Luận văn Cơ sở lý luận và thực tiễn về kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay

Song song với những quy định về quyền công tố, ngay từ những Sắc lệnh đầu tiên khi công tố còn là một bộ phận của Toà án thì quyền kháng nghị đã được quy định. Đầu tiên, tại Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng 1 năm 1946, quyền chống án của ông Biện lý đã được ghi nhận. Đây có thể được coi là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về quyền kháng nghị của công tố trong nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Tiếp theo sau đó trong những Sắc lệnh, Thông tư, Luật, Bộ luật tố tụng sau này quyền năng pháp lý này được điều chỉnh, bổ sung và ghi nhận ngày càng chi tiết chặt chẽ hơn. Mỗi một thời kỳ cách mạng thì lại có những nhiệm vụ chính trị được đặt ra. Để đáp ứng yêu cầu phục vụ tốt những nhiệm vụ chính trị đó thì không phải mỗi cá nhân hay mỗi đơn vị riêng biệt có thể làm tốt, đó là sự phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả mọi người, mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề. Đặc biệt hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung, của Viện kiểm sát nói riêng đã góp phần không nhỏ vào việc hoàn thành tốt những nhiệm vụ cách mạng mà Đảng và Nhà nước đặt ra trong mỗi thời kỳ.

pdf93 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 07/01/2014 | Lượt xem: 3272 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Cơ sở lý luận và thực tiễn về kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ụng hình sự liên quan đến VKS như: nguyên tắc về thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, nguyên tắc quyền quyết định truy tố của VKS cho phù hợp với Hiến pháp sau khi sửa đổi, bổ sung. Sửa đổi, bổ sung một số điều trong Chương XXIII về tính chất của xét xử phúc thẩm và quyền kháng cáo, kháng nghị. Tuy chương này đã được sửa đổi, bổ sung nhưng trên thực tế khi áp dụng còn một số vướng mắc vì vậy cần phải sửa đổi, bổ sung để bảo đảm nâng cao chất lượng kiểm sát xét xử nói chung và công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự nói riêng trong thời gian tới. 3.2.2. Tăng cường công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật Công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật trong thời gian qua chưa được thực hiện đầy đủ và còn nhiều bất cập là một trong những nguyên nhân làm cho hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKS chưa cao. Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải chủ động phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương và các Bộ, ngành có liên quan ban hành những văn bản hướng dẫn các vấn đề liên quan đến pháp luật và giải quyết những vấn đề của pháp luật. Để làm được điều đso phải thường xuyên có công tác tập hợp những vướng mắc, khó khăn của các địa phương trong ngành về việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời nghiên cứu những quy phạm pháp luật mới được ban hành xem có vướng mắc gì không để đề xuất lãnh đạo liên ngành có văn bản hướng dẫn. 3.2.3. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành kiểm sát - Đảng lãnh đạo ngành kiểm sát và các cơ quan tư pháp chặt chẽ về chính trị, tổ chức và cán bộ, bảo đảm mọi hoạt động của các cơ quan tư pháp được thực hiện đúng quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước; khắc phục tình trạng cấp uỷ buông lỏng lãnh đạo hoặc cấp uỷ làm thay hoạt động tư pháp, cán bộ tư pháp và cơ quan tư pháp thoát ly khỏi sự lãnh đạo của tổ chức đảng hoặc thiếu tính chủ động, ỷ lại. - Tăng cường công tác xây dựng Đảng, giáo dục, quản lý, kiểm tra hoạt động của các tổ chức Đảng, đảng viên và chăm lo quy hoạch, đào tạo, tuyển chọn, bố trí , sử dụng đúng cán bộ trong các cơ quan tư pháp. - Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp làm việc giữa tổ chức Đảng với các cơ quan tư pháp và các ban, ngành có liên quan theo hướng cấp uỷ định kỳ nghe báo cáo và cho ý kiến định hướng về công tác tư pháp. Xác định rõ trách nhiệm các nhân cấp uỷ trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư pháp. Sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành phải được thực hiện toàn diện, chặt chẽ cả về chính trị, tư tưởng, đường lối, quan điểm…đến việc chỉ đạo thực hiện đường lối, quan điểm đó. 3.2.4. Hoàn thiện cơ chế giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các tổ chức xã hội của nhân dân đối với hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử của Viện kiểm sát nhân dân Giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan Nhà nước, trong đó có VKS là một trong những chức năng quan trọng của các cơ quan dân cử. Hoạt động giám sát được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như: nghe báo cáo, thẩm tra cho ý kiến về báo cáo công tác tại các kỳ họp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; chất vấn và trả lời chất vấn…Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn mang lại hiệu quả cao, đặc biệt trong thời đại thông tin hiện nay. Thông qua chất vấn, những hạn chế trong công tác của ngành sẽ công khai đến với mọi tầng lớp nhân dân, sức ép từ dư luận đòi hỏi các cơ quan phải đổi mới cơ chế hoạt động, chính sách và phương thức hoạt động nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc. Do vậy tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng chất vấn của đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân là một việc làm hết sức quan trọng. Bên cạnh đó phải đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo hướng tăng cường đại biểu chuyên trách; nâng cao chất lượng đại biểu. Ngoài ra xây dựng cơ chế chính sách hợp lý để phát huy vai trò giám sát của các nhân đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đối với hoạt động của ngành kiểm sát và các cơ quan tư pháp. Gắn trách nhiệm của những đại biểu này với kết quả công tác của các cơ quan tư pháp theo hướng đại biểu cũng phải chịu một phần trách nhiệm về những sai phạm, tồn tại trong hoạt động của các cơ quan tư pháp. 3.2.5. Tăng cường và đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành và kiểm tra của Viện kiểm sát cấp trên đối với Viện kiểm sát cấp dưới VKSND được xác định là hệ thống cơ quan được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất, nên công tác quản lý, chỉ đạo điều hành có vai trò và ý nghĩa quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định đến việc hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của ngành. Do để tăng cường hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo điều hành, trong thời gian tới ngành KSND cần quán triệt và triển khai thực hiện tốt một số nội dung sau: - Mỗi cán bộ, KSV phải nhận thức hoạt động quản lý, chỉ đạo điều hành đều do Viện trưởng thống nhất chỉ đạo thực hiện; cán bộ, KSV trong đơn vị phải tuyệt đối tuân thủ sự chỉ đạo điều hành của Viện trưởng; Viện trưởng VKS cấp dưới chịu sự quản lý, chỉ đạo điều hành của Viện trưởng VKS cấp trên trực tiếp; Viện trưởng VKS địa phương chịu sự quản lý, chỉ đạo điều hành tập trung thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao; - Để bảo đảm hiệu quả hoạt động, tránh hiện tượng chuyên quyền, độc đoán của Viện trưởng, Luật tổ chức VKSND quy định VKSND tối cao và VKSND cấp tỉnh thành lập Uỷ ban kiểm sát. Nguyên tắc hoạt động của uỷ ban kiểm sát là thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng liên quan đến tổ chức và hoạt động của ngành. Thành phần của Uỷ ban Kiểm sát bao gồm: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và một số Kiểm sát viên do Viện trưởng lựa chọn. - Để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo điều hành của Viện trưởng, đòi hỏi Viện trưởng phải có sự phân công, phân nhiệm một cách hợp lý, khoa học; đồng thời, phải nắm được đầy đủ, sâu sát và toàn diện từng vấn đề, từng nội dung công việc, nhất là những vấn đề quan trọng, phức tạp để chỉ đạo kịp thời. - Hoạt động quản lý, chỉ đạo điều hành của Viện trưởng VKSND cấp trên đối với VKSND cấp dưới được thể hiện thông qua việc xây dựng, triển khai và kiểm tra việc thực hiện các Chỉ thị, Kế hoạch, Chương trình công tác, thông qua việc thực hiện chế độ thông tin báo cáo và quản lý công tác trong ngành... Để thực hiện có hiệu quả hoạt động này, đòi hỏi các VKS địa phương trong toàn quốc và các đơn vị trực thuộc VKSND tối cao phải nghiêm chỉnh chấp hành Quy chế về chế độ thông tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành Kiểm sát. Đồng thời, VKS cấp trên phải thường xuyên tiến hành kiểm tra việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của VKS cấp dưới để kịp thời uốn nắn những sai phạm, thiếu sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Thông qua công tác kiểm tra nghiệp vụ và theo dõi tình hình qua chế độ thông tin báo cáo, nếu phát hiện vi phạm, VKSND tối cao phải kịp thời có thông báo rút kinh nghiệm để VKS cấp dưới sửa chữa, khắc phục kịp thời. Bên cạnh đó, ở mỗi cấp kiểm sát cần phải tổ chức giao ban định kỳ giữa Viện trưởng với lãnh đạo các đơn vị cấp dưới trực thuộc để kiểm điểm, đánh giá kết quả và những việc đã làm được, những việc chưa làm được, bàn biện pháp tháo gỡ những khó khăn vướng mắc đồng thời triển khai kế hoạch công tác trong thời gian tới. 3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 3.3.1. Hoàn thiện pháp luật - Có hướng dẫn cụ thể đối với các quy định của Bộ luật hình sự Để có sự nhận thức và áp dụng thống nhất pháp luật, đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo các đơn vị tiến hành nghiên cứu, đề xuất, hướng dẫn vướng mắc hiện nay trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật hình sự. Cần có quy định hướng dẫn kịp thời một số vướng mắc trong Bộ luật hình sự như việc nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự thống nhất giữa các cơ quan tố tụng trong việc áp dụng mức khởi điểm và mức cao nhất của khung hình phạt. Chế định về đồng phạm, xử lý đồng phạm cần quy định thật cụ thể hơn nữa. Chế định án treo và việc áp dụng chế định này cũng cần phải quy định thống nhất, rõ ràng. Một loạt các khái niệm như “phạm tội gây hậu quả nghiêm trong, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng”, “lớn, rất lớn, đặc biệt lớn”, “Phạm tội do lạc hậu”…cần có những hướng dẫn thống nhất để bảo đảm việc hiểu, vận dụng giữa những vùng, miền, giữa Viện kiểm sát và Toà án được đồng nhất. - Quy định cụ thể các căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự trong luật Tố tụng hình sự Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, chưa có quy định về căn cứ kháng nghị phúc thẩm, có nghĩa là chưa có quy định rõ về một bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật có vi phạm như thế nào, mức độ vi phạm đến đâu thì sẽ bị kháng nghị. Theo Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 960/QĐ-VKSTC ngày 17/9/ 2007 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) tại Điều 33 xác định 4 căn cứ để kháng nghị phúc thẩm. Tuy nhiên đó chỉ là hướng dẫn mang tính nội bộ trong ngành Kiểm sát, không có hiệu lực đối với ngành Toà án. Vì vậy, thiết nghĩ phải quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự thật rõ những căn cứ để kháng nghị phúc thẩm, theo hướng xác định rõ bản án, quyết định sơ thẩm vi phạm như thế nào, mức độ vi phạm đến đâu thì bị Viện kiểm sát kháng nghị, có như thế mới có tiêu chí để xác định kháng nghị phúc thẩm đúng hay sai. - Quy định cụ thể việc gửi bản sao bản án sơ thẩm của Toà án cấp sơ thẩm cho Viện kiểm sát cấp trên trong Bộ luật Tố tụng hình sự Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thời hạn kháng nghị đối với bản án sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày Toà án cấp sơ thẩm tuyên án và thời hạn kháng nghị đối với các quyết định của toà án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 7 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày, kể từ ngày toà án cấp sơ thẩm ra quyết định. Nhưng trên thực tế, nhiều khi Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp nhận được bản án, quyết định sơ thẩm thì thời hạn kháng nghị đã hết. Do vậy, Viện kiểm sát cấp trên không thể thực hiện được quyền kháng nghị phúc thẩm. Do vậy, phải có sửa đổi, bổ sung một số điều quy định của Bộ luật tố tụng hình sự như quy định việc Toà án cấp sơ thẩm cũng phải gửi bản án, quyết định cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp của Viện kiểm sát cùng cấp với mình, và thời hạn kháng nghị phải tính từ ngày Toà sơ thẩm gửi bản án, quyết định. Đồng thời, cũng phải sửa đổi quy định về thời hạn để xác định bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật trong trường hợp bản án, quyết định đó không bị kháng