Luận văn Đặc điểm kịch Nguyễn Đình Thi

Trong lịch sử văn nghệ cách mạng, Nguyễn Đình Thi là một dâu ấn khó phai mờ. Những đóng góp của ông không phải là nhỏ. Tuy sức sống của những tác phẩm của ông còn phải chịu sự kiểm chứng khắc nghiệt của thời gian nhưng tên tuổi của ông thì đã khắc vào thế kỷ. Với mong muốn được góp phần tìm hiểu về kịch của ông, chúng tôi đã tiến hành khảo sát những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật ở mảng sáng tác này. Dù phạm vi khảo sát còn chưa đầy đủ, chưa bao quát hết được những đặc điểm vốn có của kịch Nguyễn Đình Thi nhưng luận văn cũng đã chỉ ra những đóng góp rất có giá trị của ông cho thể loại kịch nói của dân tộc. Ngoài sự say mê viết kịch và tài năng của ông, người ta còn thấy tác phẩm của ông chứa đựng cái tâm. Đó là tấm lòng yêu thương nhân loại thật bao la, xót xa trước những hoàn cảnh khổ đau, bất hạnh của con người. Chính những mặt thành công ở thể loại này và ở những thể loại khác, cộng với tấm lòng nhiệt thành của ông đối với sự nghiệp văn học dân tộc đã tạo cho ông một địa vị xứng đáng trong lòng của bạn đọc bao thế hệ. Thời gian dẫu qua đi nhưng chúng ta vẫn tin rằng những gì còn lại của ông sẽ khôngmất. Người ta sẽ nhớ mãi một Nguyễn Đình Thi lịch thiệp, đôn hậu, tài năng nhưng vô cùng khiêm tốn: "Tôi không nói được mình đã trải đời Không nói được mình đã hiểu người Không dám nói mình đã biết yêu Không dám nói mình đã biết sống." {Tóc bạc)

pdf141 trang | Chia sẻ: builinh123 | Ngày: 01/08/2018 | Lượt xem: 264 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Đặc điểm kịch Nguyễn Đình Thi, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tiểu thuyết Xung kích, lúc bộ đội hành quân giữa đêm khuya, họ trò chuyện với nhau bằng một ngôn ngữ thật sinh động, tự nhiên: "- Ô tô đây! Ô tô hai bánh của Việt Nam đây! - Mát quá, sướng cá ruột. - Mát đến tận tim phổi, ông bà ông vái ơi. - Hòm gì mà năng bỏ bé) thế không biết! (...) - Có cái xe goòng mà đẩy mót lèo nhỉ. - Tôi om om, đi đứng thê nào! Gặp một anh bộ đội từ mé rừng tối đi ra, họ ùa đến. - Đường vào làng Chanh đây phải không đồng chí? - Đi đi chứ, đứng lại làm gì như phỗng đá thế! -Có cầu cống gì không hả anh? -Tướt bơ rồi. Cách bốn cây có cái cầu gãy. - Liệu có bằng cái cầu hôm qua không? –Ào đi! - Đi chuyến dân công này về bu cháu tít mất mót lứa đẻ đấy các cụ ạ. - Anh phải gió, chân với tay! - Gớm chị, nhờ một tí mà." (31, 9-10) Như vậy với đoạn đối thoại này, tác giả dùng rất nhiều từ ngữ mang tính khấu ngữ, cả những thành ngữ thường được dùng trong dân gian đê ngồn ngữ mang sắc thái đậm đà và nhân vật được xây dựng sống động hơn. Đó là tiếng nói của những người dân quê, phong phú và chân thực, mang phong vị riêng thật tự nhiên. Vào trong kịch của ông, điều người ta đặc biệt nhận thấy là chất khẩu ngữ được dùng rất phong phú, chứa đựng rất nhiều lượng thành ngữ và ngôn ngữ bình dân. Những từ ngữ này được sử dụng một cách hợp lý tạo nên sự độc đáo của lời nói. Đây là cảnh mụ mối đến thuyết phục Thêu bằng lòng lấy lão phú ông: MỤ MỐI - Thím thương cháu quá. Quanh năm ngày tháng chỉ thui thủi một mình, từ sớm đến tối chỉ cặm cụi với đường kim mũi chỉ, không còn mỏ mất ra được! Cái nghề của mày nào có hay ho nên cơm nên cháo gì, làm suốt đời rồi chỉ được cái gù lưng thâm đít! Sao mày không nghe thím? THÊU - Thôi chuyện ây thím đừng nói nữa, cháu không nghe đâu! MỤ MỐI - Thím nói là để mong cho cháu được nên bà nọ bà kia, sao mày lại không nghe? Con ơi, còn đám nào hơn được nhà ấy nữa! THÊU - Cháu chịu thôi! Cứ nghĩ đến ông ấy, cháu đã khiếp quá! MỤ MÔI - Chịu thôi! Chịu thôi! Ngủng nga ngúng nguẩy như mới lên mười không bằng! Con gái lớn ngỗng ngồng, không lấy chồng thì để mà thờ à? Mày ngần ấy tuổi rồi mà vẫn dại thế hả con! Cả