Khóa luận Phân tích tình hình tài chính tại Công ty TNHH Vietland

Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu chính trước hết của các doanh nghiệp hiện nay là làm sao có thể làm tối đa hóa lợi nhuận. Lợi nhuận không chỉ đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tồn tại mà nó còn là điều kiện để doanh nghiệp càng ngày càng phát triển. Để có được lợi nhuận và loại nhuận ngày càng tăng thì doanh nghiệp từng bước phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Là một công ty TNHH, Công ty TNHH Vietland đã vượt qua bao khó khăn, thử thách để tồn tại và phát triển. Đây là một thành công lớn của Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ công nhân viên trong toàn bộ công ty. Bên cạnh những điều đã đạt được trong thời gian qua, công ty cũng còn có nhưng khỏ khăn từ chính bản thân công ty cũng như từ phía khách quan đem lại. Việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là yếu tố tất yếu cho sự phát triển của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc phân tích tình hình tài chính của Công ty là một công việc rất quan trọng, là phương pháp chủ yếu để tìm ra các ưu nhược điểm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, đồng thời qua đây tìm ra các tiềm năng chưa được khai thác để có biện pháp sử dụng các tiềm năng đó. Do nhận thức được vai trò và ý nghĩa của công tác phân tích tài chính trong việc tồn tại và phát triển của Công ty nên trong thời gian qua Công ty đã không ngừng tìm tòi phát huy nỗ lực để tìm hướng đi và phát triển cho doanh nghiệp. Và thực tế cho thấy Công ty TNHH Vietland đã và đang đứng vững, phát triển trên thị trường trong điều kiện cạnh tranh hết sức gay gắt. Điều này chứng tỏ rằng Công ty TNHH Vietland đang hoạt động một cách có hiệu quả trong cơ chế thị trường này. Tuy nhiên để có thể đứng vững và phát triển trong tương lại thì đòi hỏi Công ty cần phải đưa ra được những biện pháp để nâng cao tình hình tài chính của Công ty.

pdf79 trang | Chia sẻ: builinh123 | Ngày: 31/07/2018 | Lượt xem: 260 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Phân tích tình hình tài chính tại Công ty TNHH Vietland, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ều này là do khoản phải thu khách hàng đã giảm qua các năm, năm 2011 khoản mục phải thu là 50.928.400 đồng nhưng năm 2012 chỉ còn là 38.500 đồng và đặc biệt năm 2013 khoản mục này giảm xuống còn 0 đồng. Doanh thu thuần của Doanh nghiệp tăng mạnh qua các năm, năm 2012 tăng 528.831.186 đồng tương ứng với mức tăng 197,93% so với năm 2011 và năm 2013 tăng 2.033.069.938 đồng tương ứng với mức tăng 255,41%, điều này càng làm cho số vòng quay các khoản phải thu tăng mạnh và kỳ thu tiền bình quân của 46 Doanh nghiệp giảm xuống. Số vòng quay các khoản phải thu cao đi liền với kỳ thu tiền bình quân của doanh nghiệp thấp đó là một tín hiệu đáng mừng đối với doanh nghiệp cho thấy doanh nghiệp tốc độ thu hồi nợ của Doanh nghiệp là cao, giảm bớt được phần vốn bị chiếm dụng, đảm bảo được khả năng thanh toán bằng tiền, Doanh nghiệp có thể tái đầu tư vào các hoạt động SXKD, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Tuy nhiêu, việc thắt chặt tín dụng này có thể sẽ ảnh hưởng đến quan hệ làm ăn với các đôi tác lâu năm và có thể đánh mất các khách hàng này. 2.2.5.1. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn Bảng 2.9: Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu ĐVT Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Chênh lệch 2013-2012 Chênh lệch 2012-2011 Doanh thu thuần Đồng 2.829.080.023 796.010.085 267.178.899 2.033.069.938 528.831.186 TSNH BQ Đồng 5.389.652.395 5.325.721.812 4.107.422.591 63.930.583 1.218.299.221 HSSD TSNH Lần 0,52 0,15 0,07 0,37 0,08 (Nguồn: Bảng cân đối kế toán và Báo cáo hoạt động SXKD) Qua bảng 2.9, có thể nhận thấy hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp chưa được được cao. Có thể thấy 3 năm gần đây nhất từ năm 2011 đến năm 2013 hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty có xu hướng tăng qua các năm, điều này chủ yếu là sự gia tăng đầu tư vào tài sản ngắn hạn của công ty và khoản mục doanh thu của công ty trong kỳ lại có mức tăng mạnh, dẫn đến vòng quay của tài sản ngắn hạn tăng lên, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn tăng. Năm 2011 hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty là 0,07 lần, có nghĩa là Doanh nghiệp đầu tư 100 đồng vào tài sản ngắn hạn thì sẽ thu được 7 đồng doanh thu thuần. Năm 2012 con số này được nâng lên mức 0,15 lần tăng 0,08 lần so với năm 2011 và tăng mạnh trong năm 2013 lên mức 0,52 lần tăng 0,37 lần so với năm 2012. Nguyên nhân chủ yếu là do công ty đã có sự đầu tư hiệu quả và các khoản mục tài sản ngắn hạn, vì vậy đã tạo mức tăng đầu tư tương xứng với mức độ tạo ra doanh thu của tài sản từ đó làm cho hiệu suất sử dụng tài sản tăng. Tuy nhiên hệ số sử dụng tài sản ngắn hạn của Doanh nghiệp chưa được cao là do khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền của Doanh nghiệp chiếm 1 tỷ trọng rất lớn trong tài sản của doanh nghiệp, điều này làm cho hệ số sử dụng tài sản ngắn hạn của Doanh nghiệp thấp do khoản mục này không trực tiếp tham gia việc tạo doanh thu. Vì vậy, công ty cần có nhưng chính sách hợp lí sử dụng tài sản ngắn hạn để làm tăng doanh thu cho doanh nghiệp từ đó tăng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty. 2.2.5.1. Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn Thang Long University Library 47 Bảng 2.10: Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn Chỉ tiêu ĐVT Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Chênh lệch 2013-2012 Chênh lệch 2012-2011 Doanh thu thuần Đồng 2.829.080.023 796.010.085 267.178.899 2.033.069.938 528.831.186 TSDH BQ Đồng 249.922.371,5 82.659.020,5 11.411.301,5 167.263.351 71.247.719 HSSD TSDH Lần 11,31 9,63 23,41 1,68 (13,78) (Nguồn: Bảng cân đối kế toán và Báo cáo hoạt động SXKD) Ta thấy hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn của Doanh nghiệp cao điều này chứng tỏ Doanh nghiệp đã sử dụng tài sản dài hạn một cách hợp lí, ngoài ra hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn của Doanh nghiệp cao cũng là do giá trị khỏan mục tài sản dài hạn của Doanh nghiệp khá thấp. Trong năm năm 2011 đến năm 2012 có xu hướng giảm, tức là một đồng tài sản dài hạn đã tạo ra ít đồng doanh thu thuần hơn, năm 2011 thì 1 đồng tài sản dài hạn công ty bỏ ra sẽ thu lại được 23,41 đồng doanh thu thuần nhưng trong năm 2012 cứ 1 đồng đầu tư vào tài sản dài hạn thì công ty chỉ thu lại được có 9,63 đồng doanh thu thuần, con số này đã giảm 13,78 lần điều này thể hiện khả năng quản lý tài sản của công ty giảm. Nguyên nhân chủ yếu của sự sụt giảm về hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn là do trong năm nay 2012 doanh nghiệp chuyển địa điểm kinh doanh sản xuất và mở rộng thêm quy mô về nhân sự lẫn ban quản lí nên trong năm 2012 Doanh nghiệp đầu tư vào các thiết bị văn phòng mới trong các năm đó khiến cho mức tăng đầu tư tài sản cố định gia tăng lớn dẫn đến mức đầu tư tăng lên. Do các nhân viên mới chưa nắm bắt được hiệu quả trong kinh doanh, từ đó khả năng khai thác tài sản thấp, nên hiệu suất sử dụng tài sản cố định nói riêng và hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn nói chung giảm trong giai đoạn 2011 và 2012. Đến năm 2013, nhờ có sự thay đổi trong hoạt động kinh doanh và quản lý nên hiệu suất sử dụng TSDH đã tăng lên, một phần do doanh thu của công ty đã tăng thêm 2.033.069.938 đồng tương đương với 255,41% đã giúp cho hiệu suất sử dụng TSDH tăng lên cao so với năm trước. 