Khóa luận Tiếp cận và đầu tư vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội của các hộ nghèo xã Diễn cát, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

Vấn đề XĐGN đặc biệt ở nông thôn nước ta luôn là một đề tài có tính xã hội và thời sự, giải quyết nó là trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành và mọi người dân cả nước. Đối với Chính phủ, trong những năm qua đã đưa ra nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ cho người nghèo phát triển trong đó có NHCSXH ra đời với chính sách tín dụng ưu đãi nhằm hỗ trợ người nghèo vượt qua thất bại trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực về vốn cho sản xuất, sinh hoạt. Đây là một giải pháp quan trọng giúp các hộ nghèo có vốn để đầu tư sản xuất, thay đổi dần phương thức sản xuất lạc hậu, manh mún, tự cung tự cấp sang phương thức sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công to lớn của mỗi giải pháp cũng đều tồn tại những vấn đề nhất định. Chính sách ra đời đã giúp nhiều hộ thoát nghèo nhưng cũng có không ít hộ nghèo vẫn, đã và đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận cũng như khó sử dụng nguồn vốn được vay có hiệu quả bền vững. Điều này là do sự khác biệt giữa tín dụng với người nghèo, một bên là nguồn lực của kinh tế thị trường vận động theo các nguyên tắc của thị trường và một bên là người nghèo với năng lực yếu kém, chậm chuyển đổi trong tư duy làm ăn để có thể hòa nhập vào sự phát triển chung của xã hội. Sự khác biệt này khiến cho các nguồn lực tín dụng khó xâm nhập vào kinh tế của người nghèo và bản thân người nghèo cũng khó tiếp cận và sử dụng có hiệu quả nguồn lực đặc biệt này cho XĐGN. Trước bối cảnh như vậy, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tiếp cận và đầu tư vốn vay từ NHCSXH của các hộ nghèo xã Diễn Cát huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An” đã đúc rút ra những vấn đề sau: 1. Mục đích vay chủ yếu là để sản xuất tạo thu nhập. Hình thức đầu tư thông dụng nhất là chăn nuôi chủ yếu là chăn nuôi bò. Một số hộ sử dụng vốn để XDCT, làm vườn, NTTS, làm nghề. 2. Các hộ nghèo cơ bản đã biết cách sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, bước đầu đã tạo ra cơ sở cho phát triển bền vững thông qua chăn nuôi đại gia súc sinh sản và một số mô hình sản xuất khác. Vốn vay cho hộ nghèo đã trở thành công cụ đắc lực để XĐGN ở nông thôn. ĐẠI HỌC

pdf77 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 04/08/2017 | Lượt xem: 592 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Tiếp cận và đầu tư vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội của các hộ nghèo xã Diễn cát, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
, thiếu vốn đầu tư. Sự thiếu vốn này cũng được các hộ biết tới là sự đầu tư thiếu đồng bộ giữa con giống - thức ăn - điều kiện vệ sinh chuồng trại và điều kiện chuồng trại không tốt lại là một trong những nguyên nhân dẫn tới rủi ro cho hộ. Về lãi suất, do NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nên lãi suất phổ biến áp dụng cho các đối tượng vay vốn là thấp hơn nhiều so với các tổ chức,cá nhân có nguồn vốn tín dụng khác trên địa bàn. (Biểu đồ 2.3) Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra Biểu đồ 2.3. Lãi suất cho vay phổ biến của các nguồn vốn trên địa bàn xã Trong 3 năm trở lại đây, lãi suất mà ngân hàng áp dụng phổ biến cho các hộ vay vốn để XĐGN là 0,65%/tháng tức 7,8%/năm, với đối tượng HSSV áp dụng mức lãi suất 0,5%/tháng tức 6%/năm. Trong khi đó, NHNo áp dụng mức lãi suất cho vay phổ biến đối với các khoản vay trung và dài hạn của hộ nông dân là 1,2%/tháng tức 14,4%/năm, cao hơn 6,6%/năm so với lãi suất của NHCSXH. Đây là các mức lãi suất phổ biến mà NHCSXH cũng như NHNN thường xuyên cho vay. Qua đó cho thấy lãi ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 35 suất mà NHCSXH áp dụng đối với khách hàng là rất ưu đãi so với các tổ chức khác đóng trên địa bàn. Như vậy với lãi suất thấp (ưu đãi) mà Chính phủ áp dụng ở trên đã hoàn toàn khuyến khích được các hộ vay vốn đầu tư vào sản xuất, sinh hoạt nhằm cải thiện cuộc sống hiện tại của hộ. Mặc dù nhiều hộ vẫn mong muốn lãi suất hạ thấp hơn nữa nhưng tất cả đều hoàn toàn hài lòng với Ngân hàng. 2.3.3. Mục đích đầu tư của vốn vay Mục đích vay vốn của hộ nghèo là rất khác nhau. Qua điều tra cho thấy, đa số các hộ vay vốn đều đầu tư vào chăn nuôi đại gia súc sinh sản, một số ít đầu tư vào trồng trọt, làm nghề, NTTS, hoặc mua sắm các vật dụng trong gia đình... (Bảng 2.6) Bảng 2.6. Mục đích vay vốn đầu tư của hộ nghèo theo đăng ký TT Chỉ tiêu Tỷ trọng (%) 1 Chăn nuôi 65 2 Trồng trọt 3,33 3 NTTS 3,33 4 Nghề 1,67 5 Tiêu dung 15 6 Khác 11,67 Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra Trong tổng số 60 hộ điều tra có tới 65% số hộ dân vay vốn cho chăn nuôi, trong đó có 38,46% sử dụng vốn cho chăn nuôi bò sinh sản, 33,33% dùng vốn để XDCT và chăn nuôi bò sinh sản; 28,21% dùng vốn để XDCT. Trong khi đó số vốn được vay đầu tư vào các mục đích khác như trồng trọt, NTTS, làm nghề, tiêu dùng... chỉ chiếm với tỷ lệ thấp. 3,33% số hộ vay vốn để đầu tư vào trồng trọt và đó cũng là tỷ lệ số hộ vay vốn để NTTS. Số hộ vay vốn để đầu tư vào làm nghề chiếm 1,67%, tiêu dùng chiếm 15% và số hộ đầu tư vốn vay vào các mục đích khác như chữa bệnh cho con, lấy vợ gả chồng cho con, đứng tên vay cho hộ khác, gửi ngân hàng... chiếm 11,67%. Như vậy đầu tư vào chăn nuôi đang là hướng đi chủ yếu của hộ nghèo khi vay vốn. Điều này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi mà Nhà nước ta đã đề ra cho vấn đề phát triển nông nghiệp - nông thôn. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 36 Khi được hỏi, phần lớn các hộ đều cho rằng, nguồn vốn tuy không nhiều nhưng chính là động lực để họ triển khai các phương án đầu tư sản xuất - kinh doanh. Trước đây các hộ cần cù, chăm chỉ nhưng thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm sản xuất nên có một số hộ vẫn sản xuất theo phương pháp truyền thống, manh mún nhỏ lẻ. Nhưng từ khi có nguồn vốn ưu đãi của NHCSXH dành cho hộ nghèo thì họ cũng có ý thức sản xuất, kinh doanh để đồng vốn được phát huy, thay vì chỉ làm theo kinh nghiệm. Họ đầu tư mua sắm các loại vật tư, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón..., công cụ lao động, chi phí thanh toán cung ứng lao vụ, đầu tư làm nghề thủ công, chi phí nuôi trồng. Vốn của NHCSXH như một điểm tựa rất quan trọng để những hộ nghèo vươn lên. Thêm vào đó, sự đồng hành của cán bộ tín dụng, tổ chức hội, đoàn thể đã giúp các hộ nghèo thêm tự tin vào lựa chọn của mình, kịp thời hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc thay vì họ phải tự bươn chải, vật lộn. NHCSXH đang triển khai, chương trình cho vay hộ nghèo được đánh giá là có sức lan tỏa lớn nhất, phát huy hiệu quả rõ rệt nhất. Điều bà con tâm đắc nhất khi đến với NHCSXH là cơ chế thuận lợi, thủ tục đơn giản, lãi suất ưu đãi, trong đó, ưu đãi lớn nhất là một hộ có thể vay vốn của nhiều chương trình khác nhau. Vì vậy, dù mức vay tối đa mỗi chương trình có thể chưa lớn, nhưng cộng lại thì họ có đủ nguồn lực cho kế hoạch phát triển kinh tế của mình. Nhìn vào thống kê của các phòng giao dịch NHCSXH ở nhiều địa phương sẽ thấy, sức lan tỏa của chương trình tín dụng hộ nghèo lớn như thế nào 2.3.4. Thực trạng đầu tư vốn vay của các hộ Từ số liệu điều tra trực tiếp 60 hộ đại diện đang vay vốn trên địa bàn xã Diễn Cát đã cho thấy tình hình phân bổ nguồn vay như bảng 2.7ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 37 Bảng 2.7. Thực trạng đầu tư vốn vay của hộ nghèo So với đơn vay Nội dung đầu tư Tỷ trọng (%) Đúng mục đích 1.Mua bò sinh sản 25 2.DCT và mua bò sinh sản 26,67 3.Sửa nhà, xây nhà mới 6,67 4.NTTS 3,33 5.Làm nghề 1,67 6.XDCT 13,33 7.Làm vườn 3,33 Tổng 80 Sai mục đích 1.Sắm đồ dùng trong nhà 8,33 2.Đứng tên cho hộ khác 5 3.Chữa bệnh cho con 3,33 4.Gửi ngân hàng 1,67 5.Lấy vợ gả chồng cho con 1,67 Tổng Tổng 20 Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra Thông qua điều tra đại diện hộ và tính toán cho thấy chỉ có 48/60 hộ chiếm 80% tổng số hộ đầu tư vốn vay đúng mục đích như trong số đăng ký vay vốn. Còn lại 12 hộ chiếm 20% số hộ đầu tư không đúng mục đích như đăng ký ban đầu. Thực tế này cho thấy, số hộ đầu tư vốn vay không đúng mục đích khá cao. Đa số các hộ này đầu tư vốn vay vào các mục đích như chữa bệnh cho con, lấy vợ gả chồng cho con, sắm đồ dùng trong gia đình, hay đứng tên cho hộ khác... Đều là những khoản đầu tư không đem lại thu nhập cho hộ nên hộ sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi đến kỳ trả nợ. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 38 Đầu tư vốn sai mục đích đều không được các Ngân hàng mong đợi vì đây là những nguyên nhân căn bản gây ra rủi ro trong tín dụng. Khi có rủi ro xảy ra, khách hàng thường khó khăn trong trả nợ và Ngân hàng có nguy cơ phải khoanh vốn vào nợ quá hạn và nợ khó đòi, thậm chí mất vốn. Nhưng đối với NHCSXH, vấn đề đầu tư vốn sai mục đích lại càng là vấn đề nghiêm trọng vì sai với muc tiêu, tinh thần của Chính phủ trong công cuộc dự án XĐGN bền vững. Đồng thời các hộ nghèo đầu tư vốn sai mục đích đã tạo ra nguy cơ không trả được vốn, không tạo ra được tiền đề phát triển bền vững và rất dễ tái nghèo. Trong các hộ vay vốn có 15/60 hộ chiếm 25% tổng số hộ đầu tư vào mua bò cái sinh sản với quy mô 1-2 con/hộ; có 16/60 hộ chiếm 26,67% đầu tư vào XDCT và chăn nuôi bò cái sinh sản; 8 hộ chiếm 13,33% đầu tư vào tư sửa và XDCT; 4 hộ chiếm 6,67% sử dụng vốn vay vào sửa chữa và xây dựng nhà mới; 2 hộ chiếm 3,33% đầu tư vào cải tạo vườn; 2 hộ chiếm 3,33% đầu tư vào NTTS; 1 hộ chiếm 1,67% đầu tư vào làm nghề; 5 hộ sử dụng vốn để tiêu dùng (như mua tivi, xe máy, các vật dụng khác trong gia đình) chiếm 8,33%; 3 hộ đứng tên vay cho hộ khác chiếm 3,33%; 1 hộ vay để lấy vợ gả chồng cho con chiếm 1,67% và 1 hộ vay để gửi ngân hàng chiếm 1,67% trên tổng số 60 hộ. Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra Biều đồ: 2.4. Tỷ lệ đầu tư vốn vay đúng và sai mục đích ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 39 Qua tìm hiểu các hộ về lý do đầu tư vốn không đúng mục đích đề nghị, các hộ đều trả lời rằng nếu đề nghị như vậy thì sợ ngân hàng không cho vay và tổ vay vốn không xét. Riêng đối với hộ vay vốn để gửi ngân hàng thì trả lời rằng do gia đình thuộc diện được vay vốn và có quen biết với cán bộ tổ vay vốn nên làm đơn vay, và tại thời điểm đó lãi suất của các ngân hàng đang lên cao nên đem đi gửi ngân hàng khác để lấy tiền lãi phục vụ đời sống của gia đình. Như vậy, thực tế cho thấy các hộ nghèo có mục đích đầu tư vốn vào nhiều mục đích khác nhau nhưng bị gò bó bởi hướng của ngân hàng. Ngân hàng đều mong muốn các hộ vay để đầu tư vào sản xuất trên cơ sở đó các hộ có thu nhập và có khả năng trả lại vốn và giảm được nghèo. Qua đây cho thấy mục tiêu của vốn vay từ NHCSXH Diễn Châu nhằm giúp các hộ nghèo thoát nghèo cần được ngân hàng xem xét kỹ hơn. 2.4. Kết quả và hiệu quả đầu tư vốn vay của các hộ nghèo 2.4.1. Về mặt kinh tế Hộ nghèo đã đầu tư vốn vay để sản xuất ra những sản phẩm mới mà trước đây họ không có vốn để làm, để tăng thêm quy mô sản xuất mà trước đây do ít vốn nên quy mô sản xuất nhỏ hơn. Khi tạo mới hay mở rộng quy mô sản xuất không những họ đã tạo thêm việc làm cho chính gia đình họ mà có thể thu hút thêm lao động góp phần giải quyết việc làm ở nông thôn. So sánh quy mô sản xuất một số ngành đầu tư vốn vay trước và sau khi vay vốn của những hộ dùng vốn vay để mở rộng quy mô sản xuất nghề cũ, cho thấy sau khi vay vốn quy mô sản xuất tăng lên gấp 2 lần so với trước khi vay vốn. Với số vốn vay được đa số các hộ đều đầu tư vào mở rộng chăn nuôi chủ yếu là chăn nuôi bò sinh sản, từ một con bò mẹ trước khi vay đã tăng lên thành 2 con sau khi vay vốn. Kết quả cuối cùng của vốn tín dụng từ NHCSXH là làm tăng việc làm tạo thu nhập cho hộ. Nhưng mức tăng thu nhập của các hộ không như nhau tùy thuộc vào lĩnh vực sử dụng vốn vay, quy mô sản xuất cũng như trình độ quản lý và kinh doanh của hộ. Qua điều tra thực tế, số hộ thoát nghèo nhờ vốn vay trong 3 năm qua là chưa cao và chưa bền vững, chỉ có các hộ đầu tư đúng mục đích và đầu tư vào chăn nuôi đại gia súc sinh sản, nuôi cá, làm mộc mới thực sự có cơ hội cho thu nhập và khả năng trả nợ. Khi được hỏi các hộ đều vui vẻ trả lời sẵn sàng trả được nợ khi đến ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 40 hạn. Ngoài ra, các hộ tuy đầu tư đúng mục đích nhưng đầu tư vào làm vườn, XDCT, sửa chữa hoặc xây mới nhà cửa đều trả lời sẽ khó khăn khi đến kỳ trả vốn vì trong năm qua giá vật tư thì lên cao trong khi đó giá nông sản lại xuống thấp hoặc không tạo thêm thu nhập sau khi vay vốn đối với những hộ đầu tư vào sửa chữa hoặc xây mới nhà cửa, XDCT. Còn đối với những hộ sử dụng vốn sai mục đích đã tự thấy rằng sẽ khó khăn khi đến hạn trả nợ, các hộ trả lời rằng khi đến hạn phải đi vay “nóng” anh em, bạn bè và sau đó lại vay ngân hàng tiếp. Như vậy, qua phân tích và số liệu điều tra hộ cho thấy có 34/60 hộ đầu tư vào chăn nuôi đại gia súc, nuôi cá, làm nghề chiếm 56,67% là có cơ hội cho thu nhập thực sự và có khả năng trả vốn. Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra Biểu đồ: 2.5. Tỷ lệ thu nhập của hộ sau vay vốn Qua biểu đồ 2.5 cho thấy có 36/60 hộ điều tra chiếm 60% có báo cáo tăng thu nhập sau khi vay vốn, có 24/60 hộ điều tra chiếm 40% không tăng thu nhập. Xét chung cho 60 hộ điều tra cho thấy sau khi vay vốn thu nhập bình quân hộ trên năm và thu nhập bình quân đầu người trên năm đều tăng so với trước khi vay vốn. Cụ thể, thu nhập bình quân đầu người trước khi vay vốn là 4,26 triệu đồng/người/năm, sau khi ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 41 vay vốn con số này đã đạt 5,5 triệu đồng/người/năm, tăng 1,24 triệu đồng/người/năm. Ở mức thu nhập này đã cao hơn ngưỡng chuẩn nghèo mà Nhà nước đề ra là 4.8 triệu đồng/người/năm. Thu nhập bình quân hộ trước khi vay vốn là 13,7 triệu đồng/hộ/năm, sau khi vay vốn đã tăng lên ở mức 17,7 triệu đồng/hộ/năm, tăng 4 triệu đồng/hộ/năm( bảng 2.8). Như vậy, nguồn vốn vay từ NHCSXH đã thực sự giúp các hộ nghèo tăng thêm thu nhập và cải thiện được đời sống của gia đình. Bảng 2.8. Thu nhập bình quân của hộ khi có vốn vay từ NHCSXH ĐVT: Tr.đ Thu nhập BQ Trước vay vốn Sau vay vốn Thu nhập BQ/người/năm 4,26 5,5 Thu nhập BQ/hộ/năm 13,7 17.7 Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra Nhờ tăng thu nhập mà các hộ có điều kiện mua thêm các vật dụng trong gia đình, phương tiện đi lại cũng như tu sửa hoặc xây mới nhà cửa để phục vụ đời sống của gia đình. Có 12/60 hộ điều tra chiếm 20% tổng số hộ đã sửa chữa hoặc xây mới được nhà cửa sau khi vay vốn, có 14/60 hộ chiếm 23,33% tổng số hộ điều tra mua được xe máy để làm phương tiện phục vụ đi lại, có 37/60 hộ chiếm 61,67% tổng số hộ điều tra đã mua thêm được các vật dụng phục vụ đời sống như ti vi, tủ, đầu đĩa... Ngoài ra, với thu nhập tăng lên đã giúp các hộ có tiền thuê các loại máy móc phục vụ sản xuất khi mùa vụ đến như máy cày, máy xát lúa,... làm tăng quá trình cơ khí hóa trong sản xuất nông nghệp. Nhờ đó mà năng suất lao động tăng lên. Với số vốn được vay từ NHCSXH, trong những năm qua, dù tình hình kinh tế ở địa bàn xã còn gặp nhiều khó khăn, song với việc sử dụng nguồn vốn vào những mục tiêu cụ thể phù hợp với điều kiện của xã, từng gia đình, phần nào đã giúp được những gia đình vay vốn thoát khỏi cảnh nghèo khó, có tích lũy được con trâu, con lợn, xây nhà, sửa nhà, mua xe máy, làm kinh tế trang trại có hiệu quả tốt, - Về chăn nuôi: Các hộ vay vốn đầu tư vào việc chăn nuôi gia cầm(gà, vịt), lợn,và trâu, bò. Nhưng qua điều tra thực tế thì cho thấy, hầu hết các hộ đều chăn nuôi bò, trong số 60 hộ điều tra được thì có đến 39 hộ sử dụng số tiền vay được để đầu tư ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 42 vào chăn nuôi bò. Bởi vì so với việc chăn nuôi gia cầm, chăn nuôi lợn thì lợn nhuận từ việc nuôi bò cho các hộ lợi nhuận cao hơn hẳn, có thể chăn nuôi bò nhốt cũng có thể tiết kiệm thời gian làm việc khác cho các hộ nhưng lợi nhuận lại không hề giảm. Với số vốn các hộ được vay được từ NH để đầu tư chăn nuôi bò, hay XDCT từ 3 triệu đồng cho đến 20 triệu đồng. Hầu hết được các hộ đầu tư đã có hiệu quả, khi có vốn các hộ đã nuôi được số lượng bò tăng lên 2, hoặc 3 con và làm thu nhập của các hộ đều tăng lên, và đã có 16 hộ có thu nhập tăng lên trên mức 4.800 triệu đồng/ người/năm, cao hơn so với ngưỡng nghèo. Mặc dù lợi nhuận từ việc đầu tư chăn nuôi nhỏ lẻ này không lớn do chi phí ban đầu để đầu tư mua được 1 con bò là rất cao nhưng cùng với các yếu tố khác như vốn tự có của gia đình, hay vốn vay thêm các từ tổ chức ngoài, sụ kiên trì của người dân đã làm cho thu nhập của các hộ nghèo cao hơn. - Về trồng trọt:. Các hộ chủ yếu đầu tư vào trồng lạc, một loại cây trồng dễ trồng, dễ chăm sóc, chi phí bỏ ra thấp và cũng là loại cây trồng lại hiệu quả kinh tế cao, bởi vì giá cả của nó ngoài thị trường cũng cao hơn hẳn so với lúa và các loại cây trồng khác. Nhưng qua điều tra thì có rất ít hộ đầu tư vào lĩnh vực này, chỉ có 2 hộ tham gia đầu tư lĩnh vực này và thu nhập đã tăng lên sau khi thu hoạch . Do diện tích còn hạn chế nên việc đầu tư vào cây lạc vẫn chưa nhiều mặc dù chi phí bỏ ra không cao, nhưng hiệu quả của nó vẫn chưa cao, thu nhập tăng lên vẫn ít so với việc chăn nuôi bò. Có rất ít hộ vay vốn để sử dụng vào trồng trọt, bởi vì thu nhập từ việc đưa đồng vốn vay để đầu tư vào trồng trọt rất thấp, thấp hơn nhiều so với đầu tư vào chăn nuôi bò. - Về NTTS: Các hộ chủ yếu nuôi cá rô phi, rất ít hộ vay vốn để nuôi cá bởi vì diện tích đất ao hồ để mà nuôi cá trong xóm rất ít, nên chỉ có một số hộ đấu thầu được. Chi phí ban đầu bỏ ra để nạo vét ao hồ, cá giống,cũng rất cao. Do đó các hộ vay với số lượng vốn lớn là 20 triệu đồng, có thể nói là cao nhất so với việc đầu tư vào các lĩnh vực khác. Các hộ chăn nuôi cá phải phụ thuộc nhiều vào trình độ, hiểu biết đặc tính loại cá mà mình nuôi ngoài vốn, nhân lực,thì mới cho hiệu quả cao. Các hộ cũng đã biết tận dụng khía cạnh này nên hầu hết những hộ tham gia nuôi cá rô phi đều cho hiệu quả cao. Vì thế mà thu nhập của các hộ sau từng đợt thu hoạch cá rất cao, do việc tiêu thụ cá rất dễ, có thể bán ngay cho ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 43 người dân trong xóm hoặc có thể đưa đi chợ, hoặc các nơi để bán. Do đó có thê thấy việc đầu tư vào con cá mang lại hiệu quả kinh tế rất cao cho các hộ nếu biết cách kĩ thuật chăm sóc tốt. - Về làm nghề: Trong số các hộ điều tra thì chỉ có 1 hộ mạnh dạn tham gia vào hoạt động nghề gỗ hay là nghề mộc và đã làm tăng thu nhập của gia đình mình. Bởi nếu muốn đầu tư vào lĩnh vực này mà mang lại lợi nhuận thì hộ phải có tay nghề, có hiểu biết, trình độ thì mới thu được lợi nhuận cao. Có thể nói đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi là hợp lý, hiệu quả nhất cho các hộ nghèo, bởi vì số hộ thoát nghèo, tăng thu nhập cao hơn so với đầu tư vào trồng trọt, nuôi cá hay làm nghề,So với các nguồn vốn khác như tự có hay vay từ tổ chức khác thì vốn vay từ NHCSXH có hiệu quả hơn góp một phần lớn để làm tăng thu nhập của các hộ nghèo bởi lãi suất của nó thấp hơn, và nó chính là phần vốn ưu đãi dành cho người nghèo, làm cho người nghèo mạnh dạn vay, mạnh dạn đầu tư, và dễ dàng để cho các hộ nghèo trả vốn và lãi khi đến kì hạn trả. Tóm lại, thu nhập của các hộ nghèo hầu hết tăng lên không phải do duy nhất từ vốn của NHCSXH, mà còn từ vốn tự có của gia đình, hay từ nguồn đi vay tổ chức khác,cùng với sự kết hợp