Luận án Kiểm soát quyền lực tư pháp trong nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Thực trạng nhận thức chính trị của Đảng và Nhà nước ta về QLTP và kiểm soát QLTP trong NNPQ XHCN Việt Nam. - Thực trạng pháp luật về kiểm soát QLTP ở nước ta hiện nay. - Thực tiễn kiểm soát QLTP trong NNPQ XHCN Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, luận án xác định: trong thời gian qua, pháp luật và thực tiễn vận hành của các cơ chế kiểm soát QLTP có nhiều ưu điểm, từng bước tương thích với nguyên tắc hiến định về phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và độc lập của tư pháp. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề nảy sinh từ thực tiễn lập pháp và quá trình áp dụng pháp luật khiến cho hiệu quả kiểm soát QLTP chưa cao. Luận án đã chỉ rõ những hạn chế, vướng mắc trong mỗi cơ chế kiểm soát QLTP ở Việt Nam hiện nay.

pdf168 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 12/08/2017 | Lượt xem: 654 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Kiểm soát quyền lực tư pháp trong nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
áp nhằm phát hiện, đưa ra công luận, tạo ra hiệu ứng xã hội đối với tất cả các khía cạnh nội dung của kiểm soát QLTP: kiểm soát phán quyết, kiểm soát hành vi của thẩm phán và các chức danh tư pháp, kiểm soát tổng thể về tổ chức và hoạt động của tư pháp. Tuy nhiên, xuất phát từ tính đặc thù của các hình thức hoạt động truyền thông, nội dung giám sát của truyền thông cần nghiêng nhiều hơn về giám sát phán quyết và giám sát tư cách hành vi của thẩm phán và các chức danh tư pháp. Trong giai đoạn hiện nay, để nâng cao năng lực và làm tốt chức năng giám sát của các cơ quan truyền thông và hoạt động báo chí đối với QLTP, cần lưu ý một số vấn đề sau: (i) Đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thống nhất nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, giám sát có trọng tâm, trọng điểm của các loại hình báo chí. Theo đó, cần xây dựng chiến lược cho các hoạt động giám sát của báo chí, không để hoạt động giám sát chạy theo các vụ việc đơn lẻ, khi có vấn đề thì tập trung làm “rùm beng”, khi tình huống vấn đề đã qua thì lại bỏ rơi, để nhạt nhòa; (ii) Cần có sự thống nhất và sự chủ động phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan báo chí, cơ quan thông tin đại chúng với các cơ quan trong lĩnh vực quản lý, hoạt động tư pháp, qua đó xác định được những vấn đề trọng tâm, trọng điểm cần chú ý trong hoạt động giám sát và thời gian, yêu cầu phải đáp ứng cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện để hai bên cùng tháo gỡ; (iii) Cần đẩy mạnh hơn nữa dân chủ hóa xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực hoạt động báo chí và các hoạt động tư pháp; (iv) Cần chú ý đến tính đặc thù hoạt động giám sát của các cơ quan báo chí, cơ quan thông tin đại chúng đối với các hoạt động tư pháp, theo đó phải đảm bảo thông tin nhanh chóng, kịp thời, đúng đắn, chính xác, phản ánh khách quan trung thực vấn đề, tình hình, vụ việc liên quan đến công tác xử lý, giải quyết của hoạt động tư pháp vốn có yêu cầu đòi hỏi cao về tuân thủ pháp luật, thực thi pháp luật; (v) Đẩy mạnh bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật chuyên sâu về lĩnh vực hoạt động tư pháp cho đội ngũ báo chí, bảo đảm hoạt động giám sát của báo chí đi đúng hướng, không phạm luật và nâng cao được tính hiệu quả của vấn đề giám sát, phản ánh. Đi đôi, cần tránh khuynh hướng lợi dụng, lạm dụng các ưu thế của báo chí để làm sai lạc vấn đề, phản ánh không đúng với hiện thực khách quan, gây tác động và dư luận xấu trong xã hội. 142 Trên phương diện pháp lý, cần có những giải pháp mang tính “dài hơi” hơn: ban hành các thể chế theo hướng tạo ra không khí tự do, dân chủ trong hoạt động báo chí, xuất bản. Hoàn thiện các thể chế pháp luật để bảo đảm tính độc lập, khách quan, trung thực của các phương tiện truyền thông đại chúng, ngăn ngừa được các biểu hiện lợi dụng tự do, dân chủ để chống phá nhà nước và chế độ. Ban hành chính sách từng bước xã hội hóa các phương tiện truyền thông đại chúng để giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, tránh được việc phụ thuộc vào ngân sách nhà nước nên dễ "xuôi chiều", “dè chừng”, "nể nang" khiến việc đưa tin, nhất là những thông tin có tính chất nhạy cảm, liên quan đến cơ quan, cá nhân có chức vụ, thẩm quyền cao trở thành "vùng cấm". Ban hành các quy định pháp luật đủ mạnh để xử lý nghiêm khắc đối với các cơ quan, công chức nhà nước vi phạm Luật báo chí; thiết lập cơ chế bảo vệ và khen thưởng những cá nhân, đơn vị đã dũng cảm đấu tranh với những sai trái của cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước nhằm đưa sự việc ra ánh sáng để công luận được biết, tránh cho họ khỏi bị trả thù, trù dập. Xây dựng cơ chế buộc nhà báo cũng phải chịu trách nhiệm bằng những chế tài nghiêm khắc nếu vi phạm quy tắc nghề nghiệp, đạo đức nhà báo. 4.2.3.7. Đảng Cộng sản Việt Nam Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp không có nghĩa là các cơ quan tư pháp thoát ly sự lãnh đạo của Đảng. Đảng kiểm soát QLTP, lãnh đạo hệ thống tư pháp và hoạt động tư pháp nhưng không làm cản trở, hạn chế và đảm bảo duy trì được sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của cơ quan và người thực thi QLTP. Ranh giới, công cụ, tiêu chí xác định mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng và sự độc lập của các cơ quan và người thi hành QLTP chính là pháp luật. Thẩm phán độc lập, nhưng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. C.Mác từng nói ”Đối với thẩm phán thì không có cấp trên nào khác ngoài luật pháp" [17, tr.137]. Đảng lãnh đạo toàn diện nhưng “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Khoản 3 Điều 4 Hiến pháp 2013). Quyết định của người thẩm phán không chỉ thể hiện tính chuyên môn đơn thuần mà còn phải mang tính chính trị nếu hiểu theo nghĩa rộng nhất của khái niệm này. Một bản án do tòa án tuyên mang tính chính trị tức là bản án đó đúng pháp luật, phù hợp với yêu cầu của tình hình chính trị tại địa phương, có tính giáo dục và phòng ngừa riêng. Hơn nữa, chính yêu cầu về „ xét xử tuân theo pháp luật“ cũng phản ánh sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xét xử bởi pháp luật là sự thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng. 143 Xét về mặt nội dung, Đảng kiểm soát QLTP thông qua lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra mọi phương diện của hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, nhìn từ tính chất của hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, sự kiểm soát của Đảng nên tập trung kiểm soát tổng thể về tổ chức và hoạt động của tư pháp, nhấn mạnh khâu cán bộ và chỉ đạo về chủ trương của hoạt động xét xử. Theo đó, cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động thực thi QLTP theo hướng sau: Thứ nhất, Đảng ban hành đường lối chủ trương và định hướng chung về phát triển Tòa án để bảo đảm việc xét xử công bằng, thực hiện quyền tiếp cận công lý của người dân, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Đảng quy định cụ thể hóa các nhiệm vụ chính trị của ngành Tòa án cần thực hiện trong mỗi giai đoạn phát triển của đất nước bằng các Nghị quyết chuyên đề. Trước mắt, trên cơ sở tổng kết Nghị quyết 49-NQ/TW, Đảng nên ban hành một Quy định về quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư với Ban cán sự đảng các cơ quan tư pháp ở Trung ương, về lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng đối với công tác xét xử. Thứ hai, về mặt quan điểm, cần khẳng định rõ hoạt động xét xử phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, gắn với việc phục vụ nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, toàn dân, đi đôi với kiên quyết loại bỏ tình trạng cấp ủy đảng hoặc cán bộ của Đảng can thiệp sâu, tùy tiện, trái pháp luật vào các vụ án cụ thể. Việc chỉ đạo, lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với hệ thống tòa án cần được thực thi trên nguyên tắc đảm bảo trách nhiệm giải trình của tòa án và trách nhiệm cá nhân của thẩm phán, hội thẩm nhân dân và các chức danh tư pháp khác của tòa án song không can thiệp vào nhiệm vụ chuyên môn của tòa án. Thứ ba, để sự kiểm soát của Đảng đối với hoạt động thực thi QLTP toàn diện và hiệu quả hơn, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng không nên chỉ bó hẹp trong việc xử lý các vụ án hình sự mà cần mở rộng tới các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính có ảnh hưởng lớn tới chính trị và đối ngoại theo hướng ”rộng về phạm vi, hẹp về tiêu chí’. Cấp ủy Đảng có thể cho ý kiến tới tất cả các loại án nhưng lại chỉ giới hạn chỉ đối với những vụ án có ảnh hưởng lớn tới tiêu chí „chính trị và đối ngoại”. Đương nhiên, cần có quy định, hướng dẫn cụ thể thế nào là ảnh hưởng lớn tới chính trị và thế nào là ảnh hưởng lớn tới đối ngoại để đảm bảo thống nhất trong áp dụng, tránh tùy tiện. Thứ tư, cần có cơ chế phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa các cấp ủy Đảng trong việc chỉ đạo, định hướng xử lý các loại vụ án. Nhiệm vụ này cần tập trung cho các cấp ủy Đảng có đủ điều kiện về đội ngũ cán bộ, phương tiện, kiến thức 144 chuyên sâu về pháp luật. Theo đó, cần tăng cường vai trò, trách nhiệm của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Ban Nội chính. Bên cạnh đó, cần tăng cường trách nhiệm chủ động của Ban cán sự đảng Tòa án trong việc chỉ đạo định hướng đường lối giải quyết những vụ án có ảnh hưởng lớn về chính trị và đối ngoại, tiếp tục kiện toàn Ban Cán sự đảng TAND tối cao và Ban Cán sự đảng VKSND tối cao trực thuộc Ban Bí thư để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp, đáp ứng yêu cầu đề ra. Thứ năm, trong bối cảnh hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam, nhu cầu ban hành Luật về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để thể chế hóa Điều 4, Hiến pháp năm 2013 nhằm cụ thể hóa trách nhiệm của Đảng trong lãnh đạo "Nhà nước và xã hội" và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quan điểm, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng đang trở thành hiện hữu và cấp bách. Luật về sự lãnh đạo của Đảng xây dựng trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, Cương lĩnh chính trị, quy định của Điều lệ Đảng, các nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương. Theo hướng đó, các chế định chủ yếu của Luật về sự lãnh đạo của Đảng bao gồm: chức năng lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; phương thức nhận ủy quyền lãnh đạo; phạm vi, nội dung và phương thức lãnh đạo; cơ chế quan hệ giữa Đảng cầm quyền và các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; cơ chế tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động lãnh đạo của Đảng; cơ chế đánh giá kết quả hoạt động lãnh đạo, cầm quyền của ĐảngLiên quan đến vấn đề này, một số nhà nghiên cứu cho rằng, việc xây dựng Luật về sự lãnh đạo của Đảng cần được cân nhắc và có đề xuất việc xây dựng một văn bản liên tịch (Quy chế) giữa Đảng và Nhà nước điều chỉnh tổng thể hoạt động lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo giữa hai thực thể chính trị này ở mức độ chung nhất, xác định những nguyên tắc cơ bản nhất, xem đó là cơ sở pháp lý cho các mối quan hệ tại các cấp và lĩnh vực cụ thể. Văn bản liên tịch này phải trù liệu những nội dung cơ bản như: Các nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa Đảng Cộng sản cầm quyền và Nhà nước trong chế độ pháp quyền; phân định phạm vi chức năng chính trị của Đảng và chức năng xây dựng và thực thi pháp luật của Nhà nước; phân định chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước; phân định quyền ra quyết sách chiến lược của Đảng và quyền ra quyết sách chiến thuật của nhà nước; phân định hoạt động đào tạo, tuyển chọn, quản lý đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính trị của Đảng và hoạt động đào tạo, tuyển chọn, quản lý đội ngũ cán bộ chuyên môn hành chính của Nhà nước; xác định phương thức, hình thức phân công và kiểm soát quyền lực giữa Đảng và Nhà nước Như vậy, Quy chế này chỉ khuôn trong việc điều chỉnh mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước nhằm đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động cầm quyền. Nhiều vấn đề khác liên 145 quan đến yêu cầu của chế độ pháp quyền về tính hợp pháp và chính đáng trong hoạt động của Đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền vẫn chưa được giải quyết. Nói cách khác, đây là phương án tình thế, thiếu căn bản và không thỏa đáng trong bối cảnh thực hiện nhiệm vụ chính trị ở nước ta hiện nay. 4.2.4. Tăng cường trách nhiệm giải trình và tính công khai, minh bạch thông tin trong hoạt động tư pháp 4.2.4.1. Về trách nhiệm giải trình của thẩm phán và tòa án Độc