2.2.5.2. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định Bảng 2.11: Hiệu suất sử dụng tài sản cố định Chỉ tiêu ĐVT Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Chênh lệch 2013-2012 Chênh lệch 2012-2011 Doanh thu thuần Đồng 2.829.080.023 796.010.085 267.178.899 2.033.069.938 528.831.186 NG TSCĐ BQ Đồng 133.838.623,5 36.902.338 12.571.429 96.936.285,5 24.330.909 48 Chỉ tiêu ĐVT Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Chênh lệch 2013-2012 Chênh lệch 2012-2011 HSSD TSCĐ Lần 216,5 21,57 21,25 194,93 0,32 (Nguồn: Bảng cân đối kế toán và Báo cáo hoạt động SXKD) Qua bảng 2.11, thấy trong hiệu quả sử dụng tài sản cố định của Doanh nghiệp rất cao và tăng qua các năm và đặc biệt là tăng mạnh trong năm 2013 Năm 2012, hệ số này là 21,57 lần tăng 0,32 lần sau với năm 2011, trong năm 2012 Doanh nghiệp bỏ 1 đồng vào tài sản cố định thì thu được 21,57 đồng. Trong giai đoạn này do doanh nghiệp chuyển hướng kinh doanh và có sự di chuyển địa điểm công ty nên có sự gia tăng trong tài sản cố định, năm 2011 tài sản cố định là 12.571.429 đồng và tăng lên mức 61.223.247 đồng tương ứng với mức tăng 387%. Ta thấy chỉ số hiệu suất sử dụng TSCĐ của Doanh nghiệp tăng là do trong năm 2012 doanh thu thuần tăng mạnh từ mức 267.178.899 đồng lên mức 796.010.085 đồng, điều này đã làm cho hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp trong năm 2012 có sự tăng nhẹ so với năm 2011. Năm 2013, hệ số này đã tăng vượt bậc từ mức 21,57 lần lên mức 216,5 lần tương ứng với mức tăng 903,7%, trong năm 2013 cứ 1 đồng doanh nghiệp đầu tư vào tài sản cố định thì doanh nghiệp thu được 216,5 đồng doanh thu thuần. Trong năm 2013, Công ty có sự chuyển hướng kinh doanh nên đã đầu tư thêm vào tài sản cố định, đồng thời trong năm này Doanh nghiệp đã kí kết được một số hợp đồng xây dựng, điều đó đã lí giải cho việc doanh thu thuần của doanh nghiệp đã tăng mạnh từ mức 796.010.085 đồng lên mức 2.829.080.023 đồng tương ứng với mức tăng 255,41% trong năm 2013. Có thế thấy Công ty đã có những chính sách sử dụng tài sản cố định hợp lí nhưng ta thấy tỉ trọng tài sản cố định vẫn còn khá nhỏ so với tổng tài sản của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần có những giải pháp tăng tài sản cố định lên một cách hợp lí nhằm làm tăng doanh thu thuần. 2.2.5.3. Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản Bảng 2.12: Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản Chỉ tiêu ĐVT Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Chênh lệch 2013-2012 Chênh lệch 2012-2011 Doanh thu thuần Đồng 2.829.080.023 796.010.085 267.178.899 2.033.069.938 528.831.186 TTS BQ Đồng 5.639.574.767 5.408.380.833 4.566.622.597 231.193.934 841.758.236 HSSD TTS Lần 0,5 0,15 0,058 0,35 0,092 (Nguồn: Bảng cân đối kế toán và Báo cáo hoạt động SXKD) Thang Long University Library 49 Nhìn vào bảng 2.12 có thể thấy được hiệu suất sử dụng tài sản đang có xu hướng tăng trong các năm tiếp theo và cao nhất vào năm 2013. Bên cạnh đó thì doanh thu thuần và tổng tài sản cũng đang có chiều hướng biến động theo chiều hướng tăng qua các năm, điều này cho thấy rằng việc sử dụng tài sản của công ty bước đầu đã đạt được hiệu quả như mong muốn. Cụ thể như sau: Năm 2011-2012: Năm 2012 hiệu suất sử dụng tổng tài sản là 0,15 lần tương ứng với mức tăng 0,092 lần so với năm 2011. Ở đây có thể hiểu rằng trong năm 2012 một đồng tài sản đưa vào hoạt động kinh doanh thì thu được 0,15 đồng doanh thu thuần. Chỉ số này tăng vào năm 2012 do tốc độ tăng của doanh thu thuần đạt 297,9% trong khi tài sản bình quân chỉ tăng thêm 18,43%. Chỉ số này tăng cho thấy năm 2012 Công ty đã sử dụng hiệu quả tài sản nhằm tạo ra doanh thu. Năm 2012-2013: Trong giai đoạn này, do chủ động bắt kịp nhịp độ của thị trường nên việc gia tăng sử dụng tài sản đã tiếp tục có hiệu quả, năm 2013 hiệu suất sử dụng tổng tài sản đạt mức 0,5 lần, tức một đồng tài sản được đầu tư sẽ thu về được 0,5 đồng doanh thu thuần. Tiếp tục tăng so với năm 2012 là 0,35 lần. Nguyên nhân là năm 2013 doanh thu thuần đã tăng lên 255,41% trong khi tổng tài sản bình quân chỉ tăng 4,27% so với cùng kì năm 2012. Tóm lại, qua các phân tích trên đây có thể nhận thấy rằng khả năng quản lý tài sản của công ty trong ba năm gần đây từ năm 2011 đến 2013 là tốt dần lên, hiệu suất sử dụng tài sản của công ty đều tăng dần qua 3 năm, điều này dẫn đến hiệu suất sử dụng tài sản đã tăng lên đạt 0,5 lần hay 1 đồng tài sản chỉ tạo ra được 0,5 đồng doanh thu thuần. Tuy nhiên, Công ty vẫn cần chú trọng hơn đến mức đầu tư và kế hoạch đầu tư vào tài sản ngắn hạn và dài hạn, khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp còn chiếm tỉ trọng rất lớn trên tổng tài sản, doanh nghiệp cần có sự thấy đổi về khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền về mức tối ưu và đầu tư thêm vào tài sản cố định đồng thời có các biện pháp hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy bán hàng để tăng doanh thu trong kỳ và từ đó khai thác tối đa công suất của tài sản. Tóm lại: Qua các phân tích chỉ số trên ta có thể thấy, Doanh nghiệp đã sử dụng tài sản cố định và tài sản dài hạn một cách hợp lí để tạo ra doanh thu cao. Tuy nhiên hệ số sử dụng tổng tài sản của Doanh nghiệp lại ở mức thấp, điều này là do Doanh nghiệp sử dụng tài sản ngắn hạn chưa hợp lí, trong tài sản ngắn hạn có khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền chiếm tỉ trọng lớn trong tổng tài sản của Doanh nghiệp, Doanh nghiệp cần có những chính sách nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cũng như đầu tư vào tài sản dài hạn và tài sản cố định để nhằm nâng cao doanh thu cho doanh nghiệp. 