LĐ thấp hơn so với các hộ QCCT với đơn giá 1 công là 80 ng.đ. Sở dĩ, đơn giá 1 công lao động của các hộ QCCT cao hơn các hộ BTC là bởi vì Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 32 diện tích ao nuôi cần chăm sóc, quản lý trên công lao động của các hộ QQCT là lớn hơn. 2.2.3 KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ NUÔI TÔM NĂM 2011 CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA 2.2.3.1 Năng suất, sản lượng, diện tích nuôi tôm của các hộ điều tra năm 2011 Bảng 12: Năng suất, sản lượng, diện tích nuôi tôm của các hình thức chuyên canh Chỉ tiêu ĐVT BQC BTC QCCT Diện tích Ha 19,01 9,70 26,40 Năng suất Tấn/ha 0,59 0,97 0,45 Sản lượng Tấn 11,18 9,40 11,84 ( Nguồn: Số liệu điều tra) Nhìn vào bảng trên ta thấy trong hai hình thức nuôi tôm, hình thức nuôi BTC có diện tích thấp hơn QCCT, cụ thể là BTC: 9,7 ha; QCCT: 26,40 ha. Tuy nhiên năng suất của BTC lại cao hơn so với QCCT cụ thể là BTC: 0.97 tấn/ha lớn hơn QCCT: 0,45 tấn/ha. Sở dĩ có điều này là do hình thức BTC đươc đầu tư cao hơn về các chi phí như giống, thức ăn, công chăm sóc nhiều Tuy nhiên theo tình hình ở các hộ điều tra do hạn chế về vốn, điều kiện tự nhiên, trình độ, kinh nghiệm nên hình thức BTC chưa được áp dụng rộng rãi. 2.2.3.2 Kết quả nuôi tôm năm 2011 của các hộ điều tra Trong bất cứ hoạt động sản xuất nào cũng vậy, mục đích cuối cùng cũng là kết quả đạt được, nó là tiêu chí ảnh hưởng đến đời sống của người sản xuất. Để đánh giá kết quả sản xuất của các hộ điều tra ta xem xét bảng kết quả 13: Với giá trị sản xuất bình quân (GO/ha) giữa hai hình thức là 78,80 tr.đ/ha trong đó GO/ha của hình thức QCCT là 57,45 tr.đ, GO/ha của hình thức nuôi BTC là 150,13 tr.đ. Để tạo ra mức doanh thu trên thi tổng chi phí sản xuất bình quân của cả hai hình thức là 76,99 tr.đ/ha, trong đó tổng chi phí sản xuất của QCCT là 64,31 tr.đ/ha, BTC là 119,35 tr.đ/ha. Do tổng chi phí sản xuất lớn hơn doanh thu nên bình quân 1 ha của các hộ QCCT lỗ mất 6,86 tr.đ, ngược lại do giá trị sản xuất lớn hơn tổng chi phí nên các hộ Trư ờng Đại ọc Kin h tế Hu ế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 33 BTC lãi 30,77 tr.đ/ha. Tuy mức lợi nhuận đạt được trên 1 ha của nhóm hộ BTC không cao nhưng lại khả quan hơn so với các hộ QCCT. Bảng 13: Kết quả nuôi tôm của các hộ điều tra ĐVT: Tr.đ/ha Chỉ tiêu BQC QCCT BTC 1. Giá trị sản xuất (GO) 78,80 57,45 150,13 2.Tổng chi phí sản xuất 76,99 64,31 119,35 3. Chi phí trung gian (IC) 59,29 49,11 93,28 4. Giá trị gia tăng (VA) 19,51 8,33 56,85 5. Lợi nhuận 1,81 -6,86 30,77 (Nguồn: Số liệu điều tra) Trong tổng chi phí thì chi phí trung gian chiếm tỷ trọng cao nhất. Chi phí trung gian tính chung cho cả hai hình thức 59,29 tr.đ/ha. Trong đó nuôi QCCT chi 49,11 tr.đ/ha, BTC chi 93,28 tr.đ/ha. Qua bảng số liệu ta còn thấy rằng bình quân 1 ha nuôi tôm tính chung cho cả hai hình thức tạo ra 19,51 tr.đ giá trị gia tăng. Trong hai hình thức nuôi thì BTC tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn với 56,85 tr.đ, QCCT tạo ra 8,33 tr.đ/ha giá trị gia tăng. Sỡ dĩ có sự chênh lệch này là do các hộ nuôi BTC đã rất chú trọng trong việc tu bổ, xử lý ao hồ, lựa chon giống tôm có chất lượng, công tác phòng trị bệnh, chăm sóc tôm được thực hiện nghiêm túc và có kỹ thuật. Vì vậy, năng suất tôm của các hộ nuôi BTC đạt kết quả cao hơn. Ngược lại, các hộ QCCT do hạn chế về tài chính, ít am hiểu về kỹ thuật, không chú trọng đến công tác phòng trừ dịch bệnh dẫn đến kết quả nuôi thấp, thậm chí là thua lỗ. Nhìn chung, kết quả của các hộ nuôi tại địa bàn xã là rất thấp, ngoài nguyên nhân là do điều kiện tự nhiên thời tiết, khí hậu, mùa vụ còn có các nguyên nhân thuộc về các các hộ nuôi như chưa chủ động trong việc xử lý nguồn nước trong quá trình nuôi, công tác phòng trừ dịch bệnh chưa được chú trọng. Để hạn chế tình trạng này thì chính quyền địa phương cần có các biện pháp lâu dài, nhằm hạn chế và khắc Trư ờn Đại học Kin h tế Hu ế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 34 phục các nguyên nhân trên, đưa nghề nuôi tôm thực sự trở thành con đường xóa đói giảm nghèo và làm giàu của người nông dân. 2.2.3.3 Hiệu quả nuôi tôm năm 2011 của các hộ điều tra Để đánh giá hiệu quả sản nuôi tôm của các hộ điều tra tôi sử dụng các tiêu chí NSBQ, GO/IC, VA/IC, VA/GO. Bảng 14: Hiệu quả nuôi tôm của các hộ điều tra Chỉ tiêu ĐVT BQC QCCT BTC 1. Năng suất Tấn/ha 0,59 0,45 0,97 2. VA/GO Lần 0,21 0,15 0,38 3. VA/IC Lần 0,29 0,17 0,61 4. GO/IC Lần 1,29 1,17 1,61 (Nguồn: Số liệu điều tra) Năng suất bình quân là một trong những chỉ tiêu HQKT cần quan tâm. Đối với mẫu điều tra, năng suất tôm thu hoach có sự khác nhau giữa 2 hình thức nuôi. Cụ thể năng suất tôm 1 ha của hình thức QCCT là 0,45 tấn/ha trong khi đó năng suất của nhóm hộ BTC là 0,97 tấn/ha. Năng suất nhóm hộ QCCT là thấp hơn bởi hình thức này đầu tư vốn ít, mức độ đầu tư trên một con giống/ha thấp, bên cạnh đó nhóm BTC đã có sự chú trọng hơn, nhờ đó hạn chế được dịch bệnh, giúp đem lại năng suất cao hơn, nên hình thức bán BTC có hiệu quả sản xuất cao hơn so với hình thức QCCT do được đầu tư về kỹ thuật, kiến thức và đất đai có phần tốt hơn. Để đánh giá sử dụng chi phí trung gian có hiệu quả hay không, ta đi vào phân tích các chỉ tiêu VA/GO, VA/IC, GO/IC bình quân trên 1 ha. Từ bảng số liêu 14 cho thấy, GO/IC của hai hình thức nuôi là 1,29 lần (>1), trong đó nuôi theo hình thức BTC là 1,61 lần, nuôi QCCT là 1,17 lần. Chỉ tiêu VA/IC của hai hình thức nuôi đạt 0,29 lần (>0), trong đó nuôi theo hình thức BTC đạt 0,61 lần, nuôi QCCT đạt 0,17 lần. Như vậy, các chỉ tiêu GO/IC, VA/IC của hình thức nuôi BTC đều cao hơn so với hình thức nuôi QCCT, phản ánh các hộ nuôi BTC sử dụng chi phí trung gian có hiệu quả hơn các hộ nuôi QCCT. Chỉ tiêu VA/GO bình quân chung của hai hình thức đạt 0,21 lần (>0), trong đó VA/GO của hình thức BTC là 0,38 lần, QCCT là 0,15 lần. Trư ờng Đại học Kin h tế Hu ế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 35 Qua phân tích trên, ta có thể nhận thấy ưu thế của hình thức nuôi BTC so với hình thức nuôi QCCT. Với việc đầu tư nhiều hơn các chi phí về vốn và kỹ thuật, hình thức BTC mang lại kết quả và hiệu quả kinh tế cao hơn. Ngoài ra, việc chuyển đổi hình thức nuôi QCCT sang hình thức nuôi BTC sẽ tiết kiệm được diện tích nuôi trồng, xóa bỏ được các hình thức nuôi chắn sáo, sự phát triển tràn lan, thiếu qui hoạch của các ao nuôi, hạn chế gây ô nhiễm môi trường và hủy hoại hệ sinh thái đầm phá. Có điều kiện ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt là trong điều kiện khi thế giới đang chuộng các mặt hàng thủy sản có chất lượng cao, có nguồn gốc rõ ràng, sạch bệnh, việc chuyển đổi sang hình thức nuôi BTC, TC đảm bảo cung cấp tôm thương phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thế giới. 2.2.4 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ NUÔI TÔM NĂM 2011 CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA. 2.2.4.1 Ảnh hưởng của công lao động đến kết quả và hiệu quả của các hộ điều tra Hoạt động nuôi tôm đòi hỏi rất nhiều công lao động từ lúc bắt đầu tu bổ, nạo vét, xử lý ao để nuôi cho đến khi thu hoạch và đặc biệt là công chăm sóc trong suốt vụ nuôi. Để phân tích công lao động có ảnh hưởng như thế nào tới kết quả và hiệu quả nuôi chúng ta phân tích bảng số liệu 15: Dựa vào bảng số liệu ta thấy có sự chênh lệch về công lao động, sự chênh lệch này phần lớn là do sự chênh lệch về số ngày nuôi. Những hộ nuôi có thời gian nuôi càng dài thì công lao động càng lớn. Đối với những hộ có số ngày nuôi ngắn thường là do tôm bị dịch bệnh phải thu hoạch sớm, còn những hộ có số ngày nuôi dài là những hộ nuôi tôm đạt hiệu quả. Do đó công lao động tăng làm cho giá trị sản xuất trên một 1 ha nuôi tôm cũng tăng lên. Vì thế, các chỉ tiêu hiệu quả GO/IC, VA/IC cũng tăng lên và đạt cao nhất ở tổ 3 đối với cả hai hình thức nuôi. Số công mà các hộ bỏ ra càng lớn thì kết quả thu được càng cao. Đối với các hộ nuôi BTC do yêu cầu kỹ thuật cao hơn trong việc chăm sóc, quản lý, thu hoạch nên bình quân LĐ/ha cao hơn so với hình thức nuôi QCCT. Cụ thể đối với 1 ha nuôi tôm lao động BQ của các hộ BTC là 313,48 công LĐ, các hộ nuôi QCCT là 140,81 công LĐ. Trư ờng Đạ i họ c K nh t ế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 36 Bảng 15: Ảnh hưởng của nhân tố lao động đến kết quả và hiệu quả của các hộ nuôi tôm Hình thức nuôi Tổ Khoảng cách tổ (công/ha) Số hộ Công /ha Năng suất(Tấn/ha) GO (Tr.đ/ha) VA (Tr.đ/ha) GO/IC (lần) VA/IC (lần)Hộ % Bán thâm canh 1 <200 4 20 146,64 0,80 123,63 38,53 1,45 0,45 2 200-400 9 45 298,99 0,90 136,72 46,08 1,51 0,51 3 >400 7 35 560,43 1,35 214,21 104,51 1,95 0,95 Tổng, BQC 20 100 313,48 0,97 150,13 56,85 1,61 0,61 Quảng canh cải tiến 1 <100 9 30 63,89 0,33 36,95 -10,59 0,78 -0,22 2 100-180 10 33,33 130,14 0,50 60,89 14,29 1,31 0,31 3 >180 11 36,67 242,26 0,54 78,67 25,36 1,48 0,48 Tổng, BQC 30 100 140,81 0,45 57,45 8,33 1,17 0,17 (Nguồn: Số liệu điều tra)Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 37 Ở hình thức nuôi BTC: Tổ 1 có công lao động bình quân là 146,64 công LĐ/ha, năng suất tổ đạt là 0,8 tấn/ha, giá trị sản xuất thu được là 123,63 tr.đ/ha và giá trị gia tăng thu được là 38,35 tr.đ/ha. Tỷ lệ GO/IC, VA/IC lần lượt là 1,45 lần và 0,45 lần, điều đó được giải thích là bình quân cứ một đồng chi phí trung gian bỏ ra thu được 1,45 đồng giá trị sản xuất; 0,45 đồng giá trị tăng thêm. Qua tổ 2, cứ một đồng chi phí trung gian bỏ ra thu được 1,51 đồng giá trị sản xuất; 0,51 đồng giá trị tăng, và cứ tiếp tục sang tổ III lại cao hơn so với tổ II. Điều đó chứng tỏ, lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao kết quả và hiệu quả sản xuất. Đối với các hộ nuôi QCCT , khi đi từ tổ 1 sang tổ 3 mức lao động bình quân/ha tăng từ 63,89 công LĐ ở tổ 1 lên tổ 2 là 130,14 công LĐ và đạt cao nhất ở tổ 3 là 242,26 công LĐ. Tương ứng NSBQ và giá trị sản xuất tăng lên. Các chỉ tiêu về hiệu quả tiếp tục tăng và đạt cao nhất ở tổ 3, với 1 đồng chi phí trung gian thu được 1,48 đồng giá trị sản xuất, 0,48 đồng giá trị gia tăng. Như vậy, qua phân tích trên cho thấy, mức độ đầu tư lao động cao thì kết quả sản xuất tăng. Tuy nhiên công lao động cũng là yếu tố chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng chi phí, nên việc tăng công lao động quá cao sẽ làm cho chi phí tăng lên, lợi nhuận giảm xuống dẫn đến hiệu quả giảm. Mặt khác lao động nông nghiệp có tính thời vụ, do đó đòi hỏi việc đầu tư lao động cũng phải có tính thời vụ, Nếu sử dụng lao động hợp lý thì sẽ tiếc kiệm được chi phí lao động, có những thời điểm thì chỉ cần 1 lao động là có thể quản lý được một diện tích ao nuôi rất lớn như trong khâu chăm sóc và bảo vệ và ngược lại lao động được sử dụng nhiều nhất là vào lúc thu hoạch và xây dựng ao, tu bổ nạo vét ao. Lao động có trình độ,có hiểu biết sâu rộng về đối tượng nuôi sẽ giúp cho quá trình nuôi được thuận lợi hơn và từ đó mang lại năng suất cao hơn so với những lao động có trình độ thấp và thiếu kinh nghiệm. 