lập xét xử không có nghĩa là miễn toàn bộ trách nhiệm của tòa án và thẩm phán khi họ có những sai phạm trong thực thi QLTP dẫn đến xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và các cơ quan, tổ chức khác. Cũng giống như nhiều quốc gia khác, yêu cầu nâng cao trách nhiệm của tòa án, thẩm phán và các chức danh tư pháp khác đang đặt ra đối với Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ trách nhiệm của tòa án, của thẩm phán đến đâu khi phán quyết của họ bị tòa án cấp trên sửa đổi và hủy bỏ? Liệu các quy định đó có thể ảnh hưởng đến sự độc lập của thẩm phán hay không? Theo khoản 6 Điều 76 Luật Tổ chức TAND năm 2014, thì Thẩm phán “chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và các quyết định của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật. Thẩm phán trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà gây thiệt hại thì Tòa án nơi Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xử có trách nhiệm bồi thường và Thẩm phán đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Tòa án theo quy định của luật”. Những biện pháp xác định trách nhiệm cá nhân nói trên trên khiến cho các Thẩm phán thận trọng hơn khi đưa ra quyết định và giúp nâng cao chất lượng hoạt động xét xử. Theo Điều 32 Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước (có hiệu lực từ ngày 1/10/2010) thì tòa án có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự trong trường hợp tòa án đã tuyên bị cáo có tội nhưng tòa án cấp trên tuyên bị cáo vô tội hoặc hủy bản án của tòa án đó mà sau đó bị cáo được tuyên bố vô tội hoặc bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội.Trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, theo Điều 33 quy định tòa án có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho đương sự khi cố tình ra bản án/quyết định trái pháp luật hoặc khi tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá 146 nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu; hoặc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Như vậy,trong tố tụng hình sự thì trách nhiệm của tòa án phải bồi thường chỉ trong trường hợp tòa án đã xử oan: ra bản án kết tội đối với người vô tội. Tuy nhiên, cũng lưu ý rằng trách nhiệm bồi thường của tòa án không chỉ giới hạn trong trường hợp việc xử oan là do cố ý mà còn cả trong trường hợp do lỗi vô ý của tòa án. Trong tố tụng dân sự và hành chính thì tòa án chỉ bồi thường trong trường hợp do lỗi cố ý ra bản án trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái với quy định của pháp luật (trong trường hợp này có thể là do lỗi vô ý ở hình thức cẩu thả quá đáng đã áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái với quy định của pháp luật). Việc quy trách nhiệm của tòa án cấp phúc thẩm và tòa án giám đốc thẩm/tái thẩm trong hoạt động tố tụng hình sự đối với cả hai trường hợp do lỗi cố ý hoặc vô ý có thể tạm coi là hợp lý nếu xét từ lý do là bản án phúc thẩm và bản án giám đốc thẩm/tái thẩm có hiệu lực thi hành ngay nên tòa án cấp phúc thẩm và giám đốc thẩm phải có trách nhiệm cẩn trọng. Tuy nhiên, việc quy trách nhiệm của tòa án cấp sơ thẩm phải bồi thường trong trường hợp tòa án cấp sơ thẩm vô ý tuyên có tội người vô tội là không hợp lý vì quy định này đã đi ngược bản chất 2 cấp xét xử trong hoạt động tư pháp. Có ý kiến cho rằng [46, tr.160], về nguyên tắc thì không nên và không cần thiết phải quy định trách nhiệm bồi thường của tòa án và trách nhiệm bồi hoàn của thẩm phán. Điều đó ảnh hưởng đến sự độc lập của tòa án và của thẩm phán. Trong trường hợp thẩm phán cố ý ra bản án trái pháp luật thì đã có cơ chế xử lý hình sự đủ sức mạnh để răn đe. Việc quy trách nhiệm bồi hoàn trong trường hợp cẩu thả quá đáng khi ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là không cần thiết vì đã có chế tài buộc bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải ký quỹ, nộp một khoản tiền bảo đảm cho thiệt hại của bên bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu yêu cầu đó không có cơ sở. Trong khi đó, các quy định hiện hành không đủ để buộc thẩm phán phải có trách nhiệm giải trình về hoạt động xét xử của mình. Các phán quyết của thẩm phán thông thường khá đơn giản trong phần phân tích và nhận định các tình tiết của vụ án và lập luận về cơ sở pháp lý áp dụng đối với các tình tiết của vụ án. Mặc dù việc xét xử là công khai nhưng chưa có quy định và cơ chế công bố công khai các phán quyết của tòa. Không dễ dàng tiếp cận các phán quyết của tòa án. Các phán quyết của tòa án về cơ bản là chưa được công chúng, giới luật sư hành nghề, 147 giới học thuật và hành nghề luật đánh giá, phản biện và giám sát vì họ không có điều kiện để tiếp cận. Do đó, thẩm phán không phải chịu sức ép giám sát của công chúng về chất lượng các phán quyết, về cơ sở của các phán quyết và chưa bị áp lực phải giải trình việc xét xử từng vụ án cụ thể. Đây có thể là một trong những nguyên do của sự tùy tiện, tham nhũng trong tư pháp, sự thiếu trách nhiệm và chất lượng xét xử còn yếu kém hiện nay. Vì lẽ đó, cần thiết phải nghiên cứu đề xuất các biện pháp tăng cường trách nhiệm giải trình trong hoạt động xét xử của thẩm phán nói riêng và của tòa án nói chung. Trước mắt, để tăng cường tính giải trình về việc ra quyết định của Thẩm phán đòi hỏi phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định tiêu chuẩn hình thức, nội dung của một bản án, quyết định của Tòa án, đặc biệt là các phần: (i) tình tiết của vụ án, chứng cứ, nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh trong vụ án; (ii) các lập luận theo cáo trạng và luật sư bào chữa cho bị cáo trọng vụ án hình sự; lập luận của các bên và luật sư của họ trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động và hành chính; (iii) lập luận của Hội đồng xét xử và cơ sở pháp lý để ra phán quyết. 