50 2.2.6. Phân tích các chỉ tiêu sinh lời của công ty Từ bảng cân đối kế toàn và báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty TNHH Vietland, ta có bảng thể hiện: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu và hệ số nhân vốn của Công ty TNHH Vietland. Thang Long University Library 51 Bảng 2.13: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu và hệ số nhân vốn của Công ty TNHH Vietland (Bảng cân đối kế toán và Báo cáo hoạt động SXKD) Chỉ tiêu ĐVT Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Chênh lệch 2013-2012 Chênh lệch 2012-2011 Lợi nhuận sau thuế Đồng 734.193.055 (305.013.434) 1.207.252 1.039.206.489 (340,71) Doanh thu thuần Đồng 2.829.080.023 796.010.085 267.178.899 2.033.069.938 528.831.186 TTS BQ Đồng 5.639.574.767 5.408.380.833 4.566.622.597 231.193.934 841.758.236 Vốn CSH BQ Đồng 5.615.087.061 5.400.497.250 4.552.400.341 214.589.811 848.096.909 Tỷ suất sinh lời Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) % 25,95 (38,32) 0,45 64,27 (38,77) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) % 13,02 (5,64) 0,026 18,66 (5,67) Tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE) % 13,07 (5,65) 0,027 18,72 (5,68) Hệ số nhân vốn EM % 100,4 100,1 100,3 0,3 (0,2) 52 Từ bảng 2.13, ta có biểu đồ thể hiện ROS, ROA, ROE của công ty TNHH Vietland Biểu đồ 2.4: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu của Công ty TNHH Vietland Nhìn vào bảng và biểu đồ đánh giá về các chỉ tiêu sinh lời của Doanh nghiệp, ta thấy trong năm 2011 các chỉ tiêu sinh lời của Doanh nghiệp đều ở mức rất thấp dưới 0,5% , điều này là do tình hình kinh tế của năm 2011 khá khó khăn, trị trường bất động sản bị đóng băng, Doanh nghiệp không nhận được hợp đồng lớn nào dẫn đến doanh thu của Doanh nghiệp thấp làm cho lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp không cao dẫn đến việc các tỉ suất sinh lời của Doanh nghiệp ở mức rất thấp. Chính vì vậy trong năm 2012, ban lãnh đạo của Công ty TNHH Vietland đã chuyển hướng kinh doanh từ chủ yếu là thi công công trình sang hướng tư vấn thiết kế, môi giới và cho thuê bất động sản. Trong năm 2012 doanh thu của doanh nghiệp tăng đáng kể. Tuy nhiên, để đáp ứng với việc chuyển hướng kinh doanh Doanh nghiệp đã thay đổi địa điểm kinh doanh sản xuất và mở rộng thêm quy mô nhân sự và ban quản lí doanh nghiệp tăng đầu tư vào các thiết bị văn phòng và các thiết bị phục vụ việc khảo sát thiết kế. Điều này đã làm tăng chi phí quản lý doanh nghiệp của năm 2012 tăng cao làm cho lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp bị âm nên các chỉ số về tỷ suất sinh lời của Doanh nghiệp trong năm này đều mang dấu âm. Năm 2013, nền kinh tế có chút khởi sắc, Doanh nghiệp kí được một số hợp đồng lớn về xây dựng và bộ máy nhân sự của Doanh nghiệp hoạt động một các trơn tru làm cho doanh thu của Doanh nghiệp trong 0.45 -38.32 25.95 0.026 -5.64 13.02 0.027 -5.65 13.07 -50 -40 -30 -20 -10 0 10 20 30 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Thang Long University Library 53 năm 2013 tăng mạnh theo đó lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp cũng tăng theo. Để làm rõ hơn điều này, ta tiền hành đi sâu vào các chỉ tiêu sinh lời của doanh nghiệp. 2.2.6.1. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu thuần thu về sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, chỉ tiêu này cũng cho nhà quản lý thấy được hiệu quả quản lý chi phí và doanh thu trong kỳ. Trong năm 2011, tỷ suất sinh lời trên doanh thu của Doanh nghiệp ở mức rất thấp chỉ 0,5%, tức là nếu doanh nghiệp bỏ ra 100 đồng doanh thu thuần thì doanh nghiệp chỉ thu lại được 0,5 đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu giảm trong năm 2012 và giảm xuống âm 38,32% và tiếp tục tăng trở lại vào năm 2013 đạt giá trị 25,95%. Trong năm 2013 thì các chỉ tiêu đánh giá cần quan tâm đều tăng, trong khi năm 2012 cứ 100 đồng doanh thu thì lỗ 38,32 đồng lợi nhuận thì đến năm 2013 đã có 25,95 đồng lợi nhuận. Để xem xét chính xác hơn nguyên nhân tăng giảm của tỷ suất sinh lời trên doanh thu chúng ta xem xét tới một số chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh có ảnh hưởng mạnh đến lợi nhuận sau thuế bao gồm: Doanh thu thuần, Giá vốn hàng bán, Chi phí quản lý kinh doanh,...Có thể thấy trong năm 2011 Doanh thu thuần của doanh nghiệp là 267.178.899 đồng và doanh thu từ hoạt động tài chính là 60.421.544 đồng, chi phi quản lý doanh nghiệp lại ở mức 326.393.191 đồng đã làm cho lợi nhuận sau thuế của Doanh nghiệp ở mức rất thấp chỉ là 1.207.252 đồng. Chính vì điều này doanh nghiệp đã chuyển hướng kinh doanh làm cho doanh thu của Doanh nghiệp trong năm 2012 tăng, nhưng trong năm này doanh nghiệp chuyển đổi mục đích kinh doanh sản xuất nên đã làm cho chi phí quản lý của doanh nghiệp tăng mạnh, dù doanh thu của Doanh nghiệp đã tăng nhưng vẫn không đáp ứng đủ chi phí quản lý doanh nghiệp dẫn đến việc lợi nhuận sau thuế của Doanh nghiệp bị âm. Năm 2013, do kí được một hợp đồng xây dựng nên doanh thu của doanh nghiệp trong năm 2013 đã tăng vượt bậc và đã đủ đáp ứng được chỉ phí quản lí doanh nghiệp trong năm 2013, điều làm cho lợi nhuân sau thuế của Doanh nghiệp năm 2013 này là 734.193.005 đồng tăng 1.039.206.489 đồng so với năm 2012. . Do mức biến động chi phí đầu vào đã ảnh hưởng đến lợi nhuận của Công ty trong năm vừa qua. Từ đó có thể đánh giá rằng Công ty đang có được nguồn doanh thu tốt và có sự tăng trưởng qua các năm, khả năng quản lý các chi phí cũng tốt hơn nên đã làm tăng khả năng sinh lời trên doanh thu của Công ty. Tuy nhiên, Công ty cũng cần có sự quản lý chi phí tốt hơn do doanh thu thuần của Công ty đạt giá trị cao nhưng lợi nhuận ròng lại có giá trị rất thấp. 2.2.6.2. Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) Là tỷ số đánh giá khả năng sinh lời từ việc khai thác tài sản của Công ty. Tỷ số này cho ta thấy Doanh nghiệp trong năm 2011 doanh nghiệp bỏ ra 100 đồng thì chỉ thu lại được 0,026 đồng. Năm 2012 con số này bị giảm 5,67% xuống mức âm 5,64%, có 54 nghĩa là trong năm này doanh nghiệp không những không thu được đồng nào mà còn bị mất đi 5,64 đồng.Năm 2013, Doanh nghiệp bỏ ra 100 đồng sẽ thu được 13,02 đồng tương đương tăng 18,66 đồng so với năm 2012. Năm 2011, tổng tài sản bình quân của Doanh nghiệp là 4.566.622.597 đồng và lợi nhuận sau thuế chỉ là 1.207.252 đồng làm cho chỉ số này ở năm 2013 là rất thấp. Năm 2012, Doanh nghiệp chuyển địa điểm và mở rộng qui mô của mình nên tổng tài sản của doanh nghiệp tăng lên, doanh thu trong năm 2012 cũng tăng nhưng không đáp ứng được chi phí quản lý doanh nghiệp nên đã làm cho lợi nhuận sau thuế năm 2012 bị âm dẫn đến tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản bị âm. Trong năm 2013 tài sản bình quân của Công ty tăng thêm 231.193.934 đồng và lợi nhuận ròng lại tăng 1.039.206.489 đồng. Vậy có thể thấy rằng hiệu suất sử dụng tài sản của Doanh nghiệp được cải thiện mạnh mẽ trong năm 2013, nhưng Công ty vẫn cần phải tìm cách nâng cao hiệu suất này khi để lợi nhuận tăng cao hơn với mức tăng của tài sản. Để có cái nhìn rõ hơn về tỷ suất sinh lời trên tài sản ta tiến hành phân tích Dupont ROA: Bảng 2.12 : Phân tích Dupont ROA Đơn vị tính: % Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Chênh lệch 2013-2012 Chênh lệch 2012-2011 ROS 25,95 (38,32) 0,45 64,27 (38,77) HSSD TTS 50 15 5,8 35 9,2 ROA 13,02 (5,64) 0,026 18,66 (5,67) Bảng 2.12 thể hiện cho ta thấy sự phụ thuộc của ROA vào ROS và hiệu quả sử dụng tổng tài sản. ROA của năm 2012 âm là do trong năm này Công ty kinh doanh thua lỗ. Năm 2013 ROA tăng lên rõ rệt từ -5,64% lên mức 13,02%, có thể thấy ROA tăng lên do ROS tăng vượt bậc trong năm 2013 và hiệu suất sử dụng tổng tài sản tăng từ 15% lên mức 50%. ROS trong năm 2013 có mức tăng mạnh như vậy là do lợi nhuận sau thuế của Công ty đã được cải thiện một cách rõ rệt từ -305.013.434 đồng lên mức 734.193.055 đồng, đây là nhân tố chính giúp giá trị của ROA được gia tăng. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản của doanh nghiệp cũng được cải thiện qua các năm, thể hiện sức sản xuất của tài sản được nâng cao, đây cũng là nhân tố tích cực giúp nhà quản trị tăng ROA. Vây để tăng ROA, các nhà quản trị cần tăng lãi ròng bằng cách tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp và tăng doanh thu thuần của doanh nghiệp thông qua việc đẩy mạnh các chiến dịch quảng bá sản phẩm cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm của mình. Ngoài ra, Ban lãnh đạo còn có thể tăng giá bán sản phẩm của mình việc này sẽ làm tăng doanh thu cho Công ty nhưng nó cũng có thể làm mất đi khách hàng của Thang Long University Library 55 Doanh nghiệp do giá của sản phẩm tăng lên làm cho khách hàng không còn thiện cảm, vì vậy việc tăng giá bán sản phẩm cần phải có một chiến lược phù hợp với sản phẩm. 2.2.6.3. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Nhìn vào bảng 2.17, ta thấy chỉ số tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của Doanh nghiệp có sự tương đương nhau. Trong bảng biến động về tài sản – nguồn vốn, khoản mục nguồn vốn của doanh nghiệp ta thấy vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp chiếm tỉ trọng rất lớn trên tổng nguồn vốn của doanh nghiệp năm 2011 là 99,79%, năm 2012 là 99,91% và năm 2013 con số này là 99,26% Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cho chúng ta biết hiệu quả của việc đầu tư nguồn vốn chủ sở hữu trong hoạt động kinh doanh của một đơn vị. Chỉ số này chứng minh tính hiệu quả của đồng vốn chủ sở hữu góp vào Công ty, năm 2011 cứ 100 đồng vốn bỏ ra thì chỉ thu được 0,027 đồng lợi nhuận, năm 2012 thì bị lỗ 5,65 đồng, năm 2013 thì thu được 13,07 đồng lợi nhuận. Tuy nhiên do vốn đầu tư của chủ sở hữu không tăng (giữ nguyên trong 3 năm 2011, 2012, 2013) và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối của doanh nghiệp được cải thiện xuống còn -17.816.412 đồng trong năm năm 2013, lợi nhuận ròng của doanh nghiệp trong năm 2013 tăng thêm 1.039.206.489 đồng nên đã giúp chỉ số này tăng thêm 18,72% trong năm 2013. Để có cái nhìn rõ hơn về tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ta tiến hành phân tích Dupont ROE: Bảng 2.13 : Phân tích Dupont ROE Đơn vị tính: % Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Chênh lệch 2013-2012 Chênh lệch 2012-2011 ROA 13,02 (5,64) 0,026 18,66 (5,67) EM 100,4 100,1 100,3 0,3 (0,2) ROE 13,07 (5,65) 0,027 18,72 (5,68) Nhìn vào bảng 2.13, ta thấy có sự tương đương giữa ROA và ROE điều này được lí giải qua hệ số nhân vốn, hệ số này luôn duy trì ở mức khoảng 100% trong 3 năm 2011 là 100,3%, ở năm 2012 là 100,1% và năm 2013 con số này là 100,4%. Để tăng tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu thì Ban giám đốc cần phải tăng ROA và EM. Ở mục trên đã đề cập đến cách tăng ROA. Để tăng EM thì doanh nghiệp cần phải giảm tỷ trọng của vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn, để làm được điều này thì tăng tỉ trọng nợ phải trả bằng cách huy động vốn từ một số nguồn bên ngoài và bên trong Công ty, việc này sẽ làm tăng tổng tài sản của Công ty. 56 Nhận xét: Dựa vào bảng trên có thể thấy tỷ suất sinh lời đã tăng lên trong các năm gần đây nhưng vẫn chưa đạt được mức cao nhất do hiệu quả trong kinh doanh còn kém, mức doanh thu và lợi nhuận chưa thực sự tương xứng với sự đầu tư của ban lãnh đạo công ty. Vì vậy công ty cần phải có sự thay đổi trong quản lý để sự đầu tư của ban lãnh đạo sẽ đem lại sự hài lòng cho các chủ đầu tư. 2.2.7. Đánh giá chung thực trạng tài chính của Công ty TNHH Vietland 2.2.7.1. Những kết quả đã đạt được Năm 2012, ban giám đốc đã có quyết định chuyển ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp từ nhận thi công công trình sang môi giới và cho thuê các bất động sản. Đó là một quyết định sáng suốt của ban giám đốc. Điều này được thể hiện qua việc doanh thu của doanh nghiệp tăng qua các năm và đặc biệt tăng mạnh trong năm 2013. Bên cạnh đó, Công ty không sử dụng các khoản vay dài hạn cũng như ngắn hạn, điều này giúp Công ty không phải chịu áp lực trả lãi và trả nợ. Các chỉ tiêu khả năng thanh toán của Công ty tuy có giảm trong giai đoạn 2012 – 2013 nhưng các hệ số này vẫn duy trì ở mức rất cao, thể hiện Công ty vẫn đủ khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính đúng thời hạn mà không gặp phải bất cứ khó khăn nào. Tốc độ vòng quay các khoản phải thu của doanh nghiệp tăng mạnh trong 3 năm. Điều này là do trong 3 năm này, Ban giám đốc đã thực hiện các chính sách thắt chặt tín dụng của Công ty, khoản phải thu của Công ty giảm mạnh qua các năm, và đặc biệt năm 2013 khoản mục các khoản phải thu ngắn hạn của Công ty đã về mức 0 đồng. Ta thấy lợi nhuận sau thuế của Công ty tại năm 2012 bị âm 305.013.434 đồng, nhưng trong năm 2013 con số này đã tăng vượt bậc lên mức 734.193.055 đồng, chứng tỏ Ban giám đốc của Công ty đã có nhưng chính sách và có kế hoạch phát triển cho công ty một cách hợp lí. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định và tài sản dài hạn của công ty luôn duy trì ở mức cao trong giai đoạn 2011 – 2013. Cho thấy Công ty đã sử dụng những tài sản này một cách rất hiệu quả Vốn chủ sở hữu của Công ty luôn chiếm tỷ trọng cao trong 3 năm 2011, 2012, 2013, điều này cho thấy sự tự chủ tài chính rất cao của Công ty TNHH Vietland. Công ty đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật có bề dày kinh nghiệm, gắn bó tâm huyết với công việc, đây là nguồn lực chính để phát huy và huy động tốt để phục vụ sản xuất kinh doanh, Sự đoàn kết, trách nhiệm đã được ban giám đốc các phòng ban và cán bộ công nhân viên thống nhất và giữ vững đó là yếu tố quyết định để công ty vượt qua được khó khăn và thử thách để Công ty càng ngày càng lớn mạnh và vững bước trên thương trường. Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty tương đối gọn nhẹ và hoạt động hiệu quả với quy mô của Công ty, điều này thể hiện ở cơ cấu và chức năng hoạt động của các phòng ban ở Công ty, các phòng ban hoạt động một cách độc lập nhưng có mối quan hệ hoạt Thang Long University Library 57 động và phối hợp chặt chẽ với nhau. Ban giám đốc của Công ty cũng thường xuyên có những cuộc kiểm tra, rà soát và đề ra những biện pháp kịp thời nhằm tập trung đẩy mạnh việc thực hiện kế hoạch của từng phòng ban cũng như kế hoạch của Công ty đã đề ra. Xuất phát từ thực trạng tài chính tại Công ty TNHH Vietland, ta nhận thấy khả năng tài chính của Công ty lành mạnh, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được nâng cao qua các năm. Thị trường của Công ty luôn được mở rộng và phát triển. Uy tín và vị thế cạnh tranh của Công ty trên thị trường ngày càng được khẳng định. Thị trường của Công ty đã được mở rộng trên khắp địa bàn Hà Nội và một số tỉnh thành lân cận. 2.2.7.2. Những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu Doanh thu hàng năm của Công ty có tăng nhưng chí phí quản lý Doanh nghiệp hàng năm của Công ty vẫn còn ở mức cao dẫn đến lợi nhuận sau thuế tuy có được cái thiện nhưng vẫn còn thấp. Nguyên nhân là do ngành nghề chính của Công ty trong năm 2011 là xây dựng công trình đã vấp phải sự cạnh tranh rất lớn từ các Doanh nghiệp mới trên thị trường cũng như sự đi xuống của nền kinh tế nói chung và thị trường bất động sản nói riêng, việc này đã làm cho nhu cầu về xây dựng bất động sản giảm xuống một các rõ rệt. Ngoài ra giá của các loại nguyên vật liệu, vật tư, thiết bị, phụ tùng máy móc các thiết bị phục vụ sản xuất liên tục tăng cao: Xăng dầu, điện,.và việc chuyển địa điểm trụ sở và mở rộng quy mô Công ty đã làm cho chi phí quản lí doanh nghiệp của Công ty tăng cao trong năm 2012 và năm 2013. Khoản nợ ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp luôn duy trì ở mức thấp, vốn chủ sở hữu luôn duy trì ở mức tỉ trọng rất cao trên tổng nguồn vốn kinh doanh của Công ty điều này chứng tỏ Công ty đã không sử dụng hiệu quả đòn bẩy tài chính nhằm tăng vốn hoạt động cho doanh nghiệp để làm tăng lợi nhuận sau thuế cũng như tạo ra một áp lực cho Công ty để Công ty có những chính sách để nâng cao hiệu quả hoạt động. Các chỉ tiêu quay vòng hàng tồn kho của doanh nghiệp vẫn còn ở mức thấp là do phần lớn hàng tồn kho của Công ty là các trang thiết bị nhằm phục vụ việc khảo sát tư vấn mang tính chất ngành nghề kinh doanh nên vẫn tồn ở mức lớn và việc giá vốn hàng bán của Công ty ở mức thấp, năm 2011 và 2012 giá vốn hàng bán bằng 0 và con số này ở năm 2013 chỉ là 89.220.740 đồng và hàng tồn kho trong 2 năm 2011, 2012 duy trì ở mức 44.148.276 đồng năm 2013 tăng lên 166.210.908 đồng, tuy năm 2013 giá vốn hàng bán đã tăng nhưng việc hàng tồn kho tăng mạnh đã là cho vòng quay của hàng tồn kho ở mức 0,85 và cần tới 429 ngày để hoàn thành một vòng quay hàng tồn kho. Khoản mục tiền và khoản tương đương tiền của Công ty luôn duy trì ở mức rất lớn cộng với việc tài sản cố định và tài sản dài hạn luôn ở mức thấp đã làm cho hiệu 58 suất sử dụng toàn bộ tài sản và hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn ở mức rất thấp. Ngoài ra điều này còn làm cho các hệ số sinh lời trên tổng tài sản, tài sản ngắn hạn của Công ty trong các năm gần đây luôn ở mức thấp, nó được thế hiện qua một số chỉ tiêu đã được tính toán ở Chương 2 (ROA, ROE, ..), nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một bài toán rất khó tìm ra lời giải nhưng Công ty không có một con đường lựa chọn nào khác là tìm ra được đáp só và lời giải cho bài toán này nếu doanh nghiệp muốn phát triển. Thang Long University Library 59 CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH VIETLAND. 3.1. Định hƣớng phát triển của Công ty TNHH Vietland trong thời gian tới 3.1.1. Hướng phát triển của thị trường bất động sản Việt Nam trong những năm tới Với sự vào cuộc tích cực của các Bộ, ngành có liên quan và các địa phương trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ, thị trường bất động sản nói chung và thị trường nhà ở nói riêng trên địa bàn cả nước đã có phản ứng tích cực, cơ cấu nguồn cung nhà ở đã bắt đầu có sự điều chỉnh phù hợp hơn với nhu cầu của thị trường. Niềm tin của khách hàng đối với thị trường đang dần được hồi phục. Phân khúc nhà ở xã hội và những căn hộ nhà ở thương mại có diện tích nhỏ được người dân quan tâm và đã có nhiều giao dịch thành công hơn trước. Trong thời gian qua, có nhiều tín hiệu vui từ thị trường, trong đó có các giải pháp tài chính từ phía ngân hàng, trong đó có gói 30 nghìn tỉ và gói 50 nghìn tỉ. Khác biệt của hai gói này là: Gói 30 nghìn tỉ ưu đãi nhằm vào các sản phẩm nhà ở xã hội và là chương trình của Chính phủ. Có 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước được giải ngân, được tái cấp vốn 100% với lãi suất ưu đãi. Gói này tạo ra các hiệu ứng: thứ nhất, hình thành thị phần nhà ở xã hội đúng với khả năng mua nhà của người dân; thứ hai, gói tín dụng này góp phần kéo giá thành nhà ở xuống thấp, tạo cú hích đầu tiên và là đòn bẩy để thị trường bất động sản Việt Nam thoát khỏi thời kì đóng băng. Còn gói 50 nghìn tỉ đồng là gói tín dụng thương mại trong sản xuất nhằm tạo ra hiệu ứng lớn nhắm vào các dự án đang dở dang. Đầu năm 2014, thị trường bất động sản tiếp tục có dấu hiệu khởi sắc, lượng giao dịch tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, giá nhà có dấu hiệu chững lại, không giảm liên tiếp như năm ngoái, thậm chí có dự án tăng giá nhẹ tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn Hà Nội có khoảng 2.300 giao dịch thành công (riêng Quý I có trên 1.500 giao dịch, gấp gần 2 lần so với cùng kỳ năm 2013). Trong đó, giao dịch tăng cao tại những dự án nhà ở thương mại có giá bán phù hợp, diện tích nhỏ, giao thông thuận lợi, đã bàn giao hoặc đang hoàn thiện. Một số dự án nhà thấp tầng có diện tích nhỏ, giá hợp lý (25-27 triệu đồng/m2) có lượng giao dịch cao. Một số dự án nhà ở thương mại có giá thấp, tuy xa