Luận văn Chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ đến năm 2010

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU VỀ THỊ TRƯỜNG MỸ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGÀNH DỆT-MAY TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 1.1, Giới thiệu về thị trường Mỹ : 1.1.1, Đặc điểm đất nước, văn hóa, con người Mỹ: Là một nước có diện tích lớn thứ 3 trên thế giới (9.629.091 km2 chiếm 6,2% diện tích toàn cầu) và với khoảng 290 triệu dân có nguồn gốc từ nhiều nơi khác nhau trên thế giới, Mỹ là một xã hội đa dạng nhất trên thế giới. Mặc dù đại bộ phận người Mỹ được coi là có nguồn gốc từ Châu Âu, song những người thiểu số như người gốc Mỹ (người da đỏ), người Mỹ gốc Phi, người Hispanic, và người Châu Á cũng rất đông. Hiện nay, mỗi năm có tới trên một triệu người nước ngoài di cư đến Mỹ sinh sống và làm ăn, và dự kiến đến năm 2050 người Mỹ da trắng chỉ còn chiếm dưới 50%. Các cộng đồng đang sinh sống ở Mỹ đều có những bản sắc riêng của họ, kể cả ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng, và phong tục; do vậy, rất khó có thể khái quát chính xác được văn hóa nói chung và văn hóa kinh doanh nói riêng ở nước này. Khác với một số nền văn hóa khác, nhất là văn hóa Châu Á, nhìn chung, người Mỹ rất coi trọng tự do cá nhân và tính tự lập. Gia đình, cộng đồng, tôn giáo, hoặc tổ chức là thứ yếu so với các quyền cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân này cũng dẫn đến một tính cách nổi bật của người Mỹ là cạnh tranh. Phong cách chung của doanh nhân Mỹ là ít chú ý đến nghi lễ, đi thẳng vào vấn đề, và muốn có kết quả nhanh. Trong đàm phán, người Mỹ thường xác định trước và rõ mục tiêu cần đạt được, chiến lược và chiến thuật đàm phán, và dùng số liệu để chứng minh cho các luận điểm của mình. Họ muốn dành chiến thắng về phần mình, song cũng sẵn sàng thỏa hiệp trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. ở Mỹ, “có đi có lại” là nguyên tắc quan trọng trong đàm phán chính trị cũng như trong kinh doanh. Người Mỹ thích nói thẳng, rõ ràng, và dễ hiểu. Họ không thích kiểu nói vòng vo, xa xôi, hoặc ví von. Nhìn chung, khi người Mỹ nói “được” thì có nghĩa là được và “không được” có nghĩa là không được. Người Mỹ không ngại ngùng khi trả lời “tôi không biết” nếu như họ không biết về vấn đề mà bạn quan tâm, hoặc “tôi không phụ trách việc này” nếu như vấn đề bạn quan tâm không trong phạm vi trách nhiệm của họ. Tuy nhiên, người Mỹ thường sẵn sàng chỉ cho bạn biết bạn phải hỏi ai hoặc tìm ở đâu để có những thông tin mà bạn cần, hoặc ai là người phụ trách việc mà bạn quan tâm.Tính thẳng thắn và sự lịch thiệp cũng có mức độ khác nhau tuỳ theo vùng. Người New York nổi tiếng là trực tính, và thậm chí hơi thô bạo nếu so sánh với văn hóa Châu Á. Người ở vùng Trung Tây cũng thẳng thắn nhưng thường lịch sự hơn nhiều. Người California không phải lúc nào cũng nói đúng ý nghĩ của họ. Ví dụ ở Los Angeles – miền đất của những giấc mơ - nếu ai đó nói với bạn “Tôi sẽ trở lại vấn đề này với bạn” thì cũng có thể là họ sẽ làm như vậy thật, song cũng có thể họ ngụ ý là “Bạn không có cơ hội”. Nhìn chung, người Mỹ không có thói quen nói hoặc cười to trong khi ăn uống hoặc ở nơi công cộng. Họ rất tự giác xếp hàng đợi đến lượt mình khi có từ hai người trở lên, và không có thói quen chen ngang hàng. Tại cửa ra vào thang máy, tàu điện ngầm, hoặc xe buýt, người ở ngoài thường đợi cho người ở trong ra hết rồi mới vào. Người Mỹ có thói quen cám ơn khi được người khác giúp đỡ dù chỉ là một việc rất nhỏ như nhường đường chẳng hạn. Cũng vì muốn tiết kiệm thời gian, nên các cuộc gặp làm việc với người Mỹ thường là ngắn, tập trung và đi thẳng vào vấn đề. Đối với một số nền văn hóa vừa gặp nhau đã bàn ngay đến chuyện làm ăn thì có thể bị coi là mất lịch sự, trong khi đó người Mỹ lại thích nói chuyện làm ăn trước, sau đó mới nói đến chuyện cá nhân và các chuyện khác. Vì vậy, thường thì khách, nhất là những người chào hàng phải chuẩn bị rất kỹ và đi thẳng vào nội dung sau những câu chào hỏi xã giao ngắn gọn. Yêu cầu này càng quan trọng nếu cuộc làm việc được tiến hành thông qua phiên dịch vì thực chất thời gian làm việc chỉ còn tối đa một nửa. Trong các cuộc họp hoặc gặp gỡ làm việc, người Mỹ có thể cắt ngang lời nhau để hỏi hoặc nêu ý kiến của mình. Thói quen này có thể bị coi là bất lịch sự trong một số nền văn hóa Châu Á. Do vậy, các nhà kinh doanh nước ngoài không nên ngạc nhiên khi bị người Mỹ cắt lời để hỏi hoặc nêu ý kiến của họ. 1.1.2, Đặc điểm kinh tế của thị trường Mỹ: Đồng USD của Mỹ vẫn là đồng tiền thanh toán quốc tế thịnh hành nhất. Hiện khoảng 60% tiền mặt USD lưu hành ở ngoài nước Mỹ; tất cả thanh toán trong lĩnh vực dầu khí, năng lượng thế giới đều bằng USD Mỹ. Trong điều kiện đó, tỷ giá USD luôn là một vấn đề mấu chốt trong quan hệ kinh tế thương mại của Mỹ với bên ngoài, là một nội dung chủ yếu của các cuộc gặp G7/G8 hàng năm. Mỹ và các đối tác của Mỹ có thể mất hoặc được lợi hàng tỉ USD, và sức cạnh tranh kinh tế có thể bị tác động lớn chỉ vì sự thay đổi tỷ giá đó chứ không phải do kết quả của sản xuất trực tiếp. Vì vậy chính sách tiền tệ và quan hệ với thị trường vốn và tài chính thế giới ra sao là một vấn đề đại sự trong nền kinh tế. Việc đa số các nước đến nay dự trữ ngoại tệ chủ yếu bằng USD Mỹ mang lại lợi thế cho Mỹ (tuy cũng có mặt khác, làm đồng tiền Mỹ tùy thuộc tình hình bên ngoài). Gần đây Trung Quốc và một vài nước đã tính đến đa dạng hóa dự trữ đó qua các đồng tiền khác để tránh rủi ro lớn nếu giá USD tụt giảm do tình trạng thâm thủng các cân đối tài chính của Mỹ. Hiến pháp Mỹ qui định Quốc hội Mỹ có quyền quản lý ngoại thương và quyết định về thuế nhập khẩu. Tuy nhiên, do việc tăng hoặc giảm thuế nhập khẩu, ấn định hạn ngạch nhập khẩu, hoặc đàm phán các hiệp định thương mại quốc tế rất phức tạp và ảnh hưởng đến lợi ích không những của Mỹ mà còn của các nước khác; nên nhiều trách nhiệm trong những lĩnh vực này đã đuợc Quốc hội ủy quyền cho các cơ quan hành pháp. Trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ được Quốc hội ủy quyền, các cơ quan hành pháp được ủy quyền có trách nhiệm tham vấn thường xuyên và chặt chẽ với các ủy ban có liên quan của Quốc hội và các nhóm cố vấn của khu vực tư nhân. 1.1.2.1, GDP của Mỹ: Hiện nay, và trong nhiều thập kỷ nữa, Mỹ vẫn là nước có nền kinh tế lớn nhất và có sức cạnh tranh nhất trên thế giới. Năm 1999, GDP của Mỹ là 9.350 tỷ USD trong khi của cả thế giới khoảng 40.700 tỷ USD và của cả khối G7 là 15.170 tỷ USD. Năm 2000, GDP của Nhật bằng 32% GDP của Mỹ, Đức bằng 19,4%, Pháp bằng 14,6%, và Anh bằng 13,7%. Mặc dầu, tỷ trọng GDP của Mỹ trong tổng GDP của toàn thế giới có xu hướng giảm, song hiện nay, Mỹ vẫn là nước có thu nhập quốc dân lớn nhất và có thu nhập bình quân đầu người đứng đầu thế giới. Năm 2005, tổng thu nhập quốc dân của Mỹ đạt xấp xỉ 12,5 nghìn tỷ USD (tính theo sức mua – (PPP)purchasing power parity), chiếm khoảng 20.34% tổng GDP toàn thế giới. Thu nhập bình quân đầu người ở năm 2005 đạt 41.557 USD (Xem bảng 1.1). CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ. 2.1, Thực trạng về nhu cầu hàng dệt may của thị trường Mỹ: 2.1.1, Những yêu cầu của thị trường Mỹ về ngành hàng dệt may: 2.1.1.1, Những quy định pháp luật về nhập khẩu hàng hóa của Mỹ: Hệ thống pháp luật chặt chẽ, phức tạp, đội ngũ lobby, luật sư luôn tìm mọi cách để tạo ra các sự kiện. Một thị trường có rất nhiều vụ tranh chấp về bán phá giá, tự vệ và chống tự lập. Luật pháp chi phối môi trường kinh doanh ở Mỹ, và các doanh nghiệp thường có thói quen kiện tụng, đưa nhau ra tòa để giải quyết các tranh chấp thương mại. Tại một hội thảo gần đây về quan hệ thương mại doanh nghiệp Việt-Mỹ, luật sư Ross Meador, Chủ tịch Công ty Rogers & Meador, cho rằng các doanh nghiệp cần lưu ý đến việc soạn thảo các hợp đồng và nên nhờ đến các luật sư tư vấn để hạn chế những tranh chấp cũng như tránh bị thiệt hại từ những quan hệ thương mại được điều chỉnh bởi hợp đồng. Theo bà Lee Baker, cố vấn pháp luật Hội đồng Thương mại Việt-Mỹ, khi ký hợp đồng với đối tác Mỹ, các doanh nghiệp Việt Nam nên ký hợp đồng ngắn hạn, bảo đảm hợp đồng có thể tái tục và được sửa đổi điều khoản; xác định chọn luật nào, trọng tài nào để xử lý trong trường hợp có tranh chấp; nên chọn các quy định phán quyết của tòa án Mỹ vì các quy định phán quyết của tòa án Việt Nam có thể gặp khó khăn khi buộc các doanh nghiệp Mỹ thi hành. Hàng dệt may nhập khẩu vào thị trường Mỹ phải