4.2.4.2. Về công khai, minh bạch thông tin trong hoạt động tư pháp Trong một Nhà nước của dân, do dân và vì dân, các cơ quan công quyền không được phép nắm giữ thông tin cho riêng mình, mà “những thông tin này phải được các thành viên của cộng đồng tiếp cận và nắm rõ nếu họ có mong muốn, trừ khi có một lợi ích công cộng khác quan trọng hơn buộc chúng phải được giữ bí mật" [85, tr.530] Đối với Tòa án, sự đánh giá của công chúng không được thể hiện qua phiếu bầu, mà nó được xem xét thông qua các yêu cầu về công khai, khách quan và thuyết phục trong lý lẽ khi xét xử của toà án. Công khai yêu cầu công chúng phải được quyền tiếp cận với toà án (đúng ra là các phiên toà), yêu cầu toà án phải xét xử công khai. Thủ tục tố tụng hiện hành phần nào đã ấn định tính công khai của hệ thống tư pháp Việt Nam, chẳng hạn các phiên xử được tổ chức công khai ngoại trừ trường hợp liên quan đến danh dự cá nhân hoặc thuần phong mỹ tục, hoặc các bên liên quan được quyền xuất trình chứng cứ và tranh luận công khai tại phiên xử. Tính minh bạch trong hoạt động của tòa án được thể hiện ở thủ tục tố tụng, tức là các quy định liên quan đến quy trình xét xử và xác lập chứng cứ khi giải quyết các vụ án và vụ kiện. Hiện nay, để nâng cao hơn nữa tính minh bạch cần 148 phải thực hiện một số thay đổi mang tính cải cách về thủ tục tố tụng của tòa án Việt Nam. Trong những cải cách cần thiết đó, có hai nội dung quan trọng: Thứ nhất, cần phải minh bạch hóa việc xác lập chứng cứ. Hiện nay chúng ta đang thiếu một luật về chứng cứ, ít nhất dành cho hoạt động xét xử, nhưng không vì vậy mà cho phép thiếu lưu tâm đến sự minh bạch trong quy trình xác lập chứng cứ. Cho đến nay, liên quan đến tố tụng hình sự, chỉ cơ quan điều tra và công tố được đặc quyền xác lập chứng cứ để bảo vệ quyền lợi xã hội, trong khi luật sư với vai trò bảo vệ quyền lợi cá nhân luôn gặp nhiều hạn chế khi thu thập chứng cứ và thường chỉ giới hạn trách nhiệm của mình vào việc nêu ra những điểm bất hợp lý của các chứng cứ đã được cơ quan điều tra và công tố xác lập sẵn. Sự thiếu minh bạch như vậy trong thủ tục tố tụng hình sự đã dẫn đến hậu quả là quyền tự do cá nhân và quyền lợi của công dân không được bảo đảm như Hiến pháp hiện hành đã minh định. Các tranh luận gần đây về việc sửa đổi luật tố tụng hình sự đã chỉ rõ sự cần thiết phải mở rộng vai trò và sự tham gia của luật sư vào tiến trình xác lập chứng cứ, và như vậy mặc nhiên cho thấy tầm quan trọng của việc minh bạch hóa hoạt động xét xử của tòa án trong những vụ án hình sự. Liên quan đến tố tụng dân sự và kinh tế, nguyên tắc “đối tụng”, một nguyên tắc tranh tụng thông dụng tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, bao gồm cả những nước theo hệ thống Châu Âu lục địa (Civil Law) và Thông Luật (Common Law), vẫn chưa được công nhận và áp dụng tại Việt Nam. Theo nguyên tắc này, trước khi vụ kiện dân sự hoặc kinh tế được tòa án chính thức xét xử công khai, các đương sự có trách nhiệm trao đổi chứng cứ và tranh luận với nhau, chứ không đơn giản chỉ xuất trình chứng cứ và trình bày quan điểm của mình với thẩm phán. Nói cách khác, phải có sự thông tri giữa các bên có liên quan về toàn bộ “bức tranh” của vụ kiện. Quan sát các vụ tranh tụng dân sự và kinh tế tại Việt Nam, người ta dễ nhận thấy tình trạng các bên tranh tụng luôn tìm cách che giấu những chứng cứ quan trọng cho đến khi phiên xử chính thức bắt đầu mới tung ra nhằm “hạ độc thủ” đối phương để chiếm thế thượng phong. Do bị bất ngờ và thiếu thời gian chuẩn bị trong trường hợp như vậy, việc đánh giá chứng cứ của một bên sẽ không toàn diện và họ mặc nhiên bị tước mất sự công bằng mà lẽ ra thủ tục tố tụng phải bảo đảm đồng đều cho tất cả các bên tranh tụng. Hậu quả của sự thiếu minh bạch này trong tranh tụng là các luật sư thay vì dành thời gian và công sức để trao dồi kỹ năng nghề nghiệp, chỉ lo tìm kiếm những thủ đoạn vặt vãnh nhằm tranh thủ lợi thế so với đối thủ của mình. 149 Thứ hai, thủ tục công bố án lệ cần phải được minh bạch hóa. Nếu phán quyết được tuyên công khai tại các phiên xử công khai thì không lý do gì phải bảo mật án lệ đối với công chúng. Tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, phán quyết đã tuyên của tòa án được tập hợp và xuất bản thành những tập án lệ, ít nhất dành cho giới nghiên cứu và thực hành pháp luật tham khảo và phê bình. Dù muốn dù không, do chức năng phản ánh thực tiễn pháp lý của mình, án lệ vẫn đóng vai trò chính trong việc giải thích luật pháp và qua đó xác lập khuôn khổ ứng xử cho xã hội. Công bố án lệ sẽ giúp giới thực hành pháp luật hiểu ý nghĩa và sự vận hành của các đạo luật theo nhãn quan của cơ quan tài phán, đồng thời tránh tình trạng áp dụng luật tùy tiện của cơ quan hành pháp. Mặt khác, các tạp chí luật chuyên ngành thường có mục phê bình án lệ của các giáo sư đại học, sự phê bình này góp phần vào việc nghiên cứu và đề xuất các học thuyết pháp lý mới. Công bố án lệ vì vậy rất cần thiết cho việc phát triển luật pháp nói chung. Tuy nhiên, công bố án lệ lại không được chú trọng tại Việt Nam. Giới nghiên cứu và thực hành pháp luật muốn tham khảo án lệ buộc phải dựa dẫm vào mối quan hệ riêng nhất thời với các thẩm phán (mặc dù đây là việc làm không an toàn về mặt pháp lý). Tìm được án lệ, vì vậy là vấn đề may rủi. Chính hạn chế này đã làm giảm thói quen nghiên cứu và cập nhật thực tiễn pháp lý của giới nghiên cứu và thực hành pháp luật. Như vậy, quyền xuất trình chứng cứ và tranh luận tại các phiên xử công khai là điều kiện cần nhưng chưa đủ của tính minh bạch, cần phải có cái nhìn mới, thực tế và khoa học hơn về quy trình xác lập chứng cứ và công bố án lệ. Minh bạch hóa hơn nữa hoạt động của tòa án sẽ góp phần đáng kể vào quá trình nâng cao hiệu quả kiểm soát QLTP và công cuộc cải cách tư pháp tại Việt Nam hiện nay. 4.2.5. Đảm bảo các điều kiện cần thiết khác cho hoạt động kiểm soát quyền lực tư pháp 4.2.5.1. Đảm bảo chủ quyền nhân dân, phát huy dân chủ, giữ vững sự ổn định chính trị đi đôi với tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị Bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân là nhân tố hàng đầu quyết định sự đúng đắn, lành mạnh của mối quan hệ quyền lực trong các xã hội dân chủ và hiện đại. Không thể chỉ dừng lại trong nhận thức mà nguyên tắc chủ quyền nhân dân phải trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ thực tiễn quá trình tổ chức và thực thi quyền lực ở nước ta hiện nay. Trong NNPQ XHCN, Nhân dân ủy quyền do vậy Nhân dân có toàn quyền kiểm soát QLNN và có thể thu hồi lại quyền lực đã ủy quyền nhờ vào kết quả của hoạt động kiểm soát QLNN. Theo hướng đó, dân chủ 150 hóa nền chính trị và toàn bộ đời sống xã hội là định hướng quan trọng nhất trong việc xây dựng các bảo đảm cho hiệu quả kiểm soát QLNN nói chung, kiểm soát QLTP nói riêng. Ở Việt Nam, sự ổn định chính trị đạt ở mức lý tưởng so với các nước trong khu vực. Cạnh tranh chính trị theo nghĩa của phương