tổng cả huyên này còn có nhà nào sánh được với nhà ấy? Thật là nứt đố đổ vách, của cải người ta như núi! Mà ông ấy người béo tốt thế, mày còn chê nỗi gì không biết. Con ạ, nhà người ta tu nhân tích đức từ bao nhiêu đời, bây giờ mới được giàu sang phú quý thế. Ông ấy muốn mua dăm bảy con nàng hầu, có khó gì, tìm đâu chả được những đứa gái tơ xinh xắn, có thiếu gì! Thế mà ông ấy lại cứ mê mẩn vì mày! Nó cũng là cái duyên số! THÊU - Cháu mong gì ông ấy mê cháu. Thím đi làm mối cho ồng ấy một đám nào vừa trẻ vừa xinh có hơn không? MỤ MỐI - Này cô ơi, cô đừng có cậy cô trẻ cô xinh. Bây giờ thì má hồng da trắng đấy, nhưng mà có được thế mãi không? Mà da trắng với má hồng có mài ra mà ăn được không? Mày cứ nghĩ xem, ừ, ví thử như mày lấy một thằng nào trong đám trai làng này thì rồi được cái gì? Mày cứ nhìn đấy, thiếu gì cảnh! Chui ra chui vào được ba gian nhà lá là đã phúc to, quanh năm lo mo ăn xổ mổ niêu, đầu tắt mặt tối còn biết đến gì nữa, rồi chi còn có một việc là sòn sòn đẻ, năm một, ba năm đôi! Mới đầu thì gái mốt con trông mòn con mất đó, nhưng mà đến hai con thì vú quát sau lừng, ba con thì cổ ngẩng răng vàng, bốn con, quần áo đi ngang khét mù. Rồi năm con, tóc rối tổ cu. Ối giời ơi, đến sáu con, bảy con, thì cái yếm trút ra, thổn thẽn hai quả mướp nhăn nheo chẳng còn thiết giấu ai nữa, còn cái váy thì vặn lên ngang rốn thế này mà chay ngước chay xuôi! Vợ thì thế, còn chồng thì suốt ngày suốt buổi cổ cày vai bừa ở ngoài đồng ruộng nhà người ta, vẫn chẳng đủ cơm ăn hai bữa, chiều về cái bụng đổi meo, cái mặt thừ lừ, ngồi bên bếp chẳng nổi chẳng rằng, có mỗi cái quần cộc, ngồi xổm thò cả của nơ ra cho nó chấm xuống tro bếp! Đấy, mày muốn được thế thì mặc kệ!...(30, 704-706). Chúng tôi cho đây là một đoạn thoại thật hay, thật đúng là ngôn ngữ của những mụ đàn bà chanh chua ở thôn quê. Còn tiếp theo nữa là cả một đoạn đối thoại dài giữa mụ Mối và Thêu cũng chứa đựng những thành ngữ và ngôn ngữ quần chúng bình dân mà chúng tôi không thể trích dẫn hết ra đây như những từ ngữ: chết già, ông bà ông vải, rõ thật là con giun con dế đòi đánh chết con voi, ngứa tiết, ho he, ham chơi trống hỏi, về chầu trời, đuổi quầy quậy, cửa cao nhà rộng, chín đụn mười trâu... Chỉ mấy trang sách nhưng là cả một sự trải nghiệm và quan sát cuộc sống của tác giả. Điều đó chứng tỏ tài năng không thể nào phủ nhận của Nguyễn Đình Thi trong việc vận dụng ngôn ngữ dân tộc. Và đây là lời trò chuyện của hai vợ chồng người lính thú trong vở Người đàn bà hóa đá: "NGƯỜI VỢ LÍNH - Thầy nó làm gì mà đuổi tôi như đuổi tà! Hay thật! NGƯỜI LÍNH - Thật là tự dưng chuốt lấy cái khổ vào minh. Lần sau có ai còn rủ rê lên đây thì đừng có nghe họ. NGƯỜI VỢ LÍNH - Ai rủ với ai rê! Tự tôi không biết tìm lấy đường mà đi thăm chồng à! NGƯỜI LÍNH - Tôi không khiến! Thăm với hỏi! Khốn nan, thân lính thú chứ ông hoàng bà chúa gì! Cứ mặc tôi, ở nhà mà lo nuôi con. Tự dưng lặn lội đến tận chỗ này, bây giờ rồi xin ăn dọc đường mà về! Người ta đã khổ lại còn làm cho thêm rỏi ruột! " (30, 606) Chỉ mấy lời nói nhưng người ta cũng hiểu được tình cảnh và những tình cảm sâu nặng của vợ chồng người lính. Người vợ nhớ chồng, không quản ngại đường sá xa xôi lặn lội đi thăm chồng, người chồng cũng rất thương vợ nhưng không muốn vợ phải khổ vì mình và lo cho con cái ở nhà, tất cả cũng chỉ vì cảnh nghèo nên họ mới phải như thế. Những lời nói trên hiện ra hoàn cảnh rất thực của hai vợ chồng, giọng điệu bình dân, trách cứ nhưng chan chứa yêu thương. Thật khó chấp nhận nếu như lời nói của hai vợ chồng người dân quê này lại được viết toàn bằng thứ ngôn ngữ khuôn sáo, trau chuốt. Như vậy có thể thấy các lời đối thoại trên rất gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân lao động. Nguyễn Đình Thi đã khéo léo