Luận văn Chế độ pháp lý về bảo lãnh ngân hàng và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Tây Hà Nội

Trong xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá như hiện nay, với chính sách mở cửa hội nh ập quốc tế và khu vực, các hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và ho ạt động thương mại, đ ầu tư nói riêng của nước ta với các nước trên thế giới đ ã và đang ngày càng mở rộng và phát triển. Trong bối cảnh đó, Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động tiềm ẩn khá nhiều rủi ro, nhưng lại đem lại lợi ích to lớn cho các bên có liên quan. Bảo lãnh ngân hàng giúp đem lại sự bảo đảm chắc chắn cho bên nhận bảo lãnh rằng ngân hàng sẽ hoàn trả cho bên nhận bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng và giúp bên được bảo lãnh thực hiện được hoạt động kinh doanh của mình.

pdf82 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 15/11/2013 | Lượt xem: 1974 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Chế độ pháp lý về bảo lãnh ngân hàng và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Tây Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
từ ngày ký như trước đây nữa mà có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và chỉ có giá trị trong vòng 5 năm, trừ trường hợp các bên có yêu cầu xóa đăng ký trước thời hạn hoặc có đăng ký gia hạn. Thời hạn của mỗi lần đăng ký gia hạn cũng chỉ là 5 năm (Điều 13). Việc quy định thời hạn có hiệu lực pháp lý chưa phù hợp với thực tiễn hoạt động của các NHTM, sẽ dẫn đến NHTM gặp nhiều nguy cơ rủi ro. Bởi vì, trên thực tế tồn tại không ít khách hàng không trả được nợ ngân hàng khi đến hạn. Vì vậy trong nhiều trường hợp, công việc thu hồi nợ của [42 ] Luật sư Nguyễn Văn Phương, “Đăng ký giao dịch đảm bảo : Rủi do từ thực tế và bất cập của pháp luật”, Tạp chí Ngân hàng số 08/2009. ngân hàng đang tiến hành thì thời hạn của hiệu lực hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh bằng tài sản đã hết. Khi đó giao dịch bảo đảm sẽ hết giá trị pháp lý và khoản nợ có đảm bảo bằng tài sản sẽ trở thành khoản nợ không có bảo đảm. Trường hợp này, nếu có tranh chấp phát sinh liên quan đến hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh bằng tài sản đó thì cơ quan pháp luật sẽ không xem xét và giải quyết theo quy định của pháp luật vì hiệu lực của hợp đồng đã hết. Giao dịch chỉ tiếp tục được đảm bảo nếu được gia hạn để duy trì hiệu lực. Hiện nay, đã có quy định về việc đăng ký tài sản, những nhìn chung việc thực hiện chưa được triệt để và rộng khắp. Nguyên nhân là do trong thực tế khách quan, có rất nhiều loại tài sản không thực hiện đúng các trình tự, thủ tục và không có đầy đủ các giấy tờ cần thiết nên việc đăng ký chứng nhận quyền sở hữu là rất khó. Đặc biệt là các bất động sản ở nông thôn, rất nhiều hộ gia đình làm nhà tự phát mà không có bất kỳ một giấy tờ nào. Điều này gây khó khăn cho ngân hàng khi chấp nhận các tài sản này làm tài sản đảm bảo cho giao dịch. 2.5. Thủ tục giải quyết tranh chấp tại Toà án chưa thực sự hiệu quả để ngân hàng bảo vệ quyền lợi của mình. Về mặt lý thuyết thì khởi kiện ra toà là biệm pháp cuối cùng và hiệu quả nhất cho ngân hàng để thu hồi các khoản nợ khi con nợ lẩn tránh nghĩa vụ của mình khi đến hạn. Tuy nhiên trên thực tế cho thấy việc khởi kiện tại toà án chưa thực sự là phương thức hiệu quả để bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ nói chung và của ngân hàng nói riêng. Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thì bất cứ một vụ tranh chấp nào khi được thụ lý đều phải trải qua thủ tục xét xử “ Sơ thẩm” thông thường. Điều này chưa thực sự hợp lý, trong một số trường hợp do tranh chấp có giá trị nhỏ, các tình tiết đơn giản, các chứng cứ được đương sự cung cấp rõ ràng mà áp dụng theo đúng trình tự sẽ gây mất nhiều thời gian, lãng phí tiền của cho nhà nước và đương sự, gây ra những phản ứng tiêu cực cho các bên tham gia tranh chấp. Theo quy định trong Bộ Luật Tố tụng dân sự 2004 thì: “ các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” [43], “ các đương sự có quyền yêu cầu áp dụng các biệm pháp khẩn cấp tạm thời và phải trụi trách nhiệm do việc yêu Toà án áp dụng biệm pháp khẩn cấp tạm thời” [44]. Tuy nhiên, trên thực tế việc các đương sự thực [43 ] Khoản 1 Điều 6 của Bộ Luật Tố tụng dân sự 2004. [44 ]Các Điều 99 đến Điều 126 của Bộ Luật Tố tụng dân sự 2005 hiện những quyền này còn nhiều hạn chế. Thứ nhất, về việc cung cấp chứng cứ, hệ thống văn bản pháp luật hiện hành chưa thực sự có cơ chế bảo vệ hiệu quả quyền lợi cho đương sự trong việc yêu cầu cung cấp chứng cứ, chưa có quy định mang tính chế tài cần thiết để các bên liên quan cung cấp những chứng cứ khi có yêu cầu của đương sự. Thứ hai, theo quy định tại Điều 99 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2004, đương sự chỉ có quyền yêu cầu toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu họ khởi kiện vụ án dân sự. Trong thực tế có nhiều trường hợp đương sự chỉ muốn yêu cầu toà án áp dụng ngay một biện pháp cần thiết để bảo toàn tài sản, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình mà không muốn khởi kiện bởi họ không có tranh chấp hoặc có tranh chấp nhưng tranh chấp đó đã được giải quyết sau khi toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cần thiết. Với quy định như hiện nay trong Bộ Luật Tố tụng dân sự 2004 thì vô hình chung đã buộc đương sự phải khởi kiện vụ án dân sự ngay cả khi họ không muốn. Kế tiếp, thủ tục ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Điều 117 Bộ Luật tố tụng dân sự 2004 cũng còn bất cập. Thời hạn để thẩm phán ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là ba ngày hoặc 48 giờ tùy từng trường hợp cụ thể vẫn là quá dài, không đáp ứng được tính khẩn cấp. Bởi đối với những biện pháp phong tỏa về tài khoản, tài sản thì đương sự có khả năng bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này chỉ cần một thời gian rất ngắn để rút tiền hoặc tẩu tán tài sản. Về những quy định về định giá tài sản trong Bộ Luật Tố tụng dân sự 2004 vẫn còn nhiều bất cập gây khó khăn cho các bên tham gia vào quá trình tố tụng. Ví dụ theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ Luật Tố tụng dân sự : “ …Trong trường hợp cần thiết, đại diện ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản định giá được mời chứng kiến việc định giá”. Việc áp dụng quy định này trong thực tế các Tòa án băn khoăn do không xác định được thế nào là “trường hợp cần thiết”. Vì vậy, có vụ án Tòa án mời ủy ban, có vụ án Tòa