2.2.4.2 Ảnh hưởng của chi phí trung gian đến kết quả và hiệu quả của các hộ điều tra Chi phí trung gian là chi phí đầu tư các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất, ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất, trong đó chi phí giống và thức ăn chiếm tỷ trọng Trư ờ g Đạ i họ c K inh tế H ế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 38 cao nhất. Mức đầu tư này ở mỗi gia đình là khác nhau. Do đó dẫn đến sự khác nhau về giá trị sản xuất, giá trị gia tăng và các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế cũng khác nhau. Qua việc phân tích các yếu tố đầu vào, chúng ta có thể đánh giá một cách chính xác sự tác động của các yếu tố đó đến kết quả cũng như hiệu quả của việc nuôi tôm. Qua bảng số liệu 16 ta thấy: Đối với các hộ nuôi BTC đầu tư chi phí trung gian BQ/ha đạt mức 93,28 tr.đ thì giá trị sản xuất thu được là 150,13tr.đ/ha, ngoài ra các chỉ tiêu GO/IC, VA/IC tương ứng là 1,61 lần; 0,61 lần và có nghĩa là có một đồng chi phí trung gian bỏ ra thu được 1,61 đồng giá trị sản xuất, 0,61 đồng giá trị gia tăng. Nhưng kết quả này lại thay đổi qua cách phân tổ. Đi từ tổ 1 đến tổ 3, khi mà mức IC ngày càng tăng lên thì GO có xu hướng ngày càng tăng, và sự tăng lên của các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế và đạt kết quả cao nhất tại tổ 3. Cụ thể: Tổ 1 có mức đầu tư chi phí trung gian nhỏ hơn 80 tr.đ có chi phí bình quân mỗi ha là 68,36 tr.đ thì thu được giá trị sản xuất và giá trị gia tăng là thấp nhất bình quân mỗi ha của nhóm hộ này tạo ra 97,74 tr.đ giá trị sản xuất và 29,38 tr.đ giá trị gia tăng. Nhìn chung các hộ trong tổ có mức đầu tư tương đối thấp hơn so với các tổ khác nên các chỉ tiêu về hiệu quả cũng tương đối thấp, chỉ tiêu GO/IC bằng 1,43 lần, VA/IC bằng 0,43 lần. Tiếp theo là tổ 2 với mức đầu tư chi phí trung gian từ 80-110 trđ/ha thì năng suất, giá trị sản xuất và giá trị gia tăng không ngừng tăng lên. Cụ thể: NSBQ đạt 1,03 tấn/ha, GO đạt 170,10 tr.đ/ha và VA đạt 74,15 tr.đ/ha. Bên cạnh đó thì các chỉ tiêu GO/IC, VA/IC cũng tăng tương ứng là 1,77 lần và 0,77 lần. Và sang tổ 3 với mức đầu tư chi phí trung gian lớn hơn 110 tr.đ/ha, tuy năng suất tổ này có tăng (1,27 tấn/ha) làm cho giá trị gia sản xuất tăng lên 191,04 tr.đ/ha. Nhưng VA và các chỉ tiêu về hiệu quả lại giảm; cụ thể VA bằng 70,67 tr.đ/ha, chỉ tiêu GO/IC bằng 1,59 lần, VA/IC bằng 0,59 lần. Mặc dù, có mức đầu tư nuôi tôm tương đối cao nhưng hiệu quả mang lại ở tổ 3 lại thấp, qua điều tra được biết nguyên nhân dẫn đến hiệu quả thấp là do tổ 3 đầu tư rất lớn về giống và thức ăntrên diện tích có hạn. Vì thế tôm không đủ điều kiện để phát triển, dẫn đến hiện tượng chậm lớn. Trư ờ g Đạ i họ c K inh tế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 39 Bảng 16: Ảnh hưởng của chi phí trung gian đến kết quả và hiệu quả của các hộ nuôi tôm Hình thức nuôi Tổ Khoảng cách tổ (Tr.đ/ha) Số hộ IC (Tr.đ/ha) Năng suất (Tấn/ha) GO (Tr.đ/ha) VA (Tr.đ/ha) GO/IC ( lần) VA/IC ( lần) Hộ % Bán thâm canh 1 <80 6 30,00 68,36 0,66 97,74 29,38 1,43 0,43 2 80-110 7 35,00 95,95 1,03 170,10 74,15 1,77 0,77 3 >110 7 35,00 120,36 1,27 191,04 70,67 1,59 0,59 Tổng, BQC 20 100,00 93,28 0,97 150,13 56,85 1,61 0,61 Quảng canh cải tiến 1 <30 11 36,67 25,24 0,26 25,93 0,69 1,03 0,03 2 30-50 10 33,33 37,50 0,38 44,63 7,14 1,19 0,19 3 >50 9 30,00 82,93 0,69 100,01 17,08 1,21 0,21 Tổng, BQC 30 100,00 49,11 0,45 57,45 8,33 1,17 0,17 (Nguồn: Số liệu điều tra)Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 40 Từ các chỉ tiêu trên có thể nhận thấy, tổ 2 có mức đầu tư chi phí vừa phải nhưng lại đạt được kết quả và hiệu quả cao hơn hai tổ còn lại. Lý do là tổ 2 có mức đầu tư về con giống, thức ănhợp lý, mật độ con giống/m2 ao nuôi thích hợp làm cho tôm phát triển nhanh, kết quả và hiệu quả được nâng lên. Đối với các hộ nuôi QCCT khi đi từ tổ 1 đến tổ 3 thi chi phí trung gian tăng dần từ 25,24 tr.đ/ha lên 37,50 tr.đ/ha và đến 82,93 tr.đ/ha. Đối với tổ 1 vì mức đầu tư chi phí trung gian thấp dưới 30 tr.đ, do đó nguồn giống và thức ăn chưa được đầu tư hợp lý làm cho năng suất thấp dẫn đến giá trị sản xuất thấp chỉ đạt 25,93 tr.đ/ha, giá trị gia tăng bằng 0,69 tr.