Luận án Vai trò của hiệp định thƣơng mại song phương trong việc xây dựng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược Việt Nam – Hàn Quốc

Quyền tác giả và Quyền liên quan: Các Bên thừa nhận các quyền SHTT là các quyền cá nhân và thừa nhận những mục tiêu sách lược xã hội cơ bản của các hệ thống quốc gia về việc bảo hộ SHTT, trong đó có các mục tiêu phát triển và công nghệ. Không một quy định nào trong Chương này được hiểu là cấm Bên kia thực hiện bất cứ hành động nào mà Bên đó coi là cần thiết đối với việc bảo vệ các lợi ích cơ bản của an ninh quốc gia. Nội dung này được được trích từ phần chung và Điều 71 của Hiệp định TRIPS. Về Thực thi quyền SHTT đối với Giả định về Quyền tác giả hoặc Quyền sở hữu, hai Bên nhất trí trong thủ tục dân sự, hình sự và nếu có thể áp dụng trong thủ tục hành chính, liên quan đến quyền tác giả hoặc quyền liên quan, mỗi Bên sẽ quy định với giả định rằng, trong trường hợp không có bằng chứng ngược lại, người có tên được nêu theo cách thông thường là chủ thể quyền đối với tác phẩm, buổi biểu diễn hoặc chương trình phát sóng đã được nêu

pdf226 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 14/08/2017 | Lượt xem: 135 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Vai trò của hiệp định thƣơng mại song phương trong việc xây dựng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược Việt Nam – Hàn Quốc, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
có cam kết HNTQ đối với sản phẩm tôm. Điểm cốt lõi của Chương 2 là các lộ trình giảm thuế của hai Bên, được nêu chi tiết tại Điều 2.3 và Phụ lục 2 - A (Lộ trình cắt giảm thuế). Mục tiêu chính của Việt Nam là tập trung yêu cầu Hàn Quốc giảm thuế nhập khẩu đối với những mặt hàng mà ta có thế mạnh như thủy sản, nông sản, dệt, may, đồ gỗ, thiết bị điện tử, cơ khí,... bảo hộ hợp lý những mặt hàng nhạy cảm như phương tiện vận tải, sắt thép, gia cầm. Về mức cam kết chung, Hàn Quốc tự do hóa 97,22% giá trị nhập khẩu Việt Nam năm 2012, ngược lại Việt Nam tự do hóa 92,72% tổng giá trị nhập khẩu từ Hàn Quốc. Xét về số dòng thuế, Hàn Quốc tự do hóa 95,44% số dòng thuế, Việt Nam tự do hóa 89,15% số dòng thuế. Chƣơng 3 (Quy tắc xuất xứ) gồm 26 Điều, chia làm 03 phần (Quy tắc xuất xứ, Quy trình cấp và kiểm tra xuất xứ và Thuật ngữ) và 03 Phụ lục (Phụ lục 3-A: Quy tắc cụ thể mặt hàng, Phụ lục 3-B: Quy định đối với một số hàng hóa đặc biệt và Phụ lục 3-C: mẫu C/O mẫu VK). Quy tắc xuất xứ VKFTA bao gồm các điều khoản chính như Hàng hóa có xuất xứ thuần túy, Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy, Quy tắc cụ thể mặt hàng (PSR), Quy định đối với một số hàng hóa đặc biệt, Vận chuyển trực tiếp, Tỷ lệ không đáng kể nguyên liệu không đáp ứng tiêu chí CTC (De minimis), Những công đoạn gia công, chế biến đơn giản, Cộng gộp, Quy định về đóng gói và vật liệu đóng gói, Phụ kiện, phụ tùng và dụng cụ v.v... Cụ thể như sau: - Đối xử đặc biệt với hàng hóa được sản xuất trong Khu Công nghiệp Khai Thành do doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư trên lãnh thổ Triều Tiên: Việt Nam đồng ý dành đối xử đặc biệt này nhưng giữ nguyên số lượng hàng hóa được đưa vào Danh mục hàng hóa đối xử đặc biệt là 100 mặt hàng như số lượng đã cam kết trong Hiệp định AKFTA. Trong danh mục những công đoạn gia công, chế biến đơn giản không được xét đến khi xác định xuất xứ hàng hóa, Việt Nam đồng ý giữ lại công đoạn “Bóc vỏ đơn giản, trích hạt, hoặc làm tróc hạt” với điều kiện Hàn Quốc phải chấp nhận không xét công đoạn đơn giản này cho hạt điều (HS: 0801.32) và áp dụng tiêu chí xuất xứ lỏng CTSH (chuyển đổi mã HS ở cấp 6 số) đối với cà phê (HS: 0901.21 và 0901.22) vì đây là những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh xuất khẩu sang Hàn Quốc. Về điều khoản De Minimis, Hàn Quốc đã phải loại bỏ điều khoản thắt chặt đối với các sản phẩm nông nghiệp (từ Chương 01 đến Chương 24) là thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh đó, riêng đối với các sản phẩm dệt may (từ Chương 50 tới Chương 63) Hàn Quốc sau cùng đã nhất trí với đề xuất của Việt Nam cho phép linh động áp dụng 10% De Minimis hoặc trị giá nguyên liệu không có xuất xứ hoặc trọng lượng nguyên liệu không có xuất xứ để sản xuất ra hàng hóa không đạt tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC). Về Quy tắc cụ thể mặt hàng (PSRs), tương tự như trong các FTA hiện tại, Quy tắc PSR bao gồm tất cả các Chương (từ Chương 01 đến Chương 97) của Biểu thuế AHTN nhằm thuận lợi hóa quá trình tra cứu và áp dụng quy tắc xuất xứ VKFTA, hai Bên đã đạt được một số lợi ích cốt lõi như sau: - Chương 16 (thủy sản chế biến – thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam), Quy tắc xuất xứ linh hoạt hơn trong Hiệp định AKFTA và tương đương với Hiệp định AANZFTA: RVC hoặc CC - Chuyển đổi Chương (nhưng không kèm điều khoản thắt chặt/ loại trừ mã HS); - Chương 17: Hàn Quốc đồng ý với đề xuất của Việt Nam áp dụng quy tắc chặt hơn Hiệp định AKFTA đối với mặt hàng đường; - Chương 63 (Hàng may mặc): Hàn Quốc đồng ý với đề xuất của Việt Nam áp dụng quy tắc lỏng hơn Hiệp định AKFTA, không kèm điều khoản thắt chặt/ loại trừ mã HS); - Chương 72 (Sắt thép) và Chương 87 (Ô tô): tiêu chí xuất xứ ngang bằng Hiệp định AKFTA; - Chương 84 và 85 (Máy móc thiết bị phụ tùng): Việt Nam chỉ chấp nhận 21/87 Mục (Headings) của Chương 84 lỏng hơn so với Hiệp định AKFTA (nhưng ngang bằng các Hiệp định ATIGA, AANZFTA và VJEPA), còn lại ngang bằng Hiệp định AKFTA; và 12/25 Mục của Chương 85 lỏng hơn Hiệp định AKFTA (nhưng ngang bằng các Hiệp định ATIGA, AANZFTA và VJEPA), các phần còn lại áp dụng quy tắc ngang bằng Hiệp định AKFTA. Về Quy trình cấp và kiểm tra xuất xứ (OCP), hai Bên đã đạt được một số cam kết tạo thuận lợi hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu so với Hiệp định AKFTA như sau: Phương thức cấp C/O: C/O có thể được cấp theo cách truyền thống tại các Tổ chức cấp C/O của cơ quan Chính phủ hoặc được ký, đóng dấu và in điện tử. Cách cấp C/O điện tử đã và đang được Hàn Quốc áp dụng trong Hiệp định AKFTA và được các nước ASEAN chấp nhận (dù chưa chính thức ghi trong lời văn). Vì vậy, việc áp dụng một trong hai hệ thống cấp trong VKFTA vẫn đảm bảo nguyên tắc cấp C/O trong AKFTA, đồng thời tạo thuận lợi cho Việt Nam trong quá trình chuyển đổi, nâng cấp từ phương thức cấp C/O truyền thống lên C/O điện tử trong thời gian tới; Thời gian lưu trữ hồ sơ cấp C/O: khoảng thời gian này là 5 năm kể từ ngày cấp C/O (tăng lên 02 năm so với AKFTA). Đề xuất này của Hàn Quốc nhằm phục vụ công tác hậu kiểm và xác minh xuất xứ sau này. Theo đó, các Tổ chức cấp C/O của Việt Nam cần chấn chỉnh công tác lưu trữ theo đúng cam kết. Miễn nộp C/O: nâng mức trị giá hàng hóa có xuất xứ từ lãnh thổ nước thành viên được miễn C/O từ mức không quá 200 đô la Mỹ tính theo trị giá FOB (mức cam kết trong các FTA Việt Nam đã ký) lên mức 600 đô la Mỹ tính theo trị giá FOB để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp; - Không cần cập nhật mẫu chữ ký của người ký C/O, chỉ cần cập nhật mẫu con dấu của đơn vị được ủy quyền cấp C/O. Cơ quan Hải quan Việt Nam chỉ cần kiểm tra và xác minh các C/O do phía Hàn Quốc cấp trên website; - Nâng thời gian xác minh C/O lên 10 tháng (thay vì 6 tháng như trong AKFTA); - Hàng hóa đáp ứng quy tắc xuất xứ đang trên đường vận chuyển hoặc được tạm gửi kho ngoại quan/khu phi thuế quan của các Bên sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan nếu được nhập khẩu trong vòng 12 tháng kể từ ngày hiệp định có hiệu lực, với điều kiện phải nộp C/O cấp sau và chứng từ cần thiết cho cơ quan Hải quan nước nhập khẩu (AKFTA không có quy định này); - Hai Bên nhất trí sẽ xem xét thỏa thuận về tự chứng nhận xuất xứ sau 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. (Hiện nay, một số nước ASEAN đã thí điểm thực hiện phương thức này để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp). Chƣơng 4 (Thủ tục Hải quan và tạo thuận lợi thƣơng mại) gồm 12 Điều, với các nội dung chính như Công bố thông tin, Tư vấn, Giải phóng hàng, Tự động hóa, Quản lý rủi ro, Hợp tác, Bảo mật thông tin, Chuyển phát nhanh, Rà soát và Khiếu nại, Xử phạt, Phán quyết trước, Tham vấn, Ủy ban Hải quan và Định nghĩa. Các quy định trong chương này đều không vượt quá các nghĩa vụ trong WTO, phù hợp với pháp luật về thủ tục hải quan của ta. Về cam kết Ngưỡng miễn thuế hàng chuyển phát nhanh, hai Bên cam kết quy định về trị giá hàng hóa gửi dịch vụ chuyển phát nhanh được miễn thuế sẽ do nội luật từng nước quy định thay vì theo yêu cầu ban đầu của Hàn Quốc là USD $400. Cam kết này giữ cho phía Việt Nam quyền chủ động áp dụng và điều chỉnh luật pháp trong nước, đồng thời, không ảnh hưởng đến việc đàm phán nội dung này trong các FTA khác hiện nay. Về yêu cầu Bảo mật thông tin, thông tin trao đổi giữa các Bên là thông tin mật, không được thông bố và chỉ được sử dụng trong trường hợp có thể liên quan đến thủ tục tố tụng hành chính hoặc thủ tục khiếu nại. Chƣơng 5 (Các biện pháp An toàn thực phẩm và Kiểm dịch động thực vật - SPS) gồm 6 Điều, quy định về Mục tiêu, Phạm vi và Định nghĩa, Quy định chung, Hợp tác kỹ thuật, Ủy ban Vệ sinh an toàn thực phẩm và Kiểm dịch động thực vật (SPS) và Giải quyết tranh chấp theo cơ chế WTO, không thuộc phạm vi điều chỉnh của cơ chế giải quyết tranh chấp của Hiệp định VKFTA. Với đặc thù địa lý, Hàn Quốc là một quốc gia có quy định hết sức khắt khe về kiểm dịch động, thực vật. Các quy định này đôi khi cao hơn các tiêu chuẩn quốc tế và gây khó khăn không nhỏ trong việc tiếp cận thị trường đối với hàng nông sản. Về mặt thuế quan, mở cửa đối với thị trường nông sản của Việt Nam đã đạt được những lợi thế nhất định thông qua cam kết cắt giảm thuế quan của Hàn Quốc. Do vậy, việc đạt được thỏa thuận về một Chương SPS riêng biệt là một thắng lợi quan trọng của Đoàn đàm phán Việt Nam sau một thời gian dài kiên quyết và kiên trì đàm phán. Các cam kết thuận lợi hơn trong Chương SPS bao gồm: - Uỷ ban SPS được cam kết thành lập tạo một diễn đàn thảo luận chính thức về các vấn đề SPS trong thương mại song phương. Một số chức năng cụ thể của Ủy ban có lợi cho Việt Nam như: cùng giám sát thực thi các cam kết, tiến hành tham vấn kỹ thuật và xem xét kết quả thực thi tham vấn, thành lập nhóm công tác kỹ thuật trong trường hợp cần thiết - Hai Bên cam kết hợp tác kỹ thuật nhằm tăng cường năng lực và xây dựng sự tin tưởng lẫn nhau giữa các cơ quan chức năng của hai nước. Một số lĩnh vực cụ thể về hợp tác kỹ thuật có lợi cho Việt Nam đã được thỏa thuận như: trao đổi kinh nghiệm trong xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn trong nước và quốc tế, hợp tác trong đánh giá rủi ro, kiểm soát dịch bệnh và các kỹ năng kiểm nghiệm của phòng thí nghiệm, tiến hành các hợp tác nghiên cứu chung và chia sẻ kết quả nghiên cứu liên quan đến bệnh động vật, dịch hại thực vật và an toàn thực phẩm,... Các cam kết của Chương SPS hướng tới mục tiêu thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác, tăng cường năng lực và tham vấn giải quyết các vướng mắc liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật trong tương lai phát sinh từ thương mại nông sản giữa Việt Nam – Hàn Quốc. Trong bối cảnh tình hình xuất khẩu nông sản từ Việt Nam chiếm ưu thế hơn và đóng vai trò điều chỉnh cán cân thương mại với Hàn Quốc, Chương SPS trong Hiệp định VKFTA sẽ mang lại cho Việt Nam một cơ chế đối thoại song phương hiệu quả hơn so với Hiệp định AKFTA hiện nay. Chƣơng 6 (Hàng rào kỹ thuật đối với thƣơng mại - TBT) gồm 11 Điều với nội dung cam kết của Việt Nam chủ yếu dựa trên cam kết của Hiệp định TBT trong WTO, các hiệp định song phương, đa phương mà Việt Nam đã tham gia ký kết với các đối tác khác và phù hợp với các quy định trong nước như Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá năm 2007. Nội dung hợp tác và cam kết trong TBT sẽ tăng cường việc hài hòa quy chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp cũng như thúc đẩy việc thừa nhận lẫn nhau các kết quả đánh giá sự phù hợp, tạo thuận lợi cho thương mại giữa hai bên. Chƣơng 7 (Phòng vệ thƣơng mại) gồm 4 Mục: Biện pháp tự vệ, Thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp, Uỷ ban Phòng vệ thương mại và Định nghĩa. Trong đó, Mục “Biện pháp tự vệ” gồm 5 Điều về Áp dụng biện pháp tự vệ, Điều kiện và giới hạn, Biện pháp tự vệ tạm thời, Bồi thường, Biện pháp tự vệ toàn cầu. Mục “Thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp” gồm 5 Điều: Các điều khoản chung, Thông báo và tham vấn, Cam kết, Điều tra sau khi chấm dứt lệnh áp thuế, Xem xét tính gộp. Mục “Uỷ ban Phòng vệ thương mại” gồm 1 Điều về Ủy ban Phòng vệ thương mại và Mục “Định nghĩa” gồm 1 Điều về Định nghĩa. Chƣơng 8 (Thƣơng mại dịch vụ) Do mức độ mở cửa của Việt Nam trong cam kết gia nhập WTO và Hiệp định Thương mại dịch vụ trong khuôn khổ Hiệp định AKFTA đã ở mức khá cao, các ngành còn duy trì hạn chế phần lớn