tuân theo các luật và qui định về sản phẩm như: Luât phân biệt sản phẩm sợi dêt (Textile Fiber Products Identification Act – TFPIA) và các quy định của Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) quy định các sản phẩm sợi dệt nhập khẩu vào Mỹ phải được dán tem hoặc gắn nhãn hoặc đánh dấu cung cấp những thông tin liên quan đến loại sợi trừ khi được miễn trừ theo mục 12 của luật này). Trong trường hợp không phải là sản phẩm để bán hoặc phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng thì hóa đơn hay các giấy tờ khác có những thông tin yêu cầu có thể sử dụng thay cho tem hoặc nhãn (phụ lục 2) Luật nhãn hàng sản phẩm len (WPLA). Tất cả các sản phẩm có chứa sợi len khi nhập khẩu vào Mỹ (trừ thảm, chiếu và các sản phẩm đã được sản xuất từ hơn 20 năm trước khi nhập khẩu) đều phải có tem hoặc gắn nhãn với những thông tin theo yêu cầu của Luật nhãn sản phẩm len năm 1939 (Wool Products Labeling Act 1939) và các quy định dưới luật do FTC ban hành (phụ lục 3). Quy định về nhãn sử dụng (Care Labeling) yêu cầu các nhà sản xuất và nhập khẩu quần áo và các sản phẩm dệt phải cung cấp những chỉ dẫn thông thường về bảo quản sản phẩm tại thời điểm những sản phẩm đó được bán cho người mua hay thông qua việc sử dụng các ky hiệu về bảo quản hay các cách đọc khác được mô tả trong quy định này (phụ lục 4). Quy định về nhãn hiệu hay quyền sở hữu công nghiệp rất chặt chẽ. Nhãn hiệu phải dính liền sản phẩm viết bằng tiếng Anh dễ hiểu (nếu nhãn hiệu bị mất hoặc không có, Hải quan sẽ không cho nhận hàng hoặc buộc phải nộp tiền phạt có khi tới 10%). Những nhãn hiệu bắt chước hoặc vi phạm quyền sở hữu sẽ không cho nhập khẩu hoặc sẽ bị cấm nhập khẩu. Thủ tục hải quan cũng rắc rối: các doanh nghiệp nhập khẩu của Mỹ phần lớn thuê các nhà môi giới để làm các thủ tục hải quan (thường được gọi là Customs Broker) chứ không trực tiếp làm thụ tủc tục hải quan. Vì thế, theo các chuyên gia về pháp luật, một vướng mắc mà doanh nghiệp hay gặp là thủ tục hải quan khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Mỹ; phần lớn những trục trặc về thủ tục này rơi vào trường hợp doanh nghiệp chưa biết cách điền vào tờ khai, khai không đúng số lượng, chi tiết về hàng hóa trong bảng kê Hải quan Mỹ sẽ căn cứ trị giá trên hóa đơn thương mại làm cơ sở để tính thuế, và coi đó là giá trị thực của hàng hóa, cho nên ngoài chi tiết thông thương trên hóa đơn thương mại cần ghi đầy đủ các chi tiết như: chiết khấu, giảm giá, cước phí, lệ phí Đối với hàng dệt may việc khai báo xuất xứ hàng hóa rất quan trong và cần thiết, đó là yêu cầu phải xuất trình khi làm thủ tục hải quan. Cơ quan Hải quan và Bảo vệ biên giới Mỹ mới ra một quy định tạm thời về việc khai báo xuất xứ hàng dệt may. Theo đó sẽ hủy bỏ quy định cũ về khai báo (19 CFR 12.130) đối với tất cả hàng dệt và may và thay vào đó, các nhà nhập khẩu phải khai báo mã số của nhà sản xuất (Manufacturer Identification Code - MID). Quy định này sẽ được áp dụng cho tất cả hàng dệt may nhập khẩu từ tất cả các nước, bao gồm cả các mặt hàng may mặc bị áp dụng điều khoản tự vệ đặc biệt và các nước chưa là thành viên của WTO mà vẫn phụ thuộc vào hiệp định hàng dệt may song.Với việc loại bỏ tờ khai hàng dệt may, quy định mới này (tên văn bản 19 CFR 102) đã được sửa đổi và nêu ra những yêu cầu về xuất xứ đồng thời hướng dẫn cách thức xây dựng mã code của nhà sản xuất. Hải quan Mỹ cho biết, nhà nhập khẩu (hoặc môi giới hải quan) là người sẽ xác định MID dựa trên những thông tin về công ty, điền vào các mẫu khai hải quan khi làm thủ tục nhập khẩu.Trường hợp cơ quan Hải quan tại một cảng nào bất kỳ thấy nghi ngờ về khai báo MID không đúng, cảng có thể yêu cầu sửa chữa thông tin sau khi hàng đã qua cửa khẩu. Những lỗi lặp lại về việc xác định MID khi nhập khẩu hàng dệt may sẽ đưa đến việc đánh giá mức phạt đối với nhà nhập khẩu hay môi giới hải quan do không lưu tâm đúng mức. CHƯƠNG III CHIẾN LƯỢC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ ĐẾN NĂM 2010 3.1, Cơ sở hình thành các chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ: 3.1.1, Ma trận SWOT Người viết sử dụng ma trận SWOT trên cở sở kết hợp các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thánh thức đối với hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Mỹ để đề ra các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ. Từ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức như đã phân tích tại chương 2 trên đây, và đặc điểm riêng của hàng dệt may Việt Nam, lợi thế của hàng dệt may tại thị trường Mỹ hiện nay, mối quan hệ thương mại giữa hai chính phủ, rào cản tạm thời (vì Việt Nam chưa là thành viên của WTO), xây dựng ma trận SWOT cho hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ. 3.1.2, Mục tiêu chiến lược: 3.1.2.1, Mục tiêu chung của ngành dệt may: Nâng cao trình độ công nghệ, đạt được nhữngtiến bộ như các nước trong khu vực và đến năm 2010 tương đương với các nước phát triển trong khu vực ASEAN hiện nay. Hướng vào xuất khẩu nhằm tăng thu ngọai tệ, đảm bảo cân đối trả nợ và tái sản xuất mở rộng, thỏa mãn nhu cầu trong nước, từng bước đưa công nghiệp dệt may trở thành ngành xuất khẩu mũi nhọn, góp phần tăng trưởng kinh tế, giải quyết khoảng 4 triệu người lao động đến năm 2010 với mức thu nhập bình quân khoảng 2.000.000 đồng/người/tháng. Tăng tỉ lệ gia tăng tạo ra trong nước để tăng hiệu quả xuất khẩu, phấn đấu sử dụng 60% nguyên phụ liệu nội địa vào năm 2010, từng bước nâng cao tính tự chủ của ngành sản xuất và kinh doanh hàng dệt may. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu vào năm 2010 đạt 25% so với cùng kỳ năm trước 3.1.2.2, Mục tiêu cụ thể cho hàng dệt may vào thị trường Mỹ: Giữ vững tốc độ tăng như trong những năm còn bị Mỹ áp đặt hạn ngạch và gia tăng kim ngạch, đến năm 2010, kim ngạch tăng trung bình 25%/năm. Thiết lập chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp tại Mỹ để biết nhu cầu thị hiếu của thị trường kịp thời. Chuyển dần phương thức kinh doanh xuất khẩu từ gia công sang tự doanh (FOB). Xây dựng thương hiệu mặt hàng mạnh cùng với việc đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm; tăng dần hàm lượng nội địa trong sản phẩm (60%nguyên phụ liệu nội địa) Đầu tư tăng quy mô sản xuất và xây dựng đội ngũ lao động trực tiếp và gián tiếp có trình độ chuyên nghiệp cao. 3.2, Các nhóm giải pháp chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ đến năm 2010: 3.2.1, Nâng cao nhận thức về vai trò của hàng dệt may trong chiến lược xâm nhập thị trường Mỹ: Mỗi doanh nghiệp dệt may phải biết tạo ra và tận dụng sức mạnh của mình trong mối liên kết với các doanh nghiệp dệt may khác để gây ấn tượng và thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng tại thị trường Mỹ. Hiệp hội Dệt-May là tổ chức nắm rõ năng lực của từng doanh nghiệp nên có những biện pháp như tổ chức các hội nghị các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế để đề ra những phương hướng hợp ly trên cơ sở đặc thù riêng của từng doanh nghiệp. Các doanh nghiệp dệt may quốc doanh có uy tín, có đội ngũ quản trị giỏi sẽ đóng vai trò chủ đạo như công ty May Việt Tiến, Công ty Dệt Thắng Lợi Và phương hướng hợp lý hiện nay là làm thế nào để gia tăng kim ngạch xuất khẩu, xâm nhập vào thị trường mới. Mỗi doanh nghiệp đều phải ý thức được vị trí và vai trò của mình trong việc đóng góp làm tăng kim ngạch xuất khẩu. Mỗi doanh nghiệp dệt may có đặc thù riêng về kỹ thuật và quản lý hoạch định chiến lược cơ bản, chuyên môn hóa mặt hàng dệt may của mình mà mình đang có ưu thế, đưa ra khung giá phù hợp và cạnh tranh hơn, ngăn chận sự cạnh tranh trong nội bộ ngành dệt may. 3.2.2, Xây dựng, triển khai qui họach chiến lược phát triển khuyến khích xuất khẩu hàng dệt may 3.2.2.1, Đẩy mạnh đầu tư vào công nghiệp thiết kế thời trang; Các doanh nghiệp liến kết với nhau thường xuyên tổ chức các cuộc thi về thiết kế thời trang, mời các nhà thiết kế thời trang có tên tuổi tham dự, dựa trên xu hướng tiêu dùng của thị trường Mỹ. Sau đó triển khai sản xuất và xuất khẩu các mẫu mã đoạt giải. Hàng năm, Nhà nước nên khen thưởng khuyến khích cho các doanh nghiệp có mặt hàng xuất khẩu sang Mỹ đạt kim ngạch xuất khẩu từ 100.000USD với mức thường 1% kim ngạch xuất khẩu đạt được. Bản thân từng doanh nghiệp dệt may như một số doanh nghiệp dệt may đã làm, nên thành lập phòng thiết kế mẫu gồm 3 người: 1 nhà thiết kế hay ky hợp đồng dài hạn với một nhà thiết kế tên tuổi, 1 thợ may mẫu, 1 người tìm kiếm