trung tâm nhưng có tiến độ thi công đảm bảo và sắp bàn giao cũng có giao dịch tốt. 3.1.2. Định hướng phát triển của Công ty TNHH Vietland Trước những thuận lợi và khó khăn, để không ngừng nâng cao sức mạnh cạnh trạnh trên thương trường và xu thế phát triển của thị trường bất động sản Việt Nam, Ban giám đốc của Công ty TNHH Vietland đã tập trung để xây dựng chiến lược phát triển và kinh doanh của Công ty trong thời gian tới. Việc làm trọng tâm của Công ty 60 trong thời gian tới là xây dựng, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực quản lý, có trình độ chuyên môn, có khả năng đảm nhiệm, giải quyết được nhiều công việc, hiểu biết sâu về ngành nghề của Công ty,..Ngoài ra Công ty còn cần tuyển dụng người lao động mới đúng chuyên ngành và tuyển chọn đưa cán bộ đi đào tạo. Dành sự quan tâm thích đáng về nhân lực và tài chính cho công tác khảo sát và nghiên cứu thị trường, từ đó Công ty mới có thể hoạch định được các chính sách mới phù hợp với thị trường, phân tích và xác định chính xác được thị trường mục tiêu mà Công ty nhắm đến trong hiện tại và trong tương lai, khả năng phát triển thị trường của Công ty ra các tỉnh thành lân cận,.Từ đó xây dựng được chiến lược phát triển phù hợp, liên kết với các đối tác nhằm nâng cấp và mở rộng hoạt động kinh doanh của Công ty. Trên cơ sở của việc định hướng phát triển Công ty, để tồn tại và phát triển trong điều kiện mới Ban giám đốc Công ty đã đề ra những định hướng và chiến lược cho Công ty như sau:  Nâng cao uy tín trên thị trường của Công ty nhằm tạo lợi thế mở rộng thị trường, mở rộng các hoạt động liên doanh, liên kết nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kính doanh của Công ty. Duy trì thường xuyên công tác thanh kiểm tra hoạt động và hiệu quả hoạt động của các phòng ban trong Công ty.  Thường xuyên kiểm tra qui trình tư vấn thiết kế, khảo sát các công trình bất động sản, tiến độ thi công nhằm đảm bảo chất lượng công trình.  Thực hiện một số biện pháp nhằm đơn giản hóa thủ tục môi giới và cho thuê nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khách hàng giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí. Mục tiêu trong năm 2014 của Công ty:  Dự kiến doanh thu đạt mức: 3,9 tỷ đồng  Dự kiến lợi nhuận đạt mức : 2,1 tỷ đồng  Dự kiến thu nhập bình quân đạt mức: 6 triệu đồng/ người/ tháng 3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao tình hình tài chính của Công ty TNHH VietLand. 3.2.1. Những yêu cầu cơ bản khi xây dựng giải pháp nâng cao tình hình tài chính.  Giải pháp nâng cao khả năng tài chính phải dựa trên sự phân tích đầy đủ về thực trạng tài chính cho đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty thông qua bảng báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán.  Giải pháp nâng cao khả năng tài chính phải dựa trên những tiềm năng và thế mạnh thực tế của Công ty TNHH Vietland để các giải pháp này có thể đạt được hiệu quả cao nhất. Thang Long University Library 61  Giải pháp nâng cao khả năng tài chính phải đảm bảo cho Công ty phát triển một cách bền vững, nâng cao được năng lực cạnh tranh trong điều kiện và tình hình mới của cơ chế thị trường. 3.2.2. Những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao tình hình tài chính của Công ty TNHH Vietland. 3.2.2.1. Giải pháp nâng cao lợi nhuận sau thuế Một số biện pháp cơ bản nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp: Tùy thuộc vào từng doanh nghiệp, từng ngành nghề kinh doanh để áp dụng giải pháp nâng cao lợi nhuận chứ không thể quan niệm một cách cứng nhắc rằng cứ giảm chi, tăng thu là nâng cao lợi nhuận, đạt hiệu quả kinh doanh mà phải giảm chi và tăng thu một cách toàn diện sao cho tốc độ tăng của chi phí luôn thấp hơn tốc độ tăng của Doanh thu. Để có được điều này thì Công ty cần phải thực hiện những biện pháp sau: - Thứ nhất, Công ty cần đẩy mạnh Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của mình. Để làm được điều này thì Công ty cần phải tăng cường tìm hiểu thị trường, bám sát, nắm bắt nhu cầu của khách hàng về thuê và thiết kế bất động sản. Công ty cần tổ chức tốt công tác điều tra và nghiên cứu thị trường. Điều này giúp Công ty nắm được thị trường đang cần những gì, sức mua của thị trường như thế nào cũng như những đối thủ cạnh tranh của mình từ đó xây dựng được kế hoạch kinh doanh cho Công ty mình. Công ty trong năm 2014 cần tập trung vào nghiên cứu thị trường văn phòng và căn hộ cho thuê ở một số khu vực trung tâm nội thành Hà Nội, khu vực Mỹ Đình, Từ Liêm,.... và vùng trung tâm của các tỉnh thành lân cận Hà Nội. - Thứ hai, công tác điều tra và nghiên cứu thị trường trong Công ty chưa thực sự được coi trọng. Trong nền kinh tế hiện nay thì Công ty không thể coi nhẹ công tác này. Công ty nên có kế hoạch nghiên cứu thị trường hoàn chỉnh, công tác này phải trở thành hoạt động thường xuyên của Công ty trong thời gian tới. Hàng tháng bộ phận nghiên cứu thị trường phải lập các báo cáo chi tiết, chính xác về thị trường để Ban giám đốc có thể căn cứ vào đó đề ra kế hoạch kinh doanh có hiệu quả. Thông qua hoạt động thăm dò, Công ty cũng sẽ phân tích được thuận lợi, khó khăn của từng thị trường từ đó tìm ra giải pháp để phát triển và mở rộng thị trường từng vùng. Để làm được điều này Công ty nên thành lập bộ phận marketing tách riêng với phòng kinh doanh. Nhân viên phòng này nên được lựa chọn từ phòng kế hoạch và phòng kinh doanh vì họ đã có sẵn kinh nghiệm và họ có sự am hiểu nhất định về thị trường của Công ty. - Thứ ba là phát triển mạng lưới sản phẩm của Công ty, điều này hết sức quan trọng. Công ty có dịch vụ môi giới cho thuê bất động sản nên sản phẩm cần 62 phải có tính đa dạng và trải rộng, khách hàng có nhu cầu về bất động sản ở khu vực nào thì Công ty cần phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về vị trí, giá thành cũng như đặc điểm về bất động sản mà khách hàng yêu cầu. - Công ty cũng cần phải dành một khoản tiền cho hoạt động quảng cáo. Việc quảng cáo bán hàng là hết sức quan trọng đối với Công ty. Ngoài ra việc lựa chọn phương thức quảng cáo cũng hết sức quan trọng, quảng cáo cần phải đem đến cho khách hàng của mình đầy đủ các thông tin về sản phẩm của mình. Hiện nay doanh nghiệp đang sử dụng hình thức quảng cáo sản phẩm của Công ty mình thông qua 2 kênh là báo giấy và qua một số các website. Hoạt động quảng cáo hiện nay đã đem lại một số hiệu quả nhất định nhưng vẫn cần phải nâng cao. Trong năm 2014, Công ty cần tăng cường quảng cáo thông qua một số website nổi tiếng, có lượng truy cập lớn như dantri.com, vnexpress.net,. Ngoài ra cần phải sử dụng một số biện pháp để tăng rank cho website của chính Công ty nhằm làm cho người có nhu cầu có thể tìm kiếm dễ dàng các sản phẩm của Doanh nghiệp khi họ có nhu cầu. Bênhcạnh đó Công ty cũng nên sử dụng quảng cáo thông qua kênh radio, phát tờ rơi,.. - Công ty cũng cần phải hoàn thiện về dịch vụ trước và sau bán hàng đối với các sản phẩm mà công ty xây dựng, môi giới và hoàn thiện, cần phải có chế độ bảo hành cũng như có chế độ kiểm tra, bảo dưỡng định kì với sản phẩm đã bàn giao cho khách hàng. - Công ty cũng cần phải tổ chức lao động một cách khoa học, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả chi phí tiền lương. Công ty cần phải sắp xếp “Đúng người đúng việc” từ đó mới có thể nâng cao được chất lượng giờ công, ngày công, phát huy được sở trường của từng nhân viên từ đó đạt được hiệu quả lao động cao . 