đưa những lời nói ấy vào tác phẩm thật đúng lúc, đúng chỗ, đúng nhân vật tạo nên giá trị đặc sắc của lời nói. Chính vì để cho nhân vật nói năng theo đúng kiểu của mình là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên tính chân thực, sinh động cho tác phẩm. 2.3.1.5 Chất hành động trong ngôn ngữ kịch Nguyễn Đình Thi Người diễn viên lên sân khấu biểu diễn với nhiều loại hành động khác nhau: hành động hình thể, hành động tâm lý và hành động ngôn ngữ. Như vậy ngôn ngữ không chỉ là công cụ biểu đạt mà còn là một phương tiện tác động. Thế nhưng không phải bất cứ lời nói nào cũng dồi dào tính hành động. Ngôn ngữ có tính hành động trong kịch phải mang tính chất khơi gợi và phối hợp chặt chẽ với các hành động hình thể và hành động tâm lý nói trên. Ví dụ, để đuổi một người ta có thể nói "Cút đi" kèm với việc lấy tay xua đuổi và gương mặt tức giận. Bêlinxki nói: "Tính kịch không phải là do nói qua nói lại mà tạo nên được, nó phải do hành động giao lưu sinh động giữa hai người mà tạo thành. Nếu cả hai bến tranh luận đều muôn đè bẹp đôi phương, đều muốn cải biến một phương diện nào đó trong hành động của đối phương, hoặc tấn công vào nhược điểm nào đó trong tâm tư của đối phương, nêu thông qua cuộc tranh luận đó đưa hai người tới một quan hệ mới, thì lúc đó mới là kịch" (22, 258). Hay nói một cách khác, tính hành động trong những lời đối thoại trong kịch phải mang nội dung tấn công - phản công, thăm dò- lãng tránh, chát vân- chòi cãi, thuyết phục- phủ nhận... Nếu nói như vậy thì cũng như các tác giả khác, tính hành động trong kịch của Nguyễn Đình Thi rất nhiều vì hành động trong kịch phản ánh cuộc sống một cách cụ thể và trực tiếp, mà bản chất của cuộc sống thì không ngừng hành động, lúc nào cũng đấu tranh để tồn tại và phát triển. Đây là một đoạn trong vở Rừng trúc, lúc Trần Thủ Độ cho bắt người lính quân hiệu đã cả gan dám ngăn cản kiệu của vợ ông. Chất hành động thể hiện rõ trong những lời nói và hành động của Trần Thủ Độ, quan đình úy và người lính: 'THƯ ĐỌ - Thằng giặc to gan, sao giữa kinh kỳ mà mày dám ngang ngược làm loạn? Có đứa nào xui bẩy mày không? Phải nói cho thật! (...) NGƯỜI LÍNH - (Kêu to) Tôi oan! Tôi là người lính, làm theo phép nước, sao lại phải chịu tội? Tôi oan! QUAN ĐÌNH ÚY - Lính đâu? vả vào miệng thằng giặc hỗn láo! Giải nó về ngục bên Ty! Vệ sĩ đánh người lính, lôi đi. NGƯỜI LÍNH - Không thể bắt tôi im miệng được. Xin cho tôi nói rõ. Tôi oan! THỦ ĐỘ - Hãy khoan! Tên kia, mi kêu oan vì lẽ gì? Ta cho mi nói. Nhưng nếu mi dám càn rỡ dối trá, thì mi không còn mong gì khỏi tội chết! NGƯỜI LÍNH - Thưa bẩm đức ông, tôi là người lính trong quân thân vệ, ngày ngày phải canh giữ trong cung cấm. Tướng quân Trần Khuê Kình nhiều lần dặn dò quân thân vệ chúng tôi: Khi đứng canh nơi điện miếu tôn nghiêm, người lính thân vệ không được sợ bất cứ ai, không được sợ bất cứ điều gì, chỉ được sợ có phép nước thôi. Hôm ấy, bọn chúng tôi túc trực trước điện Thiên Khánh, đã có lệnh nghiêm cấm không ai được qua lại trước thềm điện. Chúng tôi thấy có kiệu một bà phu nhân đi thẳng tới, cho nên đã ngăn lại, và chỉ đường cho đi vòng theo lối khác. Nhưng đám thị nữ xưng là kiệu công chúa, rồi bọn lính hầu lại nạt nộ, dọa xô xát với chúng tôi, gia nô khiêng kiệu thì cứ xán lên. Cho nên tôi đã rút gươm ra, ra lệnh cho đám khiêng kiệu phải rẽ theo đường vòng bên ngoài, nhược bằng cứ coi thường lệnh cấm, thì chúng tôi cứ thẳng tay bắt giữ. Việc thật là như vậy, còn đông đủ cả mấy anh em chúng tôi trong đội thân vệ hôm ấy đều biết, nếu tôi nói sai, xin chịu tội chết chém! (...) Ấ TRẦN THỦ ĐỘ - Vệ sĩ, cởi trói, bỏ gông cho người ta. NGƯỜI LÍNH - Tạ ơn đức ông. Thật là có phép nước hẳn hoi chứ. "(30, 320-323) Nếu Thủ Độ vì tình riêng thì chắc người lính quân hiệu