cáo, kháng nghị. - Quy định cụ thể về việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị trong Bộ luật Tố tụng hình sự Điều 238 Bộ luật tố tụng hình sự quy định thì trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm, Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị. Bộ luật Tố tụng hình sự nên quy định rõ: Nếu việc bổ sung, thay đổi kháng nghị đối với một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm trong thời hạn kháng nghị thì Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi theo bất kỳ hướng nào. Trong trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị thì trước khi bắt đầu phiên toà hoặc tại phiên toà Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị nhưng không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo. Quy định như vậy nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của bị cáo. Bên cạnh đó cũng cần phải có quy định cụ thể cho việc ra quyết định đình chỉ xét xử của thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà trong trường hợp rút kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên toà. Ở đây có vấn đề cần phải lưu ý là, nếu việc rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên toà phúc thẩm thì thẩm phán chủ toạ phiên toà ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm khi nào cho phù hợp. Điều này liên quan đến việc xác định hiệu lực pháp luật của bản án. - Quy định thêm về thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự trong luật Tố tụng hình sự Theo Điều 36 Bộ luật tố tụng hình sự thì người có thẩm quyền quyết định việc kháng nghị phúc thẩm là Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát các cấp. Điều 32 Quy chế số 960/2007/VKSTC-V3 về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự nêu cụ thể là: Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có quyền kháng nghị đối với những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao uỷ quyền cho Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện thực hành quyền công tố và xét xử phúc thẩm kháng nghị những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp tỉnh. Đối với các Viện kiểm sát phúc thẩm thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì theo Điều 32 Quy chế số 960/2007/VKSTC-V3 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã uỷ quyền cho các Viện trưởng Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW nêu rõ, phải phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình. Nên chăng, quy định quy định thêm về thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm cho cả Kiểm sát viên để họ chủ động, tích cực hơn nữa trong công tác của mình đồng thời cũng gắn với trách nhiệm khi họ đưa ra những quyết định tố tụng. Vì trên thực tế các chức danh như Viện trưởng, Phó viện trưởng các cấp không phải là chức danh pháp lý mà chỉ là chức danh quản lý nhà nước, Kiểm sát viên mới là chức danh pháp lý nên việc quy định về thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm cho Kiểm sát viên cần được tính tới. 3.3.2. Công tác cán bộ - Trong quá trình đổi mới tổ chức hoạt động của ngành theo tiến trình cải cách tư pháp với việc lấy toà án làm trung tâm hơn lúc nào hết công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự cần được quan tâm và đặt đúng vị trí vai trò của nó. Yếu tố con người có vai trò rất to lớn Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian” tới nêu rõ phải “Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác…” [22, tr.4]. Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” nhấn mạnh việc “nâng cao chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp” [23, tr.5]. Chính vì vậy, cần nhanh chóng sắp xếp lại tổ chức, cán bộ, bố trí những Kiểm sát viên có năng lực thực sự vào khâu công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử nói chung, cần phải tăng cường nguồn lực đầu tư cho công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự nói riêng. Thực tế cho thấy không phải tất cả Kiểm sát viên đều có thể làm tốt nhiệm vụ thực hành quyền công tố tại phiên toà. Công tác này đòi hỏi Kiểm sát viên phải có năng lực thực sự, không chỉ giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ mà cả về kiến thức xã hội lẫn khả năng hùng biện mới có thể tham gia phiên toà một cách hiệu quả. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng viết, nói là những yếu tố hội tụ bắt buộc phải có của một kiểm sát viên tham gia phiên toà. Chất lượng công tố tại phiên toà có ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của ngành nên cần lựa chọn cán bộ có trình độ và khả năng để bố trí vào công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử. Để có đội ngũ kiểm sát viên hội tụ đủ các yếu tố cần thiết nêu trên phải có sự điều chỉnh mạnh mẽ, khẩn trương, tích cực trong công tác tổ chức cán bộ. Phải mạnh dạn và kiên quyết điều chuyển những cán bộ có năng lực thực sự để bổ sung cho khâu công tác này, đây phải được xác định là hướng ưu tiên trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành kiểm sát. Cần có biện pháp đào tạo và đào tạo lại cán bộ, đảm bảo cập nhật kịp thời những kiến thức về pháp luật cũng như kiến thức trên các lĩnh vực khác của đời sống xã hội cho phù hợp với xu thế hội nhập, mở cửa và toàn cầu hóa hiện nay. Bên cạnh đó cũng cần tăng cường hội ồn lực về cơ sở vật chất, chế độ thoả đáng cho công tác này. - Nâng cao năng lực trình độ của cán bộ Hồ Chủ tịch đã từng nói cán bộ là cái gốc của công việc, việc thành bại cũng đều do cán bộ mà ra. Trong những năm qua với thành quả của công cuộc đổi mới và cải cách tư pháp chúng ta đã có những bước tiến rõ rệt, tuy nhiên sự thay đổi còn chậm và còn nhiều hạn chế. Năng lực trình độ cán bộ còn nhiều bất cập. Việc nắm bắt thông tin, cập nhật kiến thức về pháp luật cũng như những kiến thức về kinh tế xã hội của cán bộ tư pháp nói chung và cán bộ kiểm sát nói riêng còn hạn chế. Có không ít cán bộ, kiểm sát viên tư duy còn theo lối mòn, chủ nghĩa kinh nghiệm. Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định việc nâng cao chất lượng tại các phiên toà xét xử là khâu đột phá của hoạt động tư pháp. Do đó, đổi mới công tác tổ chức ,cán bộ theo hướng tăng cường cho các khâu công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phải được xác định là hướng ưu tiên trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Trong đó nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà là một trong những khâu đột phá. Do vậy, việc nâng cao trình độ của các Kiểm sát viên làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử là yếu tố hết sức quan trọng cho việc bảo đảm phát hiện nhanh chóng và kịp thời vi phạm của tòa án ngay tại phiên toà sơ thẩm và sau khi tuyên án làm căn cứ cho việc kháng nghị. Để nâng cao năng lực trình độ, năng lực nhận thức và áp dụng pháp luật cùng với những kiến thức kinh tế xã hội khác mỗi cán bộ, Kiểm sát viên phải tự mình học hỏi, đúc rút kinh nghiệm. Bên cạnh đó trong ngành cần phải có chiến lược đào tạo theo hướng chuyển đổi sang đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu về thực hành quyền công tố; đào tạo phải đi đôi với tái đào tạo; đào tạo theo từng lĩnh vực cụ thể, từng hướng chuyên sâu, từng khoảng thời gian …Ngoài ra, cần phải quan tâm đặc biệt đến việc tổ chức tập huấn, hội thảo, tổ chức rút kinh nghiệm, bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn, chuyên sâu về công tác thực hành quyền công tố nói chung và công tác kháng nghị phúc thẩm nói riêng để cập nhật và nâng cao kiến thức về mọi mặt cho đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên làm công tác này. - Nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm đối với kiểm sát viên Luôn luôn rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ về chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ, thực hiện nhiệm vụ theo quyền hạn, lương tâm và trách nhiệm là đòi hỏi không ngừng đối với mỗi cán bộ, kiểm sát viên. Cùng với việc đánh giá những kết quả đạt được trong quá trình cải cách tư pháp, nhất là trong việc thực hiện Nghị quyết 08- NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nêu rõ: Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu, trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một số bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp [23]. Để nâng cao chất lượng cán bộ đòi hỏi mỗi cán bộ, kiểm sát viên phải tự rèn luyện ý thức chính trị, phải nắm vững các chủ trương đường lối, Nghị quyết của Đảng trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như những chủ trương, đường lối liên quan đến công tác của Viện kiểm sát. Rèn luyện nâng cao ý thức chính trị sẽ giúp cán bộ, Kiểm sát viên thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành một cách hiệu quả, có tình, có lý. Mỗi một cán bộ, Kiểm sát viên phải có “cái tâm”, phải biết trăn trở suy nghĩ, đắn đo, phải công tâm, có trách nhiệm khi làm hoặc quyết định bất cứ một việc gì trong công việc của mình. Thực tế cho thấy khi cán bộ, Kiểm sát viên có ý thức trách nhiệm với nghề nghiệp thì hiệu quả công việc đạt được rất cao. 3.3.3. Công tác quản lý Tăng cường sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp về công tác kháng nghị phúc thẩm Tăng cường vai trò của lãnh đạo đơn vị trong công tác kháng nghị phúc thẩm. Tăng cường hơn nữa công tác báo cáo án với lãnh đạo đơn vị trước, trong và sau mỗi phiên toà, quan đó lãnh đạo đơn vị cần rút kinh nghiệm, kiến nghị đối với những vi phạm cụ thể hoặc những vi phạm mang tính điển hình. Lãnh đạo đơn vị phải nghe báo cáo và duyệt nội dung kháng nghị, lãnh đạo đơn vị không thể phó mặc cho kiểm sát viện. Thực tế cho thấy do những bất cập về trình độ, khả năng của từng Kiểm sát viên nên chất lượng dự thảo kháng nghị nhiều khi không đầy đủ, không toàn diện, thậm chí là bỏ sót những vấn đề quan trọng, sau khi nghe báo cáo hoặc duyệt nội dung mới phát hiện và bổ sung kịp thời. Một yếu tố cũng quan trọng không kém khi Kiểm sát viên báo cáo dự thảo kháng nghị cho Lãnh đạo đơn vị, đó là yếu tố trung thực, bởi vì chính Kiểm sát viên là người đọc hồ sơ, tham gia phiên toà, phát hiện sai sót và dự thảo kháng nghị phúc thẩm. Việc trung thực trong báo cáo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng giúp ích không nhỏ cho lãnh đạo đơn vị ra quyết định kháng nghị. Chính vì vậy, ngoài việc lãnh đạo đơn vị quan tâm đến công tác kháng nghị nói riêng và công tác báo cáo án sau mỗi đợt đi phiên toà của các Kiểm sát viên, lãnh đạo đơn vị còn phải quan tâm đến các tính của từng Kiểm sát viên, tâm tư tình cảm, những suy nghĩ, đắn đo, trăn trở của họ nữa. Cần chấm dứt tình trạng không có đầu mối chịu trách nhiệm quản lý về công tác xét xử và công tác kháng nghị như hiện nay Sau khi không thực hiện thông khâu mà chuyển sang chuyên khâu công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử trong toàn ngành có sự phân tán và không có đầu mối thống nhất quản lý. Khi thực hiện thông khâu công tác kiểm sát xét xử hình sự nói chung và công tác kháng nghị phúc thẩm nói riêng do phòng kiểm sát xét xử và Vụ 3 chịu trách nhiệm nên có sự tập trung quản lý, kiểm tra và đúc rút kinh nghiệm. Từ khi chuyển sang chuyên khâu công tác kiểm sát xét xử sơ thẩm của Viện kiểm sát cấp huyện thì do một số phòng kiểm sát điều tra và xét xử sơ thẩm tỉnh theo dõi, hướng dẫn. Tương tự đối với các Viện kiểm sát cấp tỉnh công tác kiểm sát xét xử sơ thẩm cũng do một số vụ kiểm sát điều tra án hình sự của Viện kiểm sát tối cao theo dõi, hướng dẫn về mặt nghiệp vụ. Riêng đối với công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm của Viện kiểm sát cấp tỉnh và kiểm sát xét xử của ba Viện phúc thẩm thì hiện nay không có đầu mối nào quản lý thống nhất. Theo quy chế về chức trách, nhiệm vụ và chế độ làm việc của các Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm (các Viện Phúc thẩm) ban hành kèm theo Quyết định số 17/2005/QĐ/VKSTC ngày 28/1/2005 thì mối quan hệ giữa các Viện phúc thẩm với các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao nói chung, với Vụ 3 nói riêng chỉ là mối quan hệ phối hợp, không phải mối quan hệ chỉ đạo, trong việc giải quyết các vụ án có liên quan, bảo đảm sự thống nhất trong việc chỉ đạo, hướng dẫn với các địa phương và thực hiện sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Phối hợp với Vụ 3 trong việc tổng kết rút kinh nghiệm, chuyên đề nghiệp vụ cho các Viện kiểm sát địa phương. Các Viện Phúc thẩm cung cấp các vi phạm trong việc xét xử của toà án sơ thẩm và phúc thẩm cho Vụ 3 để vụ 3 tổng hợp, báo cáo, làm tham mưu cho lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra các kiến nghị, kháng