là nhạy cảm đối với nền kinh tế, trong khi năng lực cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp của ta còn hạn chế nên cam kết của Việt Nam đối với Hàn Quốc chỉ ở mức tối thiểu. Giống như các FTA khác, Chương Thương mại dịch vụ trong Hiệp định VKFTA có 3 phần chính là lời văn Chương, lời văn các Phụ lục (Tài chính, Viễn thông và Di chuyển thể nhân) và Biểu cam kết mở cửa thị trường. Lời văn Chương Thương mại dịch vụ được điều chỉnh cho phù hợp hơn với bối cảnh song phương nhưng không tạo ra các nghĩa vụ cao đối với Việt Nam. Cam kết mở cửa thị trường theo cách tiếp cận chọn cho truyền thống (positive) như trong GATS và AKFTA nên nghĩa vụ chỉ áp dụng cho các phân ngành ghi rõ trong biểu cam kết, không mở rộng ra các phân ngành dịch vụ mới hoặc chưa cam kết trong GATS/AKFTA, không bao gồm các nghĩa vụ cao đặt ra trong khuôn khổ đàm phán TPP (áp dụng cách tiếp cận chọn bỏ) như ràng buộc tự do hóa đơn phương, áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư cho đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ. Các cam kết mới chủ yếu bao gồm: - Đối xử tối huệ quốc (MFN) trên cơ sở đàm phán, là cơ chế mà theo đó một Bên nếu cam kết cao hơn trong một FTA trong tương lai với một Bên khác ngoài VKFTA thì sẽ cho phép Bên kia được tham vấn để nâng cao cam kết nhưng phải đảm bảo cân bằng lợi ích tổng thể. Nghĩa vụ này tương đương với cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN và Ôt-xtrây-lia, Niu Di-lân (AANZFTA). Cơ chế này cho phép cả Việt Nam và Hàn Quốc yêu cầu tham vấn trong trường hợp cần thiết, đồng thời thể hiện việc Việt Nam xem xét bình đẳng các đối tác FTA. - Từ chối ưu đãi, điều khoản này có thêm nội dung mới so với AKFTA là cho phép một Bên từ chối áp dụng ưu đãi trong khuôn khổ VKFTA đối với nhà cung cấp dịch vụ là pháp nhân của Bên kia nếu nhà cung cấp này thuộc sở hữu hoặc kiểm soát bởi một Bên khác ngoài Hiệp định và Bên từ chối không muốn ưu đãi Bên khác hoặc pháp nhân của Bên khác này; hoặc nếu nhà cung cấp dịch vụ không có hoạt động kinh doanh đáng kể trên lãnh thổ của Bên kia. Nội dung mới này chủ yếu nhằm đảm bảo việc ưu đãi phù hợp với chính sách của hai Bên và thực tiễn kinh doanh, đặc biệt là việc đầu tư vào các lĩnh vực dịch vụ nhằm tạo hiện diện thương mại để cung cấp dịch vụ. Nội dung này cũng thống nhất với quy định tương ứng trong Chương Đầu tư của Hiệp định VKFTA. - Đàm phán lại trên cơ sở cách tiếp cận chọn bỏ, ngay từ khi bắt đầu đàm phán, Hàn Quốc đã yêu cầu áp dụng cách tiếp cận chọn bỏ (negative) nhằm đạt được các cam kết cao. Tuy nhiên, ta kiên trì yêu cầu đàm phán trên cơ sở cách tiếp cận chọn cho. Để đạt được thỏa thuận cuối cùng, hai Bên nhất trí sẽ đàm phán lại theo phương thức chọn bỏ khi hội đủ các điều kiện như: khi một Bên (Việt Nam) đã hoàn tất việc đàm phán theo cách tiếp cận chọn bỏ với các đối tác khác thì Bên kia (Hàn Quốc) mới được yêu cầu đàm phán lại. Việc khởi động đàm phán lại còn tùy thuộc vào kết quả của các quy trình, thủ tục trong nước đối với việc đàm phán. Đàm phán lại cũng phải đáp ứng các yêu cầu: i) trong trường hợp có đàm phán thì việc đàm phán có thể mở rộng ra các lĩnh vực khác (ví dụ như thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, hợp tác kinh tế) để đảm bảo cân bằng lợi ích giữa các bên; ii) đàm phán không làm giảm mức độ tự do hóa đã cam kết. Ngoài ra, cam kết này không áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp. Do đó, cam kết này mang tính chất hình thức hơn thực chất và đảm bảo lợi ích tổng thể của Việt Nam. Biểu cam kết mở cửa thị trường dịch vụ, trên cơ sở tham vấn chặt chẽ với các Bộ, ngành liên quan về mức độ chào, đánh giá khả năng mở cửa, cân bằng lợi ích giữa hai Bên nói chung và cân bằng lợi ích trong lĩnh vực thương mại dịch vụ nói riêng, về thực chất Việt Nam mở cửa hơn cho Hàn Quốc so với cam kết WTO và Hiệp định AKFTA trong 2 phân ngành: i) Dịch vụ quy hoạch đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị; và ii) Dịch vụ cho thuê máy móc và thiết bị khác không kèm người điều khiển. Việt Nam không mở cửa hơn cho Hàn Quốc trong các ngành dịch vụ nhạy cảm mà Hàn Quốc đề nghị, đặc biệt là các ngành dịch vụ viễn thông và nghe nhìn, dịch vụ phân phối, dịch vụ tài chính, ngân hàng, dịch vụ giải trí, văn hóa và thể thao. Hàn Quốc mở cửa thêm cho Việt Nam so với cam kết trong Hiệp định AKFTA đối với 5 phân ngành: i) Dịch vụ pháp lý; ii) Dịch vụ chuyển phát; iii) Dịch vụ bảo dưỡng và sửa chữa đường sắt; iv) Dịch vụ hỗ trợ dịch vụ vận tải đường sắt; v) Dịch vụ nghiên cứu và phát triển khoa học tự nhiên. Hàn Quốc cam kết thấp hơn cho Việt Nam so với trong AKFTA đối với các phân ngành dịch vụ kiến trúc, dịch vụ chụp ảnh, dịch vụ phân phối, giáo dục, dịch vụ cung cấp đồ uống cùng giải trí, dịch vụ vận tải hàng hải. Lý do của việc cam kết thấp hơn này là Hàn Quốc bị ràng buộc bởi điều khoản tối huệ quốc tự động trong FTA với Hoa Kỳ (Hoa Kỳ sẽ tự động được hưởng cam kết của Hàn Quốc trong trường hợp Hàn Quốc có cam kết cao hơn với một đối tác khác). Tuy nhiên, Hàn Quốc khẳng định “cam kết của một Bên trong Hiệp định VFKTA không được hiểu là cam kết cho Bên kia thấp hơn so với cam kết tương ứng trong biểu cam kết cụ thể trong khuôn khổ Hiệp định AKFTA” dưới hình thức chú thích trong Biểu cam kết. Hình thức này có đầy đủ giá trị pháp lý và là cách thức để Hàn Quốc đảm bảo các nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam vẫn được hưởng cam kết không thấp hơn so với trong Hiệp định AKFTA đối với các phân ngành dịch vụ nêu trên nhưng đồng thời tránh phải áp dụng đối xử tối huệ quốc tự động, mở cửa hơn cho Hoa Kỳ. Phụ lục tài chính, bên cạnh phạm vi điều chỉnh và các nguyên tắc lớn về việc cung cấp dịch vụ tài chính đều đã có tiền lệ trong các hiệp định đã ký, Việt Nam chấp nhận cam kết đối với một số nội dung mới như hệ thống thanh toán bù trừ và dịch vụ tài chính mới, phù hợp với xu hướng đàm phán FTA hiện nay. Tuy nhiên, cam kết này không tạo ra nghĩa vụ mới so với pháp luật hiện hành như Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và các luật liên quan khác. Riêng đối với nội dung dịch vụ tài chính mới (quy định yêu cầu mỗi Bên cho phép nhà cung cấp dịch vụ tài chính của Bên kia cung cấp bất kỳ dịch vụ tài chính mới nào), ta đã bảo lưu được quyền triển khai thử nghiệm dịch vụ tài chính mới trước khi đưa ra quyết định cấp phép, đảm bảo được khả năng quản trị rủi ro cho hệ thống tài chính - ngân