kia không thể nào giữ được mạng sống. Sự công minh của ông đã cứu sống được mạng người trong đường tơ kẽ tóc. Người lính cũng không ngờ mình không những được tha tội mà còn được ban thưởng. Qua lời trình bày của người lính, hành động của Trần Thủ Độ biến đổi đến không ngờ, từ sự tức giận chuyển sang vui vẻ và khen thưởng cho người lính, ông còn quở trách quan đình úy và dọa sẽ cách chức ông ta vì việc làm sơ xuất, hồ đồ ngày hôm nay. Và chúng tôi muốn nói đến lời nói và hành động xua đuổi quyết liệt của người chồng đối với người vợ đáng thương đã dẫn đến cái chết bi thảm của người vợ trong vở kịch Cái bóng trên tường. Hành động ấy đủ để anh ta hối tiếc cả một đời khi hiểu ra được thực chất câu chuyện và tấm lòng trinh bạch đáng quý của vợ mình: "NGƯỜI CHỒNG - (Vơ chiếc gậy, dữ tợn xông đến, giơ lên, rồi lùi lại, buông rơi chiếc gậy) Thôi, cồ đi đi, đừng để tôi túm lấy cô mà ném xuống sông kia, thì tôi lại có tội với thằng bé. NGƯỜI VỢ - Nhưng mà em làm gì nên tội kia chứ! Sao lại kỳ lạ thế này! (...) NGƯỜI CHỒNG - Cô càng nói thì tôi càng không thể nhìn được cái mặt kia! Ghê sợ quá! NGƯỜI VỢ - Giời đất ơi, đến thế này thì còn gì nữa! Anh ơi, anh sẽ không bao giờ thấy lại em nữa đâu... NGƯỜI CHỒNG - Thôi, cô đi đi. NGƯỜI VỢ - Anh cho em vào với con một tí, em chỉ xin anh thế thôi. NGƯỜI CHỒNG - Không được! Cô không được chạm vào nó. Thôi, đi đi, đi ngay cho khuất mắt tôi! NGƯỜI VỢ - Anh ơi, anh lầm rồi đấy! Anh nghĩ lại đi. NGƯỜI CHỒNG - Không phải nghĩ ngợi gì nữa! Tôi không muốn nghe tiếng cô nói. Tôi không muốn nhìn cái mặt của cô. Đi đi! Người vợ khóc và đi đi. (30-633) Vì lòng ghen tuông mù quáng, người chồng nhất quyết đuổi vợ mình đi mà không cho nàng biết rõ nguyên nhân, cũng không chịu nghe nàng nói. Những lời nói tàn nhẫn, lạnh lùng và cạn tình cạn nghĩa đó khiến người vợ không còn thiết sống nữa và bi kịch đã xảy ra. Như vậy, chúng ta thấy rằng, chất hành động trong ngôn ngữ kịch là vô cùng quan trọng, nó làm nên giá trị không thể phủ nhận đối với vở kịch. Có những lời nói có thể khiến chết hay làm sống Lại một con người. Có những lời nói giúp ta có được một quyết định sáng suốt cho cuộc đời mình và có những lời nói có thể làm tiêu tan một sự nghiệp... Những dẫn chứng trên đây được chọn ra từ nhiều dẫn chứng khác nữa trong kịch của Nguyễn Đình Thi về chất hành động trong ngôn ngữ, từ đó cho ta thấy rằng ngôn ngữ kịch của ông không thiếu chất hành động, nó tiềm ẩn trong từng lời thoại của nhân vật, góp phần nâng cao giá trị kịch của ông. Trên đây là một số đặc điểm về ngôn ngữ đối thoại trong kịch Nguyễn Đình Thi. Kịch của ông vòn được dư luận đánh giá rất cao về ngôn ngữ. Đó là một thế mạnh mà Nguyễn Đình Thi tập trung vào để tạo nên nét đặc trưng riêng cho phong cách sáng tác của mình. 2.3.2 Ngôn ngữ độc thoại Độc thoại là nói với chính mình nhằm để giải tỏa nỗi xúc động mãnh liệt trong lòng mà chưa thể hoặc không thể nói với ai được. Trong kịch, độc thoại dùng để bộc lộ nội tâm nhân vật, đầu tiên người ta thấy độc thoại xuất hiện trong kịch cổ đại và nhất là trong kịch sếcxpia. Độc thoại nội tâm là một sự tự bộc lộ, chân thành và khách quan với những suy nghĩ thật của lòng mình. Trong trường hợp nội tâm phức tạp, dằn vặt, thì độc thoại chính là cuộc đối thoại giữa con tim và khối óc của nhân vật. Độc thoại giữ một vai trò rất quan trọng trong kịch, qua độc thoại, khán giả có thể biết được những suy nghĩ thật trong lòng của nhân vật, từ đó hiểu được câu chuyện một cách rành mạch hơn. Nguyễn Đình Thi, trong những vở kịch của mình cũng đã tận dụng phương pháp độc thoại nội tâm để góp phần làm rõ tâm tư tình cảm của nhân vật, đồng thời nâng cao hiệu quả của vở kịch. Khi tìm hiểu về ngôn ngữ kịch của ông, chúng ta không thể bỏ qua ngôn ngữ độc thoại. 