pdf69 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/08/2013 | Lượt xem: 2064 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ đến năm 2010, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Ấn Độ, Indonesia, Singapore, Guatemala, Nam Mỹ và Đài Loan. Hiệp hội đã đăng cai tổ chức hội nghị Hiệp hội Dệt May các nước khu vực ASEAN (AFTEX) năm 2001 tại Hà Nội, thành viên của Hiệp hội các nhà nhập khẩu hàng dệt may Hoa Kỳ (ITA), đã ký văn bản hợp tác với Hiệp hội may mặc Đài Loan (TGIA), đã và đang xây dựng các chương trình hợp tác hỗ trợ lẫn nhau để cùng phát triển. Năm 2005 và 2006 hiệp hội đã tổ chức hội chợ Magic tại Las Vegas và khảo sát thị trường Mỹ, nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hội viên mở rộng thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Mỹ trong những năm tới. Hiệp hội Dệt May Việt Nam (Vitas) đã và đang triển khai dự án xây dựng cổng giao tiếp điện tử (Portal) xuất nhập khẩu ngành dệt may, thuộc "Chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia giai đoạn 2003-2010" đã được Chính phủ phê duyệt 2.3.3, Thông tin thương mại Sau gần 2 năm hoạt động, hệ thống thông tin được duy trì ổn định đã cung cấp được khối lượng thông tin để doanh nghiệp có thể tham khảo được. Việc đáp ứng nhu cầu thông tin tới doanh nghiệp chỉ là bước đầu, cần có sự quan tâm hỗ trợ hợp tác của các doanh nghiệp nhất là hệ thống thông tin 2 chiều. Thông qua cổng giao tiếp điện tử (Portal) xuất nhập khẩu ngành dệt may, người tiêu dùng, các doanh nghiệp, các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu trong và ngoài nước có thể có mọi thông tin và dịch vụ thiết thực mà thương mại điện tử mang lại. Hiệp hội là một tổ chức không có chức năng kinh doanh, sinh lời, và tự thân nó không thể xây dựng các mối quan hệ kinh tế có hiệu quả trực tiếp mà còn gây ra "gánh nặng" cho ngân sách. Song nhiệm vụ quản lý ngành kinh tế nhà nước vẫn đòi hỏi khách quan có tính qui luật, đòi hỏi phải có một tổ chức mới, hình thức mới với những quan hệ mới, phương thức quản lý mới theo đúng phong cánh của nền 46 sản xuất hàng hóa xuất khẩu, đang là vấn đề thời sự. Đó không phải là việc đổi tên một tổ chức, một cách sắp xếp lại mà ở chính nội dung của sự cải tổ đó. 2.4, Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ. 2.4.1, Điểm mạnh Hiệp định thương mại Việt - Mỹ (BTA) trong những năm qua đã và đang phát huy hiệu quả. Các doanh nghiệp Việt Nam đã quen và hiểu hơn thị trường Mỹ, từ đó có cách tiếp cận phù hợp và có hiệu quả hơn với thị trường này. Việt Nam có lợi thế là lao động rẻ và chất lượng dệt may tốt hơn so với Ấn Độ (lựa chọn tiếp theo của các nhà nhập khẩu dệt may Mỹ sau Việt Nam). Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) cho biết đơn giá xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Mỹ ngày càng cao, và các khách hàng lớn của Mỹ vẫn chọn Việt Nam là thị trường đặt hàng chiến lược. Sự hỗ trợ vốn và tín dụng cho Nhà nước đối với việc quy hoạch các vùng nguyên liệu. Điều này giúp cho các doanh nghiệp chủ động trong viêc chuẩn bị nguồn hàng, tránh phụ thuộc quá lớn và nguồn nguyên liệu nhập khẩu, qua đó có thể nâng cao năng lực cạnh tranh cùa hàng dệt may xuất khẩu.. Nhà nước đã có sự quan tâm đến ngành dệt may qua việc đầu tư tương đối lớn với khoảng 200.000máy, trong đó có nhiều thiết bị chuyên dùng hiện đại. Sự tham gia của các thành phần kinh tế, mỗi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có lợi thế đặc thù riêng về kỹ thuật và tổ chức kinh doanh. Và hơn nữa, ngành dệt may còn được sự hỗ trợ của cầu nối là hơn 1 triệu Việt kiều sinh sống tại Mỹ. 2.4.2, Điểm yếu: Cước phí và thời gian vận tải hàng từ Việt Nam sang Mỹ thường cao hơn và lâu hơn so với từ các nước khác đến Mỹ (kể cả từ các nước xung quanh Việt Nam) do khoảng cách địa lý xa và chưa có tuyến vận tải biển hoặc hàng không trực tiếp giữa hai nước. Ví dụ, hiện nay, cước phí vận tải biển từ Việt Nam sang Mỹ cao hơn từ Trung Quốc sang Mỹ khoảng 15-20%. Thời gian vận tải từ Việt Nam sang bờ 47 Tây Mỹ trung bình khoảng 30 - 45 ngày so với từ Trung Quốc khoảng 12 – 18 ngày. Khó khăn trong thanh toán. Do mới có quan hệ kinh doanh với các doanh nghiệp Mỹ nên các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam thường yêu cầu thanh toán theo phương thức L/C trả ngay không hủy ngang. Ngược lại, nhiều doanh nghiệp Mỹ hoặc do không quen với phương thức thanh toán này hoặc do muốn các phương thức thanh toán khác (D/A, D/P...) thuận tiện, đỡ tốn kém, và ít rủi ro hơn cho họ. Các chính sách với ngành dệt may vẫn chưa nhất quán, cơ chế quản lý điều hành cho năm sau vẫn chưa rõ... “Các thủ tục như hải quan, thuế... dù có cải thiện, nhưng các nước chung quanh cải thiện mạnh hơn mình nên vẫn gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp. Về phía doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh của từng doanh nghiệp còn hạn chế, từ chất lượng sản phẩm, chủng loại sản phẩm, kinh doanh theo giá FOB, trình độ công nghệ cho đến việc đầu tư các loại thiết bị chuyên dụng phục vụ may sản phẩm chất lượng cao. Năng lực cung và tiếp thị xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung còn yếu. Ngoài những yếu kém chung và truyền thống như chủng loại hàng hóa nghèo nàn, chất lượng và mẫu mã chưa phù hợp, giá cả không cạnh tranh, năng lực tiếp thị xuất khẩu yếu; điểm yếu nổi bật của các doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường Mỹ là qui mô sản xuất nhỏ và khả năng liên kết giữa các doanh nghiệp trong sản xuất và xuất khẩu yếu, nên gặp khó khăn trong việc đáp ứng các đơn hàng lớn và/hoặc có yêu cầu thời gian giao hàng nhanh của khách hàng Mỹ. Hơn nữa, đại bộ phận các doanh nghiệp may mặc còn hoạt động theo hình thức gia công. Hình thức này không phù hợp với tập quán nhập khẩu của khách hàng Mỹ. Đây cũng chính là lý do nhiều doanh nghiệp Mỹ chưa quan tâm đến nhập khẩu từ Việt Nam hoặc còn nhập hàng từ Việt Nam thông qua các công ty trung gian ở nước thứ ba. Sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam thiếu thương hiệu đặc trưng. Nhân tố quan trọng để sản phẩm dệt may có thể thâm nhập thị trường là nhãn hiệu 48 hàng hóa, hàng dệt may của Việt chủ yếu là gia công (chiếm hơn 75%), khi xuất khẩu sang Mỹ lại mang nhãn hiệu của bên đặt gia công, còn lại (25%) mang nhãn hiệu của các doanh nghiệp may hoặc nhãn hiệu nước ngòai (do doanh nghiệp mua bản quyền) Các doanh nghiệp Việt Nam chưa chú trọng đến việc tiêu chuẩn hóa hệ thống quản ly chất lượng của mình 2.4.3, Cơ hội: Ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức được đối xử bình đẳng như các thành viên khác của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các doanh nghiệp dệt may có thể xuất khẩu theo khả năng mà không lo về hạn ngạch, và sẽ có thêm cơ hội thu hút dòng đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài, nhờ đó, ngành dệt may có điều kiện phát triển nguồn nguyên liệu bông, xơ sợi tổng hợp, hoá chất thuốc nhuộm,… để nâng cao tỉ lệ nội địa hoá (theo kế hoạch sẽ đạt đến 50% vào 2010). Một số mặt hàng của Việt Nam không phải chịu mức thuế cao hơn so với hàng cùng loại nhập từ những nước được hưởng ưu đãi thương mại của Mỹ và môi trường đầu tư tại Việt Nam đã được cải cách, dần đổi mới cho phù hợp với sự phát triển của thế giới, tạo sự hấp dẫn các nhà đầu tư Mỹ quan tâm đầu tư sản xuất tại Việt Nam để xuất khẩu trở lại Mỹ. Nhiều doanh nghiệp Mỹ, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đang quan tâm hơn đến thị trường Việt Nam và có hướng chuyển sang mua một phần hàng từ Việt Nam thay vì từ các thị trường khác trong khu vực. Chi phí sản xuất ở Mỹ ngày càng tăng, cho nên ngày càng nhiều các nhà sản xuất Mỹ đặt gia công sản phẩm và/hoặc bán thành phẩm ở nước ngoài, hoặc thay vì cho trực tiếp sản xuất, họ trở thành các công ty thương mại đặt hàng sản xuất ở nước ngoài nhập về cung ứng cho hệ thống khách hàng truyền thống của mình tại Mỹ. Nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, nhất là hàng tiêu dùng của Mỹ chắc chắn sẽ tiếp tục tăng Nhu cầu của thị trường Mỹ rất đa dạng. Chủng tộc và văn hóa đa dạng dẫn đến nhu cầu và tập quán tiêu dùng cũng đa dạng. Thu nhập bình quân đầu người cao, song chênh lệch thu nhập rất lớn. Số dân nhập cư vào Mỹ hiện nay mỗi năm tới trên một triệu người và ngày càng tăng, trong đó phần đông là những người lao 49 động chân tay có thu nhập thấp. Yếu tố thu nhập và dân số này dẫn đến thị trường có nhu cầu cả về hàng cao cấp đắt tiền lẫn hàng