án không mời ủy ban. Điều này còn liên quan đến việc xác định tính hợp pháp của biên bản định giá khi đánh giá chứng cứ là biên bản định giá. Nếu không có chữ ký của đại diện ủy ban nhân dân trong biên bản định giá có bị coi là vi phạm thủ tục thu thập chứng cứ không? Vấn đề đặt ra, khi nào thì đại diện uỷ ban xã nơi có tài sản định giá được mời chứng kiến việc định giá tài sản? Bên cạnh đó, trường hợp tài sản chung được định giá cùng một thời điểm nhưng ở hai trung tâm định giá khác nhau, có giá khác nhau thì kết quả của trung tâm nào làm căn cứ xét xử. Trong trường hợp đương sự có khiếu nại về kết quả định giá của Hội đồng định giá thì Tòa án có buộc phải tiến hành định giá lại không? Nếu khi tiến hành định giá lại thì vẫn Hội đồng định giá đó tiến hành định giá hay phải thành lập Hội đồng định giá khác và Hội đồng định giá khác được thành lập ở cấp nào? 2.6. Một số vấn đề khác. (1) Về quyền khởi kiện : Theo quy định tại Điều 56 của Luật các TCTD thì “khách hàng vay có quyền khiếu nại, khởi kiện việc từ chối cho vay không có căn cứ và các vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật”, là chưa thực sự hợp lý, vì hợp đồng tín dụng là sự thoả thuận tự nguyện chỉ được hình thành khi khách hàng được ngân hàng tín nhiệm. Mặt khác, việc quy định như trên chỉ nhìn chung chỉ có thể thực hiện được theo lý thuyết, trên thực tế việc khách hàng khởi kiện việc từ chối cho vay “không có căn cứ” là rất khó thực hiện. (2). Vấn đề về lãi xuất : Theo quy định tại Điều 476 của Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì “ lãi suất do các bên thoả thuận nhưng không vượt quá 150% lãi xuất cơ bản do NHNN công bố đối với loại cho vay tương ứng. Trong trường hợp các bên thoả thuận về việc lãi phải trả, nhưng không xác định rõ lãi xuất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi xuất cơ bản do NHNN công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”. Do đó không thực sự phù hợp khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng vì : - Hoạt động của ngân hàng là hoạt động đặc thù nên được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành. Do đó lãi xuất cho vay của các TCTD được xác định theo pháp luật chuyên ngành[45]. - Hiện nay pháp luật không quy định hạn chế lãi xuất tiền gửi của các tổ chức và cá nhân trong ngân hàng, nên lãi xuất tiền gửi được xác định trên nhu cầu huy động vốn, chính sách khách hàng, chiến lược kinh doanh của từng ngân hàng và mặt bằng lãi suất tiền gửi trên thị trường. Do đó, nếu pháp luật hiện hành không quy định lãi suất tiền gửi mà Bộ Luật Dân sự năm 2005 lại hạn chế đối với lãi xuất cho vay đối với dịch vụ tín dụng ngân hàng sẽ làm cho ngân hàng có thể thua lỗ do lãi suất cho vay bằng hoặc thấp hơn lãi suất huy động vốn. Do vậy, việc các ngân hàng bị hạn chế lại suất cho vay mà không quy định lãiysuất trần hay lãi suất sàn đối với [45 ] Nguyễn Phương Linh – Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, “ Cần sửa đổi quy định lãi suất trong Bộ Luật Dân sự năm 2005”, Tạp chí Ngân hàng số 23/2006. lãi suất tiền gửi là chưa thực sự hợp lý[46]. Vấn đề về lãi suất ngân hàng theo dự thảo Luật các tổ chức tín dụng ngày 15/4/ 2009 quy định : “ Tổ chức tín dụng được quyền ấn định lãi suất huy động vốn trong hoạt động kinh doanh … tổ chức tín dụng và khách hàng có thể thoả thuận về lãi suất trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng … Trong trường hợp cần thiết, để đảm bảo an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước có quyền quy định cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng” [47]. Quy định này vê cơ bản phù hợp với đường lối chính sách của Đảng tại báo cáo của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX về phương hướng, nhiệm vụ kinh tế xã hội năm 2006 – 2010 : “ Thực hiện chính sách lãi suất thoả thuận theo nguyên tắc thị trường” [48]. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là cần phải xác định rõ trong hoàn cảnh như thế nào được coi là “ trường hợp cần thiết”, và các nguyên tắc xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng cần được quy định một cách rõ ràng, tránh sự lạm dụng kẽ hở để bóp méo thị trường, cản trở hoạt động của các TCTD. (3). Vấn đề về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng : theo quy định của Luật các TCTD thì “ các tổ chức hoạt động ngân hàng được hợp tác và cạnh tranh hợp pháp … Nghiêm cấm các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp, gây tổn hại đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng và lợi ích của các bên” [49], ngoài ra luật còn quy định những hành vi cạnh tranh bất hợp pháp. Tuy nhiên cho đến nay, những văn bản hướng dẫn về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng mới chỉ đưa ra được danh sách các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp nhưng chưa cụ thể và chưa đưa ra được các nguyên tắc chủ yếu để xác định một hành vi cạnh tranh là lành mạnh hay không lành mạnh. Ví dụ tại Công văn số 339/NHNN – CSTT ra ngày 07/4/2004 của Ngân hàng Nhà nước đã xác định mốt số hành vi cạnh tranh không lành mạnh như sau [50] : [46] Nguyễn Phương Linh – Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, “ Cần sửa đổi lãi suất trong Bộ Luật Dân sự năm 2005”, Tạp chí Ngân hàng số 23/2006. [47] Điều 89 của dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng ngày 15/4/2009. [48] Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Bản thuyết minh chi tiết dự thảo 5 Luật các tổ chức tín dụng ngày 09/9/2009 [49]Điều 16 Luật các tổ chức tín dụng 1997 sửa đổi và bổ sung năm 2004. [50 ] Dự án hỗ trợ thương mại Đa biên ( MUTRAP II), “ Nghiên cứu tác động của tự do hoá dịch vụ ngân hàng đối với cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng”, Hà Nội 2006, trang 18. - Điều chỉnh tỉ lệ lãi suất để thu hút tiền gửi gây thiệt hại hoặc có tính lạm dụng hình thức này. - Thực hiện cạnh tranh bằng cách cho khách hàng vay không theo quy trình và điều kiện cho vay chuẩn. II. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh ngân hàng. 1. Kiến nghị với cơ quan ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật. 1.1. Hoàn thiện quy định về hiệu lực của giao dịch đảm bảo. Như ta đã biết rằng giao dịch đảm bảo có hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba kể thời điểm đăng ký[51], do đó những hợp đồng chưa đăng ký sẽ không có hiệu lực pháp lý, mặt khác những cơ quan đăng ký giao dịch đảm bảo không tập trung và thông tin ràn trải dẫn đến không đảm bảo được quyền và lợi ích chính đáng của TCTD cũng như khách hàng. Để đảm bảo được quyền và lợi ích thiết thực của TCTD cũng như khách hàng thì các cơ quan ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật cần có quy định giao dịch đảm bảo có hiệu lực kể từ ngày đăng ký cho đến khi nghĩa vụ được đảm bảo chấm dứt theo thỏa thuận của các bên phù hợp với quy định của pháp luật trừ trường hợp các bên có yêu cầu xóa đăng ký trước thời hạn. Trên cơ sở đó các NHTM sẽ chủ động xem xét và vận dụng cho phù hợp với từng giao dịch cụ thể. Quy định như vậy sẽ hạn chế bớt rủi ro cho các NHTM đồng thời giảm chi phí không cần thiết đến mức thấp nhất (lệ phí đăng ký gia hạn), tiết kiệm thời gian và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên 1.2. Hoàn thiện quy định về xử lý tài sản đảm bảo. Cần phát huy hơn nữa hiệu quả hoạt động của hệ thống đăng ký tài sản, giúp ngân hàng có cơ sở để xử lý tài sản đảm bảo được thuận lợi, dễ dàng đưa tài sản vào chu chuyển trong nền kinh tế. Tòa án cần đẩy nhanh tiến độ xét xử các vụ án liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố. Do mỗi vụ án có những nguyên nhân và hình thức khác nhau nên Tòa án và các cơ quan thi hành cần phối hợp các cơ quan có liên quan, nhất là NHNN để xử lý dứt điểm từng trường hợp, không để dây dưa kéo dài. Cơ quan thi hành án thực hiện nghiêm túc, đúng quy định việc cưỡng chế buộc khách hàng được bảo lãnh có tài sản đảm bảo thi hành án, xử lý nghiêm các trường hợp chây ỳ không chịu bàn giao tài sản thế chấp cho ngân hàng phát mại. [51 ] Phần 2.3 Pháp luật về các biệm pháp bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm còn nhiều bất cập. Trung tâm bán đấu giá tài sản phối hợp với Sở địa chính- Nhà đất kịp thời làm thủ tục chuyển quyền sở hữu đối với tài sản đấu giá là nhà, đất để tạo điều kiện cho người mua. Một vấn đề nữa là cần xác định rõ quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và khách hàng được bảo lãnh có tài sản bảo đảm là quan hệ hợp đồng. Điều này liên quan trực tiếp khi xảy ra trường hợp khách hàng được bảo lãnh có tài sản đảm bảo không thực hiện nghĩa vụ đã giao kết sau khi ngân hàng bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh với bên thứ ba theo đúng giao kết trong giao dịch bảo lãnh, các ngân hàng có đầy đủ thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp, cầm cố hoặc khởi kiện ra cơ quan tài phán. 1.3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo cam kết mở của thị trường dịch vụ ngân hàng của Việt Nam. Cho đến nay, Việt Nam đã cam kết mở cửa khu vực dịch vụ ngân hàng trong các Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định Tự do, xúc tiến và bảo hộ đầu tư Việt Nam - Nhật Bản và Cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Nội dung chủ yếu của các cam kết quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng là từng bước mở cửa khu vực dịch vụ ngân hàng, xoá bỏ dần các phân biệt đối xử giữa các ngân hàng trong nước và ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là về việc tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia. Về cơ bản, nội dung cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng thể hiện trong bản cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, cụ thể: Các cam kết WTO trong lĩnh vực ngân hàng được thể hiện qua: (i) Các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ thể hiện trong Biểu cam kết dịch vụ; (ii) Các cam kết đa phương thể hiện trong Báo cáo gia nhập của Ban công tác[52]. Do đó để đáp ứng lộ trình hội nhập và các nguyên tắc cơ bản trong WTO thì cơ quan ban hành pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật theo các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng theo lộ trình cam kết của Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, Hiệp định khung về thương mại, dịch vụ ASEAN. Đồng thời thực hiện các cam kết gia nhập WTO theo yêu cầu của Hiệp định GATS, tiếp tục chủ động nới lỏng các hạn chế về tiếp cận thị trường và hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng nước ngoài vào hoạt động tại Việt Nam theo lộ trình đã cam kết. Vừa [52 ] Xem thêm Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Các tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 15 tháng 6 năm 2009 ( trang 18 - 21). tạo cơ hội cho các tổ chức tín dụng nước ngoài vào hoạt động hợp pháp và theo cam kết quốc tế, vừa có phương thức, cơ chế quản lý mềm dẻo, đúng pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế để hạn chế sự thao túng, cạnh tranh không lành mạnh hoặc thôn tính bất lợi của các tổ chức tín dụng nước ngoài đối với các tổ chức tín dụng Việt Nam. Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng trong nước mở rộng hoạt động ra thị trường nước ngoài thông qua các hình thức cung cấp dịch vụ trong khuôn khổ WTO đặc biệt là hiện diện thương mại và cung cấp qua biên giới. Ngoài ra cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ, nâng cao hiệu quả áp dụng luật thương mại trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn cho hoạt động của các NHTM. Sửa đổi bổ sung, ban hành mới các quy định pháp luật cũng như các cơ chế, thiết chế đảm bảo cho quyền của chủ nợ được thực thi hiệu quả trong thực tế là một yêu cầu cấp thiết. Nó là cơ sở cho sự minh bạch và hoạt động an toàn của thị trường tài chính tiền tệ nước ta cũng như đáp ứng yêu cầu lành mạnh hoá các NHTM trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần phát hành một bản công bố chính thức thông báo về việc công nhận và tuân theo các thông lệ quốc tế[53] để có thể sử dụng các quy định theo thông lệ quốc tế tại toà trong trường hợp có tranh chấp. 2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 2.1. Hỗ trợ các NHTM trong việc thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh. Việc hỗ trợ các NHTM trong việc thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh về mặt pháp lý, cũng như về thông tin là rất cần thiết. Bởi vì : Thứ nhất, vai trò của pháp luật là tạo nền tảng pháp lý ổn định cho mọi hoạt động của các thành phần kinh tế nói chung, hoạt động của ngân hàng nói riêng, nó thúc đẩy các giao dịch mới trong xã hội. Thứ hai, vấn đề về cung cấp các thông tin cần thiết cho các NHTM có ý nghĩa hết sức quan trọng, trước tiên đảm bảo an toàn cho các ngân hàng trong hoạt động của mình, mặt khác cũng giúp cho các ngân hàng hạn chế được sự lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại nhằm cho vay đúng đối tượng và giám sát chặt chẽ để khách hàng có hành vi đúng đắn nhằm đảm bảo việc thu hồi