2.3.2.1 Độc thoại bộc lộ nội tâm nhân vật. Con nai đen là vở kịch mà nhân vật tự nói với chính mình nhiều nhất vì trong tác phẩm có những lúc và có những nhân vật đội lốt của người khác nhưng lại muốn giải tỏa một cách thầm kín những suy nghĩ của chính bản thân mình. Đây là lời bộc bạch khiến cho khán giả thấy rõ tận tim gan dã tâm độc ác, xấu xa của lão quận công hòng muốn chiếm đoạt hoàng hậu và hãm hại nhà vua: (...) "Chà chà hoàng hậu Quế Nga! Người đàn bà này đã làm ta say đắm cuồng dại mất rồi! Chỉ gặp nàng có một lần mà ta thấy tất cả lũ mấy chục nàng hầu đẹp nhất của ta khác nào như một đàn cú! Ta chỉ cần chiếm được nàng trong một ngày, một ngày thôi! Cô gái rừng quế kiêu hãnh, ta sẽ chiếm được cô nàng. Ta sẽ bắt cô nàng phải quỳ lụy dưới chân ta! {giật mình lâm lết nhìn chung quanh, nhặt gươm tra vào vỏ rồi bóp trán ngẫm nghĩ) Hay là... có lẽ... Ta ngu thật! Sao ta không nghĩ ra từ trước. Sao ta không nghĩ ra! ừ, ta phải dùng phép phù thủy làm sao chui vào thể xác của nhà vua. ừ, ta sẽ chờ thời cơ, sẽ có lúc ta đội lốt nhà vua thì cô nàng còn thoát đi đâu được nữa!" (30, 48) Và hắn đã thực hiện được mưu đồ của mình, với phép thuật phù thủy, hắn nhập vào xác nhà vua trong khi nhà vua nhập vào xác con nai đen. Được như vậy hắn vẫn chưa thôi từ bỏ ý định độc ác của mình, hắn còn muốn ngày ngày nhà vua phải tận mắt chứng kiến cảnh hắn làm vua và hoàng hậu Quê Nga làm vợ của hắn. Còn hoàng hậu Quế Nga thì cảm thấy bất an khi tính tình nhà vua đột nhiên thay đổi, nàng cảm thấy rất đau lòng và vô cùng khó hiểu. Nàng tự hỏi một mình: "Anh!... Trời ơi, lòng ta quay cuồng tan nát. Sao cứ mỗi lúc một thêm quái lạ. Sao em không nhận ra được anh nữa! Sao đôi mắt mọi ngày như hai ngôi sao soi sáng cả mọi tâm hồn, nay bỗng dưng vẩn đục, đầy thèm muốn, ích kỷ và tàn bạo! Sao gương mặt đẹp như thiên thần ấy mà hôm nay ta nhìn lại bỗng rùng mình. Ta đang nói gì, ta đang ở đâu thế này?" (30, 61) Như vậy, qua lời độc thoại của lão quận công trong xác vua và của hoàng hậu Quế Nga ta hiểu được nội tâm của hai người, hiểu được những suy nghĩ thật trong lòng họ. Giữa họ là hai thế giới tâm hồn thật trái ngược nhau. Những lời độc thoại của lão quận công giúp cho ta biết được những mưu kế sắp sửa thi hành của lão, hiểu được sự ghen tức và lòng dạ xấu xa, hẹp hòi của lão. Còn những lời độc thoại của hoàng hậu Quế Nga cho ta thây được tình yêu thương vô bờ bến và lòng tin vào sự nhân từ đức độ của người chồng mà nàng yêu kính. Đó là những suy nghĩ thầm kín mà họ chỉ có thể nói với mình chứ không thể bộc bạch cùng những người khác và chỉ có khán giả mới biết được mà thôi. Đến Rừng trúc là những tâm sự thật đáng tội nghiệp của hoàng hậu Chiêu Thánh. Từ ngôi cao tột bật bỗng chốc nàng không còn gì cả: cha mất, mẹ lấy chồng khác, phải nhường ngồi vua cho dòng họ khác, rồi con mất, chồng phế bỏ ngôi vị hoàng hậu của mình... Bởi thế nên nội tâm nàng đầy ắp sóng gió, nàng cảm thấy vô cùng cô độc giữa hoàng cung rộng lớn: "Chẳng còn ai khác. Ta chẳng còn ai... Cả mấy người ở một bên... Bỏ ta một mình ở bên này. Chưa đến nỗi là thù... Chưa đến nỗi... Nhưng không phải những người còn ở với ta cùng một đời nữa rồi... Sao lại như vậy! Chỉ có một người ở với ta mãi thôi. Một người không bao giờ bỏ ta. Chỉ có một ngưòi thật thương ta, thương ta mọi nỗi. Cha ơi cha! (khóc) Nào chồng, nào mẹ, nào chị... ừ thôi, hôm nay ta sẽ không lánh đi đâu nữa. Ta sẽ gặp tất cả. Muôn nói chuyện gì với ta, ta sẽ nghe tất cả. Thê nào cũng được. Ta đâu còn ở đây nữa, dù có chuyện gì xảy ra, đâu còn động gì được đến ta. Làm gì còn ta ở đây. Ta ở chỗ khác rồi. Tất cả bọn các người chẳng làm gì được. Ta chẳng phải một mình. Ta vẫn có người thương ta chứ, thương ta mà chẳng nói một lời, người