bình dân rẻ tiền. Hơn một triệu người Việt Nam đang sống tại Mỹ là thị trường đáng kể, nhất là đối với các mặt hàng thực phẩm, và là cầu nối rất tốt để đưa hàng hóa Việt Nam thâm nhập thị trường này. Có hơn năm ngàn doanh nghiệp Việt kiều đang hoạt động tại Mỹ trong nhiều lĩnh vực (như đồ gỗ, chế biến thép, tư vấn, phần mềm, xuất bản...) sẽ trở thành lợi thế cho các doanh nghiệp Việt Nam khi xâm nhập vào thị trường Mỹ Quan hệ chính trị giữa hai nước tiếp tục được củng cố và đang phát triển theo chiều hướng tích cực qua các sự kiện ngoại giao, sư thăm viếng của các vị nguyên thủ quốc gia đến hai nước, sự kiện APEC năm 2006 thành công góp phần làm mạnh mẽ hơn vị trí của Việt Nam 2.4.4, Thách thức: Mặc dù, hàng dệt may Việt Nam không còn phải chịu hạn ngạch khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ, nhưng dưới áp lực của các nhà sản xuất dệt Mỹ, Bộ Thương Mại nước này đã đưa ra một rào cản mới, đó là việc xây dựng cơ chế giám sát chống bán phá giá hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ. Điều này đã gây tâm lý lo ngại không chỉ cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam mà cả các nhà nhập khẩu và bán lẻ Mỹ. Cạnh tranh xuất khẩu vào Mỹ gay gắt và quyết liệt. Mỹ là thị trường lớn, do vậy, cả thế giới hướng vào thị trường này. Việt Nam mới chỉ thực sự thâm nhập thị trường Mỹ kể từ năm 2002 sau khi BTA có hiệu lực, trong khi đó các đối thủ cạnh tranh của ta đã có hệ thống bạn hàng nhập khẩu và phân phối tại thị trường này từ rất lâu. Trung Quốc là một trong những đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam trên thị trường này đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay như: dệt may, giầy dép, hải sản, thủ công mỹ nghệ v.v. Việc Trung Quốc gia nhập WTO và sự tăng trưởng nhanh kim ngạch buôn bán giữa Mỹ và Trung Quốc trong mấy năm qua và trong các năm tới cũng đang đặt ra cho Việt Nam thêm những thách thức to lớn trong việc thâm nhập thị trường Mỹ. 50 Hiện tại, có 24 nước trong khu vực Lòng chảo Caribê được hưởng ưu đãi thương mại theo Luật Sáng kiến Khu vực Lòng chảo Caribê; 4 nước thuộc khu vực Adean được hưởng ưu đãi thương mại theo Luật ưu đãi thương mại Adean; gần 40 nước Châu Phi được hưởng ưu đãi thương mại theo Luật Cơ hội cho Phát triển Châu Phi. Đại đa số các mặt hàng nhập khẩu từ những nước này vào Mỹ được miễn thuế hoặc được hưởng mức thuế thấp hơn mức thuế MFN rất nhiều. Những nước nói trên cũng là những nước đang phát triển và kém phát triển có cơ cấu hàng xuất khẩu khá tương tự như Việt Nam. Cho đến nay, Mỹ đã ký hiệp định thương mại tự do khu vực NAFTA (Mỹ, Canada và Mêhicô) và hiệp định thương mại tự do song phương với các nước: Israel, Jordan, Singapore, Chi lê, Australia, .... Ngoài ra, Mỹ đang đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do khu vực và song phương khác, trong đó có hiệp định thương mại tự do toàn Châu Mỹ và với một số nước có cơ cấu hàng xuất khẩu tương tự như Việt Nam. Các biện pháp bảo hộ sản xuất nội địa của Mỹ đang có chiều hướng gia tăng. Một số mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ có tốc độ tăng trưởng nhanh đã và đang vấp phải sự cản trở của những chính sách bảo hộ này. Hàng dệt may phải chịu hạn ngạch từ 1 tháng 5 năm 2003 với mức thấp hơn nhiều so với năng lực xuất khẩu của ta, mặc dù hiện nay Việt Nam không chịu áp đặt hạn ngạch nhưng vẫn bị Mỹ giám sát chống bán phá giá. Các biện pháp chống khủng bố được ban hành sau vụ 11/9 cũng tạo thêm những rào cản mới đối với xuất khẩu vào Mỹ nói chung, trong đó có hàng xuất khẩu từ Việt Nam. Hệ thống pháp luật thương mại của Mỹ rất phức tạp và chồng chéo. Hàng nhập khẩu vào Mỹ chịu sự điều tiết của nhiều luật khác nhau và cả luật liên bang lẫn luật bang. Trong khi đó sự hiểu biết của các doanh nghiệp Việt Nam về pháp luật Mỹ liên quan đến thương mại nói chung và nhập khẩu vào Mỹ nói riêng còn rất hạn hẹp. Quan hệ chính trị giữa hai nước, tuy đang được cải thiện, song vẫn còn nhiều nhạy cảm. Nhiều doanh nghiệp Mỹ chưa thực sự quan tâm phát triển quan hệ thương mại và đầu tư với Việt Nam. Do còn có sự chống đối quan hệ với Việt Nam 51 của một bộ phận người Việt tại Mỹ, nên nhiều Việt kiều ở Mỹ muốn phát triển quan hệ buôn bán và đầu tư với Việt Nam còn e ngại và chưa mạnh dạn làm ăn với trong nước. Việt Nam vẫn bị Mỹ coi là nước có nền kinh tế phi thị trường; do vậy, phải chịu nhiều bất lợi trong các vụ tranh chấp thương mại tại thị trường này. Ngành dệt may còn phải đối mặt với hiện tượng biến động lao động. Các doanh nghiệp sẽ phải cạnh tranh trong việc thu hút nguồn nhân lực, đặc biệt là cạnh tranh với các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ phải tiếp tục đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt hơn nữa, nhất là khi thỏa thuận thương mại dệt may giữa Trung - Mỹ đã được ký phần nào có lợi cho Trung Quốc, cơ cấu thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam chắc chắn sẽ có thay đổi. Ngành dệt may Việt nam vẫn còn có nhiều lợi thế để phát triển nhằm góp phần giải quyết việc làm, cung cấp một loại sản phẩm thiết yếu cho xã hội, góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng cường khả năng giao lưu giữa hai nướcViệt – Mỹ thông qua hoạt động xuất khẩu; mặc dù kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ là rất lớn chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may hàng năm của Việt Nam, nhưng những gì mà ngành dệt may mang lai cho đất nước chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế của ngành hiện nay. Để nâng cao hiệu quả và phát triển ngành dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang thị trườnglớn nhất hiện nay là thị trường Mỹ, cần có giải pháp đồng bộ, toàn diện để khai thác những điểm mạnh và cơ hội sẵn có của ngành dệt may hạn chế những điểm yếu và nguy cơ đang diễn ra. Chương III sau đây là một số giải pháp có tính chiến lược nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ ngày càng hiệu quả hơn. 52 CHƯƠNG III CHIẾN LƯỢC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ ĐẾN NĂM 2010 3.1, Cơ sở hình thành các chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ: 3.1.1, Ma trận SWOT Người viết sử dụng ma trận SWOT trên cở sở kết hợp các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thánh thức đối với hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Mỹ để đề ra các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ. Từ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức như đã phân tích tại chương 2 trên đây, và đặc điểm riêng của hàng dệt may Việt Nam, lợi thế của hàng dệt may tại thị trường Mỹ hiện nay, mối quan hệ thương mại giữa hai chính phủ, rào cản tạm thời (vì Việt Nam chưa là thành viên của WTO), xây dựng ma trận SWOT cho hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ. 53 Cơ hội (O) O1 Nhu cầu của thị trường Mỹ về sản phẩm dệt may còn nhiều. O2 Ngành dệt may có khả năng nguồn nguyên phụ liệu nội địa, chất liệu vải truyền thống. O3 Các doanh nghiệp đã tích lũy nhiều kinh nghiệm. O4 số lượng và chất lượng lao động quản lý sản xuất của Việt nam đang được nâng cao lên. O5 Hệ thống ngân hàng thương mại, quỹ tín dụng đầu tư phát triển mạnh , lãi suất cho vay có xu hướng giảm. O6 Có nhiều nơi cung cấp máy móc thiết bị O7 Các chính sách hỗ trợ của chính phủ. O8 Hệ thống Pháp luật hoàn thiện. Thách thức (T) T1 Ngành dệt may phải đương đầu với nhiều đối thủ cạnh tranh về vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý, chính sách hỗ trợ của chính phủ. T2 Chính sách hỗ trợ của chính phủ cho ngành dệt may cho doanh nghiệp dệt may vừa và nhỏ thuộc thành phần kinh tế tư nhân chưa thỏa đáng. T3 Sự quản lý chồng chéo của các Bộ hữu quan. T4 Nhà nước và chính phủ cung cấp những thông tin về môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh hạn chế. T5 Khách hàng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng mẫu mã, thay đổi thời trang của ngành d?t may. Điểm mạnh (S) S1 Lao động ngành dệt may là lực lượng lao động trẻ, giá cả sức lao động re. S2 Các doanh nghiệp nhà nước tạo được uy tín với khách hàng, máy móc trang thiết bị tốt. S3 Sự tham gia vào ngành dệt may cỉa các thành phần kinh tế, mỗi doanh nghiệp có đặc thù riêng về kỹ thuật và tổ chức kinh doanh S4 Cầu nới hơn 1 triệu người Việt tại Mỹ. Tận dụng điểm mạnh nắm bắt cơ hội (S/O) S1S4O1 tận dụng lợi thế so sánh là lao động nhiều và giá cả sức lao động rẻ, cầu nối của Việt kiều để mở rộng thị trường. S1S3O3 kết hợp các lợi