cả gốc và lãi khoản tín dụng đã cấp. Trong một nền kinh tế, hầu như không một ngân hàng nào có đủ khả năng tự [53 ] Các thông lệ quốc tế bao gồm : Quy tắc chung của phòng thương mại Quốc tế (ICC) về thực hành tín dụng chứng từ, Quy định chung về yêu cầu bảo lãnh, Hướng dẫn hồ sơ chứng từ do Hiệp hội giao dịch hoán đổi và phái sinh quốc tế ban hành. mình xử lý được vấn đề thông tin bất cân xứng[54] mà cần có một cơ sở hạ tầng và những điều kiện cần thiết cho nền kinh tế nhằm tránh xảy ra những vấn đề về hệ thống ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế[55]. Do vậy để thực hiện được việc hỗ trợ các ngân hàng trong việc thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, tác giả kiến nghị NHNN thực hiện một số vấn đề sau : - Rà soát lại các văn bản quy phạm pháp luật, tiến hành tổng kết các hoạt động bảo lãnh, từ đó sửa đổi, bổ sung các quy định về bảo lãnh cho phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế. - Đẩy mạnh công tác nghiên cứu những quy chế thích hợp cho các loại hình bảo lãnh mới, tạo điều kiện cho các NHTM có thể thực hiện được những loại bảo lãnh đó một cách có hiệu quả và an toàn, đồng thời vẫn đảm bảo vai trò quản lý của NHNN. - Đẩy mạnh công tác đào tạo, tổ chức cán bộ pháp chế ngân hàng, nhằm tuyên truyền, phổ biến và giải thích những vấn đề các NHTM gặp khó khăn. Mặt khác đào tạo đội ngũ cán bộ phục vụ cho các NHTM. Vì vai trò của nhân viên pháp chế trong NHTM có vai trò quan trọng trong nền kinh tế hiện nay, một mặt nhân viên pháp chế có vai trò đảm bảo mọi hoạt động quản lý và kinh doanh của ngân hàng đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật từ đó giảm thiểu rủi ro pháp lý và bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của ngân hàng, mặt khác nhân viên pháp chế là nhịp cầu giữa pháp luật và kinh doanh : Biến bó buộc thành tự do, đổi khuôn khổ thành sáng tạo, chuyển công thưc cứng nhắc thành thiên biến vạn hoá, muôn hình vạn trạng[56]. - Tiếp tục hoàn thiện quy trình thu thập và xử lý thông tin của khách hàng có quan hệ tín dụng với tất cả các tổ chức tín dụng của Trung tâm tín dụng thuộc NHNN. Ngoài ra luôn cập nhập, và phân loại rõ các tiêu chí đánh giá khách hàng, các tiêu chí đánh giá về mức độ rủi ro và hệ số tín nhiệm của các ngân hàng. Hệ thống hoá các tiêu chuẩn và kỹ thuật đánh giá vào cùng một nhóm như : các tiêu chuẩn về đánh giá năng lực khách hàng, các tiêu chuẩn về thẩm định dự án đầu tư, [54] Thông tin bất cân xứng được hiểu là khi thực hiện một hợp đồng nếu các bên không cung cấp đầy đủ thông tin cho nhau mà một bên có nhiều thông tin hơn có thể có hành vi gây tổn hại đến bên có ít thông tin hon. [55] Huỳnh Thế Du, Nguyễn Minh Kiều, Nguyễn Trọng Hoài, “ Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng tại Việt Nam”, Chương trình giảng dạy kinh tế FULBRIGHT, tháng 4 năm 2005. [56 ] Luật sư Trương Đức Thanh, “ Vai trò của nhân viên pháp chế trong hoạt động ngân hàng”, Tạp chí Ngân hàng số 5/2008. các kỹ thuật về phân tích báo cáo tài chính và thẩm định dự án. Có những biện pháp tuyên truyền thích hợp để các NHTM thấy rõ quyền lợi và nghĩa vụ trong việc cung cấp và sử dụng thông tin tín dụng. 2.2. Tăng cường việc kiểm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng. Thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động NHNN đối với NHTM trong những năm qua đã đạt được những thành tựu đáng kể như : khuôn khổ pháp lý về thanh tra giám, giám sát ngân hàng ngày càng được nâng cao; từng bước xây dựng được nội dung giám sát theo kịp với sự phát triển của hoạt động ngân hàng thương mại và các yêu cầu của thông lệ quốc tế; tổ chức giam sát được thực hiện trên cả hai nội dung là giám sát từ xa và giám sát tại chỗ. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng còn một số những hạn chế nhất định như : - Hoạt động giám sát của NHNN vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu trong 25 nguyên tắc giám sát của Basel. Các nguyên tắc giám sát của Basel hiện nay vẫn đang coi là tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát của ngân hàng quốc gia. - Các quyết định liên quan đến hoạt động giám sát ngân hàng còn nhiều hạn chế. Trong số các quyết định liên quan đến hoạt động giám sát thì NHNN mới chỉ được các tổ chức quốc tế đánh giá thực hiện tốt và có quy định rõ ràng cách tính tỷ lệ giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro; đồng thời quy định mức tỷ lệ tối thiểu đối với một NHTM là 8% theo như thông lệ quốc tế[57]. Ngoài ra, các yêu cầu khác liên quan đến việc giám sát khả năng quản trị các loại rủi ro của NHTM thì NHNN vẫn chưa xây dựng được những văn bản pháp lý phản ánh được những yêu cầu này. - NHNN chưa chuẩn hoá nội dung hướng dẫn cho các NHTM trong công tác hoạt động giám sát và quản trị rủi ro nội bộ trong ngân hàng. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hạn chế nêu trên là do : - Nội dung giám sát chưa đầy đủ và toàn diện: Với yêu cầu trong giám sát hoạt động của NHTM ngày nay không chỉ dừng lại ở giám sát và đánh giá các loại rủi ro ngân hàng đang đối mặt, mà phải giám sát và đánh giá được khả năng quản trị [57] ThS. Nguyễn Thị Minh Huệ, “ Thực trạng hoạt động giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với ngân hàng thương mại”, Tạp chí Ngân hàng số 10/2006. rủi ro của ngân hàng đó thì nội dung giám sát của Thanh tra NHNN hiện tại vẫn chưa đầy đủ. - Phương pháp giám sát chưa rõ ràng: NHNN thực hiện chủ yếu là thanh tra và kiểm tra tính tuân thủ của các NHTM đối với các quy định pháp lý về hoạt động ngân hàng thông qua các đoàn thanh tra trực tiếp đến ngân hàng. Tuy nhiên, phương pháp này hiện nay tỏ ra không còn hiệu quả đối với một hệ thống ngân hàng đã gia tăng cả về số lượng, quy mô và loại hình. - Tổ chức giám sát chưa có sự phối hợp chặt chẽ: Việc tổ chức thực hiện giám sát là theo hai cấp gồm: Thanh tra NHNN và Thanh tra NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố. Tại Thanh tra NHNN, thành lập Phòng Giám sát phân tích chuyên thực hiện công tác giám sát từ xa. Tại NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố, công tác giám sát từ xa chủ yếu là kiêm nhiệm. Tổ chức công tác giám sát theo hai cấp, thực hiện giám sát đối với cả các chi nhánh của TCTD là không phù hợp do các chi nhánh của TCTD không phải là đơn vị hạch toán độc lập, các chỉ số tuân theo Luật ngân hàng không áp dụng đối với chi nhánh, kết quả hoạt động ở các chi nhánh chịu sự điều hành của ngân hàng mẹ. - Quy trình giám sát chưa thống nhất: Quy trình giám sát của NHNN chưa tạo được sự phối hợp giữa công tác giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ, các bước trong quy trình vẫn chỉ chú trọng đến hoạt động thanh tra tại chỗ và cụ thể đối với các NHTM mà chưa xây dựng được các báo cáo tổng thể mang tính cảnh báo trong hoạt động của NHTM. - Trình độ cán bộ giám sát chưa chuyên nghiệp: Các cán bộ thanh tra, giám sát của NHNN chủ yếu được đào tạo các nghiệp vụ thanh tra tại chỗ, do giai đoạn trước yêu cầu của thanh tra là thanh tra tính tuân thủ của các NHTM. Do vậy, các kiến thức chuyên môn về hoạt động giám sát từ xa liên quan đến tổng hợp phân tích dữ liệu tổng thể, dự đoán và cảnh bảo tình hình chưa được phổ biến và đào tạo có tính chuyên nghiệp đối với các cán bộ thanh tra. - Chế độ thông tin báo cáo còn thiếu và chưa đầy đủ: Thông tin từ trước đến nay mà bộ phận giám sát từ xa sử dụng để cập nhật và phân tích được khai thác trên cơ sở nguồn thông tin của Cục Công nghệ tin học ngân hàng. Thanh tra NHNN Trung ương chỉ nhận các báo cáo tài chính trực tiếp từ các Hội sở chính NHTM nhà nước, Ngân hàng Chính sách xã hội và Quỹ Tín dụng Nhân dân Trung ương. Còn lại, tất cả các NHTM cổ phần và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các quỹ tín dụng nhân dân cở sở, ngân hàng liên doanh, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, chi nhánh các NHTM nhà nước đều thực hiện báo cáo thông qua NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố. Từ đó, NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố mới chuyển thông tin cho Cục Công nghệ tin học ngân hàng. Điều này đã phần nào làm giảm tính kịp thời và tính chính xác của thông tin khi bộ phận giám sát từ xa của Vụ Thanh tra sử dụng và khai thác thông tin. Từ những thực trạng, vướng mắc nêu trên tác giả xin kiến nghị một số giải pháp sau : - Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về giám sát ngân hàng và hạ tầng cơ sở kỹ thuật phục vụ hoạt động giám sát ngân hàng. Xây dựng Luật Giám sát an toàn hoạt động ngân hàng, bảo đảm để Cơ quan Giám sát an toàn hoạt động ngân hàng có đủ quyền lực cần thiết trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giám sát an toàn hệ thống và việc chấp hành đúng các quy định pháp luật trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. - Hiện đại hóa và sử dụng có hiệu quả công nghệ thông tin trong công tác thanh tra, giám sát ngân hàng. - Đổi mới và nâng cao hiệu quả phương pháp giám sát ngân hàng : Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiệp vụ giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ, trong đó giám sát từ xa được coi là nghiệp vụ quan trọng , có chức năng cảnh báo sớm rủi ro trong hoạt động ngân hàng; Sử dụng kết quả và hoạt động kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập làm công cụ hỗ trợ cho quá trình giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ. - NHNN cần ban hành các văn bản, thông tư hướng dẫn một cách thống nhất, tránh tình trạng chồng chéo, thiếu đồng bộ gây khó khăn cho cán bộ ngân hàng trong quá trình áp dụng. Hoàn thiện hơn nữa quy chế bảo lãnh ngân hàng, tạo cơ hội cho các ngân hàng chủ động trong việc cạnh tranh trong xu thế hội nhập. - Đào tạo đội ngũ giám sát có chuyên môn và đội ngũ kế cận. Để làm được việc này NHNN cần có một kế hoạch phát triển nguồn nhân lực và kế hoạch đào tạo đội ngũ kế cận cụ thể, trong kế hoạch cần phải được xây dựng theo hướng : (i). NHNN cần có một chuyên gia tư vấn thường trú có kinh nghiệm để hướng dẫn và đào tạo trực tiếp cho các cán bộ thanh tra tại chỗ và các cán bộ phân tích từ xa. (ii). NHNN cần phát triển một chương trình chuẩn về đào tạo, cấp chứng chỉ và đánh giá cán bộ. (iii). Việc đào tạo tại các chi nhánh cần nhận được sự chú ý đặc biệt ngay từ đầu. (iv). NHNN cần bố trí việc hợp tác đào tạo và đào tạo ở nước ngoài với mục tiêu xác đáng và rõ ràng. Kế hoạch đội ngũ kế cận thông qua việc bố trí công việc để đảm bảo những cán bộ giỏi, dày dạn kinh nghiệm có thể hỗ trợ và hướng dẫn cho các cán bộ trẻ hoặc còn ít kinh nghiệm trong công việc. Điều này thường được thể hiện trong việc bố trí và lên kế hoạch nhân sự trong các cuộc thanh tra thực tế tại các NHTM. Trong đó, cán bộ lãnh đạo được phân công làm Trưởng đoàn thanh tra cần xây dựng nội dung về nhân sự của đoàn thanh tra trong báo cáo tiền thanh tra, đảm bảo (1) lựa chọn các cán bộ phù hợp với nội dung yêu cầu (như về thanh tra nợ, hoạt động ngân quỹ, vốn,…); và sau đó (2) sắp xếp những mức trình độ cần thiết cho từng nội dung thanh tra dựa trên những đánh giá của Trưởng đoàn thanh tra về rủi ro và mức độ phức tạp của nội dung này (ở mức cao, trung bình, thấp). Lãnh đạo thanh tra cũng sẽ (1) xác nhận mức độ năng lực theo yêu cầu của Trưởng đoàn thanh tra và danh sách những cán bộ được chỉ định và (2) phân công (bằng việc điền tên vào bảng phân công) những thanh tra viên cho từng nội dung thanh tra [58]. Ngoài ra cần phải đảm bảo chất lượng đào tạo, công tác đào tạo cán bộ thanh tra về ngân hàng cần phải được tiến hành thường xuyên, đảm bảo tính phù hợp. Để đáp ứng được yêu cầu này, thì NHNN cần phải xác định đúng đắn nội dung, chương trình đào tạo phải chú ý mục tiêu, nhiệm vụ , chức năng của thanh tra ngân hàng trong từng thời kỳ. Chương trình đào tạo phải đảm bảo các nguyên tắc sau : Kết hợp chặt chẽ giữa việc nâng cao kiến thức và chú trọng bồi dưỡng đạo đức công tác thanh tra ngân hàng; gắn đào tạo với sử dụng cán bộ. 3. Kiến nghị đối với NHNo & PTNT Chi nhánh Tây Hà Nội. 3.1. Các hình thức bảo lãnh. Nhìn chung theo quy đinh tại Quyết định 398/QĐ-HĐQT-TD ngày 02 tháng 5 năm 2007 thì NHNo&PTNT Việt Nam thì các hình thức bảo lãnh gồm 6 loại hình thức bảo lãnh : bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm, bảo lãnh hoàn thanh toán. Tuy nhiên các loại hình bảo lãnh này có sự mất cân đối do vậy cần phải có kế [58 ] ThS. Nguyễn Thị Minh Huệ, “ Hoàn thiện hoạt động giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với ngân hàng thương mại”, Tạp chí Ngân hàng số 22/2009. hoạch cụ thể trong từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế ưu tiên phát triển từng loại hình bảo lãnh nhất định, ví dụ bảo lãnh thanh toán sẽ thực hiện vào quí I của năm tài chính. Mở rộng, nghiệp vụ bảo lãnh chứng khoán, bảo lãnh hối phiếu đòi nợ đặc biệt là ưu tiên nghiệp vụ bảo lãnh chứng khoán vì : Việt Nam đang xúc tiến quá quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước và các ngân hàng thương mại đang tham gia thị trường chứng khoán ngày càng nhiều. Tuy nhiên thị trường chứng khoán ở Việt Nam mới được hình thành chỉ ít năm nên hầu như các doanh nghiệp chưa thực sự có đầy đủ uy tín đảm bảo sự tin cậy của công chúng và cộng đồng doanh nghiệp nên câng có tổ chức tín dụng có uy tín đứng ra bảo lãnh tạo niềm tin cho việc phát hành bán các cổ phiếu, trái phiếu. Trên thực tế, với sự phát triển của NHNo & PTNN Việt Nam sau 20 năm đã có thương hiệu và đảm đảo được sự tin cậy của các đối tác, do vậy lợi dụng vị thế này của NHNo & PTNT Việt Nam, NHNo & PTNT Chi nhánh Tây Hà Nội có thể thúc tiến mở rộng nghiệpvụ bảo lãnh chứng khoán. 