ấy đi xa lắm rồi, đi chẳng bao giờ về nữa, thế mà tình thương ấy vẫn bao bọc, che chở cho ta, nuôi cho ta sống được đấy..." (30, 298) Trong mọi hoàn cảnh thâm tâm nàng luôn nghĩ về người cha quá cố. Nàng cảm thấy mình bị cô lập về một phía và phía bên kia là một lực lượng hùng hậu mà nàng không thể nào chống đỡ nổi. Tiếp theo, còn cả một đoạn độc thoại dài Chiêu Thánh nói lên những suy nghĩ của mình về mẹ, về chị, về chồng... Đây là nỗi lòng đau khổ của nàng mà Nguyễn Đình Thi đã khéo léo giúp cho khán giả hiểu nàng hơn, cảm thông với nàng hơn. Sang Nguyễn Trãi ở Đông Quan, ta tìm được những lời độc thoại của người anh hùng yêu nước đang bị giam lỏng. Chí lớn tài cao nhưng lại bị kìm hãm khiến cho Nguyễn Trãi vô cùng bức bách. Vì tình thế hiểm nguy nên những suy nghĩ yêu nước và căm thù giặc tạm thời Nguyễn Trãi chỉ nói được với chính mình. Đây là những suy nghĩ thật của Nguyễn Trãi về lời nói bịp bợm, mị dân của tên "cáo già" Hoàng Phúc: "Con cáo già đang múa đuôi, đắc chí! Nó đã khôn đến thế, mà vẫn quáng mờ vì kiêu ngạo... Bốn cõi chung vua, xe đi chung đường, sách chép chung chữ! Ta đã trông thấy thế nào, cái cảnh đời thịnh trị ấy... Tất cả thiên hạ chỉ còn là của riêng một đấng con Trời. Tất cả các dân tộc phải trở thành người Hán! ơ trong cõi thiên triểu ây bao nhiêu con người, hai tay phải chấp lại, mắt phải khép xuống, đầu óc phải nghĩ theo cùng một khuôn. Sống từ bé đến lớn già, phải làm theo những điều do các bề trên sắp đặt! Trí tuệ con người chỉ còn được là một cái túi, để bỏ vào đấy các kinh truyện thánh hiền! Bao nhiêu sách vở đều phải chép như nhau, cùng những câu những chữ ấy! Học chỉ còn là phải làm sao nhớ cho thuộc lòng. Không được mở mắt nhận xét, so sánh, không được hỏi, không được tìm xem sự vật trong đời ra làm sao... Cứ như thế, cha truyền con nối, con không được làm khác với cha, đời sau không được thay đổi nề nếp đã định từ đời trước. Cứ như thế, tất cả khô héo dần hoa thành đá, không một cái mầm xanh nào được mọc lên trong tâm hồn con người!... Trời đất! Nhưng mà phá lá cây thì dễ, phá mầm cây chẳng dễ đâu. Chà! "(30, 480- 481) Với những suy nghĩ nội tâm như vậy nhưng khi Hoàng Phúc hỏi "Ông vẫn nghe tôi đấy chứ? Ông thấy thế nào?" thì Nguyễn Trãi lại trả lời: "Tôi thấy đại nhân thật là người nhìn xa, nghĩ việc sâu lắm" (30, 481). Vì vậy, chính những lời độc thoại này sẽ giúp khán giả hiểu được thực chất trong lòng nhân vật đang nghĩ gì, có khi trái ngược hoàn toàn với những lời nhân vật đang nói. Thường độc thoại xảy ra khi nội tâm nhân vật đang phức tạp, có khi phải đấu tranh hay đau xót, dằn vặt. Họ muốn giải tỏa những suy nghĩ trong lòng nhưng không biết nói với ai, đành nói với chính mình và khán giả. Cho nên có thể nói những Lời độc thoại nội tâm là những lời hay nhất, mang nhiều tâm tư nhất của vở kịch. 2.3.2.2 Chất truyền cảm trong ngôn ngữ độc thoại Trong đa số trường hợp độc thoại dùng để diễn tả những cảm xúc chất chứa trong lòng nên ngôn ngữ rất giàu chất truyền cảm. Từng câu từng lời của ngôn ngữ độc thoại rất dễ lay động lòng thông cảm, trắc ẩn của độc giả và khán giả đôi với hoàn cảnh của nhân vật. Những cảm xúc ấy không phải có thể đặt bút là viết nên được mà phải sống cuộc sống của nhân vật, phải suy tư, trăn trở cùng nhân vật mới có thể tạo thành. Nguyễn Đình Thi như vào vai của ông lão hát rong hiền lành và tốt bụng, đang nói những lời từ biệt cuối cùng của cuộc đời mình. Cho đến lúc chết ông vẫn cô độc, ông không có ai khác ngoài con nai đen cần được ông dẫn dắt và che chở. Trong giây phút lâm chung, bao nhiêu tình cảm tốt đẹp ông cũng chỉ biết dành cho nó: "Nai đen, mày vướng mắc vào đâu mà để thầy gọi mãi. Sao thân thể mày đây những vét thương! Oi những con người độc ác và ngu muội nỡ làm hại con