thế để tổ chức sản xuất hàng dệt may xuất khẩu để chinh phục khách hàng. S2O7O8 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước kết hợp với các chính sách sách kinh tế của chính phủ và hệ thống pháp luật hoàn thiện tạo môi trường kinh doanh tương đối tốt, khai thác các cơ hội khác có hiệu quả hơn. Tận dụng điểm mạnh ngăn chặn nguy cơ (S/T) S1T1 tận dụng lợi thế so sánh để cung cấp cho khách hàng sảnphẩm dệt may có giá rẻ hơn. S2S4T5 Tận dụng dụng kỹ thuật của từng doanh nghiệp và uy tín, cơ sở vật chất, máy móc thiết bị được trang bị tốt của doanh nghiệp nhà nước để cải tiến và phát triển các mặt hàng dệt may mới đáp ứng nhu cầu luôn thay đổi của khách hàng. S4T1 Tận dụng đặc thù riêng về kỹ thuật của mỗi doanh nghiệp d?t may để đa dạng hóa sản phẩm dệt may tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Mỹ. Điểm yếu (W) W1 Sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt nam chưa có thương hiệu của Việt nam trên thị trường Mỹ. W2 Sản phẩm dệt may chủ yếu sản xuất theo phương thức gia công, sản xuất theo phương thức tự doanh chưa nhiều. W3 Chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành sợi - dệt - may, và quản lý nhà nước về ngành may còn lỏng lẻo. W4 Hoạt động marketing còn rất yếu. W5 Năng suất lao động còn thấp, có sự chèo kéo lao động giữa các doanh nghiệp dệt may gây nên sự xáo trộn trong ngành dệt may W6 Vốn đầu tư còn phân tán, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ngành dệt may thấp, nơi thiếu nơi thừa. Giảm điểm yếu nắm bắt cơ hội (W/O) W1O1 gia tăng mặt hàng thay đội mẫu mã khai thác hết nhu cầu của thị trường. W1W2O2 sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có, sản xuất hàng dệt may xuất khẩu theo phương thức với nhãn hiệu Việt nam. W4O4 Nâng cao hiệu quả của hoạt động marketing bằng việc bổ sung đổi mới cơ cấu nhân sự trong doanh nghiệp. W6O3O6 các doanh nghiệp dệt may lập kế hoạch sản xuất, tự điều chỉnh và tận dụng hết công suất của máy móc đảm bảo có viêc làm đều đặn cả năm. W3W7O5O7 Liên kết chặt chẽ các ngành sợi-dệt-may, tranh thủ các chính sách hỗ trợ của chính phủ, vay vốn từ ngân hàng, tâp trung vốn và sử dụng vốn có hiệu quả. Giảm điểm yếu để ngăn chặn nguy cơ (W/T) W1W2T1 sản xuất hàng dệt may xuất khẩu với nhãn hiệu Việt nam heo phương thức tự doanh, tranh thủ sự hỗ trợ của chính phủ để tăng khả năng cạnh tranh. W3T3 Hoàn thiện viêc quản lý ngành sợi-dệt-may, đồng thời đề nghị chính phủ đổi mới chính sách quản lý nhà nước của các Bộ hữu quan. W4T4 tăng cường hoạt động marketing tìm hiểu về môi trường kinh doanh thị trường Mỹ. Đồng thời kiến nghị chính phủ cung cấp thông tin về thị trường ny nhanh chóng và đầy đủ. 54 3.1.2, Mục tiêu chiến lược: 3.1.2.1, Mục tiêu chung của ngành dệt may: Nâng cao trình độ công nghệ, đạt được nhữngtiến bộ như các nước trong khu vực và đến năm 2010 tương đương với các nước phát triển trong khu vực ASEAN hiện nay. Hướng vào xuất khẩu nhằm tăng thu ngọai tệ, đảm bảo cân đối trả nợ và tái sản xuất mở rộng, thỏa mãn nhu cầu trong nước, từng bước đưa công nghiệp dệt may trở thành ngành xuất khẩu mũi nhọn, góp phần tăng trưởng kinh tế, giải quyết khoảng 4 triệu người lao động đến năm 2010 với mức thu nhập bình quân khoảng 2.000.000 đồng/người/tháng. Tăng tỉ lệ gia tăng tạo ra trong nước để tăng hiệu quả xuất khẩu, phấn đấu sử dụng 60% nguyên phụ liệu nội địa vào năm 2010, từng bước nâng cao tính tự chủ của ngành sản xuất và kinh doanh hàng dệt may. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu vào năm 2010 đạt 25% so với cùng kỳ năm trước 3.1.2.2, Mục tiêu cụ thể cho hàng dệt may vào thị trường Mỹ: Giữ vững tốc độ tăng như trong những năm còn bị Mỹ áp đặt hạn ngạch và gia tăng kim ngạch, đến năm 2010, kim ngạch tăng trung bình 25%/năm. Thiết lập chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp tại Mỹ để biết nhu cầu thị hiếu của thị trường kịp thời. Chuyển dần phương thức kinh doanh xuất khẩu từ gia công sang tự doanh (FOB). Xây dựng thương hiệu mặt hàng mạnh cùng với việc đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm; tăng dần hàm lượng nội địa trong sản phẩm (60%nguyên phụ liệu nội địa) Đầu tư tăng quy mô sản xuất và xây dựng đội ngũ lao động trực tiếp và gián tiếp có trình độ chuyên nghiệp cao. 3.2, Các nhóm giải pháp chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ đến năm 2010: 55 3.2.1, Nâng cao nhận thức về vai trò của hàng dệt may trong chiến lược xâm nhập thị trường Mỹ: Mỗi doanh nghiệp dệt may phải biết tạo ra và tận dụng sức mạnh của mình trong mối liên kết với các doanh nghiệp dệt may khác để gây ấn tượng và thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng tại thị trường Mỹ. Hiệp hội Dệt-May là tổ chức nắm rõ năng lực của từng doanh nghiệp nên có những biện pháp như tổ chức các hội nghị các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế để đề ra những phương hướng hợp ly trên cơ sở đặc thù riêng của từng doanh nghiệp. Các doanh nghiệp dệt may quốc doanh có uy tín, có đội ngũ quản trị giỏi sẽ đóng vai trò chủ đạo như công ty May Việt Tiến, Công ty Dệt Thắng Lợi…Và phương hướng hợp lý hiện nay là làm thế nào để gia tăng kim ngạch xuất khẩu, xâm nhập vào thị trường mới. Mỗi doanh nghiệp đều phải ý thức được vị trí và vai trò của mình trong việc đóng góp làm tăng kim ngạch xuất khẩu. Mỗi doanh nghiệp dệt may có đặc thù riêng về kỹ thuật và quản lý hoạch định chiến lược cơ bản, chuyên môn hóa mặt hàng dệt may của mình mà mình đang có ưu thế, đưa ra khung giá phù hợp và cạnh tranh hơn, ngăn chận sự cạnh tranh trong nội bộ ngành dệt may. 3.2.2, Xây dựng, triển khai qui họach chiến lược phát triển khuyến khích xuất khẩu hàng dệt may 3.2.2.1, Đẩy mạnh đầu tư vào công nghiệp thiết kế thời trang; Các doanh nghiệp liến kết với nhau thường xuyên tổ chức các cuộc thi về thiết kế thời trang, mời các nhà thiết kế thời trang có tên tuổi tham dự, dựa trên xu hướng tiêu dùng của thị trường Mỹ. Sau đó triển khai sản xuất và xuất khẩu các mẫu mã đoạt giải. Hàng năm, Nhà nước nên khen thưởng khuyến khích cho các doanh nghiệp có mặt hàng xuất khẩu sang Mỹ đạt kim ngạch xuất khẩu từ 100.000USD với mức thường 1% kim ngạch xuất khẩu đạt được. Bản thân từng doanh nghiệp dệt may như một số doanh nghiệp dệt may đã làm, nên thành lập phòng thiết kế mẫu gồm 3 người: 1 nhà thiết kế hay ky hợp đồng dài hạn với một nhà thiết kế tên tuổi, 1 thợ may mẫu, 1 người tìm kiếm 56 nguyên phụ liệu và làm những công việc lặt vặt. Các doanh nghiệp nên sử dụng máy tính trợ giúp thiết kế và sản xuất (CAD-CAM Computer Added Design - Computer Added Manufacturing). 3.2.2.2, Cải tiến công nghệ trong sản xuất: Tăng cường nhập khẩu những máy móc thiết bị mới thay thế những máy móc thiết bị cũ lỗi thời. Cử nhân viên đến các doanh nghiệp dệt may thành công ở những nước phát triển về ngành dệt may như Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông…tìm hiểu về máy móc thiết bị và công suất của nó, vận hành ra sao?... để lên kế hoạch doanh nghiệp nên nhập khẩu loại nào tiết kiệm nhất và cải tiến được công nghệ dệt may ở doanh nghiệp mình. Doanh nghiệp hàng năm nên trích một khoản tiền (20%) để thành lập Quỹ công nghệ để đầu tư nâng cấp, khen thưởng cho sáng kiến cải tiến công nghệ trong doanh nghiệp. 3.2.2.3, Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm dệt may: Qui trình tạo lập, phát triển và duy trì một nhãn hiệu mạnh bao gồm nghiên cứu thị trường; phân tích hiện trạng nhãn; định ra mục tiêu cho nhãn hiệu trong tương lai. Theo kinh nghiệm một số nước trong quá trình xây dựng và phát triển nhãn hiệu, các doanh nghiệp cần lưu y: đặt tên nhãn hiệu mà ai cũng có thể đọc và nhớ; hình tượng yểm trợ cần có y nghĩa rõ rệt, giản dị mà không cầu kỳ; nên chọn những tên và ky hiệu có tính phổ quát, có y nghĩa với thị trường Mỹ. Tuyệt đối không mô phỏng hay bắt chước nhãn hiệu khác (thị trường Mỹ ngăn cấm việc này và rất gắt gao trong quyền sở hữu kiểu dáng công nghiệp). Nên giao việc thiết kế cho các công ty quảng cáo chuyên nghiệp, không nên thay đổi hay điều chỉnh nhãn hiệu thường xuyên. 