3.2. Điều kiện bảo lãnh. Điều kiện để NHNo & PTNT Chi nhánh Tây Hà Nội bảo lãnh thì tổ chức, cá nhân cũng tuân thủ theo quy định tại Quyết định 26/2006/QĐ- NHNN Quy chế bảo lãnh, tuy nhiên trên thực tế việc áp dụng quy định : “Có trụ sở làm việc hợp pháp (đối với pháp nhân, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) hoặc hộ khẩu thường trú (đối với hộ kinh doanh cá thể) cùng địa bàn tỉnh, thành phố nơi chi nhánh NHNo & PTNT Việt Nam đóng trụ sở. Các trường hợp khác phải được sự đồng ý của Tổng giám đốc NHNo & PTNT Việt Nam bằng văn bản” gặp phải vướng mắc sau : Nếu như tổ chức, hộ kinh doanh cá thể ở tại những khu vực có điều kiện địa hình khó khăn, cách xa chi nhánh NHNo & PTNT Việt Nam ( gọi tắt là chi nhánh) đóng trụ sở mà có nhu cầu yêu cầu chi nhánh có trụ sở ở một tỉnh khác gần với trụ sở làm việc hoặc hộ khẩu thường chú của mình hơn thực hiện một nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng thì chi nhánh này phải trờ ý kiến của Tổng giám đốc NHNo & PTNT bằng văn bản là chưa thực sự hợp lý vì nó sẽ tạo ra một độ trễ về thời gian để tiến hành các thủ tục tiếp theo trong nghiệp vụ bảo lãnh, do đó sẽ không thể đáp ứng được yêu cầu phát triển các thành phần kinh tế theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Hay ngay chính trong địa bàn Hà Nội, chẳng hạn một doanh nghiệp A có trụ sở làm việc tại Ninh Bình tại nhưng có chi nhánh ( chưa có giấy uỷ quyền về việc yêu cầu bảo lãnh ngân hàng) tại Quận Hai bà Trưng có giao dịch với một doanh nghiệp B có trụ sở làm việc tại Quận Hai Bà Trưng, để thuận tiện cho việc thực hiện hợp đồng doanh nghiệp B yêu cầu chi nhánh của A làm đơn yêu cầu bảo lãnh thực hiện hợp đồng tại một Chi nhánh NHNo & PTNT có trụ sở tại Quận Hai Bà Trưng, như vậy nếu như áp dụng đúng theo quy định này thì sẽ gây khó khăn cho bên yêu cầu bảo lãnh, tạo ra những phản ứng tiêu cực. Mặt khác việc xác định tiêu chí “ có trụ sở làm việc hợp pháp” cũng là vấn đề. Theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005 thì “trụ sở của pháp nhân là nơi đặt cơ quan điều hành của pháp nhân” [59], “Văn phòng đại diện, chi nhánh không phải là pháp nhân” [60]. Như vậy theo quy định này thì trong tình huống trên thì nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng sẽ không thể thực hiện, vì Doanh nghiệp A có trụ sở làm việc tại Ninh Bình và Chi nhánh của doanh nghiệp A không có tư cách pháp nhân, do đó nó sẽ không thể đảm bảo điều kiện về : “ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật”. Để được chi nhánh NHNo & PTNT Quận Hai Bà Trưng tiến hành thủ tục bảo lãnh thì chi nhánh của A cần phải làm giấy đề nghị A uỷ quyền cho phép thay mặt A yêu cầu nghiệp vụ bảo lãnh đó. Để khắc phục những nhược điểm trên của quy định cần áp dụng một cách linh hoạt những quy định trong Quyết định 398/QĐ – HĐQT –TD ngày 02 tháng 5 năm 2007 của NHNo & PTNN Việt Nam. Mặt khác cần bãi bỏ cụm từ : “ các trường hợp khác cần được sự đồng ý của Tổng giám đốc NHNo & PTNT bằng văn” trong quy định : “Có trụ sở làm việc hợp pháp (đối với pháp nhân, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) hoặc hộ khẩu thường trú (đối với hộ kinh doanh cá thể) cùng địa bàn tỉnh, thành phố nơi chi nhánh NHNo&PTNT Việt Nam đóng trụ sở. Các trường hợp khác phải được sự đồng ý của Tổng giám đốc NHNo & PTNT Việt Nam bằng văn bản”,như vậy sẽ tạo nên tính linh hoạt trong khi thực hiện nghiệp vụ. 3.3. Năng cao chất lượng thẩm định. Dự báo xu hướng quy mô bảo lãnh của ngân hàng tiếp tục gia tăng trong các năm tới, có nhiều ngành nghề, kinh tế đa dạng và phức tạp nên trình độ thẩm định dự án là một thách thức lớn đối với ngân hàng. Trong khi đó chưa được trang bị đầy đủ kiến thức và chưa có nhiều kinh nghiệm về bảo lãnh nên nhìn chung lực lượng cán bộ về bảo lãnh vẫn chưa đủ năng lực thẩm định các dự án. Để nâng cao chất lượng thẩm [59]Điều 90 của Bộ Luật Dân sự năm 2005. [60] Khoản 4 Điều 92 của Bộ Luật Dân sự năm 2005. định thì đòi hỏi cần phải phát huy hoạt động của tổ chức thẩm định tại ngân hàng. Người thẩm định dự án cần phải biết kết hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để so sánh đối chiếu, đảm bảo tính chính xác về nguồn thông tin nhận được, sau đó xử lý các thông tin đó để phân tích, đánh giá và quyết định đồng ý hay từ chối bảo lãnh. Trong quá trình thẩm định, các điều kiện quan trọng về doanh nghiệp mà cán bộ ngân hàng cần phải xem xét, kiểm tra và đánh giá đúng đó là: - Tư cách pháp nhân. - Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh. - Khả năng quản lý điều hành của doanh nghiệp. - Khả năng về tài chính, tài sản thế chấp. - Hiệu quả phương án sản xuất kinh doanh. Từ đó, cán bộ thẩm định có thể đặt ra và lường trước được các yếu tố rủi ro có thể xảy ra trong suốt thời gian bảo lãnh, kết hợp với phòng quản lý rủi ro có những giải pháp kịp thời để hạn chế được tối đa thiệt hại cho các bên. Bên cạnh đó thì nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác nhau vì vậy cán bộ ngân hàng cần phải thường xuyên phối hợp với các cơ quan chuyên môn khác để nâng cao chất lượng, đảm bảo tính kinh tế cũng như pháp lý của quá trình thẩm định. 3.4. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, quản lý. Hoạt động bảo lãnh là một hoạt động có rất nhiều rủi ro: như rủi ro chứng từ giả, rủi ro về giá khách hàng không có khả năng thanh toán, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối … Vì vậy ngân hàng cần phải tổ chức kiểm tra lại tất cả các món bảo lãnh hiện hành, , hoàn chỉnh lại hồ sơ, đánh giá tiến độ thực hiện hợp đồng, quản lý chặt chẽ quá trình thực hiện hợp đồng, nắm bắt được tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Đặc biệt là phải tiến hành quản lý chặt chẽ đống với những món bảo lãnh mở L/C xuất, nhập khẩu. Để hạn chế tối đa những rủi ro dẫu đến ngân hàng phải thanh toán thay cho doanh nghiệp trong khi doanh nợ của doanh nghiệp ngày một nhiều và khả năng hoàn trả lại khó khăn.Bên cạnh việc kiểm tra, kiểm soát khách hàng thì còn cần phải kiểm tra, kiểm soát nội bộ về việc thực hiện đúng quy trình bảo lãnh và có trách nhiệm rõ ràng đối với từng bộ phận và cá nhân. Cách thức thực hiện : + Chi nhánh cần cử cán bộ phụ trách nghiệp vụ bảo lãnh xuống kiểm tra, giám sát tại chỗ và từ xa đối với từng khách hàng. + Thường xuyên phối hợp với các phòng ban như phòng kế toán ngân quỹ để có thể theo dõi số dư tiền gửi tại Chi nhánh, theo dõi tình hình công nợ của khách hàng tại các ngân hàng khác để khi có dấu hiệu vi phạm có thể kịp thời sử lý. Trên thực tế việc kiểm tra tình hình công nợ của khách hàng tại các ngân hàng khác được thực hiện bởi cán bộ tín dụng rất khó khăn, vì các ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ của mình nhằm bảo vệ thông tin khách hàng của mình. Do đó, nhằm thực hiện tốt công tác kiểm tra, kiểm soát và quản lý thì Chi nhánh cần phải kiểm tra kỹ những thông tin khách hàng cung cấp trong hồ sơ pháp lý, và phương án thực hiện dự án của khách hàng. + Thường xuyên kiểm tra các khoản bảo lãnh đã thực hiện, hoàn chỉnh các hồ sơ bảo lãnh còn thiếu để đánh giá đúng tiến độ thực hiện, tăng cường các biệm pháp để hoàn chỉnh các tài sản đảm bảo đi kèm theo hợp đồng bảo lãnh. Tóm lại, việc áp dụng các kiến nghị nêu trên cần phải kết hợp với đồng bộ các giải pháp, tuỳ thuộc vào tình hình thực tế trong hoạt động kinh doanh của Chi nhánh có thể ưu tiên áp dụng các kiến nghị một cách linh hoạt. Tuy nhiên việc xây dựng chính sách bảo lãnh phù hợp trong từng thời kỳ cần được ưu tiên, kế đó là công tác tổ chức đào tạo cán bộ. KẾT LUẬN Trong xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá như hiện nay, với chính sách mở cửa hội nhập quốc tế và khu vực, các hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động thương mại, đầu tư nói riêng của nước ta với các nước trên thế giới đã và đang ngày càng mở rộng và phát triển. Trong bối cảnh đó, Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động tiềm ẩn khá nhiều rủi ro, nhưng lại đem lại lợi ích to lớn cho các bên có liên quan. Bảo lãnh ngân hàng giúp đem lại sự bảo đảm chắc chắn cho bên nhận bảo lãnh rằng ngân hàng sẽ hoàn trả cho bên nhận bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng và giúp bên được bảo lãnh thực hiện được hoạt động kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, đây cũng là một loại hình dịch vụ bị cạnh tranh rất lớn đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO. Việc tìm kiếm giải pháp mở rộng thị phần hoạt động bảo lãnh ngân hàng và tạo hành lang pháp lý an toàn cho hoạt động bảo lãnh ngân hàng đang trở thành một yêu cầu cấp thiết. Với mong muốn góp phần vào công tác nghiên cứu mở rộng quan hệ bảo lãnh chuyên đề đã đạt được những kết quả sau: - Nghiên cứu một cách có hệ thống những lý luận cơ bản về chế độ pháp lý về bảo lãnh ngân hàng, tìm hiểu những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ bảo lãnh; đánh giá những thuận lợi và khó khăn những thành công, hạn chế; các nguyên nhân khách quan và chủ quan ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới hoạt động bảo lãnh. - Đánh giá những thành tựu và hạn chế của Luật tổ các TCTD về những quy định về bảo lãnh ngân hàng và các vấn đề pháp lý có liên quan. Từ đó đưa ra những kiến nghị khắc phục những điểm hạn chế để hướng tới sự phù hợp với các quy định về bảo lãnh trong thông lệ quốc tế. - Đánh giá công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của NHNN đối với NHTM từ đó đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm đưa những hoạt động của NHTM được ổn định và tránh những rủi ro không cần thiết. - Đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện nghiệp vụ bảo lãnh tại NHNNo & PTNT Chi nhánh Tây Hà Nội theo hướng đảm bảo phục vụ tốt nhất nhu cầu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, cũng như đảm bảo cho Ngân hàng vừa tránh được rủi ro vừa đạt được yêu cầu về lợi nhuận, tăng cường tính cạnh tranh cũng như củng cố uy tín của Ngân hàng trên thị trường là mục tiêu thường xuyên suốt của chuyên đề. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, chuyên đề đã đề xuất các giải pháp cụ thể đối với NHNNo & PTNT Chi nhánh Tây Hà Nội nhằm tạo điều kiện mở rộng thị phần trong hoạt động bảo lãnh. Việc mở rộng thị phần bảo lãnh ngân hàng quan trọng không chỉ đối với sự nghiệp phát triển NHNNo & PTNT Chi nhánh Tây Hà Nội nói chung mà với cả hệ thống NHVN nói chung và sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước góp phần thúc đẩy hoạt tài chính - ngân hàng Việt nam ngày càng phát triển đưa đất nước ngày càng hội nhập sâu với khu vực và thế giới. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. A VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1 Bộ Luật Dân sự năm 2005. 2 Bộ Luật Hàng Hải năm 2005. 3 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004. 4 Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005 5 Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 ( sửa đổi và bổ sung năm 2004) 6 Luật Đất đai năm 2003 ( sửa đổi và bổ sung năm 2009). 7 Luật đấu thầu năm 2005. 8 Luật hàng không dân dụng năm 2006. 9 Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 ( sửa đổi và bổ sung năm 2003). 10 Luật thương mại năm 2005 11 Luật xây dựng năm 2003. 12 Luật Công chứng năm 2006 13 Nghị định 111/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/9/2006 về việc hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng. 14 Nghị định số 08/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/3/2002 về đăng ký giao dịch bảo đảm. 15 Nghị định số 163/2006/NĐ – CP của Chính phủ ngày 26 tháng 6 năm 2006 về giao dịch đảm bảo. 16 Nghị định số 165/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/11/1999 về Giao dịch bảo đảm. 17 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các TCTD. 18 Nghị định số 85/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/2/2002 về sửa đổi bổ sung Nghị định số 178/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các TCTD. 19 Quyết định số 457/2005/QĐ - NHNN ngày 19 tháng 4 năm 2005 của Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành " Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng" 20 Quyết định số 03/2007/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 19/1/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 ban hành Quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD. 21 Quyết định số 112/2003/QĐ- NHNN ngày 11/2/2003 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25/8/2000 của Thống đốc NHNN. 22 Quyết định số 1348/2001/QĐ-NHNN ngày 29/10/2001 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi một số quy định liên quan đến thu phí bảo lãnh của các tổ chức tín dụng; 23 Quyết định số 14/2009/QĐ - TTg ngày 21 tháng 01 năm 2009 của Thủ Tướng Chính Phủ ban hành quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng thương mại. 24 Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của NHNN về việc ban hành Quy chế bảo lãnh ngân hàng. 25 Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25/8/2000 về việc ban hành Quy chế bảo lãnh ngân hàng. 26 Quyết định số 386/2001/QĐ-NHNN ngày 11/4/2001 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều trong Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25/8/2000 27 Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 ban hành Quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD . 28 Quyết định số 60/2009/QĐ - TTg ngày 17 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 14/2009/QĐ -TTg ngày 21 tháng 01 năm 2009 của Thủ tướng Chính Phủ ban hành Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng thương mại B VĂN BẢN DO NHNNo & PTNT VIỆT NAM BAN HÀNH. 1 Công văn số 6067/NHNo –TDDN về việc sửa đổi bổ sung hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của NHTM theo Quyết định số 14/2009/QD-TTg. 2 Quyết định số 09/QĐ-HĐQT-05 ngày 18 tháng 01 năm 2001 quyết định về ban hành hướng dẫn thực hiện quy chế bảo lãnh ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. 3 Quyết định số 126/QĐ/HĐQT-TCCB ngày 05/06/2003 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. 4 Quyết định số 1300/QĐ-HĐQT –TDHo ngày 03 tháng12 năm 2007 của Hội đồng quản trị NHNNo & PTNT Việt Nam quy định về “ Thực hiện các biệm pháp bảo đảm tiền vay trong hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam”. 5 Quyết định số 398/QĐ /HĐQT-TD ngày 02 tháng 5 năm 2007 quy định về “ bảo lãnh ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam”. 6 Quyết định sô 454/ QĐ/HĐQT-TCCB của NHNNo&PTNT Việt Nam. 7 Quyết định số117/2002/QĐ/HĐQT-NHNo của Hội đồng quản trị Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam quy định hệ thống tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 8 Văn bản số 3894/NHNo-TDHo ngày 23/9/2008 về việc hướng dẫn quy trình sử lý tài sản bảo đảm. C DANH MỤC SÁCH VÀ TẠP CHÍ , TÀI LIỆU TẠI CHI NHÁNH NHNNo & PTNT TÂY HÀ NỘI. 1 Báo cáo kết quả kinh doanh của NHNo& PTNT Tây Hà Nội các năm 2 Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Các tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 15 tháng 6 năm 2009. 3 Báo cáo tổng kết kinh doanh 2005-2009 của Chi nhánh NHNN&PTNT Chi nhánh Tây Hà Nội. 4 Bộ kế hoạch và đầu tư, Cục phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ : “ Báo cáo thường niên doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam”, 2008, trang 7 – 8. 5 Chu Văn Thái, “ Bàn về quyền chủ nợ của ngân hàng thương mại”, Tạp chí Ngân hàng số 06/2007 6 Dự án hỗ trợ thương mại Đa biên ( MUTRAP II), “ Nghiên cứu tác động của tự do hoá dịch vụ ngân hàng đối với cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng”, Hà Nội 2006, trang 18 7 Dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng ngày 15/4/2009 8 Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2007 9 Giáo trình, Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Trường ĐH Luật Hà Nội, NXB Tư Pháp năm 2006. 10 Huỳnh Thế Du, Nguyễn Minh Kiều, Nguyễn Trọng Hoài, “ Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng tại Việt Nam”, Chương trình giảng dạy kinh tế FULBRIGHT, tháng 4 năm 2005 11 Lê Trung Thành, Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Trường Đại học Đà Lạt, 2002, trang 142. 12 Luật sư Nguyễn Văn Phương, “Đăng ký giao dịch đảm bảo : Rủi do từ thực tế và bất cập của pháp luật”, Tạp chí Ngân hàng số 08/2009. 13 Luật sư Trương Đức Thanh, “ Vai trò của nhân viên pháp chế trong hoạt động ngân hàng”, Tạp chí Ngân hàng số 5/2008. 14 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam Bảng cân đối kế toán hợp nhất Quý III năm 2009 15 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Bản thuyết minh chi tiết dự thảo 5 Luật các tổ chức tín dụng ngày 09/9/2009 16 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, “ Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành luật các tổ chức tín dụng”, Hà Nội ngày 15 tháng 9 năm 2009 17 Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam : 20 năm xây dựng và trưởng thành, trang 36 -37 18 Ngô Quốc Kỳ, “Một số vấn đề pháp lý cơ bản về hoạt động của Ngân hàng”, NXB Chính trị Quốc Gia, 1995, trang 67 – 77 19 Nguyễn Phương Linh – Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, “ Cần sửa đổi quy định lãi suất trong Bộ Luật Dân sự năm 2005”, Tạp chí Ngân hàng số 23/2006 20 Nguyễn Thị Phương, Chuyên đề tốt nghiệp : “ Chế độ pháp lý về bảo lãnh ngân hàng và thực tiễn áp dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Mộc Châu”, năm 2009 21 Nguyễn Việt Anh, Chuyên đề tốt nghiệp : “ Thực trạng và giải pháp nhằm hạn chế rủi do tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Tây Hà Nội”, tại ĐH Ngoại Thương, năm 2008 trang 3 22 Nguyễn Việt Hùng, Luận án tiến sĩ kinh tế : “ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam”, Trường ĐH Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội 2008 23 Quy tắc thống nhất về bảo lãnh theo yêu cầu ( ấn bản số 458 của ICC ) 24 Sổ tay tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 25 ThS. Nguyễn Thị Minh Huệ, “ Hoàn thiện hoạt động giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với ngân hàng thương mại”, Tạp chí Ngân hàng số 22/2009 26 ThS. Nguyễn Thị Minh Huệ, “ Thực trạng hoạt động giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với ngân hàng thương mại”, Tạp chí Ngân hàng số 10/2006 27 Trần Phương Minh, “ Bạn đã quan tâm đến bảo lãnh ngân hàng?”, 94&t=82 28 Trần Thị Minh Thuý, Chuyên đề tốt nghiệp: “ Nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Tây Hà Nội”, ĐH Quốc Gia, năm 2007. 29 TS.Nguyễn Hữu Huấn, Bài phát biểu : “Báo cáo tổng kết kinh doanh năm 2009 ”, tại Chi Nhánh Tây Hà Nội, ngày 31/12/2009 30 website : www.agibanktayhanoi.com.vn.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfBáo cáo tốt nghiệp- Chế độ pháp lý về bảo lãnh ngân hàng và thực tiễn áp dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam Chi nhánh Tây Hà Nội.pdf
Luận văn liên quan