đ/ha, ngoài ra các chỉ tiêu GO/IC, VA/IC cũng thấp tương ứng là 1,03 lần và 0,03 lần. Tức là cứ bình quân một đồng chi phí bỏ ra thu được 1,03 đồng giá trị sản xuất, và 0,03 giá trị gia tăng. Điều này dễ giải thích tại chi mức đầu tư về cải tạo, xử lý ao hồ chưa được tốt chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nguồn giống không qua kiểm dịch. Thời gian qua, qua nghiên cứu tại địa bàn thì các hộ nuôi này chưa chủ động về nguồn nước. Một số hộ tôm bị nhiễm bệnh lại thải nguồn nước ô nhiễm đó ra ngoài, một số hộ lân cận khi đưa nước vào lại không qua xử lý, kiểm tra nên dịch bệnh lây lan trên diện rộng dẫn đến kết quả và hiệu quả thấp. Qua tổ 2 với mức đầu tư về chi phí trung gian từ 30-50 tr.đ/ha với tổng số hộ là 10 chiếm 33,33% tổng số hộ thì NSBQ có xu hướng tăng lên đạt 0,38 tấn/ha làm cho giá trị sản xuất và giá trị gia tăng cũng tăng tương ứng là 44,63 tr.đ/ha và 7,14 tr.đ/ha, mặc dù hiệu quả kinh tế chưa cao nhưng tăng hơn so với tổ 1. Cụ thể GO/IC bằng 1,19 lần, VA/IC bằng 0,19 lần. Và đạt kết quả cao nhất tại tổ 3, với mức đầu tư trên 50 tr.đ/ha (gồm 9 hộ chiếm 30% tổng số hộ) thì năng suất mà tổ đạt được là 0,69 tấn/ha cao hơn mức đầu tư hai tổ trên cộng lại, đem lại mức thu nhập là 100,01 tr.đ/ha, tạo ra được 17,08 tr.đ giá trị gia tăng trên 1 ha, và cứ một đồng IC bỏ ra thì thu được 1,21 đồng giá trị sản xuất và 0,21 đồng giá trị gia tăng. Tóm lại để đạt được kết quả cao thì cần đầu tư các yếu tố đầu vào như giống, thức ăn, xử lý ao hồ một cách hiệu quả. Tuy nhiên nếu đầu tư quá nhiều thì năng suất Trư ờng Đạ i họ c K nh t ế H ế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 41 sẽ giảm xuống. Điều này được giải thích theo quy luật năng suất cận biên giảm dần: khi đầu tư tăng lên đến một mức độ nhất định thì năng suất bắt đầu giảm xuống. Vì vây, không phải cứ tăng mức đầu tư càng cao thì hiệu quả kinh tế thu được cao hơn mà đến mức độ thì hiệu quả sẽ giảm dần. 2.2.4.3 Ảnh hưởng của các nhân tố đến năng suất tôm Năng suất nuôi tôm là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế nuôi tôm, phản ánh thành quả lao động của người lao động tạo ra trên một đơn vị diện tích. Để đánh giá mối liên hệ và ảnh hưởng của một số yếu tố tới năng suất, tôi tiến hành phân tổ các hộ nuôi hai hình thức BTC và QCCT theo năng suất. Đối với mô hình nuôi BTC, qua bảng số liệu ta thấy trong 20 hộ nuôi BTC thì năng suất bình quân mà nhóm hộ này đạt được là 0,97 tấn/ha, với mật độ con giống 10,57 con/m2. Khi năng suất tăng từ tổ 1 lên tổ 3 thì: - Mật độ con giống có xu hướng giảm xuống: Mật độ con giống ở tổ 1 là 11,83 con/m2, lên tổ 3 giảm xuống còn 9,31 con/m2. - Thức ăn tươi có xu hướng giảm xuống: Tổ 1 là 5,42 tr.đ/ha xuống còn 0,54 tr.đ/ha ở tổ 3. - Thức ăn công nghiệp có xu hướng tăng lên: Từ tổ 1 là 33 tr.đ/ha tăng lên 74,66 tr.đ/ha ở tổ 3. - Chi phí tu bổ, xử lý ao hồ tăng từ tổ 1 là 14,22 tr.đ/ha lên 15,4 tr.đ/ha ở tổ 3. - Công lao động có cũng tăng từ tổ 1 lên tổ 3: Cụ thể ở tổ 1 là 253,21 công LĐ/ha tăng lên 392,49 công LĐ/ha ở tổ 3. Từ mối quan hệ có tính qui luật giữa năng suất và các yếu tố đầu vào có thể giải thích: - Mật độ con giống thả xuống có xu hướng tỷ lệ nghịch với năng suất, mật độ càng cao thì năng suất càng thấp. Điều này được giải thích bởi nhóm hộ BTC bị hạn chế về diện tích nuôi do đó mật độ con giống/m2 thích hợp thì tôm sẽ sinh trưởng phát triển nhanh. Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 42 Bảng 17: Phân tổ các hộ nuôi tôm theo năng suất Hình thức nuôi Tổ Khoảng cách tổ (tấn/ha) Số hộ NSBQ (tấn/ha) Mật độ con giống (con/m2) Thức ăn Tu bổ, xử lý ao hồ (Tr.đ/ha) Công lao động (Tr.đ/ha)Hộ % Tươi(Tr.đ/ha) CN (Tr.đ/ha) Bán thâm canh 1 <0,8 7 35,00 0,57 11,80 5,42 33,00 14,22 253,21 2 0,8-1,2 6 30,00 0,95 10,36 4,72 53,78 14,78 303,37 3 >1,2 7 35,00 1,45 9,31 0,84 74,66 15,40 392,49 Tổng, BQC 20 100,00 0,97 10,57 3,70 52,64 14,77 313,48 Quảng canh cải tiến 1 <0,3 11 36,67 0,17 5,79 1,64 11,51 5,01 86,13 2 0,3-0,6 15 50,00 0,56 6,58 5,43 31,74 7,63 171,08 3 >0,6 4 13,33 0,84 8,00 6,00 46,15 6,81 184,62 Tổng, BQC 30 100,00 0,45 6,46 4,07 25,91 6,55 140,81 (Nguồn: Số liệu điều tra) Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 43 - Thức ăn có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất nuôi tôm, nhưng đối với thức ăn tươi thường dễ gây ô nhiễm môi trường ao nuôi, nên thức ăn công nghiệp được sử dụng chủ yếu do đây là loại thức ăn không có mầm bệnh gây hại cho tôm. Nên thức ăn tươi có quan hệ tỷ lệ nghịch với năng suất, thức ăn công nghiệp có quan hệ tỷ lệ thuận với năng suất. Tuy nhiên, đối với thức ăn công nghiệp cần tăng lượng thức ăn cho phù hợp trong từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển, tránh dư thừa thức ăn. - Chi phí tu bổ, xử lý ao hồ là nhân tố có ảnh hưởng đến cả quá trình nuôi, chi phí này tỷ lệ thuận với năng suất, khi tăng chi phí này lên thì năng suất tăng lên. Vì công tác này được thực hiện tốt thì sẽ hạn chế được các mầm bệnh, ao nuôi được kiên cố, tránh được các hiện tượng rò rĩ nước ra ngoài, nếu công tác được thực hiện không tốt thì có thể sẽ làm giảm năng suất nuôi tôm. - Công lao động trong quá trình nuôi bao gồm: chăm sóc, thu hoạch tôm...Qua điều tra cho thấy các hộ đạt được kết quả cao là những hộ tập trung nhiều lao động phục vụ cho quá trình nuôi, vì công tác chăm sóc, phòng bệnh trị bệnh được thực hiện tốt hơn. * Đối với mô hình nuôi QCCT: ta thấy trong 30 hộ nuôi thì các hộ đạt NSBQ là 0.45 tấn/ha, chủ yếu tập trung ở tổ 2, chiếm 50%. Khi năng suất tăng từ tổ 1 lên tổ 3 thì: - Mật độ con giống có xu hướng giảm tăng ở tổ 1 là 5,79 con/m2 lên tổ 3 là 8 con/m2. - Thức ăn tươi có xu hướng tăng lên. Từ tổ 1 là 1,64 tr.