Tây không diễn ra nhưng lòng tin và sự ủng hộ của người dân đối với chính phủ rất cao, hơn nữa đã bắt đầu hình thành cơ chế phản biện xã hội như một hình thái “đối trọng” được nhà nước khuyến khích. Vị thế của các tổ chức, đoàn thể xã hội, giới truyền thông trong việc thúc đẩy dân chủ, nhân quyền, tham gia vào đời sống nhà nước và pháp luật ngày càng được nâng cao thông qua việc tăng cường vai trò giám sát, phản biện xã hội của các thiết chế này theo nguyên tắc NNPQ. Ngoài sự giới hạn một số quyền chính trị - dân sự vì yêu cầu chung của xã hội thì trên thực tế, môi trường tự do cho hoạt động của công dân ngày càng được mở rộng hơn, tính tích cực chính trị của người dân tăng lên rõ rệt. Trên bình diện toàn xã hội, không khí dân chủ, cởi mở có mức độ lan tỏa nhanh. Tuy nhiên, đã xuất hiện những dấu hiệu ngày càng rõ nét của những yếu tố chính trị bất lợi cho những cố gắng nâng cao hiệu quả của kiểm soát QLTP ở Việt Nam. Trước hết, đó là sự chưa đồng bộ trong hệ thống nhà nước và cùng với nó là tình trạng thiếu minh bạch trong hoạt động nhà nước chậm được khắc phục. Nạn tham nhũng chưa có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu mặc dù chính phủ có quyết tâm cao. Nhận thức chính trị của giới chức lãnh đạo có những chuyển biến tốt nhưng văn hóa chính trị thể hiện trong ứng xử đối với người dân của đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp còn nhiều tồn tại. Lối sống vị kỷ chỉ lo vun đắp cho bản thân, thái độ vô cảm trước nỗi đau của con người, sự thiếu trách nhiệm trong thực hiện chức trách và chuyên môn .. còn diễn ra khá phổ biến. Trong bối cảnh đó, điểm đột phá trong yêu cầu duy trì sự ổn định chính trị là việc củng cố niềm tin của người dân vào chế độ xã hội thông qua việc tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị, tăng cường năng lực của các thiết chế trong hệ thống chính trị, lành mạnh hóa các mối quan hệ trong hệ thống chính trị, nâng cao văn hóa chính trị của giới chức cầm quyền. Đến lượt nó, vấn đề này lại liên quan chặt chẽ tới nhu cầu thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm và đấu tranh chống tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, công chức trong toàn bộ hệ thống công quyền nói chung, hệ thống tư pháp nói riêng. 151 4.2.5.2. Đảm bảo điều kiện kinh tế cho hoạt động kiểm soát quyền lực tư pháp Để bất kỳ một hoạt động quyền lực nào vận hành có hiệu quả cũng cần phải có nền tảng vật chất vững chắc. Theo đó, xét từ góc độ cơ sở vật chất, cần có sự đầu tư thích đáng cho việc triển khai thực hiện các hoạt động kiểm soát QLTP của các chủ thể kiểm soát đi đôi với sự hỗ trợ cần thiết cho hoạt động nghiên cứu, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về kiểm soát QLTP, nâng cao dân trí của các nhóm xã hội và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Điều này đòi hỏi một nền kinh tế đủ mạnh. Hiện nay, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam diễn ra trong trạng thái tương đối an toàn, chưa gặp phải khủng hoảng kinh tế trầm trọng, mặc dù một tương quan hợp lý giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững chưa được xác lập trên bình diện toàn xã hội. Nhìn chung, môi trường kinh tế của Việt Nam chưa thực sự ổn định và đủ độ mạnh, chưa phải là môi trường lý tưởng đảm bảo điều kiện tốt nhất cho hiệu quả hoạt động quyền lực nhưng cũng đã có nhiều điểm sáng. Đặc biệt, tốc độ hình thành các điều kiện kinh tế tăng nhanh đã cho phép duy trì một tinh thần lạc quan trong việc thu hẹp khoảng cách bất cập giữa trạng thái kinh tế hiện hành với yêu cầu tạo lập nền tảng kinh tế cần thiết cho mục tiêu bảo đảm tốt nhất hiệu quả hoạt động quyền lực nói chung, kiểm soát QLTP nói riêng. Trong tình hình đó, các chủ trương đổi mới nền kinh tế, đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững và tương thích với các yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cần được triển khai một cách quyết liệt và hiệu quả. 4.3.5.3. Đảm bảo điều kiện xã hội cho hoạt động kiểm soát quyền lực tư pháp Hiệu quả kiểm soát QLTP liên quan tới toàn bộ nền tảng chính trị và xã hội nước ta, ảnh hưởng tới lợi ích của mỗi người dân đồng thời cũng tạo khả năng thụ hưởng của mọi người, mọi tầng lớp xã hội. Do vậy, một mặt cần nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa của kiểm soát QLTP trong giai đoạn đẩy mạnh xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam, mặt khác cần huy động sự quan tâm và sức mạnh của toàn xã hội tham gia ở các mức độ khác nhau vào kiểm soát QLTP nhằm đảm bảo cho hoạt động thực thi QLTP được triển khai đúng mục đích của nó trong cấu trúc tổ chức QLNN ở nước ta hiện nay. Muốn vậy, cần đặc biệt tăng cường các biện pháp giáo dục, nâng cao dân trí, nâng cao ý thức chính trị, ý thức pháp luật và trách nhiệm của công dân để nhân dân thực sự trở thành chủ thể của 152 quyền lực nhà nước, có đủ vị thế và năng lực thực hiện hiệu quả hoạt động kiểm soát QLTP. Điều này cũng đặt ra một cách trực diện và cấp bách đối với các chủ thể khác trong cấu trúc xã hội ở nước ta hiện nay. KẾT LUẬN CHƢƠNG 4 Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và phương hướng hành động của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Là một bộ phận, một nội dung của QLNN, QLTP cần được chú ý và tổ chức thực hiện trên "đường ray" tư tưởng và phạm vi nhiệm vụ đó. QLTP và sự kiểm soát QLTP được tổ chức thực hiện cùng với cải cách việc tổ chức thực hiện quyền lực nhằm xây dựng một Nhà nước mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, có năng lực và khả năng đưa đất nước tiến nhanh đến mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh", đảm bảo quyền lực luôn nằm trong quỹ đạo quyền lực nhân dân. Bảo đảm kiểm soát QLTP phải đứng trên quan điểm tiếp cận QLTP là một bộ phận của QLNN, nằm trong trạng thái cân bằng và kiểm soát với quyền lực lập pháp và quyền lực hành pháp, chịu sự giám sát của chủ thể nắm giữ QLNN và không chịu ảnh hưởng trực tiếp của các quyết định chính trị đối với quyền lực xét xử, ban hành các phán quyết. Bảo đảm kiểm soát QLTP trong bối cảnh tiếp tục hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam hiện nay cần tiến hành đồng bộ các giải pháp, từ đổi mới nhận thức, xây dựng mô hình tổng quát đến tăng cường năng lực của các chủ thể kiểm soát QLTP, nâng cao trách nhiệm giải trình, tính công khai, minh bạch