giữa trình độ, nhân lực, sức khỏe, Vì thế các hộ phải biết kết hợp giữa các yếu tố đó với nhau thì mới đem lại hiệu quả cao, làm tăng thu nhập giúp cho các hộ có thể thoát khỏi tình trạng đói nghèo. Tuy vậy, phần lớn là do nguồn vốn vay từ NHCSXH có cơ chế thuận lợi, thủ tục đơn giản, lãi suất ưu đãi, trong đó, ưu đãi lớn nhất là một hộ có thể vay vốn của nhiều chương trình khác nhau. Vì vậy, dù mức vay tối đa mỗi chương trình có thể chưa lớn, nhưng cộng lại thì họ có đủ nguồn lực cho kế hoạch phát triển kinh tế của mình. Nhìn vào thống kê của các phòng giao dịch NHCSXH ở nhiều địa phương sẽ thấy, sức lan tỏa của chương trình tín dụng hộ nghèo lớn như thế nào. 2.4.2. Về mặt xã hội - Số hộ tạo thêm việc làm Thất nghiệp và việc làm đang là vấn đề được cả xã hội quan tâm, đặc biệt đối với lực lượng lao động ở khu vực nông nghiệp - nông thôn. Ở khu vực này, lực lượng lao động đang bị dư thừa nhiều và có trình độ dân trí không cao đã tạo ra áp lực về ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 44 việc làm, di cư lao động vào thành phố và nhiều vấn đề xã hội khác. Trước tình hình này, chính phủ đã có nhiều chính sách, chương trình nhằm giúp người dân tự tạo việc làm ngay trên địa phương mình, trong đó có chính sách tín dụng cho HN với lãi suất ưu đãi như ở NHCSXH. Chính sách này nhằm giúp các hộ có vốn để đầu tư mở rộng sản xuất, ngành nghề và như vậy các hộ sẽ tự tạo thêm việc làm, tăng thu nhập tạo ra cơ sở phát triển bền vững, tạo ra nghị lực và niềm tin vào bản thân. Theo số liệu điều tra 60 hộ đại diện của xã cho thấy số nhân khẩu trung bình trên hộ là 4,1 nhân khẩu/hộ, số lao động trung bình trên hộ là 1,83 lao động/hộ, tỷ lệ người ăn theo là 2,27 khẩu ăn theo/hộ. Như vậy tỷ lệ khẩu ăn theo trong các hộ là rất lớn. Đây chính là gánh nặng của các hộ nghèo và ở một khía cạnh nào đó thì đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở các hộ. Qua điều tra thực tế các hộ nghèo trong xã đều có đất ở, đất vườn, đất ruộng và những điều kiện phục vụ sản xuất nông nghiệp như trâu, bò, cày bừa,... từ điều kiện sẵn có này, khi các hộ vay vốn và sử dụng vốn vào mục đích chăn nuôi, trồng trọt, NTTS, làm nghề... thì các hộ đều tạo thêm được việc làm và tận dụng được nhiều thời gian nhàn rỗi. Như ở bảng 3.6 cho thấy có 44/60 hộ điều tra chiếm 73,33% số hộ đã tiến hành đầu tư chăn nuôi, trồng trọt, NTTS, làm nghề đều trả lời sau khi vay vốn gia đình đã tạo thêm được việc làm nhưng chưa phải đi thuê lao động ngoài. Tạo thêm việc làm ở đây có nghĩa là các hộ phải phân công lao động để chăm sóc trâu bò, ao, vườn... Và thực tế cho thấy khi bán các sản phẩm cho thu nhập đã giúp cho gia đình hăng hái trong lao động, có mục tiêu phấn đấu cao hơn. Như vậy xét trên phương diện xã hội, thông qua đồng vốn vay đã giúp nhiều hộ nghèo xã Diễn Cát tự tạo được việc làm để tăng thu nhập cho hộ. - Mức độ cải thiện đời sống Cải thiện đời sống là mục đích chung của tất cả các hộ nghèo khi tiến hành vay vốn. Qua điều tra thực tế cho thấy, mức độ cải thiện đời sống của các hộ nghèo sau khi vay vốn tương đối lớn. Qua biểu đồ 2.6 cho thấy có 36/60 hộ chiếm 60% trả lời mức sống của hộ được cải thiện hơn sau khi vay vốn. Đa số trong các hộ đó đều đầu tư vốn vay vào chăn nuôi, làm vườn, nuôi cá và làm nghề. Bên cạnh đó có 16 hộ chiếm 26,67% cho rằng mức sống của ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 45 hộ không được cải thiện sau khi vay vốn. Nhóm hộ này chủ yếu đầu tư vốn vay vào XDCT, mức sống của họ không được cải thiện là do thu nhập sau khi vay vốn không tăng lên do sau khi đã cải thiện được điều kiện chăn nuôi thì hộ không có vốn để đầu tư vào phát triển chăn nuôi (mua bò, mua lợn...). Có 8/60 hộ chiếm 13,33% trả lời mức sống của hộ thấp hơn trước khi vay vốn. Nhóm hộ này chủ yếu tập trung vào các hộ đầu tư không đúng mục đích như chữa bệnh cho con, cưới vợ gả chồng cho con, sắm đồ dùng trong gia đình... Chính gánh nặng nợ nần đã làm cho cuộc sống của hộ thấp đi so với trước. Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra Biểu đồ: 2.6. Tỷ lệ mức sống của các hộ sau vay vốn Như vậy, đầu tư đúng mục đích và đầu tư vào chăn nuôi đại gia súc, làm nghề, nuôi cá đều cải thiện được cuộc sống của hộ sau khi vay vốn. Qua đó cho thấy, đây là những hướng làm ăn có hiệu quả mà các hộ nghèo sau khi vay vốn nên đầu tư để có thể thoát nghèo và vươn lên làm giàu một cách chính đáng, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam. - Tỷ lệ đói nghèo XĐGN không chỉ là mong muốn của riêng những hộ khi vay vốn mà XĐGN đã trở thành mục tiêu phấn đấu chung của cả đất nước. Sau khi vay vốn để XĐGN các hộ có báo cáo thoát nghèo là điều rất đáng mừng. Tuy nhiên trên điều tra thực tế đã cho ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 46 thấy, số các hộ vay vốn thoát nghèo nhờ vốn vay là chưa cao và chưa bền vững chỉ có các hộ đầu tư đúng mục đích và đầu tư vào chăn nuôi đại gia súc sinh sản, NTTS, làm nghề mới thực sự có cơ hội thoát nghèo. Trong tổng số 60 hộ điều tra có 22/60 hộ chiếm 36,67% tổng số hộ có báo cáo thoát nghèo sau khi vay vốn. Trong đó có 1 hộ chiếm 1,67% vươn lên thành hộ khá nhờ đầu tư vào chăn nuôi cá, còn lại 21 hộ chiếm 35% đã thoát được nghèo nhờ đầu tư chủ yếu vốn vay vào chăn nuôi bò sinh sản và làm nghề. Trong khi đó có 38/60 hộ chiếm 63,33% tổng số hộ điều tra vẫn không cải thiện được tình trạng nghèo của hộ. Nhóm hộ này chủ yếu đầu tư vốn vay vào XDCT và chăn nuôi bò sinh sản. Mặc dù đã cải thiện được điều kiện sống cho vật nuôi nhưng sau đó nhóm hộ này lại không có vốn để đầu tư mở rộng chăn nuôi nên thu nhập của hộ không tăng lên, còn các hộ đầu tư vào chăn nuôi bò sinh sản thì với số vốn vay được chỉ đủ mua con bò chất lượng không tốt nên hiệu quả đem lại không cao. Thậm chí có 4/38 hộ chiếm 10,53% rơi vào tình trạng nghèo hơn so với trước khi vay vốn. Sở dĩ như vậy là do các hộ này đã sử dụng vốn vay vào các mục đích như chữa bệnh cho con, cưới vợ gả chồng cho con. Là những khoản đầu tư không tạo thu nhập nên đã làm tăng gánh nặng nợ nần cho gia đình. Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra Biểu đồ: 2.7. Tỷ lệ các nhóm hộ sau vay vốn ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 47 Như vậy đầu tư vào chăn nuôi đại gia súc, NTTS là hướng làm ăn có hiệu quả cho các hộ nghèo. Tuy nhiên NHCSXH cần nâng cao mức cho vay để các hộ có điều kiện đầu tư vào chăn nuôi ở mức tốt hơn. Tuy số hộ thoát nghèo nhờ vốn vay là không cao và có thể các hộ thoát nghèo không hoàn toàn dựa vào nguồn vốn vay từ NHCSXH song chúng ta cũng không thể phủ nhận những đóng góp to lớn từ nguồn vốn vay ưu đãi của NHCSXH đối với công tác XĐGN tại xã. 2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đầu tư và sử dụng vốn vay của hộ nghèo Để đầu tư, sử dụng đồng vốn vay có hiệu quả ngoài việc sử dụng đúng nó còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan (như dịch bệnh, thiên tai, giá cả thị trường...) và các yếu tố chủ quan (như sức khỏe, trình độ, thiếu lao động...). Tuy nhiên mức độ tác động của các nhân tố đến thu nhập của hộ là khác nhau phụ thuộc vào quy mô sản xuất, ngành nghề sử dụng vốn vay. (Bảng 2.9) Bảng 2.9. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ TT Chỉ tiêu Tỷ trọng (%) 1 Dịch bệnh 41,67 2 Thị trường 25 3 Thiếu lao động 23,33 4 Sức khỏe 6,67 5 Trình độ 3,33 Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra Đối với ngành nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt, NTTS) chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Trong những năm gần đây, dịch bệnh xảy ra thường xuyên làm người nông dân không yên tâm sản xuất, không dám sản xuất trên quy mô rộng vì sợ dịch bệnh xảy ra không có tiền trả nợ. Cùng với bệnh dịch thì giá cả thị trường và thời tiết xấu cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sản phẩm dẫn đến ảnh hưởng đến giá cả của nông sản phẩm trên thị trường. Qua điều tra thực tế cho thấy có 25/60 hộ điều tra cho rằng dịch bệnh có ảnh hưởng đến quá trình sử dụng vốn của hộ, chiếm 41,67%. Ngoài ra, giá cả thị trường cũng là yếu tố gây ảnh hưởng lớn đến thu nhập của hộ. Có ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 48 15/60 hộ chiếm 25% tổng số hộ điều tra khi được hỏi trả lời yếu tố thị trường ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của hộ. Điều này thể hiện rõ nhất khi hộ phải mua nguyên liệu đầu vào với giá cao nhưng khi có sản phẩm bán ra thì thị trường lại xuống thấp. Bên cạnh đó các yếu tố như trình độ, sức khỏe cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nghèo. Có 2/60 hộ chiếm 3,33% cho rằng do hạn chế về trình độ dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn không cao; có 4/60 hộ chiếm 6,67% trả lời yếu tố sức khỏe có ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của hộ. Để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất, các hộ đã cố gắng tính toán chu kỳ sản xuất của hộ sao cho không trùng với thời điểm bùng phát dịch, XDCT kiên cố, vệ sinh sạch sẽ nhăm bảo vệ vật nuôi khỏi mầm bệnh nâng cao năng suất sản xuất góp phần tăng thêm thu nhập cho gia đình. 2.6. Những tồn tại trong quá trình vay vốn và đầu tư vốn vay từ NHCSXH của các hộ nghèo trong công cuộc xóa nghèo bền vững 2.6.1. Những tồn tại trong công tác cho vay tín dụng - Lượng vốn của Ngân hàng còn ít chưa đáp ứng được nhu cầu vay của người nghèo. - Về quy trình cho vay: Hiện tại Ngân hàng vẫn chưa tìm ra giải pháp rút ngắn thời gian để đưa đồng vốn từ Ngân hàng đến tay người dân. Để vay được cũng như để giải ngân được vốn, cả hai bên cần phải chờ đợi và trải qua nhiều chữ ký của nhiều người (tổ trưởng tổ TK - TD, Uỷ ban nhân dân xã, Ngân hàng...). - Công tác kiểm tra, giám sát: Trong nhiều năm qua ngân hàng đã tổ chức nhiều đợt kiểm tra giám sát nhưng đa số những đợt kiểm tra giám sát này chủ yếu do tổ trưởng tổ TK - TD làm và báo cáo lại. Nên việc nắm bắt tình hình thực tế sử dụng vốn của hộ chưa sát. Do vậy đây cũng là một nguyên nhân làm cho tỷ lệ hộ vay vốn sử dụng sai mục đích cao. - Vấn đề quy chế dân chủ ở cơ sở chưa được thực hiện tốt ở nhiều thôn, xóm nên nhiều hộ đáng được ưu tiên vay vốn trước nhưng lại không được vay. 2.6.2. Những tồn tại trong quá trình đầu tư vốn vay từ NHCSXH của các hộ nghèo - Kiến thức về KH - KT của các hộ còn rất hạn chế nên các hộ rất lúng túng và lo sợ khi có bệnh dịch xảy ra. Đây có thể là tồn tại lớn nhất ảnh hưởng đến hiệu quả ĐA ̣I H ỌC KI H T Ế H UÊ ́ Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 49 sử dụng vốn vay của hộ vì nếu tài sản vật nuôi của hộ bị bệnh và chết thì đồng nghĩa với việc hộ mất khả năng trả nợ. - Tỷ lệ các hộ đầu tư vốn sai mục đích so với đề nghị vay còn cao. Đây cũng chính là nguy cơ không trả được vốn đúng hạn dẫn đến nợ quá hạn hoặc các hộ vẫn trả nợ bằng cách đi vay nóng nơi khác. Do đó mà không có sự phát triển bền vững sau vay vốn. -Vẫn còn một số hộ vay vốn trong quá trình sử dụng đã chuyển đổi mục đích sử dụng, bán được sản phẩm thì không tái sản xuất nữa mà chuyển sang mục đích khác do thiếu lao động hoặc chuyển nghề phụ. -Việc xây dựng mô hình kinh tế chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đánh giá đầy đủ để nhân rộng và phát triển. -Số vốn vay còn ít nên một số hộ muốn phát triển sản xuất lớn hơn thì bị hạn chế -Công tác hướng dẫn, kiểm tra để hộ vay phát triển sản xuất cũng chưa đáp ứng được nên tốc độ phát huy đồng vốn một số hộ có hiệu quả chưa cao. - Kiến thức và kỹ năng về ghi chép sổ sách, tính thu, chi của các hộ còn thấp. Đồng thời các hộ không lên được kế hoạch sử dụng vốn hợp lý. 2.7. Những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả đầu tư và sử dụng vốn chưa cao của các hộ nghèo Quá trình đầu tư vốn vay của các hộ gia đình chưa hiệu quả là do những nguyên nhân căn bản sau: - Mặc dù trình độ học vấn của hộ nghèo đã được cải thiện nhưng quá trình tự nghiên cứu tài liệu KH - KT còn hạn chế. Bên cạnh đó, các hộ vay vốn hầu như không có cơ hội hoặc ít được tham gia vào các lớp tập huấn về KH - KT do Ngân hàng hay do bộ phận, cơ quan, tổ chức nào tổ chức. Trong khi đó kiến thức về KH - KT là khâu mấu chốt giúp các hộ thành công trong chăn nuôi và trồng trọt. - Các hộ vay vốn hầu như thiếu kiến thức về hoạch toán, quản lý kinh tế hộ gia đình, chưa biết cách xây dựng kế hoạch sử dụng vốn vay một cách hợp lý. Vấn đề này đang tồn tại như một thực tế hiển nhiên vì rất ít ai trong thôn, xóm hay cán bộ xã, cán bộ Ngân hàng nhắc đến hay quan tâm đến lĩnh vực này. Do vậy, người dân cũng không có cơ hội được học tập. - Do nguồn vốn cho vay của ngân hàng còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu vay của hộ, nhiều hộ muốn vay với mức vay 10 triệu đồng hoặc hơn nhưng lại ĐA ̣I ỌC KI NH TẾ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 50 không vay được. Do vậy nhiều hộ vay được vốn nhưng đầu tư ở trạng thái nửa chừng, chắp vá nên hiệu quả sản xuất chưa cao. - Công tác kiểm tra giám sát quá trình đầu tư, sử dụng vốn vay của hộ của Ngân hàng chưa cao nên tỷ lệ hộ sử dụng vốn vay