đ/ha tăng lên 6 tr.đ/ha. - Thức ăn công nghiệp có xu hướng tăng lên từ tổ 1 là 11,51 tr.đ/ha tăng lên 46,15 tr.đ/ha ở tổ 3. - Chi phí tu bổ, xử lý ao hồ có xu hướng tăng: từ 5,01 tr.đ/ha ở tổ 1 tăng lên ở tổ 3 là 6,81 tr.đ/ha. - Công lao động có xu hướng tăng: ở tổ 1 là 86,13 công LĐ/ha tăng lên ở tổ 3 là 184,62 công LĐ/ha. Qua bảng số liệu ta thấy: ở mô hình nuôi QCCT cũng giống như mô hình nuôi BTC đó là các yếu tố đầu vào như thức ăn, xử lý ao hồ, công lao động tỷ lệ thuận với năng suất. Khi tăng các yếu tố này lên thì năng suất tăng lên. Tuy nhiên, có điểm khác biệt đối với hình thức nuôi BTC đó là mật độ con giống tăng lên cùng với năng suất do Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 44 lợi thế về diện tích lớn, ngoài ra mật độ nuôi thích hợp đối với hình thức QCCT tại xã Vinh Hà nói riêng và huyện Phú Vang nói chung là từ 5-8 con/m2, và người nuôi đã thực hiện tốt việc này, ngoài ra thức ăn tươi tăng lên cùng với năng suất. Vì hình thức nuôi QCCT nguồn thức ăn dựa vào tự nhiên, nên lượng thức ăn tươi được sử dụng nhiều và nó sẽ tăng lên cùng với sự tăng trưởng và phát triển của tôm. Từ sự phân tích trên cho thấy: Đối với các hộ nuôi được điều tra, năng suất cao không hẳn phụ thuộc mật độ con giống/m2 mà năng suất phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thức ăn mà đặc biệt là thức ăn công nghiệp, do loại thức ăn này đáp ứng được lượng dinh dưỡng cần thiết cho từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của con tôm; ngoài ra năng suất còn phụ thuộc vào công tác tu bổ, xử lý ao nuôi vì làm tốt công tác này sẽ diệt trừ được mầm mống sâu bệnh, các loài cá tạp, bên cạnh đó giúp ao hồ kiên cố hơn tránh được các hiện tượng rò rĩ nước, và quá trình chăm sóc cũng ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất tôm. Việc thường xuyên chăm sóc theo dõi sẽ biết được lượng thức ăn cần thiết trong từng giai đoạn giúp tôm phát triển nhanh, ngoài ra sẽ phát hiện được những dấu hiệu bất thường trong quá trình nuôi để nhanh chóng xử lý kịp thời. 2.2.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG TÌNH HÌNH NUÔI TÔM NĂM 2011 CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA 2.2.5.1 Những kết quả đạt được Vinh Hà có 7 km chiều dài dọc đầm phá Tam Giang - Cầu Hai chiều rộng khoảng 3,5- 4 km, độ sâu 2,5-3m, với tổng diện tích mặt nước là 1.028,19 ha. Với lợi thế về diện tích tự nhiên này nghề nuôi tôm đã trở thành một nghề chính ở địa phương cùng với nghề trồng lúa, góp phần giải quyết việc làm cũng như đem lại thu nhập cho người dân. Mặt khác khi nguồn lợi thủy sản đang bị khai thác ngày một cạn kiệt thì NTTS sẽ cung cấp nguồn thủy sản cho tiêu dùng không phụ thuộc vào nguồn lợi tự nhiên từ đánh bắt. Qua vụ nuôi năm 2011, bình quân 1 ha các hộ nuôi QCCT thu về được 8,33 tr.đ VA, còn các hộ BTC thu được 56,85 tr.đ VA. Sự chênh lệch giữa hai hình thức nuôi là do mức độ đầu tư các yếu tố đầu vào và giá trị sản xuất thu về có sự khác biệt. Bình quân 1 ha các hộ QCCT thu về 57,45 tr.đ GO và chi 49,11 tr.đ IC, GO/IC đạt 1,17 lần. Trong khi đó các hộ BTC thu về 150,13 tr.đ và bỏ ra 93,28 tr.đ IC, GO/IC đạt 1,61 lần. Từ đó ta thấy hình thức nuôi BTC đem lại kết quả cao hơn. Chính quyền địa phương Trư ờng Đạ i họ c K inh ế H ế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 45 đã khích lệ người dân chuyển đổi sang mô hình nuôi BTC đạt được kết quả cao hơn. Tuy nhiên hình thức nuôi BTC đòi hỏi mức độ đầu tư lớn, do đó gây khó khăn trong việc chuyển đổi do thiếu vốn và kỹ thuật. 2.2.5.2 Những tồn tại cần khắc phục Bên cạnh những kết quả đạt được, năm 2011 nghề nuôi tôm nước lợ cũng gặp phải một số khó khăn, tồn tại, đó là do một số nguyên nhân sau: - Đại bộ phận người dân vẫn chưa quan tâm đến việc kiểm tra chất lượng giống tôm đã ảnh hưởng đến kết quả nuôi trồng thủy sản. - Trong vụ nuôi, tình trạng nước ngọt hóa kéo dài, độ mặn không đủ đã ảnh hưởng đến môi trường ao nuôi, các ao nuôi hầu như không thay nước được làm ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm. - Thị trường tiêu thụ tôm còn khó khăn, chủ yếu vẫn tiêu thụ nội địa, nhỏ lẽ, thường bị ép giá nên các hộ lo sợ không dám đầu tư. - Công tác theo dõi, chỉ đạo của các cấp, các ngành có lúc, có nơi vẫn chưa được thường xuyên. - Mặt khác công tác khuyến khích người dân chuyển đổi sang mô hình nuôi cao hơn gặp nhiều khó khăn do đòi hỏi có sự đầu tư vốn lớn. Đây là điều nằm ngoài khả năng của các hộ nông dân khi nhiều năm mất mùa liên tiếp, ngoài ra trình độ văn hóa còn là một trở ngại lớn cho việc tiếp thu các tiến bộ KHKT. - Bên cạnh đó việc mở các lớp tập huấn là cần thiết nhưng trên địa bàn xã việc mở các lớp tập huấn vẫn còn hạn chế. Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 46 CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP 3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN Phát triển nhanh nghề nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Trước hết phải quy hoạch vùng nuôi, xây dựng quy trình nuôi thích hợp đảm bảo an toàn môi trường. Khuyến khích các ngư dân chuyển đổi từ đánh bắt sang nuôi trồng, các hộ nuôi QCCT có đủ diều kiện về vốn, kỹ thuật chuyển sang mô hình nuôi BTC cho năng suất cao hơn. Hạn chế mở rộng diện tích mặt nước vùng hạ triều, những nơi đã mở rộng quá ra ngoàì vùng đầm phá, cần giữ lại một phần mặt nước cho tự nhiên. Đẩy nhanh công tác giải tỏa và xắp xếp nò sáo, lưới trên vùng đầm phá để đảm bảo giao thông luồng lạch cho các hồ tôm. Xây dựng và phát triển hệ thống dịch vụ hậu cần bao gồm hệ thống cung cấp giống, thức ăn, thú y, các cơ sở chế biến và lưu thông xuất nhập khẩu hàng hóa. 3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP 3.2.1 Giải pháp chung 3.2.1.1 Giải pháp quy hoạch Những năm gần đây việc phát triển ồ ạt diện tích nuôi tôm thiếu quản lý, hiện trạng vùng nuôi về cơ cấu bố trí ao hồ và hệ thống kênh mương cấp thoát nước không đảm bảo các tiêu chuẩn kỷ thuật. Vùng nuôi thiếu quy hoạch nên không có sự tách biệt giữa kênh lấy nước vào và kênh thải nước ra dẫn đến nước lấy vào của ao này là nước thải của ao kia. Do đó để nghề nuôi tôm được phát triển mạnh mẽ và bền vững thì trước hết phải tiến hành quy hoạch tổng thể vùng nuôi, xây dựng hệ thống kênh mương đúng tiêu chuẩn kỹ thuật. Cần chuyển đổi diện tích đất trồng lúa bị nhiễm mặn sang nuôi tôm, bên cạnh đó xử lý triệt để các hộ lấn chiếm diện tích đầm phá làm ao nuôi đang diễn ra một tự phát. Khuyến khích hình thức nuôi BTC cho năng suất và hiệu quả cao, thu hẹp dần hình thức nuôi QCCT cho năng suất thấp. Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H ế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 47 3.2.1.2 Giải pháp về hợp tác sản xuất Tính cộng đồng cũng là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của nghề nuôi tôm. Do thiếu hợp tác mà một số hộ đã thải nước thải chưa qua xử lý bừa bãi ra kênh mương để các hộ khác lấy nước đó vào, đó là một trong những nguyên nhân làm dịch bệnh lây lan, bùng phát và khó có thể ngăn chặn. Hợp tác sản xuất vì lợi ích lẫn nhau sẽ tránh được tình trạng trên. Ngoài ra nó còn có ý nghĩa lớn trong các khâu sản xuất khác như hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật, công lao động... Ngoài ra khi môi trường nước vùng nuôi đã bị ô nhiễm thì ý thức chung tay bảo vệ của người dân là điều quan trọng và quyết định. Hiện nay trên địa bàn xã đã thành lập hai chi hội nghề cá, với mục đích chủ yếu là quản lý đánh bắt và NTTS trên địa bàn xã. Những người tham gia vào chi hội nghề cá sẽ có quyền và trách nhiệm trong việc bảo vệ và khai thác các nguồn lợi thủy sản. Việc phát hiện và kịp thời xử lý các ao hồ bị nhiễm bệnh sẽ tiến hành nhanh hơn tránh lây lan cho các ao nuôi khác. Do đó ở mỗi tổ nuôi tôm cần thành lập riêng một chi hội nghề cá để quản lý tốt hơn việc nuôi tôm tại tổ mình. 3.2.1.3 Giải pháp về tín dụng Nuôi tôm đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn, qua điều tra cho thấy chi phí trung gian cần cho 1 ha nuôi tôm với hình thức QCCT là 49,11 tr.đ , BTC là 93,28 tr.đ. Như vậy chi phí này là rất lớn có vượt ra ngoài khả năng tích lũy của người nuôi. Những năm gần đây, do môi trường nước bị ô nhiễm, thời tiết thay đổi thất thường, dịch bệnh xảy ra liên miên nên khiến cho một số hộ rơi vào tình trạng nợ nần, không có khả năng trả nợ vay ngân hàng, việc vay vốn cũng trở nên khó khăn. Người dân thường có xu hướng mua chịu thức ăn, các loại đầu vào ở thương lái rồi đến kì thu hoạch đem bán lại để trả nợ nên thường xuyên bị ép giá, lợi nhuận thu được không cao. Chính quyền địa phường nên có biện pháp hỗ trợ người dân trong vấn đề về nguồn vốn và thực hiện việc giãn nợ, gia hạn nợ giúp người dân có thời gian hoàn trả nợ. 3.2.1.4 Giải pháp về cơ sở hạ tầng vùng nuôi Hiện nay trên địa bàn xã hệ thống đê bao, kênh mương chưa đảm bảo tiêu chuẩn, việc cung cấp nước cho ao nuôi gặp nhiều khó khăn, chất lượng nước thường xuyên thay đổi gây ảnh hưởng đến hoạt động nuôi tôm của người dân. Trư ờn Đạ i họ c K inh tế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 48 Toàn xã mới chỉ có hai hệ thống kênh mương ở tổ Hà Mướp và vùng Cồn Đờn không đáp ứng đủ cho nhu cầu cung cấp nước nuôi tôm cho toàn xã. Yêu cầu đặt ra là cần xây dựng một hệ thống thủy lợi thật hợp lý trong toàn xã để tạo ra môi trường thông thoáng giữa các ao nuôi, và giữa ao nuôi với môi trường bên ngoài. Khi có diễn biến thất thường của thời tiết thì hệ thống này sẽ cải tạo tốt độ mặn, độ pH, ngoài ra còn giúp việc thay đổi nguồn nước diễn ra dễ dàng, tránh ô nhiễm ao nuôi. Ngoài ra cần bê tông hóa một số con đường dẫn ra các ao nuôi tôm, hiện nay các con đường này vào mùa mưa xuống thường bị trơn trượt, lầy lồi gây khó khăn cho việc đi lại cũng như việc thu mua tôm vào cuối vụ. 3.2.1.5 Công tác khuyến nông Nuôi