3.2.2.4, Xây dựng mặt hàng chủ lực để có tính cạnh tranh cao: Các doanh nghiệp nên thăm dò định kỳ nhu cầu, sở thích của người tiêu dùng Mỹ thông qua các các công ty tiếp thị hay ky hợp đồng với một công ty nghiên cứu thị trường về mặt hàng mà doanh nghiệp đang có thế mạnh. Hoặc lấy 57 nguồn thông tin về thị trường Mỹ qua Thương Vụ Việt Nam tại Mỹ, hoặc từ đối thủ cạnh tranh và các phương thông tin đại chúng khác.Các doanh nghiệp cần tham khảo thêm y kiến các nhà thiết kế thời trang, các show trình diễn thời trang tại thị trường Mỹ để biết xu hướng thời trang của thị trường này hơn Qua việc thăm dò nghiên cứu, doanh nghiệp sẽ nắm bắt được và triển khai sản phẩm dệt may nào mà mình có lợi thế. Ví dụ như Việt Tiến có nhiều đơn hàng đồng sang Mỹ dựa vào lợi thế là mặt hàng áo sơmi và quần tây của mình sắc sảo về kỹ thuật, giá cả “mềm” hơn, chất lượng vải tốt hơn. Sau đó, các doanh nghiệp có thể thiết kế, hoặc cải tiến sản phẩm dệt may của mình tạo ra sản phẩm mới lạ và có giá cả cạnh tranh hơn, qua nguyên liệu độc đáo là thổ cẩm và tơ tằm… 3.2.3, Tập trung nguồn lực phát huy lợi thế, nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu: 3.2.3.1, Nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm: Tạo nguồn nguyên liệu ổn định, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu sản xuất: k y hợp đồng dài hạn với doanh nghiệp bông sợi và doanh nghiệp dệt cung cấp vải có chất lượng phù hợp với sản xuất hàng dệt may xuất khẩu; mua cổ phần trong các doanh nghiệp dệt, sợi là hình thức đầu tư cho hàng dệt may; tham gia thiết kế mẫu vải cho doanh nghiệp dệt; ky hợp đồng liên kết giữa doanh nghiệp dệt-may cung cấp vải nguyên liệu kịp thời và theo đúng mẫu mã và chất lượng của các doanh nghiệp may; những loại vải mà Việt nam chưa sản xuất được doanh nghiệp dệt may nên tìm kiếm và ky hợp đồng nhập khẩu vải từ các nước có ngành công nghiệp dệt phát triển như Trung quốc, Nhật bản, Thailand, Indonesia... Nâng cao qui cách chất lượng sản phẩm: tiêu chuẩn ISO9000 đề cập đến các yếu tố trong quản ly chất lượng, quá trình chuẩn bị cho đến khi đạt chứng nhận ISO9000 rất lâu có thể từ 1 năm, 3 năm. Nhà nước có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp dệt may áp dụng tiêu chuẩn ISO9000, xem tiêu chuẩn này là một trong những yêu cầu đánh giá và công nhận sản phẩm của doanh nghiệp là “có chất lượng cao”, là một trong những ưu đãi để vay vốn đầu tư. 3.2.3.2, Nâng cao tính cạnh tranh về giá cho sản phẩm dệt may 58 Hiện nay các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nên áp dụng chiến lược định giá theo giá hiện hành: hạn chế nhập khẩu nguyên phụ liệu, tạo nguồn nguyên liệu ổn định trong nước; nắm bắt thông tin về giá cả của mặt hàng mình sản xuất trên thị trường Mỹ và đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là từ Trung Quốc-một nhà xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất vào Mỹ; liên kết với các hãng dệt may có tiếng của Mỹ, sử dụng thương hiệu của họ, có thể định giá cao nhưng vẫn có thể cạnh tranh được trên thị trường Mỹ. 3.2.3.3, Đẩy mạnh hoạt động Marketing của doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp dệt may nên thành lập phòng Marketing, nghiên cứu thị trường Mỹ và những thông tin phản hồi của người tiêu dùng về sản phẩm mình trên thị trường, lập ra kế họach quảng bá, khuyến mãi cho hàng dệt may của doanh nghiệp mình tại thị trường này. Thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh tại Mỹ, xâm nhập vào hệ thống phân phối của Mỹ như chuỗi các cửa hàng siêu thị trên toàn nước Mỹ. Doanh nghiệp nên có chiến lược quảng cáo cho sản phẩm dệt may theo các hình thức sau: quảng cáo thông tin ; quảng cáo thuyết phục. Doanh nghiệp nên nghiên cứu ưu nhược điểm của từng loại phương tiện quảng cáo, sản phẩm dệt may của mình thuộc phân khúc nào, quảng cáo nên nhắm trọng tâm vào phân khúc đó.Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần có chiến lược chiêu thị. Các doanh nghiệp dệt may nên tham gia các hội chợ triển lãm tổ chức định kỳ tại thị trường Mỹ, in các brochure, catalogue kèm theo sản phẩm để tiếp cận nhu cầu của thị trường cũng như biết được sản phẩm cạnh tranh của các đối thủ. 3.2.4, Nâng cao hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội trong hoạt động xuất khẩu hàng dệt may: 3.2.4.1, Nâng cao việc đầu tư và sử dụng vốn của doanh nghiệp dệt may: Các doanh nghiệp cần đầu tư dài hạn: trích 20% lợi nhuận cho đầu tư mở rộng sản xuất, cần huy động mọi nguồn lực có trong doanh nghiệp nhu khấu hao cơ bản , vốn tự có bằng cách bán, cho thuê tài sản không dùng đến, giải phóng hàng tồn kho, huy động từ cán bộ- công nhân viên. 59 Các doanh nghiệp nhà nước cần chuyển sang cổ phần hóa 100%, tăng trách nhiệm từng cổ đông. Các doanh nghiệp cần công khai tài chính của doanh nghiệp trên các phương tiện thông tin để nhận được y kiến đóng góp từ những ai quan tâm về kết quả họat động của doanh nghiệp. 3.2.4.2, Thực hiện hợp tác trong sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm k y kết hợp đồng với các doanh nghiệp khác chuyên về các công đọan phù hợp như mua nguyênphụ liệu, vận chuyển, bảo quản nguyên phụ liệu, bán thành phẩm, đến các công đoạn cuối như đóng gói, vận chuyển đến khách hàng, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm khoản đầu tư cho các các công đoạn đó. Doanh nghiệp cần ky hơp đồng phân phối hàng với các doanh nghiệp quen thuộc với yêu cầu của Mỹ. 3.2.5, Tăng cường liên doanh liên kết đầu tư: 3.2.5.1, Phát triển doanh nghiệp tài chính trong liên doanh ngành dệt may: Các doanh nghiệp dệt may liên kết với nhau xây dựng doanh nghiệp tài chính để hỗ trợ vốn và đầu tư: huy động vốn nhàn rỗi tạm thời của các doanh nghiệp khác trong liên kết; các doanh nghiệp “cho thuê” cung ứng máy móc thiết bị sẽ chuyển cho các doanh nghiệp chưa đủ mua sắm một lần quyền sử dụng các loại máy móc thiết bị đó; doanh nghiệp tài chính trong liên doanh sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may về vốn đầu tư để hiện đại hóa công nghệ sản xuất và phát triển sản xuất đối với những doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ. Lãi suất cho thuê bằng 50% lãi suất cho vay của ngân hàng. 3.2.5.2, Liên doanh, liên kết với các ngành sản xuất, cung cấp máy móc thiết bị phụ tùng phục vụ cho ngành dệt may: Căn cứ vào yêu cầu của các doanh nghiệp dệt may về máy móc thiết bị phụ tùng thay thế, các liên doanh sản xuất các phụ tùng thay thế, lắp ráp các loại máy móc thiết bị có nhu cầu nhiều và phổ biến, phù hợp với điều kiện kỹ thuật, tay nghề của công nhân Việt Nam. 60 Liên doanh nên lựa chọn các hãng sản xuất nước ngoài, liên kết với họ mở chi nhánh của hãng tại Việt Nam thực hiện nhập khẩu máy móc thiết bị phụ tùng phù hợp. 3.2.5.3, Đầu tư sản xuất-cung cấp nguyên phụ liệu ngành dệt may: Trợ giá và bao tiêu sản phẩm dệt, những loại vải dệt độc đáo như thổ cẩm của người dân tộc thiểu số vùng cao Các doanh nghiệp may liên doanh với doanh nghiệp dệt, hoặc mua cổ phần doanh nghiệp dệt. đầu tư máy móc thiết bị mới, cải tiến công nghệ kéo sợi: liến kết với ngành nông nghiệp từ khâu giống, đầu tư vào vùng trồng bông thích hợp, cấm xuất khẩu bông; tổ chức nông dân dân tiêu biểu sang tu nghiệp tại Nhật Bản, Trung Quốc để học hỏi kinh nghiệm trồng dâu nuôi tằm với những công nghệ chế biến sản phẩm tơ tằm có chất lượng cao;liên kết với ngành hóa dầu trong việc phát triển nguyên liệu sợi hóa học từ hóa dầu. 3.2.5.4, Liên kết với các tổ chức nhân sự: Các doanh nghiệp dệt may tạo điều kiện cho các học viên trường dạy nghề, đào tạo quản ly thực hành môn học tại doanh nghiệp, liên kết với các trường dạy nghề đào tạo để đưa ra hướng đào tạo phù hợp và doanh nghiệp có kế họach tuyển mộ lao động từ nguồn này. 3.2.6, Nhóm giải pháp trước mắt để đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ: 3.2.6.1, Đẩy mạnh việc gia công xuất khẩu và nâng cao hiệu quả của việc gia công: Các doanh nghiệp phải tiếp tục duy trì và đẩy mạnh gia công xuất khẩu, bán và phân phối qua trung gian để tiếp tục đưa sản phẩm vào thị trường thế giới dưa trên các quan hệ được thành lập từ trước. Tuy nhiên, cần thay đổi hình thức gia công, giảm hình thức gia công toàn bộ chuyển dần sang hình thức gia công từng phần: Ky hợp đồng bao tiêu sản phẩm với bên đặt gia công trong đó nguồn nguyên phụ liệu do doanh nghiệp dệt may Việt Nam chịu trách nhiệm, theo mẫu mã thiết kế của bên đặt gia công; hoặc là, doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ tự thiết kế mẫu theo yêu cầu của khách hàng, tự tìm nguồn nguyên liệu, máy móc doanh 61 nghiệp tự đầu tư, bên khách hàng phải mua thành phẩm, giá cả do doanh nghiệp định ra trên cơ sở thỏa thuận của khách hàng. Việc thay đổi cơ cấu các loại hình gia công như vậy nhằm tạo cơ sở nền tảng vững chắc cho các doanh nghiệp dệt may chuyển sang hình thức tự doanh. 