trong hoạt động tư pháp và xây dựng các điều kiện cần thiết khác cho hoạt động kiểm soát QLTP. Trong mỗi giải pháp, việc hoàn thiện các quy định để thiết lập cơ sở pháp lý cho hành động thực tiễn là một yêu cầu quan trọng. Có thể nói, yêu cầu kiểm soát QLTP luôn song hành với yêu cầu độc lập của QLTP mà biểu hiện cụ thể của nó là độc lập xét xử. Những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả kiểm soát QLTP cũng đồng thời là những giải pháp nhằm làm cho QLTP mạnh hơn, tồn tại đúng với vị trí pháp lý và thẩm quyền của nó, làm cho nó độc lập hơn trong mối quan hệ với các phạm vi QLNN khác và với quyền lực chính trị. Ở nghĩa đó, cải cách tư pháp cần phải được tiến hành đồng bộ, trên nền nhận thức đầy đủ về QLTP, độc lập của tư pháp và kiểm soát QLTP. 153 KẾT LUẬN Quyền lực nhà nước là một tất yếu trong đời sống xã hội. Trong xã hội hiện đại và pháp quyền, QLNN có nguồn gốc từ Nhân dân. Nhân dân là chủ thể tối cao của QLNN. Do đặc tính dễ bị lạm dụng, nên cùng với việc trao quyền, bao giờ người ta cũng phải thiết lập các cơ chế để kiểm sóat QLNN. QLTP là một nhánh độc lập, hợp thành của QLNN thống nhất, có nhiệm vụ duy trì, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và trật tự pháp luật, được tòa án thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động xét xử. Cũng giống như các bộ phận QLNN khác, QLTP cần phải được kiểm soát. Tuy nhiên, do tính đặc thù của hoạt động tư pháp nên kiểm soát QLTP có những yêu cầu riêng và đặt ra đòi hỏi về nội dung và cơ chế kiểm soát đặc thù. Ở Việt Nam, những đặc trưng của NNPQ XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn đến việc thiết kế nhiều cơ chế kiểm soát QLNN trong đó có các cơ chế đa dạng về kiểm soát QLTP. Đó chính là kết quả của quá trình đổi mới tư duy và kiểm nghiệm trong thực tiễn xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam. Luận án đã phân tích thực trạng kiểm soát QLTP trong NNPQ XHCN Việt Nam, hướng trọng tâm vào việc làm sáng tỏ những vấn đề sau: - Thực trạng nhận thức chính trị của Đảng và Nhà nước ta về QLTP và kiểm soát QLTP trong NNPQ XHCN Việt Nam. - Thực trạng pháp luật về kiểm soát QLTP ở nước ta hiện nay. - Thực tiễn kiểm soát QLTP trong NNPQ XHCN Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, luận án xác định: trong thời gian qua, pháp luật và thực tiễn vận hành của các cơ chế kiểm soát QLTP có nhiều ưu điểm, từng bước tương thích với nguyên tắc hiến định về phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và độc lập của tư pháp. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề nảy sinh từ thực tiễn lập pháp và quá trình áp dụng pháp luật khiến cho hiệu quả kiểm soát QLTP chưa cao. Luận án đã chỉ rõ những hạn chế, vướng mắc trong mỗi cơ chế kiểm soát QLTP ở Việt Nam hiện nay. Đứng trên quan điểm đề cao vai trò của kiểm soát QLTP, gắn nhu cầu nâng cao hiệu quả kiểm soát QLTP với mục tiêu bảo đảm quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, tăng cường sự tiếp cận công lý của người dân, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân trong trật tự pháp luật, định hướng xây dựng cơ chế kiểm 154 soát quyền lực tư pháp phù hợp với đặc điểm tổ chức QLNN trong NNPQ XHCN Việt Nam, đặt trong yêu cầu đảm bảo nguyên tắc độc lập xét xử trong thực hiện QLTP, xuất phát từ yêu cầu của chiến lược cải cách tư pháp và yêu cầu hội nhập nhập quốc tế, luận án đã xây dựng các nhóm giải pháp nhằm tạo lập khả năng bảo đảm kiểm soát QLTP ở nước ta hiện nay. Các giải pháp do luận án đề xuất bao gồm: - Đổi mới nhận thức về QLTP và kiểm soát QLTP trong NPQ XHCN Việt Nam. - Thúc đẩy việc xây dựng “mô hình đáp ứng” trong kiểm soát QLTP ở Việt Nam hiện nay. - Nâng cao năng lực và hiệu qủa hoạt động của các chủ thể kiểm soát QLTP trong NNPQ XHCN Việt Nam. - Tăng cường trách nhiệm giải trình và tính công khai, minh bạch thông tin trong hoạt động tư pháp. - Đảm bảo các điều kiện cần thiết khác cho hoạt động kiểm soát quyền lực tư pháp Mỗi nhóm giải pháp đều có tầm quan trọng nhất định, tạo nên tính đồng bộ của phương án đổi mới, bảo đảm kiểm soát QLTP trong NNPQ XHCN Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, luận án dành điểm nhấn vào hai nhóm giải pháp (1) Thúc đẩy việc xây dựng “mô hình đáp ứng” trong kiểm soát QLTP ở Việt Nam hiện nay; và (2) Nâng cao năng lực và hiệu qủa hoạt động của các chủ thể kiểm soát QLTP trong NNPQ XHCN Việt Nam. Chủ ý này của tác giả luận án xuất phát từ tầm quan trọng của mô hình định hướng và từ những yếu kém về năng lực và hiệu quả hoạt động của các chủ thể tham gia kiểm soát QLTP ở nước ta hiện nay. Tập trung trí tuệ và nguồn lực cho hai nhóm giải pháp này là về cơ bản chúng ta có thể tạo ra bước chuyển quan trọng trong kiểm soát QLTP, phù hợp với các yêu cầu của NNPQ XHCN Việt Nam. Bảo đảm kiểm soát QLTP là một quá trình khó khăn và phức tạp. Các đề xuất nói trên chỉ là định hướng chủ quan của tác giả luận án trên cơ sở giải mã những vấn đề lý luận thực tiễn về kiểm soát QLTP trong NNPQ XHCN Việt Nam. Vì vậy, rất có thể còn phiến diện hoặc chưa đầy đủ. Tác giả luận án hy vọng các nỗ lực nghiên cứu theo hướng này sẽ tiếp tục đẩy sâu thêm hoặc mở rộng hơn các khía cạnh đã được đề cập nhằm góp phần hoàn thiện và hiện thực hóa các nguyên tắc tổ chức QLNN trong NNPQ XHCN Việt Nam. 155 DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ Đà CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Hệ thống chính trị Việt Nam: 70 năm xây dựng và đổi mới, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 9 (329), tháng 9/2015. 2. Trách nhiệm giải trình của Tư pháp, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, Số 05 (36), tháng 5/ 2016. 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát quyền lực tư pháp, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, Số 08 (39), tháng 8/ 2016. 156 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Văn bản pháp luật 1. Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 2. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 3. Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 4. Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 5. Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 6. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 7. Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2014 8. Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 9. Luật Tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 10. Luật Khiếu nại năm 2011 11. Luật Tố cáo năm 2011 12. Luật Báo chí năm 2016 13. Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân. Tài liệu tiếng Việt 14. Báo cáo trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XIII (tháng 11/2014) 15. Nguyễn Mạnh Bình, (2010), Luận án tiến sĩ luật học Hoàn thiện cơ chế giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Hà Nội. 16. Lê Văn Cảm, Hệ thống tư pháp, hệ thống tư pháp hình sự và hệ thống pháp luật về đấu tranh chống tội phạm trong nhà nước pháp quyền, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4/2010 17. Các Mác, Toàn tập, tập I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. 18. Chính phủ Việt Nam/ Ủy ban Châu Âu/ Chính phủ Đan Mạch/ Chính phủ Thụy Điển, Văn kiện Chương trình đối tác tư pháp Việt Nam năm 2010- 2015, Bản thảo cuối cùng, ngày 27/7/2009, trang IX. Tài liệu trên tải về từ trang điện tử của Quỹ Hỗ trợ các Sáng kiến tư pháp (ngày 21/12/2010) từ địa chỉ 19. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội. 157 20. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội. 21. Đảng cộng sản Việt Nam, (1996), Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Sự thật, Hà Nội. 22. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2001) Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 23. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia. 25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia 26. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Các nguyên lý của nền pháp quyền. Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, tháng 4/2005. 27. Nguyễn Đăng Dung(Chủ biên) (2004), Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 28. Nguyễn Đăng Dung,( 2006), Chính trị và hành chính – Một cách phân chia quyền lực khác, trong cuốn: Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Luật trực thuộc Đại học quốc gia Hà Nội 30 năm truyền thống (1976-2006), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 29. Lưu Tiến Dũng, (2011),Những vấn đề về độc lập xét xử trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta, Luận án tiến sỹ luật học, Hà Nội. 30. Nguyễn Minh Đoan, Bùi Thị Đào, Trần Ngọc Định, Trần Thị Hiền,Lê Vương Long, Nguyễn Văn Năm, Bùi Xuân Phái, (2009), Một số vấn đề về tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 31. Nguyễn Minh Đoan – Nguyễn Thu Hạnh, Quan niệm về kiểm soát và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9/ 2014 32. Nguyễn Minh Đoan (chủ nhiệm) (2015), Báo cáo Tổng hợp Đề tài khoa học cấp Bộ, Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội. 33. Bùi Xuân Đức, Phân định tài phán hành chính và tư pháp hành chính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/1995 158 34. Trần Ngọc Đường (chủ nhiệm) (2006), Báo cáo Tổng hợp Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mã số KXO4-28/06-10. 35. Nguyễn Thị Hạnh, Quyền tư pháp trong mối quan hệ với các quyền lập pháp, hành pháp theo nguyên tắc phân chia quyền lực, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 01 năm 2001 36. Phạm Hồng Hải, Quan niệm về cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp, Tạp chí Kiểm sát, số 8/2002. 37. Phạm Hồng Hải, Quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam, Báo cáo tham luận tại Đại hội Luật gia dân chủ thế giới tổ chức tại Việt Nam tháng 9/2009. 38. Học viện Hành chính Quốc gia (2015), Kỷ yếu Hội thảo “ Kiểm soát của Hành pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” 39. Tô Văn Hòa (2012), “Kiểm soát quyền lực nhà nước trong chính thể cộng hòa tổng thống theo Hiến pháp của Philippines”, Tạp chí Luật học số 6/2012 40. Tô Văn Hòa (2012), Tính độc lập của tòa án – nghiên cứu pháp lý về các khía cạnh lý luận, thực tiễn ở Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam và các kiến nghị đối với Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 41. Hoàng Mạnh Hùng, Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Cộng sản số 7/2007, xem trên trang điện tử của Tạp chí Cộng sản dưới địa chỉ: 19133656 42. Phạm Văn Hùng, Sự cần thiết phải kế thừa, bổ sung cơ chế tổ chức quyền lực trong dự thảo Cương lĩnh, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 19 (180) tháng 10/2010. 43. Đinh Thế Hưng, Thực hiện quyền tư pháp nhằm đảm bảo quyền tiếp cận công lý trong nhà nước pháp quyền, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5/2010, từ trang 13-18. 44. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa thư Việt Nam (2003), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 3 (N-S), Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội. 159 45. Nguyễn Văn Hiện (2005), Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác Tòa án hiện nay, Tạp chí Cộng sản, (17) 46. Bùi Nguyên Khánh (chủ nhiệm) (2014) Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ: “Cơ sở pháp lý đảm bảo sự độc lập xét xử của Tòa án trong điều kiện xây dựng Nhà nướcpháp quyền và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay”. 47. Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội (2006), Khoa Luật trực thuộc Đại học quốc gia Hà Nội - 30 năm truyền thống (1976-2006), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 48. J.Locke (2013), Khảo luận thứ hai về chính quyền, chính quyền dân sự, Bản dịch Lê Tuấn, Nxb Tri thức, Hà Nội. 49. Hoàng Thế Liên, Cải cách pháp luật và tư pháp vì sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, Tạp chí Cộng sản điện tử, truy cập ngày 02/11/2010 dưới địa chỉ, 291033326. 50. Trần Tuyết Mai (2009), Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 51. Montesquieu, (1996), Tinh thần pháp luật, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 52. Hồ Chí Minh, (1996), Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 53. Nguyễn Đức Minh (Chủ nhiệm) (2011), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quyền tư pháp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020. Mã số: CT 09-16-09 54. Nguyễn Đức Minh, Khái quát về quyền tư pháp ở một số nước trên thế giới, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/2011, từ trang 11-20. 55. Nguyễn Đức Minh, Nhận thức về quyền tư pháp ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/2011 56. Đinh Văn Minh,(1995) Tài phán hành chính so sánh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Học viện Hành chính Quốc gia, 57. Lưu Văn Quảng, Cơ chế kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước Mỹ, Tạp chí Quản lý nhà nước số 196/2012. 