tôm là một nghành đòi hỏi kỹ thuật cao. Nhưng hiện nay việc mở các lớp tập huấn vẫn còn hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu của người dân. Chính quyền địa phương cần tăng cường mở thêm các lớp tập huấn, tổ chức các buổi gặp mặt giữa cán bộ khuyến nông và người dân, một mặt giúp người dân trao đổi kinh nghiệm với nhau, mặt khác giúp người nuôi có thể nắm thêm nhiều kỷ thuật nuôi tôm thông qua quá trình trao đổi ý kiến với cán bộ khuyến nông. Ngoài ra cần hỗ trợ thêm về cán bộ thủy sản thường xuyên làm việc tại địa bàn xã. Thực tế cho thấy khi dịch bệnh xảy ra người nuôi thường lúng túng, không biết cách xử lý. Sự có mặt thường xuyên của các cán bộ thủy sản tại vùng nuôi sẽ giúp hộ xử lý nhanh, khống chế được dịch bệnh lây lan. 3.2.2 Giải pháp đối với hộ nuôi tôm 3.2.2.1 Về thời vụ thả nuôi Căn cứ vào khung lịch thời vụ của sở và phòng NN-PTNN huyện, thực hiện thả nuôi một vụ ăn chắc. UBND, ban chỉ đạo các tổ nuôi trồng qua nhiều năm kinh nghiệm đã thống nhất đề ra lịch thời vụ đối với địa phương như sau: - Ươm tôm giống cuối tháng 2. - Nuôi tôm thịt thả thẳng tôm P15 cuối tháng 2. - Nuôi tôm cỡ 3-5cm thả giống tháng 3. - Thu hoạch trước tháng 8. Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 49 3.2.2.2 Về giống và mật độ thả giống Qua phân tích số liệu cho thấy, việc thả giống với mật độ cao không mang lại hiệu quả. Mật độ thả thích hợp là 5-8 con/m2 đối với hình thức QCCT và 10-11 con2 đối với hình thức BTC là phù hợp với điều kiện tại địa bàn. Các hộ nuôi cần tìm nguồn tôm giống có địa chỉ, nguồn gốc rõ ràng, khả năng thích ứng với môi trường cao và đảm bảo chất lượng. Tận dụng nguồn giống ở địa phương, không sử dụng nguồn giống không rõ ràng, chưa qua kiểm dịch. 3.2.2.3 Về cho ăn và quản lý thức ăn Cơ cấu thức ăn và liều lượng cho ăn phải phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của tôm. Hạn chế sử dụng thức ăn tươi gây ảnh hưởng đến môi trường ao nuôi. Tăng cường sử dụng thức ăn công nghiệp vì đây là nguồn thức ăn chứa đầy đủ dinh dưỡng, giúp tôm nhanh tăng trọng và tăng sức đề kháng. Tuy nhiên cần chú ý trong vấn đề cho ăn, không nên cho ăn quá nhiều tránh việc tồn đọng thức ăn trong môi trường ao nuôi dễ gây ra dịch bệnh. Vì tôm có tập tính thường tập trung vào các bờ ao nên khi cho ăn phải rải đều quanh ao để tôm có thể ăn hết. 3.2.2.4 Về cải tạo và xử lý ao nuôi Việc cải tạo ao hồ là một việc cần thiết cho công tác nuôi trồng đòi hỏi mỗi người nuôi phải thực hiện, làm tốt công tác cải tạo ao hồ nhằm hạn chế ô nhiễm trong ao, góp phần vào phòng ngừa dịch bệnh phát sinh, tạo môi trường tốt cho tôm phát triển. Các công việc xử lý ao nuôi bao gồm: rải vôi, thuốc diệt tạp, diệt khuẩn... giúp diệt trừ mầm bệnh gây hại cho tôm, tiêu diệt các loài cá tạp, vi sinh vật giành thức ăn của tôm và kích thích sự phát triển của các vi sinh vật hữu ích làm thức ăn cho tôm. 3.2.2.5 Về phòng trừ dịch bệnh, xử lý chất thải Các hộ nuôi phải thường xuyên cập nhật thông tin diễn biến thời tiết, biến đổi môi trường tình hình dịch bệnh xảy ra trong địa bàn để có các biện pháp đối phó, phòng trừ. Áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp trong suốt quá trình nuôi, trong đó chú trọng các biện pháp như tẩy dọn ao kỹ trước khi đưa vào nuôi bằng cách nạo vét hết lớp bùn đáy của vụ nuôi trước, phơi khô đáy ao, lấy nước vào ao qua lưới lọc, gây màu nước và duy trì màu nước trong suốt quá trình nuôi, ngoài ra trong quá trình nuôi định kỳ bón vôi, nhất là sau khi thay nước và vào những ngày mưa to. Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 50 Trong việc chăm sóc phòng trừ và xử lý dịch bệnh yêu cầu các hộ nuôi nâng cao tính cộng đồng, không tự ý thải nước ra ngoài khi tôm bị dịch bệnh. Các hộ cần hợp tác, chung sức để xây dựng hệ thống xử lý nước thải cho cả vùng nuôi. 3.2.2.5 Về lao động chăm sóc Việc đầu tư lao động chăm sóc tôm có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của tôm. Yêu cầu phải là lao động có kỹ thuật, có kinh nghiệm để có thể đáp ứng được yêu cầu của tôm trong từng giai đoạn cụ thể và phát hiện, xử lý kịp thời dịch bệnh trong quá trình nuôi tôm. Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 51 PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 3.1 KẾT LUẬN Qua điều tra và khảo sát thực tế hiệu quả nuôi tôm tại xã Vinh Hà tôi nhận thấy rằng: - Nghề nuôi tôm nói riêng và NTTS nói chung là một trong những nghành chính đem lại thu nhập cho người dân nơi đây. Góp phần giải quyết lực lượng lao động nhàn rỗi, dư thừa tại địa phương. - Điều kiện sản xuất tôm ở đây còn nhiều thiếu thốn, bất cập. Các hộ nuôi qua nhiều vụ nuôi thất bại nên lượng vốn đầu tư cho những vụ sau không đủ. Hầu hết các yếu tố đầu vào như thức ăn, thuốc phòng trừ dịch bệnh, diệt tạp...phải mua ở các thương lái và trả vào lúc cuối vụ nên thường bị ép giá. - Chi phí đầu tư cho mỗi vụ cao nhưng năng suất lại thấp, môi trường ao nuôi bị ô nhiễm, người dân thiếu ý thức cộng đồng. Hệ thống cấp và thoát nước chưa được quan tâm đầu tư. - Năng suất tôm chịu tác động của nhiều nhân tố chủ yếu là chi phí về thức ăn và công