hàng và phù hợp với trình độ phát triển của hệ thống tài chính và ngân hàng của Việt Nam. Việc cho phép nhà cung cấp nước ngoài cung cấp dịch vụ tài chính mới trên thị trường có thể tạo ra áp lực cạnh tranh cao hơn đối với nhà cung cấp trong nước nhưng đồng thời có thể mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng trong nước tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ tài chính cạnh tranh và có chất lượng. Đối với biểu cam kết về tự do hóa dịch vụ tài chính, hai Bên duy trì mức cam kết tương đương với mức cam kết WTO đồng thời là mức cam kết trong AKFTA tính đến thời điểm hiện nay, theo đó, tổng mức sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại một ngân hàng thương mại Việt Nam không vượt quá 30%. Liên quan đến quy định bảo vệ cán cân thanh toán, hai Bên thống nhất đưa nội dung này vào các chương hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, ngang bằng mức cam kết trong AKFTA, theo đó, cho phép áp dụng các biện pháp hạn chế đối với luồng vốn hoặc trong lĩnh vực có liên quan khi cán cân thanh toán hoặc hoạt động điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá gặp khó khăn nghiêm trọng. Phụ lục viễn thông, gồm một số nội dung và các nguyên tắc chính như sau: Thứ nhất, Phụ lục này nhằm điều chỉnh các biện pháp, các chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thương mại dịch vụ và mạng viễn thông công cộng. Như vậy, các mạng chuyên dùng, các mạng dùng riêng và các mạng không phải là công cộng thì không thuộc diện điều chỉnh của phụ lục này cũng như không thuộc phạm vi điều chỉnh của cả Hiệp định. Đồng thời, các hoạt động liên quan đến quảng bá các chương trình phát thanh và truyền hình cũng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này. Cam kết này hoàn toàn tương đương với Hiệp định AANZFTA mà Việt Nam đã ký kết. Thứ hai, trách nhiệm mà các Bên cam kết chủ yếu là tạo hành lang pháp lý đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh như việc cung ứng dịch vụ và mạng viễn thông công cộng một cách kịp thời, công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử và có mức giá cước hợp lý, hướng đến giá thành. Phụ lục này cũng chỉ ra các hoạt động cung ứng dịch vụ và mạng viễn thông công cộng sẽ bị tác động như truy nhập và sử dụng dịch vụ viễn thông công cộng, bao gồm cả dịch vụ kênh thuê riêng, cung ứng khả năng chuyển mạng giữ nguyên số thuê bao di động của các doanh nghiệp viễn thông nói chung; và cung ứng kết nối, kênh thuê riêng, bán lại, chung điểm đặt thiết bị của các doanh nghiệp viễn thông chủ đạo. Tuy nhiên các cam kết mới so với WTO đều được Việt Nam cam kết ở mức sẽ triển khai sau ba (03) năm kể từ khi quy phạm pháp luật của Việt Nam quy định đầy đủ về nghĩa vụ này. Thứ ba, các Bên cam kết tạo hành lang pháp lý nhằm bảo hộ cạnh tranh lành mạnh, công khai các thủ tục và các tiêu chí cấp phép viễn thông, tính độc lập của cơ quan quản lý viễn thông, quản lý các nghĩa vụ phổ cập dịch vụ trên cơ sở công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử và bản thân các nghĩa vụ phổ cập dịch vụ đó không trở thành gánh nặng quá mức cần thiết mà buộc các doanh nghiệp viễn thông phải thực hiện, hay không được biến việc quản lý tài nguyên viễn thông quí hiếm thành rào cản trá hình hay phân biệt đối xử khi các doanh nghiệp tham gia tiếp cận thị trường, đảm bảo cho các doanh nghiệp có quyền được khiếu nại, khiếu kiện để giải quyết những tranh chấp hay những quyết định của cơ quan quản lý viễn thông mà ảnh hưởng tới quyền lợi của doanh nghiệp. Các cam kết này thực chất đang ngang bằng với các cam kết khi Việt Nam gia nhập tổ chức WTO. Thứ tư, do điều kiện, môi trường pháp lý và trình độ phát triển khác nhau nên các Bên cũng đưa ra các bảo lưu đối với một số nội dung cam kết, cụ thể: Đối với Việt Nam, chúng ta có thể có những chính sách cần thiết nhằm đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng mạng lưới viễn thông và nâng cao năng lực tham gia môi trường thương mại viễn thông quốc tế; hay Việt Nam có thể cho phép kết nối kênh thuê riêng của các doanh nghiệp khác nhau để tạo thành mạng dùng riêng phi thương mại nhưng phải được sự đồng ý bằng văn bản của Cục Viễn thông; hay có một số nghĩa vụ liên quan đến cung ứng dịch vụ như bán lại, chuyển mạng giữ số thuê bao, kênh thuê riêng do hệ thống pháp luật của chúng ta hiện chưa có hoặc chưa đầy đủ nên chúng ta cam kết sẽ thực hiện sau ba (3) năm kể từ khi Việt Nam có quy định đầy đủ đối với nghĩa vụ này; hay đối với hình thức “chung điểm đặt thiết bị - Co-location”, do vấn đề an ninh quốc phòng nên Việt Nam sẽ không áp dụng đối với một số vị trí quan trọng như trạm cáp biển quốc tế hay các tổng đài cổng quốc tế. Cụ thể các địa điểm mà doanh nghiệp sẽ phải cung cấp Co-location sẽ được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền quy định sau. Đối với Hàn Quốc, có một số nghĩa vụ không áp dụng đối với doanh nghiệp không có hạ tầng như cung cấp kết nối hay dịch vụ kênh thuê riêng, doanh nghiệp chủ đạo có hạ tầng có thể đưa ra các điều kiện, điều khoản hay giá cước mang tính phân biệt đối xử khi cung ứng cho doanh nghiệp có hạ tầng và doanh nghiệp không có hạ tầng; hay điều kiện về chung điểm đặt thiết bị không áp dụng đối với doanh nghiệp không có hạ tầng. Một số nội dung cam kết tạo nghĩa vụ pháp lý mới với Việt Nam nhưng vẫn phù hợp với theo lộ trình hoàn thiện pháp luật trong nước dự kiến sẽ thực hiện. Chúng ta không phải thực hiện ngay các nghĩa vụ mới (so với WTO) mà chỉ thực hiện sau 3 năm kể từ khi nghĩa vụ đó được phản ánh đầy đủ trong hệ thống quy phạm pháp luật của Việt Nam. Do vậy, có thể nói cam kết của phần này trong Hiệp định ngang bằng với cam kết gia nhập WTO. Phụ lục về di chuyển thể nhân, Hàn Quốc chấp nhận cam kết trong Phụ lục di chuyển thể nhân với các nội dung hợp tác (về quản lý, cấp phép,...), minh bạch hóa, ... đặc biệt là cơ chế hợp tác, tham vấn, trao đổi phù hợp với thực tế quan hệ kinh tế song phương và tạo thuận lợi cho di chuyển thể nhân. Cam kết về di chuyển thể nhân của Hàn Quốc đối với Việt Nam sẽ tạo ra các cơ chế, quy định tăng cường hợp tác, tham vấn, minh bạch hóa phù hợp với thực tế quan hệ kinh tế song phương và tạo thuận lợi cho di chuyển thể nhân. Chƣơng 9 (Đầu tƣ) Hai Bên ưu tiên đàm phán nội dung này nhằm tạo ra môi trường chính sách ổn định, minh bạch nhằm khuyến khích, thu hút hơn nữa đầu tư từ Hàn Quốc vào Việt Nam. Chương Đầu tư gồm các nội dung chính