nghị với Toà án nhân dân tối cao. Do đó có thể nói công tác kiểm sát xét xử án hình sự nói chung và công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm nói riêng và đặc biệt là công tác kháng nghị phúc thẩm hầu như không có đầu mối nào trong ngành chịu trách nhiệm quản lý, chỉ đạo thống nhất về nghiệp vụ. Như vậy sự đánh giá về số lượng cũng như chất lượng của công tác kháng nghị của cấp huyện cũng như của cấp tỉnh hiện nay không có ai chịu trách nhiệm kiểm tra, theo dõi và đánh giá, điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng công tác kiểm sát xét xử nói chung và công tác kháng nghị phúc thẩm nói riêng. Chính vì vậy công tác quản lý chỉ đạo xét xử phúc thẩm của ngành phải có đầu mối thống nhất quản lý hướng dẫn chỉ đạo về mặt nghiệp vụ và chịu trách nhiệm thường xuyên tổng kết đúc rút kinh nghiệm trong toàn ngành. Tổ chức thực hiện tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà và sau phiên toà; nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên và người có thẩm quyền kháng nghị trong việc phát hiện kịp thời vi phạm của bản án sơ thẩm và kháng nghị phúc thẩm Tập trung kháng nghị các bản án có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, các bản án áp dụng điều khoản xử phạt rõ ràng là không chính xác, các bản án có mức chênh lệch đáng kể giữa Viện kiểm sát với Toà án. Đối với trường hợp Toà án nhận định thiếu căn cứ, xét xử khác với quan điểm Viện kiểm sát truy tố và kết luận tại phiên toà, phải kịp thời xem xét rút kinh nghiệm. Nếu thấy việc truy tố là đúng thì phải quyền quyết sử dụng quyền năng kháng nghị phúc thẩm để bảo vệ quan điểm truy tố. Đối với những trường hợp chênh lệch mức án không nhiều, bản án có những vi phạm nhất định nhưng không nghiêm trọng thì không nhất thiết phải thông qua kháng nghị phúc thẩm mà chúng ta có thể tập hợp vi phạm để kiến nghị yêu cầu toà án khắc phục. Khi ban hành kháng nghị phải chú ý bảo đảm chặt chẽ từ hình thức đến nội dung và đúng thủ tục, thời hạn pháp luật quy định. Hình thức kháng nghị phải thực hiện theo đúng mẫu quy định, phải rà soát lỗi chính tả để không xảy ra những sai sót đáng tiếc. Nội dung kháng nghị phải bám sát vào căn cứ để kháng nghị như bản án sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; áp dụng không đúng điều khoản Bộ luật hình sự, áp dụng không đúng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; kết luận của bản án sơ thẩm không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, xử quá nặng hoặc quá nhẹ được dư luận quan tâm không phù hợp với chính sách hình sự nói chung và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương nói riêng. Kháng nghị phải phân tích rõ vi phạm của bản án sơ thẩm, đối chiếu với các quy định cụ thể của điều luật và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Đối với vụ án có nhiều bị cáo bị kháng nghị phải phân tích vài trò tham gia thực hiện tội phạm và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của từng bị cáo, đánh giá một cách toàn diện các căn cứ, cơ sở quyết định hình phạt để đề xuất đường lối xử lý đối với từng trường hợp cụ thể. Đối với vụ án đồng phạm nhưng chỉ kháng nghị đối với một hoặc một số bị cáo cần có sự phân tích vị trí, vai trò cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo bị kháng nghị so với bị cáo không bị kháng nghị để kháng nghị có căn cứ và có sức thuyết phục. Nội dung kháng nghị phải thật cụ thể không nên đề cập một cách chung chung. Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các Viện Phúc thẩm và Viện kiểm sát địa phương về công tác kháng nghị phúc thẩm Phải có mối quan hệ hai chiều giữa các Viện Phúc thẩm và các Viện kiểm sát địa phương về công tác kháng nghị phúc thẩm. Rút kinh nghiệm về những thiếu sót, hạn chế của từng kháng nghị phúc thẩm cụ thể mà cấp phúc thẩm phải rút kháng nghị hoặc kháng nghị bị bác. Đối với những trường hợp kháng nghị bị bác không có căn cứ thì phải báo cáo đề nghị cấp giám đốc thẩm nghiên cứu kháng nghị theo thẩm quyền. Đối với những kháng nghị có nội dung tốt các Viện Phúc thẩm cũng cần thông báo cho các Viện kiểm sát địa phương để cùng tham khảo, học hỏi kinh nghiệm. Hàng năm các Viện Phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố cần có tổng kết rút kinh nghiệm chung với các địa phương về công tác kháng nghị phúc thẩm thông qua hình thức hội thảo, hội nghị, tập huấn, phát hành sách, tài liệu tập hợp những kháng nghị được và chưa được để cùng nhau học hỏi, trao đổi. Tăng cường công tác thông tin báo cáo về trường hợp cần kháng nghị phúc thẩm. Trong báo cáo kết quả xét xử sơ thẩm phải nêu rõ những vụ án mà quan điểm của Viện kiểm sát và Toà án là khác nhau, quan điểm của Viện kiểm sát có kháng nghị hay không kháng nghị kèm theo bản án sơ thẩm kèm theo. Trong trường hợp vụ việc phức tạp còn nhiều ý kiến khác nhau có thể tranh thủ ý kiến của Viện kiểm sát cấp trên. Đối với trường hợp kháng nghị trên một cấp, báo cáo cần nhanh chóng để Viện kiểm sát cấp trên có thời gian nghiên cứu hồ sơ và ra quyết định, trong trường hợp thời hạn kháng nghị còn ít có thể gửi tài liệu báo cáo tạm thời qua FAX để Viện kiểm sát cấp trên nghiên cứu. Viện kiểm sát địa phương cần thực hiện đúng Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, Quy chế về chức trách nhiệm vụ và chế độ làm việc của các Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc gửi bản án sơ thẩm, báo cáo kết quả xét xử sơ thẩm, kháng nghị phúc thẩm cho Viện Phúc thẩm khu vực. Khắc phục việc gửi bản án quá chậm không còn thời hạn kháng nghị phúc thẩm. Các Viện Phúc thẩm cần có bộ phận chuyên trách hoặc bán chuyên trách làm nhiệm vụ quản lý và theo dõi, kiểm tra án văn sơ thẩm cũng như theo dõi, thu thập thông tin về việc xét xử của toà án cấp sơ thẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng như đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí, dư luận…để phát hiện bản án có vi phạm. Bảo đảm có mối quan hệ mật thiết, phối hợp chặt chẽ với các Viện kiểm sát địa phương cùng với những biện pháp hữu hiệu để thu thập bản án sơ thẩm có vi phạm để kháng nghị theo thẩm quyền. Các Viện kiểm sát tỉnh, thành phố cần giao cho phòng kiểm sát xét xử hình sự phúc thẩm – giám đốc thẩm thực hiện theo dõi, kiểm tra các bản án sơ thẩm của toà án cấp huyện để phát hiện vi phạm