160 58. Bùi Ngọc Sơn,(2005), Góp phần nghiên cứu Hiến pháp và nhà nước pháp quyền, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 59. Ngân hàng thế giới, (2002), Xây dựng thể chế hỗ trợ thị trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 60. Phạm Hữu Nghị, Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9/2013. 61. Nguyễn Hải Ninh, (2013), Các yếu tố bảo đảm độc lập xét xử ở Việt Nam hiện nay, luận án tiến sĩ luật học, Hà nội. 62. Lê Minh Tâm, Hệ thống cơ quan tư pháp từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, Tạp chí Luật học, số 1/2003, từ trang 50-56. 63. Phạm Hồng Thái, Kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học số 28 (2012) 64. Tòa án nhân dân tối cao, Báo cáo tổng kết năm 2015 và nhiệm vụ trọng tâm công năm 2016 của các Tòa án nhân dân. 65. Đào Trí Úc, Chiến lược cải cách tư pháp – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9/2004, từ trang 14-20. 66. Đào Trí Úc, (2004), Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 67. Đào Trí Úc (chủ nhiệm) (2006), Báo cáo Tổng hợp Đề tài KHXH cấp Nhà nước, Xây dựng cơ chế pháp lý bảo đảm sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước và các thiết chế tổ chức trong hệ thông chính trị, Mã số KX10-07. 68. Đào Trí Úc (chủ nhiệm) (2011), Báo cáo tổng hợp nghiệm thu cơ sở Đề tài cấp nhà nước KX 10-05/06-10, Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực chính trị, đảm bảo dân chủ và kỷ luật trong hệ thống chính trị, Hà Nội. 69. Đào Trí Úc, Bàn về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Luật học, số 8 (123)/2010, từ trang 61. 70. Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh (đồng Chủ biên) (2003), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 161 71. Ủy ban Tư pháp “Báo cáo thẩm tra báo cáo của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về công tác của các Tòa án trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII ”, ngày 16 tháng 03 năm 2016. 72. Ủy ban Tư pháp “Báo cáo thẩm tra báo cáo của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII (2011-2016)” ngày 14 tháng 3 năm 2016 73. Chu Thị Trang Vân, Sự phân công quyền lực tư pháp trong áp dụng pháp luật hình sự, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5/2007, từ trang 28-35 74. Viện Chính sách công và pháp luật, (2013), Các thiết chế Hiến định độc lập, kinh nghiệm quốc tế và triển vọng ở Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 75. Viện Chính sách công và pháp luật, (2014), Cải cách tư pháp vì một nền tư pháp liêm chính, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 76. Viện nghiên cứu khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp), Từ điển Luật học, từ "Tư pháp". 77. Nguyễn Tất Viễn, Bàn thêm về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan công tố trong tiến trình cải cách tư pháp, xem trên trang thông tin phổ biến pháp luật của Bộ Tư pháp (ngày 20/12/2010, dưới địa chỉ: mID=5 78. Võ Khánh Vinh, Chức danh tư pháp – Một số vấn đề lý luận, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6/2004, từ trang 3-12. 79. Võ Khánh Vinh, Về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8/2003, từ trang 3-10. 80. Rousseau, Khế ước xã hội, tài liệu được dịch ra tiếng Việt và đăng trên Trang tư liệu điện tử của Chủ nghĩa Mác, dưới địa chỉ: Xem ngày 12/2/2015 81. F.A.Hayek. Đường về nô lệ (Phạm Nguyên Trường dịch) (2008). Nxb Trí thức, Hà Nội. 82. Joef Thesing (biên tập) (2002) Nhà nước pháp quyền. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 162 Tài liệu tiếng nƣớc ngoài 83. Aryeh L. Unger (1981),”Constitutional development in the USSR: a guide to the Soviet constitutions”. Taylor & Francis. 84. Black‟s Law Dictionary, Ebridged Sixth Edition, Contentnial Edition (1891- 1991). 85. Helen Yu and Alison Guernsey, “Tăng trưởng kinh tế, hiện đại hóa chính trị, bảo vệ các quyền con người và những mục tiêu giá trị khác, gắn liền với “pháp quyền”. Ngân hàng thế giới, “Pháp quyền như là mục đích của chính sách phát triển”. 86. Aryeh L. Unger (1981). „Constitutional development in the USSR: a guide to the Soviet constitutions”. Taylor & Francis. 87. Gabriele Kucsko-Stadlmayer (2008), "European Ombudsman-Institutions: A comparative legal analysis regarding the multifaceted realisation of an idea", Springer. 88. Gareth Griffith,(1998) “Judicial Accountability”, Thư viện Quốc hội bang New South Wales. 89. Manja Hussner,(2008), Die Umsetzung von Art. 6 Abs. 3 EMRK in der neuen Strafprozessordnung Russlands, trong Schriftenreihe zum Osteuropäischen Recht, Band 9, Berliner Wissenschaftsverlag. 90. Malia Reddick (2010),"Judging the quality of judicial selection methods: Merit selection, elections, and judicial discipline", American Judicature Society. 91. Maurice Duverger (1981), Les partis politiques. Paris. 92. Manfred Wolf: "The Press and The Court in Germany", in trong cuốn “Judicial Independence: the Contemporary Debate 93. Miriam Lang,(2002), Gewalt und Geschlecht in Mexiko, Strategien zur Bekämpfung von Gewalt gegen Frauen im Modernisierungsprozess, LIT Verlag Münster. 94. M.Cappelleti, (1985), Who watches the watchmen: A comparative study on Judicial Responsibility, Judicial Independence: The Contemporary Debate, Nxb. Martinus Nijhoff. 163 95. Norbert Schlepp/Porta Westfalica, Die Abhängigkeit unserer Justiz, đăng trên Tạp chí Mehr demokratie Zeitschrift für direkte demokratie, số 77, tháng 1/2008, trang 28. 96. Francis D.Wormuth. The origins of modern constitutionalism. Copyright, 1949, by Harper&Brothers. Website: 97. Voxkobtôva L.E ,(2006), Ý nghĩa và các chức năng của quyền tư pháp. Matxcova, tr.158-163 98. I al-Wahab,(1979), The Swedish Institution of Ombudsman, Liber Forlag. 99. United Nations (1985), The U.N Basic Principles on the Independence of the Judiciary ohchr.org/english/law/indjudiciary.htm. 37. 100. J. Rufus Fears (1985), “Selected Writings of Lord Acton: Essays in the study and writing of history”, Liberty Classics. 101. John Rawls, (1977), A Theory of Justice

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfkiem_soat_quyen_luc_tu_phap_trong_nha_nuoc_phap_quyen_xa_hoi_chu_nghia_viet_nam_319.pdf
Luận văn liên quan