như sau: Phạm vi áp dụng, Chương Đầu tư không áp dụng đối với mua sắm chính phủ; trợ cấp của Chính phủ. Tuy nhiên, để đảm bảo các phạm vi bảo hộ đầu tư của Chương Đầu tư không hẹp hơn các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư đã ký kết giữa các Bên, một số điều khoản về bảo hộ đầu tư của Hiệp định Đầu tư sẽ được áp dụng đối với việc cung cấp dịch vụ thông qua hiện diện thương mại. Đối xử với đầu tư, về đối xử quốc gia (NT), các Bên đồng ý dành cho nhà đầu tư của bên ký kết khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho nhà đầu tư của nước mình. Các Bên có quyền duy trì hoặc ban hành các biện pháp ngoại lệ không phù hợp với nghĩa vụ này. Về đối xử tối huệ quốc (MFN) các Bên đồng ý dành cho nhà đầu tư của các Bên ký kết khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho nhà đầu tư của bất kỳ nước thứ ba nào. Tuy nhiên, nghĩa vụ này không bao gồm các ưu đãi dành theo các hiệp định song phương, khu vực và đa phương đã ký kết hoặc các hiệp định giữa các nước ASEAN với nhau. Các Bên cũng không buộc phải dành cho nhà đầu tư của Bên ký kết khác ưu đãi theo các hiệp định sẽ ký trong tương lai, nhưng cần dành cho Bên ký kết khác cơ hội đàm phán để hưởng những ưu đãi này. Về nhân sự quản lý cao cấp (SMBD), các Bên cam kết không đặt ra các yêu cầu về quốc tịch đối với nhân sự quản lý cao cấp, hoặc bằng cách đó gây ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát khoản đầu tư của nhà đầu tư. Về cấm các yêu cầu hoạt động (PR), các Bên cam kết không áp dụng các biện pháp bị cấm theo Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIM) của WTO như yêu cầu nhà đầu tư phải ưu tiên mua, sử dụng hàng hóa trong nước, xuất khẩu hàng hóa đạt một tỷ lệ nhất định... Ngoài ra, các Bên còn cam kết không yêu cầu nhà đầu tư phải chuyển giao công nghệ cho một chủ thể nhất định trong nước, cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại một địa điểm cụ thể ở trong nước hoặc nước ngoài. Về các biện pháp không phù hợp, các Bên nhất trí xây dựng Danh mục bảo lưu về các quy định pháp luật của mỗi Bên mà không phù hợp với các quy định về NT, MFN, PR, SMBD. Các danh mục này sẽ được xây dựng trong vòng 1 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Dự thảo Hiệp định cũng quy định nghĩa vụ dành sự đối xử công bằng và bình đằng, bảo hộ an toàn và đầy đủ cho các nhà đầu tư, cùng với việc làm rõ phạm vi đối xử công bằng và bình đẳng, bảo hộ an toàn và đầy đủ phù hợp với tập quán quốc tế nhằm hạn chế các trường hợp trọng tài quốc tế giải thích nghĩa vụ này theo hướng quá bất lợi cho nước chủ nhà. Các vấn đề khác, các Bên cũng đạt được thoả thuận trong các điều khoản khác như: Tước quyền sở hữu, Bồi thường thiệt hại, Chuyển tiền, Thế quyền, Từ chối lợi ích, cụ thể: Về tước quyền sở hữu, các Bên cam kết không tước quyền sở hữu của nhà đầu tư trừ trường hợp vì lợi ích công cộng, trên cơ sở không phân biệt đối xử, phù hợp với thủ tục pháp luật và có đền bù thoả đáng. Về bồi thường thiệt hại, trong trường hợp nhà đầu tư bị thiệt hại do xung đột vũ trang hoặc tình trạng khẩn cấp thì nếu nước chủ nhà bồi thường cho nhà đầu tư của nước mình hoặc một nước thứ ba khác, nước chủ nhà sẽ bồi thường cho nhà đầu tư của Bên ký kết khác trên cơ sở NT và MFN. Về chuyển tiền, các Bên cam kết cho phép nhà đầu tư được tự do chuyển ra nước ngoài vốn, lợi nhuận và thu nhập hợp pháp khác từ hoạt động đầu tư, sau khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước. Về thế quyền, điều khoản này cho phép một Bên ký kết thay mặt nhà đầu tư của nước mình thực hiện các quyền khiếu nại đối với nước chủ nhà nếu bên ký kết đó đã bồi thường cho nhà đầu tư theo một thoả thuận về bảo đảm đầu tư. Về từ chối lợi ích, điều khoản này cho phép nước chủ nhà từ chối không dành lợi ích của Chương này cho nhà đầu tư là pháp nhân được sở hữu, kiểm soát bởi nhà đầu tư của chính nước chủ nhà hoặc của một nước không phải là thành viên của Hiệp định, nếu pháp nhân đó không có hoạt động kinh doanh chủ yếu trên lãnh thổ của Bên ký kết khác. Về thủ tục đặc biệt và tiết lộ thông tin, điều khoản này cho phép các Bên duy trì các quy định về thủ tục đặc biệt liên quan đến đầu tư như đầu tư phải thực hiện theo pháp luật Bên ký kết đó hoặc thu thập thông tin nhằm mục đích thống kê. Về giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư, điều khoản này về cơ bản tương tự các cơ chế giải quyết tranh chấp ta đã cam kết trong các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư như cơ chế ICSID, UNCITRAL và cơ chế giải quyết tranh chấp trong hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư đã ký giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Theo đó, cơ chế này chỉ áp dụng cho các tranh chấp phát sinh từ giai đoạn sau thành lập. Chương Đầu tư, cùng với các cam kết khác của Hiệp định VKFTA tạo ra môi trường đầu tư thông thoáng, ổn định, phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần thu hút đầu tư từ Hàn Quốc, một trong những mục tiêu quan trọng của việc đàm phán, ký kết và thực hiện Hiệp định VKFTA. Chƣơng 10 (Thƣơng mại điện tử), gồm 9 Điều, đề cập đến Những quy định chung, Thuế hải quan, Chứng thực điện tử, Chữ ký điện tử và Xác thực số, Khung quản lý trong nước, Bảo vệ khách hàng trực tuyến, Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Thương mại phi giấy tờ, Hợp tác trong lĩnh vực thương mại điện tử và các Khái niệm. Nội dung xuyên suốt của Chương nhấn mạnh tầm quan trọng của thương mại điện tử đối với sự phát triển kinh tế và hướng đến việc tăng cường phát triển lĩnh vực thương mại điện tử. Hai Bên thống nhất một số nguyên tắc chính như: - Đối với các giao dịch điện tử được trao đổi qua mạng qua biên giới thì các Bên có thể không áp dụng thuế hải quan theo như các thỏa thuận trong khuôn khổ WTO. Tuy nhiên, các Bên vẫn có thể áp dụng các loại thuế, phí trong nước đối với các nội dung được giao dịch bằng phương thức điện tử. - Các Bên đều sẽ nỗ lực thúc đẩy tạo hành lang pháp lý và kỹ thuật, kể cả các hình thức thừa nhận lẫn nhau, để tạo thuận lợi hóa cho thương mại điện tử phát triển như các nội dung liên quan đến chứng thực điện tử, chữ ký điện tử và xác thực chữ ký số, điện tử hóa các thủ tục hành chính, bảo vệ khách hàng trực tuyến hay bảo vệ dữ liệu cá nhân của người sử dụng khi tham gia vào các hoạt động thương mại trên mạng điện tử. - Các Bên cũng cam kết sẽ duy trì những cơ chế phù hợp để thúc đẩy hợp tác về thương mại điện