3.2.2.2. Giải pháp cân bằng tỷ trọng nguồn vốn Quan phân tích ở chương 2 ta thấy cơ cấu vốn chủ sở hữu của công ty trong tổng nguồn vốn của Công ty là rất cao, điều này cho thấy công ty chủ yếu đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh bằng nguồn vốn tự có. Điều này thể hiện việc Công ty có khả năng tự chủ tài chính, không phải phụ thuộc và các cá nhân, tổ chức cho vay. Mặt khác điều này thể hiện công ty chưa linh hoạt trong việc sử dụng vốn từ hoạt động đi vay cũng như chưa sử dụng được công cụ đòn bẩy tài chính. Để khắc phục tình trạng này, Công ty cần thực hiện những biện pháp sau: - Phân tích rõ nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn, mức độ rủi ro kinh doanh và mục tiêu an toàn đặt ra cho doanh nghiệp, trên cơ sở đó xác định cơ cấu vốn tối ưu. - Sử dụng các nguồn vốn vay từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Việc sử dụng nguồn vốn này tác dụng tạo ra một áp lực nhất định tác động lên Công ty, thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Để làm được điều này thì Thang Long University Library 63 thi Doanh nghiệp cần phải có tình hình tài chính tốt và bắt buộc phải có những phương án kinh doanh mang tính khả thi cao và đem lại lợi nhuận lớn. Công ty khi đã vay nợ thì phải sử dụng nợ một cách hợp lí, phát huy được tối đa hiệu quả sử dụng nợ nhằm nâng cao hiệu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. - Tăng cường huy động vốn từ cán bộ công nhân nhân viên trong công ty. Đây là một hình thức vay linh hoạt, dễ dàng, có chi phi huy động thấp và ổn định. Huy động nguồn vốn nội bộ một mặt có ý nghĩa kinh tế đối với doanh nghiệp, giúp công ty có thêm vốn để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác mang lại sự gắn bó giữa công ty với cán bộ công nhân viên khi đặt lợi ích của họ trong lợi ích công ty, khuyến khích tinh thần lao động của cán bộ công nhân viên. Tuy nhiên đây là hình thức đi vay không kỳ hạn do đó có một số hạn chế như sau: không sử dụng để tài trợ cho nhu cầu vốn thường xuyên vì người cho vay có thể rút bất kì lúc nào, điều này có thể gây áp lực thanh toán với Công ty. Công ty cần có những biện pháp thu hút nguồn vốn như: tính thuận tiện trong thanh toán, lãi suất hấp dẫn và phải hợp lí. 3.2.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý và sử dụng hàng tồn kho tại Công ty. Quản lý và sử dụng hàng tồn kho là công việc không thể thiếu đối với bất cứ một Doanh nghiệp nào. Mục tiêu của việc quản lý và sử dụng hàng tồn kho là làm sao có thể kiểm soát được một định mức dự trữ nguyên vật liệu, các nguyên vật liệu cần thiết khác vừa đủ để đáp ứng nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh và vừa tránh được rủi ro và đặc biệt là đạt chi phí dự trữ thấp nhất. Qua phân tích ta thấy hàng tồn kho trong 2 năm 2011 và 2012 giữ nguyên ở mức 44.148.276 đồng và năm 2013 tăng lên mức 166.210.908 đồng. Thời gian của một vòng quay hàng tồn kho của Công ty trong năm 2013 ở mức rất cao. Do vậy, trong thời gian tới Công ty cần đẩy nhanh tiến độ thi công của các công trình xây dựng mà công ty đã nhận trong năm 2013, tiến hành bàn giao và quyết toán với các chủ đầu tư cũng như các nhà thầu thi công, đẩy nhanh thời gian của việc khảo sát các công trình cho thuê. Tránh ứ đọng hàng tồn kho và tăng nhanh tốc độ luân chuyển của hàng tồn kho. Trong năm tới Công ty cần phải: - Thực hiện một mức dự trữ nguyên vật liệu hợp lí và vừa đủ. Không nên để khoản mục hàng tồn kho của Công ty có mức tăng lớn hơn giá vốn hàng bán của Công ty qua các năm. - Đẩy nhanh tiến độ thi công, khảo sát các công trình của Công ty, sớm bàn giao công trình, tránh tình trạng vốn bị ứ đọng, vốn luân chuyển bị chậm. Càng nâng cao hơn nữa việc tăng vòng quay của hàng tồn kho sẽ góp phần tăng doanh thu cho Công ty. 64 Ngoài ra, Công ty cũng cần phải trích lập một khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho để tránh các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh do các điều kiện khách quan tác động lên. 3.2.2.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng khoản tiền và các khoản tương đương tiền tại Công ty Có thể thấy các khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền của Công ty luôn chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng tài sản của Công ty. Điều này chứng tỏ Công ty có tiềm lực tài chính vững mạnh. Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn và Tài sản cố định của công ty luôn được duy trì ở mức cao nhưng tỉ trọng của 2 loại tài sản này trên tổng tài sản của Công ty lại rất thấp, Doanh nghiệp cần giảm bớt tỉ trọng của khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền xuống để đầu tư vào tài sản dài hạn và tài sản cố định để tăng được hiệu quả sử dụng tổng tài sản của Công ty. Tuy nhiên khi đầu tư vào cần phải lựa chọn, mua sắm thiết bị công nghệ hợp lý và lập kế hoạch, phương pháp để sử dụng một cách hiệu quả. Các thiết bị được mua sắm cần phải có tính chất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Ngoài ra thị trường chứng khoán Việt Nam đang ngày càng phát triển thì việc sử dụng các chứng khoán là có thể áp dụng được. Tuy nhiên đối với một doanh nghiệp hoạt động xây dựng và tư vấn bất động sản thì việc kinh doanh chứng khoán là hơi mạo hiểm và cần phải có những chuyên gia tài chính. Nhưng với những loại chứng khoán có tính thanh khoản cao và độ rủi ro thấp như tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc thì việc nắm giữ nó lại là một lợi thế . Cụ thể là thay vì dự trữ hoàn toàn bằng tiền mặt thì Công ty có thể nắm giữ một phần chứng khoán này. Số tiền mặt trong ngân quỹ của Công ty không phải một lúc là có thể dùng tất cả cho việc xuất quỹ mà có những khoản tiền nhàn rỗi mà Công ty chưa dùng đến. Hơn nữa mức tiền dự trừ còn bao gồm cả mức dự trữ an