3.2.6.2, Đẩy mạnh xuất khẩu trực tiếp: Các doanh nghiệp tự lo đầu vào, đầu ra cho sản phẩm của mình, nên đẩy mạnh xuất khẩu trực tiếp; các doanh nghiệp nên sử dụng các biện pháp sau: Nghiên cứu thị trường một cách chi tiết, thực hiện phân đoạn thị trường theo các tiêu thức: giới tính, tuổi, nhề nghiệp, tập quán tiêu dùng… trên thị trường Mỹ, thông qua bộ phận marketing của doanh nghiệp. Từ đó xác định được doanh nghiệp nên sản xuất mặt hàng gì? Nhắm đến phân khúc thị trường nào? Quan hệ tốt với các tổ chức cung cấp các yếu tố đầu vào: cơ sở dệt, cơ sở sản xuất phụ liệu, xí nghiệp cơ khí dệt may, các cơ sở đào tạo, các trung tâm nghiên cứu mẫu mốt… các doanh nghiệp thương mại Mỹ phụ trách đầu ra: tăng cường việc chào giá, quảng cáo, phát hành catalogue gởi đến khách hàng. Ky hợp đồng vận chuyển thường xuyên với các hãng vận chuyển, bảo hiểm trách nhiệm, rủi ro, tổn thất để xuất khẩu hàng nhanh chóng an toàn. 3.2.6.3, Đẩy mạnh hoạt động Marketing: Trước mắt doanh nghiệp dệt may cần k y hợp đồng quảng cáo, tiếp thị, chiêu thị, phân phối với các doanh nghiệp tiếp thị tại thị trường Mỹ để công chúng Mỹ biết và sử dụng sản phẩm cùa mình. Thăm dò y kiến người tiêu dùng về sản phẩm của mình thông qua bảng câu hòi đăng tải trên báo chí kèm theo những món quà khuyến khích, hoặc quacông ty tiếp thị lấy y kiến cụ thể của từng người tiêu dùng. Tham gia các hội chợ, triển lãm thương mại trong nước và ngoài nước, tham gia các cuộc bình chọn “top ten” như cuộc thi bình chọn”hàng Việt Nam chất lượng cao”, “sản phẩm dệt may được người tiêu dùng yêu thích nhất” K y hợp đồng với các nhà bán lẻ ở Mỹ, giới thiệu sản phẩm dệt may, tiến tới ky hợp đồng đại ly với các cửa hàng đó. 3.2.6.4, Giải pháp điều hành và phát triển nguồn nhân lực: 62 Huy động nguồn lực từ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tốt bổ sung cho các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn, hoặc thực hiện dự án đầu tư mới sau khi đã qua khóa đào tạo ngắn hạn về quản l y hoặc kỹ thuật. Thuê các nhà quản ly, các chuyên gia kỹ thuật nước ngoài nhằm giải quyết các khó khăn cho một số doanh nghiệp. Xây dựng một chính sách đãi ngộ mới như: nhân viên nào tìm kiếm khách hàng mới sẽ được thưởng 1 tháng lương, hoặc đưa đi học khóa nâng cao kiến thức ở nước ngoài nếu quá trình làm việc có biểu hiện tốt…. 3.2.6.5, Giải pháp áp dụng công nghệ thông tin vào quản ly và sản xuất: Công nghệ thông tin đang trở thành công cụ đắc lực phục vụ công tác quản trị kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là phục vụ cho hoạt động xúc tiến thương mại với chi phí tiết kiệm nhất và phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành dệt may. Intel đã giới thiệu nền tảng công nghệ thông tin Intel VPro dành cho các doanh nghiệp dệt may. Đây là gói giải pháp bao gồm phần cứng và phần mềm với những khả năng vượt trội về khả năng điện toán và quản lý bảo mật linh hoạt hơn, cũng như những lợi thế về chi phí cho doanh nghiệp. Thiết nghĩ nếu các doanh nghiệp dệt may đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin mạnh hơn nữa sẽ là một trong những giải pháp cơ bản để ngành dệt may Việt Nam tăng được sức cạnh tranh so với các đối thủ trong khu vực trong thời gian tới. 3.3, Mô hình doanh nghiệp dệt may thành công: Hiện nay, có rất nhiều doanh nghiệp may rất thành công trong lĩnh vực đầu tư và phát triển hoạt động rất mạnh mẽ và đem lại hiệu quả rất đáng khâm phục. Qua nghiên cứu người viết nhận thấy Công ty Dệt may Thắng Lợi và Tổng công ty May Việt Tiến là những công ty đang trên đà phát triển và là công ty chiếm được cảm tình sâu sắc của người tiêu dùng trong nước về sản phẩm áo sơmi cả về chất lượng và giá cả; là công ty tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trực tiếp gần 50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng may của công ty . 63 3.3.1, Công ty Dệt May Thắng Lợi (Thang Loi Textile-Garment Joint Stock Venture Company – VIGATEXCO): Công ty cổ phần Dệt May Thắng lợi được cổ phần hoá từ DNNN Công ty Dệt May Thắng lợi năm 2006. Tiền thân của Công ty là Vinatexco và Vinatefinco đựơc thành lập từ năm 1959. Trải qua gần nửa thế kỷ tồn tại và phát triển công ty đã nhiều lần được nâng cấp, đầu tư bổ sung và thay thế thiết bị , mở rộng sản xuất. Cho đến nay, quy mô sản xuất của Công ty bao gồm: Ngành sợi: Với tổng công suất 90.000 cọc sợi trong đó 20.000 cọc mới được đầu tư năm 2001, năng lực sản xuất sợi của Công ty là 8.000 tấn/năm với nhiều chủng loại : Chi số từ 10’s đến 50’s; chất liệu Cotton chải thô và chải kỹ, Polyester, Viscose và sợi pha các loại, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của thị trường . Ngành vải: Vải mộc: Công ty có 243 máy dệt kiếm và khí trong đó có 64 máy khổ từ 280 đến 330cm, là một trong số rất ít doanh nghiệp Việt nam sản xuất được vải khổ rộng trên dưới 3m. Năng lực sản xuất đạt 10 triệu m/năm. Vải thành phẩm: Với 2 máy in lưới phẳng, 1 máy in lưới trục quay, 1 dây chuyền nhuộm liên tục, 16 máy nhuộm gián đoạn cùng các thiết bị phụ trợ trong dây chuyền Công ty có khả năng sản xuất 15 triệu m/năm các loại vải in bông, nhuộm màu khổ từ 160 đến trên 300cm . Ngành may: Năng lực 30 chuyền may xuất khẩu và nội địa cho phép thực hiện các đơn hàng lớn với chủng loại sản phẩm đa dạng : Sơ mi, Quần, Jacket, Chăn-drap-gối… với sản lượng trên 4 triệu sản phẩm /năm. Công ty Dệt May Thắng Lợi là một trong những nhà cung cấp hàng đầu về các mặt hàng sợi, vải, sản phẩm may và vật tư phụ tùng cho những đơn vị sản xuất và người tiêu dùng tại T.P Hồ Chí Minh và trên thị trường toàn quốc thông qua các hình thức : Mua bán trực tiếp; Hệ thống các Chi nhánh, Đại lý & Cửa hàng giới thiệu sản phẩm của Công ty. Ngoài ra, công ty xuất nhập khẩu trực tiếp các sản phẩm, vật tư phụ tùng thuộc ngành dệt và may mặc. Qua nhiều năm sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, Công ty đã có mối quan hệ kinh doanh tốt đối với nhiều công ty thương mại trên thế giới như: Itochu, Toray, Otto, Melchers, Melcosa, Quelle,Tomtailor, Puma, Dickies , Target, Cosco, sears, Great Ivan, Jung Ang, 64 Fecsa , v.v. Các sản phẩm sợi, vải và hàng may mặc của Công ty đã xuất khẩu đến các nước trong khối: EU, ASIA, USA, JAPAN, AUSTRALIA ) chiếm 40% doanh số bán ra của công ty. Công ty xuất khẩu phần lớn hàng dệt may chiếm hơn 50% kim ngạch xuất khẩu của công ty là thị trường Mỹ, chiếm 17% kim ngạch xuất khẩu là Đức (xem biểu đồ 2.2) Biểu đồ 3.1 THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY VIGATEXCO năm 2005 Nguồn : công ty Dệt May Thắng Lợi Hàng dệt may hàng năm mang về cho công ty doanh số 600 tỷ đồng trong đó 240 tỷ từ xuất khẩu, với lực lượng lao động ổn định là 3200 người. Với việc đầu tư thiết bị công nghệ mới về sợi, dệt, nhuộm, công ty dệt may Thắng Lợi cung cấp cho thị trường nhiều chủng loại vải đa dạng về màu sắc, mẫu mã, phục vụ theo yêu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, thỏa mãn nhu cầu khách hàng trong và ngoài nước, là nguồn cung cấp ổn định nguyên vật liệu cho ngành may của công ty. Nhờ chất lựợng tốt với giá cả hợp lý, thực hiện đơn hàng nhanh và giao hàng đúng hẹn, công ty dệt may Thắng Lợi đã gầy dựng và duy trì được sự tin cậy của khách hàng khắp thế giới. Trước đây, sản phẩm của công ty chủ yếu phục vụ xuất khẩu - chiếm đến 95% doanh số sản phẩm may hàng năm - qua các nước như Đức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Hà Lan, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ, Mêhicô, Canada, Nhật, Đài Loan và các nước khối ASEAN. Vài năm gần đây Công ty dệt may Thắng Lợi đã mở rộng phục vụ thị trường trong nước. Với lợi thế dây chuyền sản xuất khép kín từ Sợi-Dệt-In nhuộm hoàn tất-May, Công ty Thắng lợi là một trong những công ty có lợi thế hơn các công ty khác trog việc chủ động các nguồn nguyên vật 65 liệu cho ngành dệt may, tạo ra sản phẩm dệt maycó tính cạnh tranh cao về giá và chất lượng. 3.3.2, Tổng Công Ty May Việt Tiến (VTEC): Công ty May Việt Tiến với tên giao dịch VIET TIEN GARMENT IMPORT-EXPORT COMPANY viết tắt là VTEC. Tiền thân công ty là một xí nghiệp may tư nhân “Thái Bình Dương kỹ nghệ công ty”, xí nghiệp hoạt động trên 1.513m2 với 65 máy may gia công và khoảng 100 công nhân. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng nhà nước tiếp quản và giao cho Bộ Công nghiệp nhẹ quản l y, đổi tên thành Xí Nghiệp May Việt Tiến vào tháng 5.1977. Sau gần 30 năm hoạt động và phát triển không ngừng, để xứng tầm với hoạt động hiện nay của công ty, tổ chức lại Công ty May Việt Tiến thành Tổng công ty May Việt Tiến, hoạt động với mô hình công ty mẹ - con nằm trong cơ cấu của tập đoàn dệt may Việt Nam. Tổng công ty May Việt Tiến đã đầu tư và phát triển không ngừng, nay với vốn kinh doanh là 200 tỷ đồng, 55.709m2 nhà xưởng, 5.668 bộ thiết bị máy móc, doanh số của công ty tăng dần qua các năm, doanh số năm 2005 tăng 16% so với năm 2004, lợi nhuận năm 2005 cũng tăng 10% so với năm 2004, tạo việc làm cho đông đảo người lao động là 20.000 người. Hiện nay công ty có 21 đơn vị sản xuất trực thuộc và 12 nhà máy liên doanh rải rác trong thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền tây lân cận và với thế mạnh là nhà sản xuất hàng đầu về mặt hàng áo sơmi và quần tây, Công ty đã chiếm một thị phần đáng kể tại Mỹ, Tây Âu, Châu Á và các nước ASEAN. Biểu đồ 3.2: THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA TỔNG CÔNG TY MAY VIỆT TIẾN Nguồn : 10/2006 Công ty May Việt Tiến 66 Để giữ vững thị trường hiện có hiện nay và chinh phục thêm các thị trường mới, công ty May Việt Tiến áp dụng chính sách linh hoạt giá cả, đảm bảo chất lượng và tiến độ giao hàng; phân tích lựa chọn khách hàng và ưu đãi với từng loại khách hàng; tăng cường công tác tiếp thị, tham gia các cuộc triển lãm,hội chợ qốc tế; nâng tỷ trọng sản xuất hàng mua nguyên liệu bán thành phẩm, thay dần phương thức gia công, đến năm 2005, sản xuất theo phương thức tự doanh (FOB) chiếm tỷ trọng 70% trong tổng doanh thu sản xuất của công ty. Trong những năm qua, ngoài việc kinh doanh, Việt Tiến luôn coi trọng 3 yếu tố là nguồn vốn, con người và trang thiết bị, trong đó, con người là yếu tố quan trọng nhất. Việc xây dựng nguồn nhân lực năng động trong các lĩnh vực quản lý điều hành, quản lý kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn và đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề luôn được công ty quan tâm hàng đầu. Trong 10 năm qua, Việt Tiến đã tuyển dụng hàng trăm sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành ngoại thương, quản trị kinh doanh, kỹ thuật may… về phòng ban và các đơn vị trực tiếp sản xuất, tạo ra một môi trường làm việc bài bản, mang tính chuyên nghiệp. Đối với công nhân, công ty có chiến lược đào tạo tập trung ngay tại xưởng sản xuất hoặc tại các tổ dự phòng của xí nghiệp. Không đào tạo đại trà trên sản phẩm mà đào tạo trên từng cụm công việc, nhằm chuyên môn hóa và tiếp thu được dây chuyền công nghệ mới. Ngoài việc tập trung cho nguồn nhân lực, May Việt Tiến luôn đầu tư đổi mới thiết bị và cải tiến công nghệ. Từ năm 2001 đến 2006, công ty đã đầu tư khoảng 10 triệu USD để tái đầu tư trang thiết bị, nhất là các loại thiết bị chuyên dùng như hệ thống thiết kế mẫu rập, nhảy size, hệ thống giác sơ đồ, trải, cắt tự động…, mua hoặc nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore…. Nhờ đó, công ty quản lý được số liệu trên từng công đoạn, xây dựng hệ thống thời gian cho từng bước công việc, phân công lao động, ghép bước công việc một cách hợp lý, giảm thiểu được thời gian sản xuất, tiết kiệm được chi phí, góp phần giảm giá thành sản phẩm và nâng cao được sức cạnh tranh trên thị trường. 67 Việt Nam gia nhập WTO, với Việt Tiến, xây dựng và bảo vệ thương hiệu là chuyện sống còn. Các thương hiệu như: Việt Tiến, Vee Sendy, T-up, Vie Laross đã được công ty tiến hành đăng ký bảo vệ thương hiệu của mình tại các thị trường tiềm năng như Hoa Kỳ, Canada thông qua một công ty xúc tiến thương mại phát triển của Nhật Bản. Công ty cũng tiến hành xây dựng thương hiệu của mình tại 6 nước trong khối ASEAN là Singapore, Thái Lan, Philippines, Indonesia, Malaysia, Brunei, đồng thời, tiếp tục đăng ký thương hiệu của mình tại các nước châu Âu và sẽ kết hợp với Hội Luật gia Hà Nội để đẩy mạnh hoạt động chống hàng gian, hàng giả, làm mất uy tín thương hiệu của mình. Công ty May Việt Tiến được người tiêu dùng bình chọn là Hàng Việt Nam chất lượng cao 10 năm liền từ 1997-2006 qua báo Sài Gòn Tiếp Thị. Ngòai ra công ty Việt Tiến cũng đã thực hiện và được cấp chứng nhận SA 8000; chứng nhận ISO 9001-2000; chứng nhận WRAP; 5S quality standard ( Japan ). 3.4, Kiến nghị: 3.4.1, Kiến nghị đối với Nhà nước: 3.4.1.1, Thực hiện các biện pháp ưu đãi cho các doanh nghiệp dệt may Chính sách ưu đãi về thuế: miễn thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với nguyên liệu sợi bán cho các doanh nghiệp dệt, nguyên liệu vải cho các doanh nghiệp may để sản xuất hàng xuất khẩu; giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp may xuất khẩu. Chính sách về vốn: cho phép các doanh nghiệp dệt may phát hành cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn; hỗ trợ 20% nguồn vốn ODA hằng năm để xây dựng Quỹ đầu tư, đầu tư vào các ngành sản xuất phục vụ ngành dệt may; cho vay với lãi suất ưu đãi bằng 50% lãi suất cho vay hiện hành của ngân hàng đối với các dự án cải tiến đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất của doanh nghiệp dệt may Chính sách hỗ trợ khác: đơn giản hóa thủ tục xuất khẩu đối với hàng dệt may; tạm thời không xét duyệt các dựa án đầu tư nước ngoài vào ngành dệt may xuất khẩu;có chính sách đãi ngộ kiều bào hải ngoại. 3.4.1.2, Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin liên lạc và dịch vụ phục vụ cho ngành dệt may xuất khẩu: 68 Mở rộng và nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống cảng, chú trọng nâng cao khả năng tiếp nhận an toàn cho tàu có trọng tải lớn (20-30ngàn tấn), cũng như hện đại phương tiện bốc dỡ, mở rộng nâng cấp đường giao thông ra vào cảng Thường xuyên cập nhật thông tin về thị trường, giá cả, chính sách của Việt Nam và của Mỹ trên các phương tiện thông tin đại chúng phổ biến. Cứ 3 tháng một lần, cơ quan nhà nước nên có số liệu cập nhật với mức chi tiết cụ thể để làm cơ sở cho các doanh nghiệp đề ra định hướng sản xuất của mình, đồng thời có những dự báo về cơ cấu thị trường để doanh nghiệp có thể chủ động đối phó với các diễn biến. Thành lập các trung tâm tư vấn thuộc Chính phụ về công nghệ, tổ chức quản l y ngành dệt may 3.4.1.3, Cải tiến môi trường kinh doanh: Hoàn thiện hệ thống pháp luật: ban hành các văn bản dưới luật kèm thao các bộ luật để hướng dẫn thực hiện các điều khoản thống nhất trong cả nước; chuêyn môn hóa các lực lượng nghiên cứu, soan thảo các văn bản pháp luật; ban hành luật sở hữu trí tuệ tránh sự vi phạm nhãn hàng. Củng cố quan hệ ngoại giao với Mỹ. Thực hiện các lộ trình cam kết với Mỹ khi Việt Nam đã là thanh viên của WTO. Bộ thương mại giữ vai trò kiểm tra các họat động liên quan đến chức năng quản ly của nhà nước về kinh tế ngành dệt may, cung cấp thông tin thương mại về ngành dệt may cũng như hoạt động xuất nhập khẩu hàng dệt may cập nhật và nhanh chóng, hỗ trợ ngành dệt may thông qua việc đề xuất các chinh sách liên quan đến ngành dệt may. 3.4.2, Khuyến nghị đối với doanh nghiệp: Các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu lớn của Việt Nam phần lớn là các doanh nghiệp nhà nước có bộ máy quản ly cồng kềnh, cần tinh giảm bớt bộ máy quản ly gọn nhẹ để có thể linh hoạt trước những biến động thị trường Gấp rút thực hiện chương trình quản ly toàn bộ để nâng cao uy tín trên thị trường quốc tế. 69 Chủ động tìm kiếm khách hàng, thông tin về khách hàng và thị trường để có thể đáp ứng nhu cầu của thị trường Kết hợp với Nhà nước trong khâu đào tạo và nâng cao trình độ nguồn nhân lực. Có sự liên kết chặt chẽ và hỗ trợ cho nhau giữa các doanh nghiệp dệt và doanh nghiệp may. Cần chú trọng xây dựng phòng Marketing mạnh hơn để hỗ trợ đầu ra cho sản phẩm. Tóm lại ngành dệt may Việt Nam có thể phát triển và doanh nghiệp dệt may Việt Nam có thể đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm sang thị trường Mỹ, tăng hiệu quả họat động xuất khẩu hàng dệt may hơn nữa cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp và Nhà nước, các doanh nghiệp dệt may cần được sự hỗ trợ rất nhiều từ Nhà nước và các cơ quan quản ly hữu quan. Mặc dù Nhà nước đã có những chính sách hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp dệt may, song trên thực tế có những quy định rất ngặt nghèo từ phía các cơ quan quản ly Nhà nước như Bộ Thương Mại, hải quan,bộ Tài chính, Ngân hàng…cũng như những thông tin về thị trường và sản phẩm nghèo nàn không cập nhật, đã làm cho doanh nghiệp dệt may gặp không ít khó khăn khi xâm nhập thị trường Mỹ.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfChiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ đến năm 2010.pdf
Luận văn liên quan