tử như hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo về thương mại điện tử. Việc cam kết Chương này góp phần tăng cường hợp tác phát triển lĩnh vực thương mại điện tử sẽ mang lại một số lợi ích cho Việt Nam như: - tạo lập được một khuôn khổ pháp lý quốc tế để mở ra cơ hội thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong lĩnh vực thương mại điện tử. - Việt Nam có thể khai thác điều khoản liên quan đến hợp tác để tạo cơ hội cho Việt Nam trong chiến lược nâng cao năng lực cán bộ quản lý và hoạch định chính sách phát triển thương mại điện tử tại Việt Nam. - với mức độ cam kết này, Việt Nam không phải thay đổi và bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật trong nước, trong khi các mục tiêu phát triển lĩnh vực thương mại điện tử nói chung và cơ hội học hỏi kinh nghiệm, nâng cao năng lực tổ chức cũng như nhân sự nói riêng vẫn có thể đạt được, nếu ta biết tận dụng và khai thác điều ước quốc tế này. Chƣơng 11 (Cạnh tranh) gồm 11 Điều gồm Mục tiêu, Nguyên tắc thực thi luật, Điều khoản về thực thi, Thực thi pháp luật cạnh tranh, Hợp tác, Trao đổi thông tin, Bảo mật, Tham vấn, Hỗ trợ kỹ thuật, Giải quyết tranh chấp và Điều khoản về định nghĩa. Trong đó nhấn mạnh hợp tác kỹ thuật giữa hai Bên nhằm củng cố chính sách cạnh tranh và đẩy mạnh thực thi luật cạnh tranh. Cam kết trong Chương Cạnh tranh không tạo ra thêm nghĩa vụ mới cho ta. Chƣơng 12 (Sở hữu trí tuệ) được đàm phán với mục tiêu: (i) thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư giữa hai Bên, (ii) thúc đẩy hoạt động sáng chế, sáng tạo và chuyển giao công nghệ, và (iii) thúc đẩy các hoạt động hợp tác giữa hai Bên, đặc biệt là trong các lĩnh vực mà Hàn Quốc có thế mạnh nhằm nâng cao năng lực của Việt Nam trong bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Các nội dung chính về sở hữu công nghiệp gồm: Các điều khoản chung: Bao gồm mục tiêu, nguyên tắc chung của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ trong VKFTA; khẳng định các quyền và nghĩa vụ trong các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ (SHTT) mà hai Bên là thành viên, nguyên tắc bảo hộ cao hơn nhưng không được trái với các quy định của Chương này, các định nghĩa về công dân và bảo hộ theo Chương này; Gia nhập điều ước quốc tế: Cam kết các Bên sẽ có những nỗ lực hợp lý để gia nhập Hiệp ước WIPO về quyền tác giả (WCT) và Hiệp ước WIPO về cuộc biểu diễn và bản ghi âm (WPPT); Bảo hộ nhãn hiệu: Cam kết bảo hộ đầy đủ và hiệu quả nhãn hiệu phù hợp với quy định của Hiệp định TRIPS; khẳng định các quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu và các ngoại lệ về quyền đối với nhãn hiệu như được quy định trong TRIPS; nhất trí các Bên phải xây dựng hệ thống đăng ký nhãn hiệu, cho khiếu nại các quyết định của Cơ quan SHTT và cho phép cơ chế phản đối đăng ký nhãn hiệu, thống nhất thời hạn bảo hộ nhãn hiệu là 10 năm và được gia hạn nhiều lần; khẳng định nhãn hiệu nổi tiếng không cần phải đăng ký và nhất trí về nội dung quyền của nhãn hiệu nổi tiếng như được quy định trong Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp và Hiệp định TRIPS; Về bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh: Nhất trí một số hành vi làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và kinh doanh lành mạnh và trật tự thị trường cần phải bị cấm và bị xử lý, phù hợp với Điều 10bis Công ước Paris, Điều 39 Hiệp định TRIPS và pháp luật của Việt Nam; Về bảo hộ sáng chế: Nhất trí bảo hộ độc quyền cho mọi sáng chế có tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp; đồng ý về các đối tượng loại trừ không được bảo hộ sáng chế như được quy định tại Điều 27.2 và 27.3 Hiệp định TRIPS; nhất trí ân hạn đối với tính mới của sáng chế và thông tin không làm mất tính mới của sáng chế gồm những thông tin “được công bố bởi người nộp đơn hoặc người được phép của người nộp đơn, hoặc được công bố mà không được phép của người nộp đơn”; cho phép khả năng yêu cầu thẩm định nhanh đối với đơn sáng chế theo quy định của pháp luật quốc gia. Về Thực thi quyền SHTT: Công nhận tầm quan trọng của thực thi quyền SHTT như được quy định trong Hiệp định TRIPS; thống nhất về các quy tắc thực thi dân sự và hành chính liên quan đến cơ chế bồi thường dân sự, việc thanh toán án phí và phí thuê luật sư của Bên thua kiện, việc bồi thường thiệt hại, việc thu giữ hàng hóa, nguyên liệu và phương tiện trong vụ xâm phạm, việc xử phạt các bên liên quan nếu vi phạm quy định của tòa, nguyên tắc, thẩm quyền và thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong vụ kiện dân sự về sở hữu trí tuệ; nguyên tắc, cơ chế và thủ tục áp dụng biện pháp hải quan đối với hành vi xâm phạm quyền SHTT tại biên giới; và, khẳng định lại các thủ tục và chế tài hình sự đối với hành vi giả mạo nhãn hiệu và sao chép lậu ở quy mô thương mại như được quy định trong Hiệp định TRIPS; Hợp tác về sở hữu trí tuệ: Để đạt được mục tiêu của Chương này, các Bên nhất trí hợp tác trong các vấn đề (i) Xây dựng năng lực cho các cán bộ hoặc chuyên gia về quyền SHTT; (ii) Quản trị SHTT và hệ thống đăng ký, bao gồm xây dựng các cơ sở dữ liệu để công chúng có thể truy cập được; (iii) Giáo dục và nâng cao nhận thức của công chúng về quyền SHTT; (iv) Thương mại hoá tài sản trí tuệ và chuyển giao công nghệ; (v) Nâng cao quy trình quản lý chất lượng; và (vi) Các lĩnh vực khác do các Bên thỏa thuận. Về tham gia các Hiệp định quốc tế, mỗi Bên sẽ nỗ lực hợp lý để phê chuẩn hoặc gia nhập các Hiệp ước dưới đây như Hiệp ước của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) về quyền tác giả (1996) và Hiệp ước của WIPO về cuộc biểu diễn và bản ghi âm (1996); Quyền tác giả và Quyền liên quan: Các Bên thừa nhận các quyền SHTT là các quyền cá nhân và thừa nhận những mục tiêu sách lược xã hội cơ bản của các hệ thống quốc gia về việc bảo hộ SHTT, trong đó có các mục tiêu phát triển và công nghệ. Không một quy định nào trong Chương này được hiểu là cấm Bên kia thực hiện bất cứ hành động nào mà Bên đó coi là cần thiết đối với việc bảo vệ các lợi ích cơ bản của an ninh quốc gia. Nội dung này được được trích từ phần chung và Điều 71 của Hiệp định TRIPS. Về Thực thi quyền SHTT đối với Giả định về Quyền tác giả hoặc Quyền sở hữu, hai Bên nhất trí trong thủ tục dân sự, hình sự và nếu có thể áp dụng trong thủ tục hành chính, liên quan đến quyền tác giả hoặc quyền liên quan, mỗi Bên sẽ quy định với giả định rằng, trong trường hợp không có bằng chứng ngược lại, người