toàn, có thể có những kỳ hoạt động mà Công ty không cần dùng đến số tiền đó. Và số tiền mặt của công ty không có khả năng sinh lời, thậm chí khả năng sinh lời còn âm do lạm phát làm đồng tiền mất giá. Vậy nếu ta thay bằng việc dự trữ chứng khoán thì trong lúc ta chưa dùng đến khoản tiền thì khoản tiền đó được đầu tư và sinh lời, đem lại thu nhập từ hoạt động tài chính cho Công ty. Việc đầu tư vào các loại chứng khoán nợ này là rất an toàn tuy khả năng sinh lời của các loại chứng khoán này là không cao, hơn nữa trong trường hợp Công ty cần đến tiền mặt ngay thì Công ty có thể đem các chứng khoán này đến ngân hàng để xin chiết khấu rất dễ dàng, nhanh chóng và chi phí không cao. Tất nhiên việc dữ trữ bao nhiêu cũng phải dựa trên kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ việc sử dụng các chứng khoán thì Công ty có thể áp dụng xác định mức dự trữ ngân quỹ theo mô hình Baumol. Với việc áp dụng mô hình này, doanh nghiệp Thang Long University Library 65 nghiệp sẽ làm giảm tối đa chi phí cho việc sử dụng tiền và các khoản tương đương tiền, từ đó làm tăng hiệu quả sử dụng khoản mục này tại công ty. 3.2.2.5. Giải pháp nâng cao trình độ cũng như đời sống của cán bộ công nhân viên Đối với bối cảnh như hiện nay thì yếu tố con người là yếu tố quan trọng nhất, quyết định trực tiếp đến năng lực hoạt động của công ty. Song song với việc đầu tư đổi mới trang thiết bị và ngành nghề thì trình độ người lao động phải tương xứng với sự hiện đại của máy móc. Trong thời gian tới, công ty cần tiếp tục đẩy mạnh công tác bồi dưỡng cán bộ công nhân viên, đào tạo về mặt chuyên môn nghiệp vụ cũng như nâng cao tay nghề và trình độ hiểu biết của những nhân viên phụ trách mảng kỹ thuật. Bên cạnh đó, cần có chế độ quan tâm, chăm sóc, động viên khen thưởng kịp thời những cá nhân hoặc tập thể làm việc hiệu quả và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đồng thời chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân viên để họ yên tâm công tác. Vừa rồi, em đã mạnh dạn đưa ra nhưng đóng góp, ý kiến của mình về một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở công ty TNHH Vietland trong giai đoạn sắp tới. Hy vọng với sự lãnh đạo sáng suốt của Ban giám đốc cùng với sự nỗ lực, quyết tâm và đoàn kết của toàn bộ công nhân viên trong công ty, những năm tiếp theo công ty sẽ thu được nhiều kết quả cao hơn và khẳng định được vị thế của mình trên thị trường. . 66 KẾT LUẬN Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu chính trước hết của các doanh nghiệp hiện nay là làm sao có thể làm tối đa hóa lợi nhuận. Lợi nhuận không chỉ đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tồn tại mà nó còn là điều kiện để doanh nghiệp càng ngày càng phát triển. Để có được lợi nhuận và loại nhuận ngày càng tăng thì doanh nghiệp từng bước phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Là một công ty TNHH, Công ty TNHH Vietland đã vượt qua bao khó khăn, thử thách để tồn tại và phát triển. Đây là một thành công lớn của Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ công nhân viên trong toàn bộ công ty. Bên cạnh những điều đã đạt được trong thời gian qua, công ty cũng còn có nhưng khỏ khăn từ chính bản thân công ty cũng như từ phía khách quan đem lại. Việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là yếu tố tất yếu cho sự phát triển của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc phân tích tình hình tài chính của Công ty là một công việc rất quan trọng, là phương pháp chủ yếu để tìm ra các ưu nhược điểm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, đồng thời qua đây tìm ra các tiềm năng chưa được khai thác để có biện pháp sử dụng các tiềm năng đó. Do nhận thức được vai trò và ý nghĩa của công tác phân tích tài chính trong việc tồn tại và phát triển của Công ty nên trong thời gian qua Công ty đã không ngừng tìm tòi phát huy nỗ lực để tìm hướng đi và phát triển cho doanh nghiệp. Và thực tế cho thấy Công ty TNHH Vietland đã và đang đứng vững, phát triển trên thị trường trong điều kiện cạnh tranh hết sức gay gắt. Điều này chứng tỏ rằng Công ty TNHH Vietland đang hoạt động một cách có hiệu quả trong cơ chế thị trường này. Tuy nhiên để có thể đứng vững và phát triển trong tương lại thì đòi hỏi Công ty cần phải đưa ra được những biện pháp để nâng cao tình hình tài chính của Công ty. Do thời gian và sự hiệu biết vẫn còn hạn chế nên trong khóa luận này mới chỉ nghiên cứu và phân tích một số chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của Công ty TNHH Vietland. Từ đó thấy được những nỗ lực, cố gắng cũng như thành tựu mà Công ty đã đạt được, đồng thời trong khóa luận này cũng đã nêu lên được một số vẫn đề còn tồn tại và khó khắn của Công ty. Bằng những kiến thức đã tích lũy được thông qua quá trình học tập và những kinh nghiệp của bản thân em thông qua quá trình thực tập tại công ty e cũng xin đưa ra một số ý kiến về các giải pháp có thể áp dụng để cải thiện và nâng cao tình hình tài chính của Công ty trong những năm tới. Tuy nhiên do thời gian có hạn và hiểu biết còn hạn chế nên bài viết của e không thể tránh khỏi sai sót. Em rất mong nhận được những ý kiến của thầy cô giáo, của cán bộ công nhân viên Công ty TNHH Vietland để bài viết của em được hoàn thiện hơn. Thang Long University Library 67 Em xin chân thành cảm ơn Cô giáo Th.s Nguyễn Hồng Nga đã hướng dẫn em tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian em làm bài khóa luận này cũng như cung cấp tài liệu giúp em hoàn thành bài luận văn này một cách tốt nhất. Hà Nội, ngày 01 tháng 07 năm 2014 Sinh viên thực hiện Nguyễn Hữu Lâm PHỤ LỤC Bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Vietland năm 2010 Bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Vietland năm 2011 Bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Vietland năm 2012 Bảng cân đối kế toán của Công ty TNHH Vietland năm 2010 Bảng cân đối kế toán của Công ty TNHH Vietland năm 2011 Bảng cân đối kế toán của Công ty TNHH Vietland năm 2012 Thang Long University Library TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính, Hà Nội – 2008, Chủ biên: PGS. TS. Nguyễn Đình Kiệm & TS. Bạch Đức Hiền. 2. Quản trị kinh doanh – GS.TS. Nguyễn Thành Độ - TS. Nguyễn Ngọc Huyền, NXB Lao động – Xã Hội, Hà Nội 2009. 3. Giáo trình Khoa học Quản lý Tập II, NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội-2002, Chủ biên: TS. Đoàn Thị Thu Hà – TS. Nguyễn Thị Ngọc Huyền. 4. Một số luận văn của các bạn sinh viên trường Đại học Thăng Long.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftoan_van_a16105_5322_1512.pdf
Luận văn liên quan