ta! Hai mắt con hôm nay sao mà buồn vậy! Mày thương ông lão hát rong ư? (ngả lưng vào gốc cây) ừ lão đang đau lưng quá, và chân tay lão bủn rủn, lão muốn cất tiếng hát mà hơi sức đuối rồi. Biết làm sao, tuổi già đó, con ạ. Rồi mày cũng đến lúc già, nghe không? Bốn chân nhanh như gió của mày cũng sẽ đến lúc mềm yếu, chậm chạp run lên như cỏ sậy. Hai tay thính của mày cũng sẽ đến lúc ù đi như lúc nào cũng bị dìm xuống nước ấy, biết chưa? Hai con mắt sáng hoắc của mày cũng sẽ mờ đi. Cho đến cả trí óc thông minh của mày cũng sẽ mệt nhọc, mụ đi. Tuổi già sẽ đến, con ạ, rồi mày cũng đến lúc sẽ thấy có hơi lạnh của cái chết, nó lởn vởn chung quanh mày, có lúc nó thở buốt vào đến tận xương tủy mày, chẳng khác gì ta đang cảm thấy bây giờ. Ai cũng sẽ đến lúc già rồi chết con ạ? Nhưng ta không sợ già, sợ chết đâu, vì đời ta có tình thương yêu sưởi ấm cho ta đến tận lúc cuối cùng." (30, 64-65) Cảm động nhất có lẽ là những cảm xúc đau khổ của hoàng hậu Chiêu Thánh khi nhận ra mẹ mình, chị mình, chồng mình đều như quay lưng lại với mình. Tâm hồn của nàng như bị xáo động mạnh, không ngừng thổn thức: "Đáng lẽ người gần ta nhất, thương ta nhất, là chàng đấy, chàng Hai của em ơi... Chàng chẳng có tội gì với cha em. Có lẽ chàng cũng thương yêu em từ năm ấy em lên bảy, chàng lên tám nhỉ, cho đến bây giờ, hơn mười năm, có lẽ lòng chàng cũng chưa đến nỗi quên chút nghĩa cũ từ ngày ấy. Nhưng mà chàng chẳng phải chỉ là chàng Hai của ta. Xưa kia thì mỗi lần ta gọi, chàng vội quỳ lạy và sợ hãi nói với ta: muôn tâu bệ hạ (cười rũ rượi, chảy nước mắt, cười mãi). Vì đâu như vậy chàng Hai! Tại cái mũ ngọc này! (ném mũ miện xuống đất). Vứt nó đi! Nó làm cho ta mỗi lần muốn gần chàng, bồng nhiên chỉ còn là một cái xác lạnh như đồng. Nó làm cho trong lòng ta cứ băng giá đi dần, mắt ta nhìn chàng chỉ thấy cứ xa đi mãi, xa mãi, chàng cũng đi sang bên kia với tất cả bọn họ rồi. Vứt cho xa đi, vứt nó đi! " (30,299) Đến Trương Chi là mối tình tuy mang màu sắc lãng mạn nhưng thật u buồn và vô vọng của Trương Chi và Mỵ Nương. Chỉ vì nghe được tiếng hát của Trương Chi mà Mỵ Nương đem lòng yêu thương, hàng ngày ra ngẩn vào ngơ, Nàng ước mong được gặp mặt Trương Chi đến nỗi bị bệnh tương tư, mọi tâm trí đều hướng về chàng: "(Trên lầu) Không biết anh ấy có đến không!... Ta hóa điên mất!... Giời ơi, anh Trương Chi, anh có nghe thấy em không, em đang đợi anh đây... Anh đến với em, anh đến với em, em chết mất!... anh có nghe thấy em không?... Chỉ vì em yêu anh quá... Anh ở đâu? Anh Trương Chi... (Trở vào)." (33, 649) Còn Trương Chi thì quá mặc cảm cho thân phận nghèo hèn và xấu xí của mình không thể xứng đáng với một tiểu thư cành vàng lá ngọc như Mỵ Nương. Nhìn thấy Mỵ Nương từ trên lầu, Trương Chi như ngơ ngẩn tâm hồn, thầm nghĩ: " Ở đời này lại có người như thê thật ư?... Đôi mắt ấy... Làn tóc ấy... ôi chao, gương mặt, cái dáng người, đôi cánh tay, đôi bàn tay... như một cô tiên ở cõi nào! Mỵ Nương! Vậy mà em lại đi tìm tôi ư! Nhưng mà anh Trương Chi, trên người chỉ có manh áo vá, mảnh quần xơ thế này! Hai chân giẫm đất thế này! Mặt mũi đen cháy, hai bàn tay cộm những chai thế này!Mỵ Nương!..." (30, 649) Trên đây là một số dẫn chứng được lấy ra từ những xúc cảm mãnh liệt nhát trong lòng con người. Đó là tiêng nói được phát ra từ sự thổn thức của con tim trong những giờ phút quan trọng nhất của cuộc đời nên sức truyền cảm của nó rất lớn, dễ được bạn đọc và khán giả tiếp nhận. 2.3.3 Tính cô đọng, hàm súc trong lời chú thích nghệ thuật Lời chú thích là một bộ phận không thể thiếu trong một vở kịch, làm những nhiệm vụ rất quan trọng như: nói rõ địa điểm, thời gian xảy ra câu chuyện kịch; nói rõ những hành động không lời của các nhân vật; nói rõ những sự biến từ ngoài ảnh hưởng tới nhân vật; gợi ý