và kháng nghị. Ban hành quy chế phối hợp hoạt động giữa Viện Phúc thẩm và Toà phúc thẩm trong hoạt động xét xử Viện Phúc thẩm và Toà Phúc thẩm có mối quan hệ công tác từ những thập niên 70 của thế kỷ 20, tuy nhiên giữa hai đơn vị mới chỉ có hai công văn phối hợp công tác những chủ yếu chỉ mang tính sự vụ, hành chính tư pháp còn trong hoạt động xét xử chưa có những phối hợp để hoạt động. Các Nghị quyết của Đảng thời gian vừa qua về chiến lược cải cải tư pháp đều chỉ rõ lấy hoạt động xét xử của Toà án làm trọng tâm. Chính vì vậy hoạt động xét xử nói chung của toà án và hoạt động xét xử phúc thẩm cần được chú trọng và đẩy mạnh hơn nữa để phát huy, vai trò tác dụng của nó. Bên cạnh đó công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử nói chung, công tác kháng nghị của Viện kiểm sát cũng cần được quan tâm. Để bảo đảm làm tốt các công tác này trước hết phải tính đến sự phối hợp của Toà án và Viện kiểm sát nói chung, giữa Viện Phúc thẩm và Tòa Phúc thẩm nói riêng. Phải có một Quy chế hoạt động cụ thể về phối hợp giữa Tòa Phúc thẩm và Viện Phúc thẩm trong hoạt động xét xử để bảo đảm tính đồng bộ, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, trước hết để làm tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành mình sau đó cùng nhau thực hiện những nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao cho mỗi ngành, mỗi đơn vị. 3.3.4. Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho Viện kiểm sát và hoàn thiện chế độ tiền lương đối với cán bộ, kiểm sát viên Trong những năm qua, thực hiện chủ trương cải cách tư pháp nhất là từ khi có Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc và thực hiện nhiều chế độ, chính sách đối với cán bộ các cơ quan tư pháp. Trên thực tế cho đến nay, trụ sở làm việc của Viện kiểm sát các huyện và trụ sở làm việc của Viện kiểm sát tỉnh đã được đầu tư xây dựng cơ bản, phương tiện làm việc đã được trang bị máy photo, máy tính, xe máy và chế độ chính sách đối với cán bộ Viện kiểm sát đã ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên, so với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và trong mối tương quan về mức sống với các ngành khác, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện làm việc của ngành kiểm sát vẫn còn thiếu thốn, nghèo nàn và lạc hậu, đời sống của cán bộ, kiểm sát viên còn gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, yêu cầu của cải cách tư pháp, vai trò và trách nhiệm của VKS rất nặng nề. Để thực hiện tốt hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nói chung đạt kết quả tốt, việc tăng cường trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho công tác là hết sức cần thiết, đề nghị VKSND tối cao trong thời gian tới sớm có kế hoạch: - Đầu tư trang thiết bị và ứng dụng công nghệ thông tin có chất lượng cao phục vụ công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, chuẩn hoá tin học trong cơ quan Viện kiểm sát các cấp - Tăng cường trang bị tài liệu, sách báo pháp luật cho cán bộ, KSV trong ngành nghiên cứu học tập và áp dụng vào giải quyết các vụ việc cụ thể. - Tăng cường hơn nữa việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện làm việc cho các VKS địa phương. - Tăng lương, tăng phụ cấp trách nhiệm và các đãi ngộ khác đối với cán bộ, KSV để họ có điều kiện ổn định cuộc sống, yên tâm công tác. Kết luận chương 3 Trong chương 3, với 3 tiết tác giả đưa ra những dự báo về tình hình chính trị, kinh tế xã hội của Việt Nam cũng như tình hình về tội phạm trong những năm tới. Đồng thời tác giả cũng nêu quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị và yêu cầu của cải cách tư pháp đặt ra đối với công tác tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân. Trên cơ sở những nguyên nhân của tồn tại trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân trong những năm gần đây, tác giả đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế, nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự nói riêng, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử trong thời gian tới theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW và Chỉ thị số 03 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. KẾT LUẬN Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng pháp lý quan trọng nhà nước chỉ trao cho Viện kiểm sát nhằm bảo đảm cho pháp luật nói chung và pháp luật về hình sự nói riêng được tuân thủ nghiêm chỉnh và triệt để. Thông qua công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của mình. Đồng thời qua công tác kháng nghị phúc thẩm, Viện kiểm sát bảo đảm cho mọi hoạt động tư pháp được tiến hành đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, khắc phục tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Song song với những quy định về quyền công tố, ngay từ những Sắc lệnh đầu tiên khi công tố còn là một bộ phận của Toà án thì quyền kháng nghị đã được quy định. Đầu tiên, tại Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng 1 năm 1946, quyền chống án của ông Biện lý đã được ghi nhận. Đây có thể được coi là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về quyền kháng nghị của công tố trong nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Tiếp theo sau đó trong những Sắc lệnh, Thông tư, Luật, Bộ luật tố tụng sau này quyền năng pháp lý này được điều chỉnh, bổ sung và ghi nhận ngày càng chi tiết chặt chẽ hơn. Mỗi một thời kỳ cách mạng thì lại có những nhiệm vụ chính trị được đặt ra. Để đáp ứng yêu cầu phục vụ tốt những nhiệm vụ chính trị đó thì không phải mỗi cá nhân hay mỗi đơn vị riêng biệt có thể làm tốt, đó là sự phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả mọi người, mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề. Đặc biệt hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung, của Viện kiểm sát nói riêng đã góp phần không nhỏ vào việc hoàn thành tốt những nhiệm vụ cách mạng mà Đảng và Nhà nước đặt ra trong mỗi thời kỳ. Viện kiểm sát bằng việc thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp đã góp phần giữ vững an ninh chính trị, góp phần ổn định xã hội để bảo đảm cho việc hoàn thành những nhiệm vụ chính trị được đặt ra. Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một trong những công cụ hữu hiệu để Viện kiểm sát thực hiện và hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành mình. Kháng nghị nói chung và kháng nghị phúc thẩm hình sự quyền năng pháp lý đặc biệt mà Nhà nước chỉ quy định cho Viện kiểm sát và chỉ duy nhất Viện kiểm sát mới có quyền thực hiện quyền năng này. Đây là công cụ hữu hiệu để bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, là phương tiện để đấu tranh phòng và chống tội phạm. Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một trong những trong căn cứ pháp lý quan trọng để vụ án được xét xử ở cấp thứ hai, bảo đảm quyền và lợi ích của mọi người. Cùng với sự phát triển của đất nước, xu thế hội nhập quốc tế, cải cách tư pháp được đặt ra là một tất yếu. Chính vì vậy Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp đã chỉ rõ: Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội…Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác. Ngày 2 tháng 6 năm 2005 Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao. Để đạt được những mục tiêu về cải cách cách tư pháp nêu trên, các cơ quan tư pháp nói chung, Viện kiểm sát nói riêng phải không ngừng nỗ lực để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành, đơn vị mình, bên cạnh đó phải nỗ lực để đổi mới, hoàn thiện góp phần vào công cuộc đổi mới nói chung. Từ sau khi thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, hoạt động của ngành kiểm sát đã có những chuyển biến tích cực. Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp đạt được những kết quả nhất định. Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một trong những quyền năng pháp lý quan trọng của Viện kiểm sát trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử. Thông qua kháng nghị phúc thẩm, Viện kiểm sát bảo đảm cho mọi hoạt động tư pháp được tiến hành đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, khắc phục tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Chính vì vậy, Chỉ thị số 03 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày 19 tháng 6 năm 2008 về "Tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự" một lần nữa lại khẳng định nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới của ngành kiểm sát. Để làm tốt việc này cần có một chiến lược mang tính quy mô, lâu dài, đòi hỏi sự quan tâm của các cấp lãnh đạo trong ngành từ trung ương đến địa phương. Làm tốt công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự nói riêng, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử nói chung sẽ góp phần không nhỏ vào thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành, nâng cao vị thế của ngành trong khối các cơ quan tư pháp, đáp ứng công cuộc cải cách tư pháp mà Bộ Chính trị đã đề ra, đưa Việt Nam càng càng hoà nhập vào khu vực và quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá như hiện nay. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bách khoa toàn thư (2008), Tiền lệ pháp. 2. Bách khoa toàn thư (2008), Hệ thống Luật Châu Âu lục địa. 3. Bách khoa toàn thư (2008), So sánh Luật Châu Âu lục địa với Thông luật. 4. Bộ Luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1988), (sửa đổi năm 1990, 1992, 2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 5. Bộ Luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 6. Bộ Tư pháp (1957), Thông tư số 141-HCTP ngày 5 tháng 12 năm 1957 về tổ chức và phân công nội bộ của toà án. 7. Dương Thanh Biểu và nhiều tác giả (2008), Sách “Tranh luận tại phiên toà phúc thẩm”, Nxb Tư pháp. 8. Lê Tiến Châu, Ths - giáo viên khoa Luật - Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh (2005), Tìm hiểu các hình thức tố tụng hình sự. 9. Chủ tịch Chính phủ lâm thời (1945), Sắc lệnh số 33C ngày 13 tháng 9 năm 1945, Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam. 10. Chủ tịch Chính phủ lâm thời (1945), Sắc lệnh số 37 ngày 26 tháng 9 năm 1945, Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam. 11. Chủ tịch Chính phủ lâm thời (1945), Sắc lệnh số 64 ngày 23 tháng 11 năm 1945, Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam. 12. Chủ tịch Chính phủ lâm thời (1945), Sắc lệnh số 33C ngày 13 tháng 9 năm 1945, Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam. 13. Chủ tịch nước (1946), Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng 1 năm 1946, Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam. 14. Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1946), Sắc lệnh số 21 ngày 14 tháng 2 năm 1946, Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam. 15. Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà (1946), Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 4 năm 1946, Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam. 16. Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà (1946), Sắc lệnh số 112 ngày 28 tháng 6 năm 1946, Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam. 17. Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà (1946), Sắc lệnh số 131 ngày 20 tháng 7 năm 1946, Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam. 18. Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà (1950), Sắc lệnh số 85 ngày 22 tháng 5 năm 1946, Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam. 19. Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà (1950), Sắc lệnh số 156 ngày 17 tháng 11 năm 1946, Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam. 20. Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1957), Sắc lệnh số 12 ngày 30 tháng 3 năm 1957, Cơ sở dữ liệu luật Việt Nam. 21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội 22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020, Hà Nội. 23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội. 24. Phạm Hồng Hải (2006), Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan thực hành quyền công tố đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí chuyên ngành – Hà Nội. 25. Nguyễn Mạnh Hùng (2004), Khái quát hệ thống pháp luật Hoa Kỳ. 26. Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1946), (1959), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 27. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1980), (1992), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 28. Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (1960), (1981), (1992), (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 29. Luật Tổ chức Toà án nhân dân (1960), (1981), (1992), (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 30. Trần Văn Nam (2009), Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta hiện nay, Đề cương luận án tiến sĩ Luật học. 31. Trần Văn Nam (2009), Công tố ở Việt nam trước năm 1945, Đề cương luận án tiến sĩ Luật học. 32. Trần Văn Nam (2009), Thực trạng tổ chức và hoạt động Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn từ năm 2002 đến nay, Đề cương luận án tiến sĩ Luật học. 33. Khuất Văn Nga (2005), "Những chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thời kỳ đổi mới", Tạp chí chuyên ngành, Hà Nội. 34. Nhà pháp luật Việt Pháp (2006), Sách “Các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới” của – NXB Tư pháp. 35. Quy chế Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự năm 2007 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. 36. Toà án nhân dân Tối cao (1976), Tập hệ thống hoá Luật lệ về Tố tụng hình sự. 37. Toà án nhân dân tối cao (1975-1978), Hệ thống hoá Luật lệ về Tố tụng hình sự (tập II). 38. Toà án nhân dân tối cao (1990), Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng. 39. Toà án nhân dân tối cao (2001), Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính và tố tụng. 40. Toà án nhân dân tối cao (2003), Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính và tố tụng. 41. Võ Thọ (1985), Một số vấn đề về Tố tụng hình sự, Nxb Pháp lý, Hà Nội. 42. Lê Hữu Thể - Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ (2005), Những giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà của kiểm sát viên, Đề tài khoa học cấp Bộ. 43. Lê Hữu Thể - Viện trưởng Viện khoa học Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2008), Tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt nam theo tinh thần cải cách tư pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ. 44. Nguyễn Thiêm (2007), Sự phát triển của các hệ thống pháp luật trên thế giới, nguồn từ 45. Nguyễn Thiêm (2007), Tìm hiểu mô hình tố tụng trên thế giới và ở Việt Nam, nguồn từ 46. Nguyễn Huy Tiến - kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2007), “Một số vấn đề về kháng nghị phúc thẩm và kiến nghị khắc phục vi phạm trong giai đoạn xét xử phúc thẩm”, Tạp chí Kiểm sát. 47. Nguyễn Minh Tuấn (2008), Hai hệ thống pháp luật Common Law và Civil Law. 48. Đinh Văn Quế (1998), Thủ tục phúc thẩm trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 49. Thủ tướng Chính phủ (1959), Nghị định số 256-TTg ngày 1 tháng 7 năm 1959 về nhiệm vụ của Viện Công tố. 50. Từ điển Luật học. 51. Từ điển Tiếng Việt. 52. Trường Cao đẳng Kiểm sát (1984), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 53. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật so sánh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 54. Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (1994), Phân tích so sánh hai hệ thống pháp luật Mỹ - Pháp, Chuyên đề. 55. Viện Khoa học Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2000), “Chuyên đề về cơ quan công tố một số nước”, Thông tin khoa học pháp lý, (4). 56. Viện Khoa học Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2000), “Giới thiệu hệ thống tư pháp hình sự của Nhật Bản”, Thông tin khoa học pháp lý, (5). 57. Viện Khoa học Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2005), “Chuyên đề cơ quan công tố một số nước”, Thông tin khoa học pháp lý, (3+4+5). 58. Viện Khoa học Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2006), “Chuyên đề về cơ quan công tố một số nước”, Thông tin khoa học pháp lý, (5+6). 59. Viện Khoa học kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2008), “Chuyên đề về Viện kiểm sát/Viện Công tố của một số nước trên thế giới”, Thông tin khoa học pháp lý, (1+2). 60. Viện Khoa học kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2008), “Chuyên đề về so sánh pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam và một số nước trên thế giới”, Thông tin khoa học pháp lý, (3+4). - Viện khoa học kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2008), Phụ lục “Tổ chức và hoạt động công tố / kiểm sát ở Việt Nam và các nước trên thế giới. 61. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2007), “Nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân”, Tạp chí kiểm sát, (8). 62. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao năm (1991), Hệ thống hoá các văn bản cần thiết cho công tác kiểm sát (tập I – hình sự). 63. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2001), Viện kiểm sát nhân dân Việt nam 1960 – 2000 (Kỷ yếu), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 64. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2007), “Giới thiệu về Viện kiểm sát và Viện Công tố của một số nước trên thế giới”, Tạp chí kiểm sát, (14). 65. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2008), Tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp. 66. Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2006), Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. 67. Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2008), Báo cáo tổng kết công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân trong 3 năm từ 2004 đến 2006, những khó khăn, vướng mắc và giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị. 68. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (1996),(2004), (2007), Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự. 69. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2005), Quy chế về chức trách, nhiệm vụ và chế độ làm việc của các Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm. 70. Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự - Viện kiểm sát nhân dân tối cao (1997), Báo cáo sơ kết công tác kháng nghị phúc thẩm từ 20/11/1996 đến 20/8/1997. 72. Trần Thế Vượng - Phó chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật Quốc hội (2005), “Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân”, Báo điện tử. 73. Nguyễn Quốc Việt (2006), Những vấn đề đặt ra khi đổi mới tố tụng theo hướng tranh tụng. 74. Nguyễn Quốc Việt (2008), Xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự của các quốc gia trên thế giới. 75. Nguyễn Quốc Việt (2008), So sánh thủ tục phúc thẩm của các nước trên thế giới.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf26_022.pdf
Luận văn liên quan