có tên được nêu theo cách thông thường là chủ thể quyền đối với tác phẩm, buổi biểu diễn hoặc chương trình phát sóng đã được nêu. Chƣơng 13 (Hợp tác kinh tế) là một trong những Chương mang lại lợi ích cụ thể và được Việt Nam quan tâm trong suốt quá trình đàm phán. Chương này cùng với cam kết cụ thể tại các Chương khác cũng thể hiện rõ nguyên tắc dành ưu đãi đặc biệt và khác biệt, phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam. Ngay từ đầu tiến trình đàm phán, ta đã chủ động dự thảo Chương Hợp tác kinh tế trong Hiệp định VKFTA nhằm đề nghị phía Hàn Quốc hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực thực thi thông qua các dự án hỗ trợ cụ thể về nâng cao năng lực, xây dựng chính sách, chuyển giao công nghệ, môi trường,... Các lĩnh vực hợp tác, dự án hợp tác cụ thể, bố trí kinh phí và phương thức thực hiện cụ thể đối với từng dự án sẽ được thể hiện trong Thỏa thuận thực thi của Chương để giảm bớt sức ép khi phía Hàn Quốc phải trình ra Quốc hội nhưng vẫn có giá trị cam kết. Cách thức này cũng đã được phía Hàn Quốc áp dụng với các đối tác khác. Hai Bên đã xác định được các lĩnh vực cụ thể tăng cường hợp tác trong đó có những lĩnh vực ta cần nâng cao năng lực để cạnh tranh xuất khẩu bền vững như Nông nghiệp, Thủy sản và Lâm nghiệp; Quy tắc và Thủ tục về Thương mại và Các nội dung hợp tác khác. Hai Bên nhất trí sẽ tiến hành tham vấn trong vòng 6 tháng kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực để sớm thống nhất các dự án cụ thể. Ủy ban hợp tác kinh tế có thể thành lập các nhóm công tác gồm đại diện các cơ quan hữu quan của Chính phủ và khi cần thiết có thể mời thêm các đại diện của tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp. Trong quá trình triển khai, các Bên có thể linh hoạt sửa đổi hoặc bổ sung thêm các hoạt động hợp tác kinh tế mới cùng quan tâm, trong đó dành quan tâm đối với dự án hợp tác hỗ trợ kỹ thuật và tăng cường năng lực trong lĩnh vực môi trường, biến đổi khí hậu giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Kinh phí thực hiện các hoạt động hợp tác kinh tế ước tính khoảng 5.000.000 $ do hai Bên đóng góp dựa trên mức độ khác nhau về sự phát triển và năng lực của từng Bên. Chi phí bổ sung sẽ được hai Bên xem xét quyết định. Các dự án hợp tác đã được đề xuất trong quá trình đàm phán gồm: Dự án do Hàn Quốc đề xuất: Chương trình đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam- Hàn Quốc về linh kiện ôtô; Chiến lược phát triển chung ngành công nghiệp vật liệu và linh kiện Việt Nam; Chương trình phát triển chung trong công nghiệp lọc dầu; Thành lập Trung tâm đào tạo công nghiệp điện tử Việt Nam – Hàn Quốc. Dự án do Việt Nam đề xuất: Phát triển kỹ năng công nghiệp tiên tiến trong lĩnh vực cơ điện tử và tự động hóa; Xây dựng năng lực quốc gia trong hoạch định và thực thi chính sách công nghiệp tại Việt Nam; Hợp tác xây dựng mô hình tiêu thụ hiệu quả các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam. Thỏa thuận thực thi các nội dung Chương Hợp tác kinh tế sẽ do các Bộ trưởng hai Bên ký dưới danh nghĩa của Chính phủ. Bộ trưởng hai Bên được ủy quyền ký Thỏa thuận. Tuy nhiên, khác với Hiệp định, Thỏa thuận này không tạo ra thêm bất kỳ nghĩa vụ pháp lý nào đối với các Bên nêu tại Hiệp định và Thỏa thuận này không được coi là điều ước quốc tế theo quy định của Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế. Chƣơng 14 (Minh bạch hóa) gồm 5 Điều, quy định về công bố các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hành chính, các biện pháp dự kiến áp dụng, cung cấp thông tin và tố tụng hành chính. Tất cả nội dung cam kết về minh bạch hóa đều không vượt quá mức độ cam kết tại các FTA mà ta đã ký kết, và đều dẫn chiếu việc thực hiện các cam kết này theo các quy định luật và quy định trong nước. Chƣơng 15 (Giải quyết tranh chấp) gồm các quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp giữa hai Bên, bao gồm các bước giải quyết qua tham vấn, trung gian, hòa giải và thành lập hội đồng trọng tài. Cơ chế giải quyết tranh chấp của Hiệp định vẫn theo mô hình chung của các FTA mà ta đã ký kết. Bên cạnh Chương 15, Hiệp định còn có thêm 2 Phụ lục về giải quyết tranh chấp, quy định trình tự thủ tục cụ thể của hội đồng trọng tài và quy tắc ứng xử của trọng tài viên, giúp việc thực thi hiệp định sau này được dễ dàng hơn. Cơ chế giải quyết tranh chấp của Hiệp định áp dụng để hạn chế và giải quyết tất cả các tranh chấp phát sinh giữa hai Bên trong quá trình áp dụng và diễn giải Hiệp định. Tuy nhiên, một số nội dung cụ thể sau trong Hiệp định không thuộc phạm vi điều chỉnh của giải quyết tranh chấp: Chương 5 (Vệ sinh an toàn thực phẩm và Kiểm dịch động thực vật), Chương 11 (Cạnh tranh), Chương 13 (Hợp tác kinh tế), Điều 8.19 Chương Dịch vụ (Đàm phán lại trên cơ sở cách tiếp cận chọn bỏ) và Phụ lục 3-B Chương Quy tắc xuất xứ (Quy định đối với một số hàng hóa đặc biệt). Chƣơng 16 (Ngoại lệ) gồm một số trường hợp ngoại lệ như ngoại lệ chung và ngoại lệ an ninh, ngoại lệ về thuế nội địa và ngoại lệ cung cấp thông tin (các Bên không phải cung cấp các thông tin mật có thể ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật hay ảnh hưởng tới quyền lợi cộng đồng hay lợi ích của doanh nghiệp). Các trường hợp ngoại lệ theo Hiệp định hoặc giống như quy định của WTO (ngoại lệ chung và ngoại lệ an ninh) hoặc không vượt quá các FTA trước đây ta đã ký kết (đối với ngoại lệ thuế nội địa và ngoại lệ cung cấp thông tin). Chƣơng 17 (Các điều khoản thể chế và điều khoản cuối cùng) gồm 2 phần chính: (i) Các điều khoản thế chế và (ii) Các điều khoản cuối cùng. Các điều khoản thể chế quy định về việc thành lập, chức năng và trình tự thủ tục của Ủy ban hỗn hợp. Các điều khoản cuối cùng quy định về đầu mối thực thi hiệp định, sửa đổi hiệp định, các phụ lục, phụ chương và chú thích, hiệu lực của hiệp định và ngôn ngữ hiệp định./. PHỤ LỤC 5: CÁC HIỆP ĐỊNH FTA CỦA HÀN QUỐC (đến 6/2015) I. Các Hiệp định đang có hiệu lực (11 Hiệp định) Đối tác Khởi động đàm phán Thời điểm ký kết Thời điểm có hiệu lực Ghi chú Chile 12/1999 2/2003 4/2004 FTA đầu tiên và là cầu nối tới khu vực Trung và Nam Mỹ Singapore 1/2004 8/2005 3/2006 Cầu nối tới khu vực ASEAN Khu vực Thương mại tự do Châu Âu (EFTA gồm Thụy Sỹ, Nauy, Iceland và Liechtenstein) 1/2005 12/2005 9/2006 Cầu nối tới thị trường Châu Âu ASEAN (10 thành viên) 2/2005 Hiệp định về thương mại hàng hóa: 8/2006 6/2007 Đối tác thương mại lớn thứ hai của Hàn Quốc