sai mục đích cao (chiếm 20% tổng số hộ điều tra). Do vậy ảnh hưởng đến hiệu quả mà đồng vốn vay mang lại cho hộ. 2.8. Một số kết luận từ phân tích thực trạng tiếp cận và đầu tư sử dụng vốn tín dụng ưu đăi của NHCSXH cho các hộ nghèo xã Diễn Cát Các nguồn vốn ưu đãi trong thời gian qua đã làm thay đổi tình hình đói nghèo của xã một cách nhanh chóng. Đặc biệt là tín dụng ưu đãi của NHCSXH không những giúp người dân địa phương xóa đói giảm nghèo mà còn giúp cho người dân nghèo thay đổi cách nghĩ, cách làm cũ để mở ra hướng làm ăn mới và tạo ra một hy vọng cho công cuộc xóa đói giảm nghèo của địa phương một cách bền vững. Tuy nhiên, nguồn vốn ưu đãi thông qua NHCSXH cũng còn một số tồn tại: + Nguồn vốn cho vay của NHCSXH còn ít chưa đáp ứng được nhu cầu cho vay của các hộ nghèo trên địa bàn. + Về thủ tục cho vay còn phức tạp, rườm rà đối với hộ nghèo + Tín dụng ưu đãi thông qua các dự án cùng song song tồn tại trong công cuộc xoá đói giảm nghèo đã làm cho một bộ phận nông dân nghèo ỷ lại sự hỗ trợ của Nhà nước, tạo cho các hộ dân không có ý thức vươn lên từ đó ảnh hưởng đến việc vận động các hộ nghèo vay tín dụng NHCSXH. + Vẫn còn tình trạng ưu tiên số lượng người vay, phải đủ số lượng theo yêu cầu thì cán bộ tín dụng NHCSXH mới xuống giải ngân do đó ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh của nhiều hộ. + Thời gian làm thủ tục cho vay còn dài hơn 15 ngày đối đã làm cho nhiều hộ đôi khi phải đi vay nóng lãi xuất cao, hoặc mua trả góp giá cao trong khi trờ đến ngày được lấy tiền từ NHCSXH. + Năng lực của đội ngũ cán bộ tín dụng của NHCSXH và cộng tác viên NHCSXH còn nhiều hạn chế, chưa thật sự tâm huyết với công tác XĐGN. + Các thành viên trong Hội đồng quản trị nhất là các chức kiêm nhiệm Do đó cần có những định hướng, giải pháp để giải quyết các tồn tại trên. Đồng thời cũng có các biện pháp nhằm mở rộng nguồn tín dụng ưu đãi NHCSXH để phục vụ công tác XĐGN nhanh và bền vững. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 51 CHƯƠNG III: NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ VỐN VAY TÍN DỤNG TỪ NHCSXH ĐỄN XĐGN 3.1. Định hướng Nguồn tín dụng ưu đãi NHCSXH có vai trò rất to lớn. đối với công tác XĐGN trên cả huyện Diễn Châu và xã Diễn Cát nói riêng là không thể phủ nhận. Trong kết quả nghiên cứu của đề tài đã khẳng định tín dụng NHCSXH có ảnh hưởng quan trọng đến XĐGN, tạo việc làm, tăng thu nhập, ổn định xã hội, và làm thay đổi cách nghĩ, cách làm truyền thống đưa ra cho các hộ nghèo thoát nghèo một cách bền vững. Do đó Ban chấp hành Đảng bộ huyện, xã đưa ra đến năm 2013 và định hướng tới 2015 về mục tiêu phát triển kinh tế và xóa nghèo bền vững. Do vậy, nhu cầu về nguồn tín dụng ưu đãi cho XĐGN là rất quan trọng cấp thiết. Đòi hỏi bộ máy quản lý nhà nước và hệ thống NHCSXH luôn đặt trong trạng thái vận động , tự điều chỉnh, nâng cao, hoàn thiện công tác phục vụ nhằm đáp ứng đủ nguồn tín dụng ưu đãi cho mục tiêu XĐGN. Trong thời gian tới NHCSXH ngoài việc tối đa nguồn vốn cần có sự phối hợp tốt với các nguồn tín dụng khác nhằm nâng cao hiệu quả XĐGN. 3.2. Mục tiêu Với những cơ sở lý luận và thực tiễn đã được phân tích qua quá trình nghiên cứu ảnh hưởng của tín dụng NHCSXH đến giảm tỷ lệ nghèo các năm qua cũng như trong tương lai. Các tổ chức phân phối tín dụng ưu đãi và NHCSXH cần xác định mục tiêu và giải pháp cụ thể cho các mục tiêu sau: - Tiếp tục mở rộng tổ tín dụng cho vay tại cơ sở nhất là các thôn, xóm hiện chưa có tổ tín dụng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu cho XĐGN. - Phân định rõ các đối tượng cho vay vốn tín dụng NHCSXH với các đối tượng khác. - Để thực hiện nhiệm vụ XĐGN, nhà nước cần tiếp tục thực hiện chủ trương ưu đãi vốn lãi suất thấp, kéo dài thời hạn vay vốn với người nghèo để phát triển sản xuất, tăng thu nhập. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 52 3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư vốn vay từ NHCSXH của các hộ nghèo 3.3.1 Giải pháp về phía hộ nghèo - Đối với cá nhân hộ vay vốn: phải tự nâng cao tinh thần giáo dục của bản thân để có thể tiếp thu những kiến thức mới trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nâng cao sự hiểu biết về lĩnh vực về lĩnh vực Ngân hàng cũng như các dịch vụ của nó. Có ý thức nâng cao giáo dục bản thân sẽ có thể giúp họ thay đổi được lối tư duy, nếp nghĩ hay những thói quen cố hữu đã tồn tại lâu đời trong một nền kinh tế thuần nông tự cung tự cấp - những thói quen không còn phù hợp với giai đoạn hiện nay. Cũng từ đó, người nghèo có thể làm giàu thêm vốn xã hội của bản thân và tiến tới hòa nhập dễ dàng hơn với cộng đồng. Bên cạnh đó, các hộ nghèo cần tư duy được vai trò tự lực của mình quan trọng hơn sự hỗ trợ từ bên ngoài trong công tác XĐGN. Chừng nào hộ nghèo chưa có khát vọng làm giàu thì chưa thể thoát được nghèo. -Đối với tổ vay vốn: Cần phải tăng cường hơn nữa các cuộc họp bàn, chia sẻ kinh nghiệm trong sản xuất và đời sống cho nhau. Ngoài ra các nhóm cần cùng nhau xây dựng lên kế hoạch cho các hoạt động mở rộng hơn, tổ chức cho các hộ nghèo đi tham quan cac mô hình làm ăn có hiệu quả để mở rộng tầm nhìn. Ngoài ra trong cac cuộc bình xét cần tiến hành công bằng, dân chủ để đồng vốn vay thực sự đến được tay người nghèo. 3.3.2. Các giải pháp lồng ghép hỗ trợ người nghèo trong tiếp cận và sử dụng vốn có hiệu quả - Tăng cường tuyên truyền, phổ biến các chính sách hỗ trợ cho người nghèo. Trên thực tế hiện nay nhiều người nghèo ở các thôn xóm không hiểu được các chính sách của Nhà nước, thậm chí còn nhầm lẫn giữa vay vốn tín dụng với sự tài trợ của Nhà nước. Nhiều khi do sự hấp dẫn của lãi suất thấp mà nhiều hộ quyết định vay vốn nhưng thiếu phương án sử dụng nên đồng vốn được sử dụng không hiệu quả. Để cải thiện tình hình này thì việc cung cấp đầy đủ, rộng lớn và thường xuyên thông tin về các chính sách liên quan đến người nghèo đặc biệt là chính sách tín dụng, lãi suất ưu đãi để giúp họ hiểu biết hơn về quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ trong các chính sách. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 53 Hình thức cung cấp có thể qua các phương tiện phát thanh, tài liệu, tờ rơi, hay thông qua các hội thảo, họp cơ sở. - Tăng cường cung cấp thông tin về thị trường sản xuất hàng hóa cho hộ nghèo. Thiếu kiến thức về kỹ thuật và trình độ tổ chức sản xuất thì đồng vốn không những không có tác dụng mà nhiều khi còn là gánh nặng cho người nghèo khi không có khả năng trả nợ từ kết quả sản xuất của họ. - Phát triển và đẩy mạnh hệ thống khuyến nông, chuyển giao công nghệ kỹ thuật giúp hộ nghèo tiếp cận với kỹ thuật sản xuất tiên tiến. các dịch vụ khuyến nông nhằm tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận với các thông tin và kỹ thuật sản xuất. công tác khuyến nông giúp người nghèo khi sử dụng đồng vốn biết đầu tư vào cây gì, con gì thì phù hợp với điều kiện của hộ, cơ sở khoa học nào cho hiệu quả kinh tế cao. Nhưng hiện nay tại xã mới chỉ có một cán bộ khuyến nông còn rất trẻ và chuyên môn chưa cao. Bên cạnh đó ngân sách đầu tư cho công tác khuyến nông còn thấp. Chính vì vậy, vừa phải đầu tư phát triển thêm các dịch vụ khuyến nông vừa phải nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ khuyến nông tại xã. Có như vậy người nông dân đặc biệt là người nghèo có cơ hội tiếp cận khoa học và nhờ đó có thể thoát được nghèo một cách bền vững. - Tăng cường các chương trình trợ giá về giống, vật tư đầu vào cho hộ nghèo. Các loại giống cây, con mới có năng suất và chất lượng cao thường đòi hỏi đầu tư ban đầu cao và kèm theo quy trình sản xuất phức tạp hơn. Vì vậy Nhà nước cần tiến hành trợ giá để khuyến khích người nghèo mạnh dạn đầu tư vào các loại sản phẩm mới có giá trị để nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn của họ. Do vậy, để chính sách tín dụng ưu đãi được phát huy hiệu quả hơn thì vấn đề trợ cấp cho người nghèo về giống, vật tư phân bón, thú y cần được thực hiện song hành để giúp người nghèo mạnh dạn vượt qua tư duy cũ, lo sợ rủi ro. Hình thức trợ giá ở đây là bán với giá thấp ưu đãi chứ không cấp không cho người nghèo. 3.3.3. Cải tiến hình thức cho vay vốn, mức cho vay, thời gian cho vay linh hoạt phù hợp với điều kiện từng vùng Hình thức cho vay qua các tổ, hội: Trong trường hợp cho vay gián tiếp qua các tổ hội, ngân hàng cần quy định ngày làm việc cụ thể, nên một tuần có một ngày làm ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 54 việc với tổ chức về xét duyệt cho vay, tránh tình trạng yêu cầu số lượng vay vốn của tổ phải đủ lớn thì người phụ trách tín dụng mới làm thủ tục cho vay. Thực tế cho thấy, phần lớn các hộ nghèo có chủ hộ là nữ. Kết quả hoạt động tín dụng trong những năm qua cho thấy phụ nữ quản lý và sử dụng vốn tốt hơn so với nam giới. Vì vậy NHCSXH cần đẩy mạnh thông qua Hội phụ nữ xã, thị trấn, đồng thời nâng dần hoạt động tín dụng của các tổ hội khác như Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh và đoàn thanh niên Mức đầu tư và thời hạn: Cho hộ nông dân nghèo phải phù hợp với tình hình sản xuất, phù hợp với khả năng và năng lực sản xuất. Trong giai đoạn đầu những hộ nghèo chỉ sản xuất, chăn nuôi nhỏ cho nên với vài ba triệu đồng là đủ, nhưng trong tương lai mức này cần phải được tăng lên để giúp các hộ kinh doanh giỏi mở rộng sản xuất và đầu tư theo chiều sâu, như vậy họ mới có thể thật sự thoát khỏi cảnh nghèo. Về cách thức thu nợ: Khi thực hiện cho vay chủ yếu là để sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi, thì thường sau một chu kỳ sản xuất, thu nhập của những hộ nghèo không đủ để trả hết nợ hoặc trả một khoản lớn, vì vậy nên chia nhỏ các khoản trả nợ theo từng kỳ hạn chẳng hạn như theo quý, tạo điều kiện cho người vay có ý thức tiết kiệm và hoàn thành nghiã vụ trả nợ đúng hạn. Mặt khác, nên khuyến khích những người tích cực trả nợ được vay tiếp, thậm chí được vay những khoản lớn hơn những lần trước để các hộ nghèo yên tâm trả nợ theo kỳ hạn ngắn. Việc cung cấp vốn cho hộ nghèo phải kịp thời: Để hạn chế đến mức thấp nhất nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn đáp ứng nhu cầu vốn một cách nhanh nhất, thủ tục nhanh gọn. Cung ứng vốn đúng lúc, đúng thời điểm cho hộ nông dân nghèo là một việc không đơn giản. Cán bộ của NHCSXH và các đơn vị nhận làm dịch vụ uỷ thác cho NHCSXH phải biết được mùa vụ nào, khi nào những người nông dân cần vốn, khi nào họ sẽ thu hoạch,... để cấp vốn và thu hồi vốn đúng thời điểm. Một đội ngũ tận tình, một thủ tục cho vay đơn giản kết hợp với việc cấp phát tiền vay đến tận tay người nghèo sẽ làm cho các hộ nghèo yên tâm, tin tưởng vào NHCSXH và sớm thoát khỏi cảnh nghèo. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 55 PHẦN III: KẾT LUẬN Vấn đề XĐGN đặc biệt ở nông thôn nước ta luôn là một đề tài có tính xã hội và thời sự, giải quyết nó là trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành và mọi người dân cả nước. Đối với Chính phủ, trong những năm qua đã đưa ra nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ cho người nghèo phát triển trong đó có NHCSXH ra đời với chính sách tín dụng ưu đãi nhằm hỗ trợ người nghèo vượt qua thất bại trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực về vốn cho sản xuất, sinh hoạt. Đây là một giải pháp quan trọng giúp các hộ nghèo có vốn để đầu tư sản xuất, thay đổi dần phương thức sản xuất lạc hậu, manh mún, tự cung tự cấp sang phương thức sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công to lớn của mỗi giải pháp cũng đều tồn tại những vấn đề nhất định. Chính sách ra đời đã giúp nhiều hộ thoát nghèo nhưng cũng có không ít hộ nghèo vẫn, đã và đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận cũng như khó sử dụng nguồn vốn được vay có hiệu quả bền vững. Điều này là do sự khác biệt giữa tín dụng với người nghèo, một bên là nguồn lực của kinh tế thị trường vận động theo các nguyên tắc của thị trường và một bên là người nghèo với năng lực yếu kém, chậm chuyển đổi trong tư duy làm ăn để có thể hòa nhập vào sự phát triển chung của xã hội. Sự khác biệt này khiến cho các nguồn lực tín dụng khó xâm nhập vào kinh tế của người nghèo và bản thân người nghèo cũng khó tiếp cận và sử dụng có hiệu quả nguồn lực đặc biệt này cho XĐGN. Trước bối cảnh như vậy, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tiếp cận và đầu tư vốn vay từ NHCSXH của các hộ nghèo xã Diễn Cát huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An” đã đúc rút ra những vấn đề sau: 1. Mục đích vay chủ yếu là để sản xuất tạo thu nhập. Hình thức đầu tư thông dụng nhất là chăn nuôi chủ yếu là chăn nuôi bò. Một số hộ sử dụng vốn để XDCT, làm vườn, NTTS, làm nghề... 2. Các hộ nghèo cơ bản đã biết cách sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, bước đầu đã tạo ra cơ sở cho phát triển bền vững thông qua chăn nuôi đại gia súc sinh sản và một số mô hình sản xuất khác. Vốn vay cho hộ nghèo đã trở thành công cụ đắc lực để XĐGN ở nông thôn. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 56 3. Các hộ sử dụng vốn vay đúng mục đích nhất là sử dụng vào các mục đích như chăn nuôi bò, nuôi cá đều tạo ra được việc làm cho hộ và có cơ hội tăng thu nhập thực sự. 4. Tuy nhiên các hộ sử dụng vốn sai mục đích còn cao, chiếm tới 20% số hộ điều tra. Số vốn vay ở đây tuy được các hộ sử dụng cho nhu cầu sinh hoạt phục vụ cuộc sống nhưng không nhìn thấy được tiền đề cho thoát nghèo. 5. Nguồn vốn của ngân hàng còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn của hộ nghèo. Hiện nay nhiều hộ nghèo vẫn phải chờ đợi mới đến lượt được vay. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1). Đỗ Kim Chung, Phạm Vân Đình (1997), Kinh tế nông thôn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 2). Giang Thị Thía (2006), Nghiên cứu sự tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của hộ nông dân huyện Thanh Miện Tỉnh Hải Dương, Luận văn thạc sỹ kinh tế. 3). Lê Quang Trung (2011), Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nghèo từ NHCSXH huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ kinh tế. 4). NHCSXH huyện Diễn Châu: Báo cáo tổng kết 10 năm hoạt động(2003-2012). 5). Nguyễn Hữu Hoàng (2008), Tìm hiểu các hoạt động tín dụng trong nông thôn xã Đa Tốn Huyện Gia Lâm - Hà Nội, Luận văn tốt nghiệp. 6). Nguyễn Việt Hoàng(2010), Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay NHCSXH của hộ nghèo tại TP. Điện Biên Phủ. Luận văn tốt nghiệp 7). Nguyễn Thị Thanh Thảo (2008), Thực trạng hoạt động tín dụng của hội phụ nữ thành phố Đồng Hới Tỉnh Quảng Bình, Khóa luận tốt nghiệp. 8). Nguyễn Thị Tiếng (2007), Bài giảng tín dụng nông thôn, Đại học Vinh. 9). Lê Trọng (2003), Hướng dẫn kế hoạch làn ăn xóa đói giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân, NXB Nghệ An. 10). Phan Thức Huân( 2006), Giáo trình kinh tế phát triển. 11) Quyết định 09/2011/QĐ-TTg ban hành ngày 30/01/2011 về việc ban hchuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015. 12). Theo ban thống kê xã Diễn Cát, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. 13). Trương Văn Chương (2006), Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại Huyện Lục Nam Tỉnh Bắc Giang, Luận văn thạc sỹ kinh tế. 14) Văn phòng UBND xã Diễn Cát: Báo cáo tổng kết kinh tế năm 2010 – 2012. 15) Xuân Nguyên(28/12/2010), Khái niệm nghèo đói, Nghiencuukinhtehoc.com. ĐA ̣I H ỌC KIN H T Ế H UÊ ́ Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 58 PHIẾU TÌM HIỂU TÌNH HÌNH VAY VỐN CỦA HỘ Người phỏng vấn: Đặng Thị Thúy Mã phiếu: .. Ngày tháng năm 2013. Tên chủ hộ: Giớ tính: Nam  Nữ  Xóm: xã Diễn Cát Huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An. Phần I: Thông tin chung 1. Thông tin của người được phỏng vấn - Họ và tên:.. - Tuổi:.. - Trình độ học vấn: + Cấp I + Trung cấp + Cấp II + Cao đẳng + Cấp III + Đại học 2. Thông tin về hộ - Nhân khẩu:.người - Lao động:..; Nam: Nữ:. Phần II: Tình hình vay vốn và sử dụng vốn vay của hộ 3. Hiện nay gia đình có vay vốn không? Có  Không 4. Nếu có điều kiện được vay vốn là gì? 5. Nếu gia đình có vay vốn xin vui lòng cho biết những thông tin sau: Nguồn vốn Số lượng vay (tr. đ) Thời gian vay lãi suât mục đích vay thực tế sử dụng NHCSXH ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 59 5.1 Vay để sản xuất nông nghiệp: - Gia đình vay vốn để đầu tư vào: + trồng trọt  + Chăn nuôi  + NTTS  - Nếu đầu tư vào trồng trọt, xin vui lòng cho biết: Loại cây Trước khi vay vốn Sau khi vay vốn DT (sào) NS (Tạ/sào) SL (Tạ) Giá (đồng) Thu nhập (đồng) DT (Sào) NS (Tạ/sào) SL (tạ) Giá (Đồng) Thu nhập (Đồng) Xin anh/chị vui lòng cho biết, chi phí bỏ ra đầu tư/sào là bao nhiêu? Loại cây Trước khi vay Sau khi vay - Nếu đầu tư vào chăn nuôi, xin vui lòng cho biết: Loại con Trước khi vay Sau khi vay Số lượng (con) Chi phí (đồng) Giá (đồng) Thu nhập (đồng) Số lượng (con) Chi phí (đồng) Giá (đồng) Thu nhập (đồng) Trâu Bò SS Lợn Con khác ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 60 - Nếu đầu tư vào NTTS, xin vui lòng cho biết: + Loại con: + Chi phí: +Thu nhập: 5.2 Nếu đầu tư vào buôn bán xin vui lòng cho biết: - Mặt hàng buôn bán:. - Thu nhập từ buôn bán: - Giải quyết việc làm cho bao nhiêu lao động?........... lao động 5.3 Nếu vay để làm nghề, xin vui lòng cho biết: - Làm nghề gì? - Thu nhập mà nghề đó đem lại cho gia đình: đồng/tháng - Giả quyết việc làm cho bao nhiêu lao động?.....................lao động 5.4 Vay để tiêu dùng, số vốn vay được sử dụng vào mục đích gì? Mua săm đồ dùng trong gia đình Sửa chữa hợac xây mới nhà cửa Tiêu dùng hàng ngày 5.5 Vay với mục đích khác, số vốn vay được gia đình sử dụng vào mục đích gì? 6. Xin vui lòng cho biết, giữa thời gian vay vốn với chu kỳ sản suất kinh doanh của hộ đã phù hợp chưa? nếu chưa, gia đình có ý kiến đề xuất gì? 7. Với số vốn vay được thỏa mãn nhu cầu về vốn của gia đình chưa? Rồi  Chưa  Nếu chưa thì số vốn gia đình muốn vay thêm là bao nhiêu?.................. Thời gian vay là bao lâu?...................tháng, với lãi suất%/tháng Vay để làm gì?................................................................................................ ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 61 8. Khi vay vốn, gia đình có phải thông qua tổ chức trung gian nào không? Có không 9. Nếu có thì đó là tổ chức trung gian nào? 10. Khi vay vốn gia đình phải làm những thủ tục gì? 11. Ông/bà có ý kiến gì về các thủ tục đó không? 12. Sau khi làm xong thủ tục vay vốn, khỏang bao lâu thì gia đình nhận được tiền? 13. Sau khi vay vốn cuộc sống của gia đình có sự thay đổi như thế nào? - Hộ khá  - Nghèo  - Thoát nghèo  - Nghèo hơn  14. Sau khi vay, mức sống của gia đình có sự thay đổi như thế nào? Cao hơn  Gĩư nguyên  Thấp hơn  15. Theo anh/chị, yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn vay của gia đình? Thị trường  Trình độ  Dịch bệnh  Sức khỏe  Thiếu lao động  16. Với số vốn vay đã giải quyết việc làm cho bao nhiêu lao động trong gia đình?.................lao động 17. Sau khi vay vốn, thu nhập bình quân hộ/năm thay đổi như thế nào? - Trước khi vay vốn:..Tr. đ/năm - Sau khi vay vốn:.Tr. đ/năm ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Trí SVTH: Đặng Thị Thúy 62 18. Xin vui lòng cho biết một số thông tin sau: Loại tài sản Số lượng Có trước khi vay Có sau khi vay Trị giá (Tr. đ) Nhà cửa Chuồng trại Cày, bừa Máy xay xát Máy tuốt lúa Ti vi Catset Tủ Xe máy Đầu đĩa 19. Gia đình có ý kiến, đề xuất gì cho tổ vay vốn không? Xin chân thành cảm ơn! Người được phỏng vấn (Ký, ghi rõ họ tên) Người phỏng vấn (Ký, ghi rõ họ tên)ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfdang_thi_thuy_9032.pdf
Luận văn liên quan