lao động. - Ngoài các yếu tố đầu vào thì hình thức nuôi cũng có ý nghĩa trong việc nâng cao hiệu quả nuôi tôm của các hộ điều tra: Hình thức BTC đạt hiệu quả cao hơn so với hình thức QCCT. - Kỹ thuật sản xuất còn lạc hậu chưa đem lại năng suất và hiệu quả cao, chưa tương xứng với tiềm lực và tiềm năng của xã. -Trình độ quản lý ao nuôi của người dân không được tốt nên môi trường ao nuôi thường xấu đi. Người dân chưa chú trọng kiểm tra các yếu tố môi trường của ao nuôi, -Kỹ thuật sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm vốn có nhiều năm trước. Rất nhiều hộ ngư dân không được tham gia tập huấn về các lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. Trên cơ sở đó qua quá trình điều tra từng hộ gia đình, nắm được tâm tư, nguyện vọng của các hộ nuôi, đề tài đã mạnh dạn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nằm nâng cao hơn nữa hiệu quả nuôi tôm tại xã Vinh Hà. Trư ng Đ ại h ọc K inh tế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 52 3.2 KIẾN NGHỊ Từ những kết quả đạt được cũng như những tồn tại cần khắc phục, nhằm thúc đẩy sự phát triển của nghành NTTS trở thành một nghành mũi nhọn, tôi xin đề xuất một số kiến nghị sau: * Đối với nhà nước: - Tăng cường đầu tư các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng các vùng nuôi tôm cao triều, chủ yếu tập trung một số hạng mục như: Kênh cấp nước, ao lắng, ao xử lý nước thải, trạm bơm, hệ thống điện cho các vùng có quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. - Nhà nước cần có chính sách đầu tư cơ sở hậu cần phục vụ nghề NTTS như dịch vụ chế biến, tiêu thụ sản phẩm, ổn định giá cả thúc đẩy nghề NTTS phát triển. * Đối với địa phương: - Đề nghị có chính sách hổ trợ giá giống, nhất là nguồn giống nuôi đối với diện tích chuyển đổi, tăng cường quản lý sản xuất giống trên địa bàn, kiểm soát chặt chẻ chất lượng giống các tỉnh nhập về, kiểm tra chất lượng thức ăn công nghiệp, hóa chất thuốc phòng trị bệnh nhằm hạn chế hàng hoá không đảm bảo chất lượng để ngư dân yên tâm đầu tư sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao. - Tiến hành xử lý đối với các hộ không chấp hành theo sự chỉ đạo của UBND, BCĐ, các tổ thả tôm trước thời vụ, không thực hiện cải tạo ao hồ trước khi thả tôm vào ương, nuôi, không chịu mua thuốc xử lý khi hồ mình bị dịch bệnh, không chấp hành đầy đủ nôi quy, quy chế vùng nuôi. - Đề nghị chính quyền địa phương quan tâm hơn nữa công tác chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ mở nhiều lớp tập huấn cho các hộ nuôi trồng ở địa phương. Nghiên cứu các vùng nuôi tìm ra các đối tượng nuôi phù hợp, tổ chức thực hiện nhiều mô hình nuôi thí điểm tại địa phương nhằm giúp địa thực hiện chuyển đổi mô hình nuôi trong thời gian đến đạt nhiều kết quả hơn. - Có chính sách hổ trợ giá giống cho các hộ ương để gắn trách nhiệm, quyền lợi cho các hộ tham gia nuôi trống thuỷ sản. Sớm ban hành chính sách hổ trợ cho các hộ dân nuôi trồng bị thiệt hại do dịch bệnh xảy ra. - Để tạo điều kiện cho nhân dân chủ động trong việc kiểm tra, kiểm dịch tôm nuôi, có chính sách hổ trợ chi phí chạy mẫu kiểm tra máy PCR. Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế GVHD: ThS. Lê Sỹ Hùng Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 53 - Cần qui hoạch vùng nuôi, xây dựng hệ thống thủy lợi, chủ động trong việc cung cấp nguồn nước cho các ao nuôi. * Đối với các hộ nuôi: - Tăng cường chủ động học hỏi, trau dồi kinh nghiệm nâng cao kiến thức, kỹ thuật phục vụ cho quá trình nuôi tôm. - Lựa chọn hình thức nuôi phù hợp với khả năng, điều kiện kinh tế của gia đình. - Tuân thủ lịch thời vụ và biện pháp kỹ thuật được các cấp chính quyền khuyến cáo. - Có ý thức bảo vệ môi trường chung, chủ động khai báo khi có dịch bệnh xảy ra, tránh tình trạng dịch bệnh lây lan - Hạn chế việc sử dụng thức ăn tươi gây ô nhiễm môi trường. - Chú ý công tác chăm sóc, xử lý và cải tạo ao, đảm bảo môi trường ao nuôi sạch các mầm bệnh. Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H ế Khóa luận tốt nghiệp SVTH: Văn Thị Hoa 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lê Sỹ Hùng, Bản chất và phương pháp xác định hiệu quả kinh tế, tuyển tập giáo trình nghiên cứu khoa học kinh tế và quản trị kinh doanh 1995 – 1999, 1999 2. Nguyễn Hữu Phương, Giáo trình kinh tế nông nghiệp, tài liệu lưu hành nội bộ. 3. Tôn Nữ Hải Âu, Bài giảng kinh tế thủy sản, Tài liệu lưu hành nội bộ. 4. Phan Văn Hòa, Một số nhân tố ảnh hưởng đến năng suất nuôi tôm của các hộ điều tra ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, Tạp chí khoa học, Đại học Huế số 28, 2005. 5. Tôn Thất Chất, Kỹ thuật nuôi tôm sú, tài liệu Đại học nông lâm Huế. 6. Niên giám thống kê huyện Phú Vang 2008-2010 7. Tổng kết NTTS huyện Phú Vang năm 2011 8. Tổng kết NTTS xã Vinh Hà năm 2010, năm 2011. 9. Niên giám thống kê Việt Nam 2010. 10. Niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế 2010. 11. www.VietLinh.com.vn Trư ờng Đạ i họ c K inh tế H uế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfhieu_qua_kinh_te_nuoi_tom_o_xa_vinh_ha_huyen_phu_vang_tinh_thua_thien_hue_4676.pdf
Luận văn liên quan