năm 2013 Hiệp định về thương mại dịch vụ: 11/2007 5/2009 Hiệp định về đầu tư: 6/2009 9/2009 Ấn Độ 3/2006 8/2009 10/2010 Thành viên BRIC với thị trường rộng lớn Liên minh Châu Âu (28 thành viên) 5/2007 Đạt thỏa thuận 7/2009, ký tắt 10/2009, ký kết 10/2010 Có hiệu lực một phần 7/2011 Khối liên minh kinh tế lớn nhất thế giới Peru 3/2009 Đạt thỏa thuận 8/2010, ký tắt 11/2010, ký kết 3/2011 8/2011 Đối tác giàu tài nguyên, cầu nối tới khu vực Trung và Nam Mỹ Hoa Kỳ 6/2006 6/2007 Đạt thỏa thuận 3/2012 Quốc gia phát triển nhất thế giới bổ sung 12/2010 Nghị viện Mỹ thông qua Luật thực hiện FTA Hàn – Mỹ vào 10/2011. Quốc hội Hàn Quốc phê chuẩn 11/2011. Thổ Nhĩ Kỳ Nghiên cứu chung: 6/2008- 5/2009. Quá trình đàm phán 4/2010- 3/2012 Ký thỏa thuận cơ bản và Hiệp định thương mại hàng hóa 8/2012. Quốc hội Hàn Quốc phê chuẩn 11/2012 5/2013 Cầu nối tới khu vực Châu Âu và Trung Á Australia Khởi động đàm phán 5/2009. Đạt thỏa thuận 12/2013 Ký tắt 2/2014, Ký chính thức 4/2012 12/2014 Quốc gia giàu tài nguyên và là thị trường lớn nhất khu vực Châu Đại dương Canada Khởi động đàm phán 7/2015. Đạt thỏa thuận 4/2014 Ký tắt 6/2014. Ký chính thức 9/2014 1/2015 Thị trường lớn tại khu vực Bắc Mỹ Việt Nam Nghiên cứu chung: 7/2010- 6/2012 Khởi động đàm phán: 8/2012 Đạt thỏa thuận: 12/2014 Ký tắt 3/2015 Ký chính thức: 5/2015 12/2015 Đối tác hợp tác chiến lược ở Đông Nam Á II. Các Hiệp định đã ký/ kết thúc đàm phán (4 Hiệp định) Đối tác Quá trình đàm phán Thời điểm ký kết Ghi chú Columbia Nghiên cứu chung 3-9/2009. Đạt thỏa thuận 6/2012 ký tắt 8/2012, ký chính thức 2/2013 Quốc gia giàu tài nguyên và là cầu nối tới khu vực Trung và Nam Mỹ Thổ Nhĩ Kỳ Đạt thỏa thuận về Hiệp định thương mại dịch vụ và Hiệp định đầu tư: 9/2014 Trung Quốc Khởi động đàm phán: 5/2012 Đạt thỏa thuận 11/2014 Ký kết 4/2015 Đối tác thương mại lớn nhất của Hàn Quốc năm 2013 III. Các Hiệp định đang đàm phán (3 Hiệp định) Đối tác Tiến trình đàm phán Ghi chú Indonesia Hoàn thành nghiên cứu chung: 10/2011 Khởi động đàm phán: 3/2012 Đã đàm phán chính thức 7 vòng Đối tác thương mại lớn nhất của Hàn Quốc trong ASEAN Hàn Quốc, Trung Quốc Nhật Bản Nghiên cứu chung của khu vực tư nhân: 2003-2009 Nghiên cứu chung của cơ quan Chính phủ, giới học giả: 5/2010-12/2011 Khởi động đàm phán: 5/2012 Đã tiến hành 6 vòng đàm phán Cơ sở hình thành cộng đồng kinh tế Bắc Á Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) Sáng kiến của ASEAN: 11/2011 Khởi động đàm phán: 11/2012 Đã tiến hành 5 vòng đàm phán đến 6/2014 IV. Các cuộc đàm phán đang đƣợc nối lại (3 cuộc đàm phán) Đối tác Tiến trình đàm phán Ghi chú Nhật Bản Khởi động đàm phán 12/2003. Dừng đàm phán sau vòng thứ 6: 11/2004. Quá trình chuẩn bị nối lại đàm phán: 2008-2012 Đối tác thương mại lớn thứ tư của Hàn Quốc năm 2013 Mexico Nối lại đàm phán 12/2007 sau khi nâng câp từ Hiệp định hợp tác kinh tế thành Hiệp định FTA. Dừng đàm phán sau 2 vòng vào 6/2008 Hội đồng Hợp tác Vùng vịnh (GCC) (Saudi Arabia, Kuwait, UAE, Khởi động đàm phán 7/2008 Dừng đàm phán sau 3 vòng vào 7/2009 Khu vực giàu tài nguyên, Hiệp định FTA đầu tiên với các nước Trung Đông và cũng là đối tác lớn thứ Qatar, Oman, Bahrain) 3 của Hàn Quốc năm 2013 V. Các Hiệp định đang chuẩn bị đàm phán hoặc tiến hành nghiên cứu chung (4 Hiệp định) Đối tác Tiến trình đàm phán Ghi chú MERCOSUR (Brazil, Argentina, Uruguay, Paraguay) Hoàn thành nghiên cứu chung 5/2005- 12/2006. Thông qua Báo cáo nghiên cứu chung 10/2007 Israel Khởi động nghiên cứu chung của cơ quan nghiên cứu tư nhân 8/2009 và hoàn thành nghiên cứu 8/2010. Đối tác chính ở Trung Đông Khối các nước Trung Mỹ (Panama, Costa Rica, Guatemala, Honduras, El aSalvador) Nghiên cứu chung 10/2010-4/2011 Vị trí chiến lược nối Bắc Mỹ và Nam Mỹ Malaysia Nghiên cứu chung từ 5/2011 đến 12/2012 PHỤ LỤC 6: CÁC HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM ĐÃ KÝ KẾT/ ĐANG THAM GIA ĐÀM PHÁN (đến 8/2015) I. Các Hiệp định thƣơng mại tự do Việt Nam đã ký kết, thực hiện STT Đối tác Hiệp định Thời điểm ký Thời điểm hiệu lực 1 Các thành viên ASEAN Hiệp định thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) 1995 1996 2 Trung Quốc Hiệp định khung về hợp tác kinh tế ASEAN – Trung Quốc năm 2002 (thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN- Trung Quốc) 2002 2003 Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – Trung Quốc (ACTIG) 2004 1/7/2005 Biên bản ghi nhớ Việt Nam – Trung Quốc (cam kết đàm phán song phương trong khuôn khổ đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam) 7/2005 2005 3 Hàn Quốc Khu vực thương mại ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) 8/2006 6/2007 4 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) 5/2015 2016 (dự kiến) 5 Nhật Bản Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP) 2003 2008 6 Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) 12/2008 2009 7 Úc, New Di-lân Khu vực thương mại tự do ASEAN – Úc và Niu Dilân (AANZFTA) Hiệp đinh thương mại tự do và quan hệ kinh tế thân thiện toàn diện ASEAN – Úc và NiuDilân (AANZCERFTA) 02/2009 01/2010 8 Ấn Độ Khu vực thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ (AIFTA) Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Ấn Độ (AICECA) 2003 Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIG) 2009 6/2010 9 Chile Hiệp định FTA song phương Việt Nam – Chile 10/2011 10 Liên minh Kinh tế Á-Âu (Nga, Belarus, Kazastant, Armenia, Turgikistant) Hiệp định thương mại tự do với Liên minh Kinh tế Á-Âu 5/2015 10/2016 II. Các Hiệp định FTA đã kết thúc đàm phán/chƣa ký kết/ chƣa có hiệu lực/ hoặc đang đàm phán STT Đối tác Hiệp định Thời điểm ký kết dự kiến Thời điểm hiệu lực dự kiến 1 28 thành viên Liên minh Châu Âu Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu (EVFTA) 2017 - 2 11 thành viên còn lại gồm Brunei, Singpare, Malaysia, Úc, Niu Dilan, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Canada, Mehico, Peru Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Đã ký 2/2016 - 3 Các nước ASEAN và Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật bản, Hàn Quốc, Úc, Niu Dilan Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) 2016 2017 4 Nauy, Thụy Sỹ, Scotland, Leisteinstan Hiệp định thương mại tự do với Khu vực thương mại tự do châu Âu (EFTA) - -

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfvai_tro_cua_hiep_dinh_thuong_mai_song_phuong_trong_viec_xay_dung_quan_he_doi_tac_hop_tac_chien_luoc.pdf
Luận văn liên quan