cho việc biểu diễn... Nhìn chung, người viết kịch có thể chú thích gì tùy theo ý mình nhưng nên chọn những chú thích thật cần thiết phục vụ cho tư tưởng chủ đề của vở kịch. Tsếkhốp đã nói rằng: "Nếu hồi một có treo khẩu súng thì hồi bốn khẩu súng ấy phải nổ". Những chú thích rườm rà, chồng chất quá nhiều chi tiết thừa sẽ dễ làm khán giả mệt mỏi. Ví dụ như một tác giả chú thích việc bài trí của một phòng khách tư sản như sau: "... Hai mé bên đều cổ cửa đi vào phía sau, một lối vào phòng ăn, một lối vào phòng giấy. Cửa to ở khoảng giữa mở rộng. Đằng sau có một tầng cửa bằng dây thép đan. Nhìn qua tầng cửa này, ta sẽ thấy rõ cây cối phía sau vườn xanh om, nghe có tiếng ve sầu kêu. Tủ áo lớn về phía tay phải, phủ một tấm vải vàng. Trên mặt tấm vải có ít đồ trang trí. Người ta đế ý ngay tới một tấm ảnh đã cũ, có vẻ lạc lõng giữa bấy nhiêu đồ trần thiết lộng lẫy. Trên lò sưởi, phía tay phải treo một cái đồng hồ. Trên tường có một bức hoa sơn dầu. Trước là hai cái ghế bành. Khoảng giữa, xế về tay trái, một cái tủ gương bày la liệt những đồ cổ..." (12, 155) Ta thấy quả là tác giả đã chất quá nhiều đổ đạc trên sân khấu, không còn biết cái gì quan trọng, cái gì là không quan trọng. Và như vậy, chắc chắn những người phục vụ cho nhu cầu của sân khấu sẽ phải tốn rất nhiều công sức để đáp ứng. Trở lại với kịch của Tsêkhốp, ông rất cẩn thận khi chú thích, chỉ cần vài dòng thật cần thiết để nói lên địa điểm và không gian. Ví dụ ở vở Cậu Hồi Một. Ngoài vườn. Thấy một phần nhà ở có hiên. Ớ lối đi, dưới gốc cây liễu già có một chiếc bàn bày đồ trà. Những chiếc ghế dài và ghế tựa. Trên một ghế dài có cây đàn ghi-ta. Gần bàn có một chiếc đu. Ba giờ chiều. Trời ảm đạm. Hồi Hai. Phòng ăn nhà Xêrêbriakốp. Ban đêm. Có tiếng mõ cầm canh ở ngoài vườn. Hồi Ba. Phòng khách nhà Xêrêbriakốp. Ba cửa ra vào ở hai bên và ở giữa. Buổi trưa.(2, 156) Nguyễn Đình Thi hiểu sâu sắc được tầm quan trọng của những lời chú thích cô đọng nhưng đầy đủ ý nghĩa. Trong những tác phẩm kịch của ông, lời chú thích rất ngắn gọn và mang tính nghệ thuật cao. Ta thử khảo sát một vài tác phẩm của ông để làm rõ: Ở vở Con nai đen, Nguyễn Đình Thi đã giới thiệu về địa điểm, thời gian và những hành động không lời của nhân vật ở mỗi cảnh kịch: Cảnh một: Rừng quế buổi chiều Cảnh hai .-Trong cung vua. Pho tượng đá đặt ở một góc phòng. Nhà vua đang ngồi đọc sách trước ánh nến. Tiếng gà gáy từ xa vẳng lại. Cảnh ba .'Một rừng cây cao bên hồ. Hoàng hậu cùng người cung nữ già đứng dưới bóng cây nhìn sang bên kia hồ. Cảnh bốn : Một quầng trường trước cổng cấm thành nơi vua ở. Buổi chiều tà, Hoàng hậu Quế Nga cùng người cung nữ già vừa đi ra ngoài thành về. Đây là những lời chú thích tuy ngắn, dường như có thể đặt bút là viết ngay được nhưng không phải là không trải qua sự suy nghĩ, cân nhắc của tác giả, xem chi tiết nào nên đưa vào, chi tiết nào không, ơ vở kịch khác, lời chú thích càng cô đọng và hàm súc hơn nữa, như vở Hòn cuội'. Cảnh một: Một táp nhà tranh trong xóm núi, buổi chiều trăng tròn. Cảnh hai: Một cây đa bên đường. Cảnh ba : Nhà Thêu Cảnh bốn : Chùa. Một tượng Bụt lớn bằng người, thấp thoáng sau màn lụa cũ. (...) Những lời chú thích đơn giản như vậy rất dễ cho những nhà đạo diễn và những người lo việc chuẩn bị đạo cụ, phông màn sắp xếp sao cho vừa đúng với ý của tác giả vừa phù hợp với hoàn cảnh thực tế cho phép. Và rải rác ở khắp các vở kịch của Nguyễn Đình Thi có rất nhiều những lời chú thích về những hành động không lời của các nhân vật, những sự biến từ ngoài ảnh hưởng tới nhân vật và những lời gợi ý cho việc biểu diễn, chuẩn bị sân khấu... được viết một cách nghệ thuật, cô đúc. ơ vở Rừng trúc, sau khi Trần Thủ Độ ban thưởng cho người quân hiệu biết làm đúng theo phép nước, tiếp đến là lúc vua tới, Nguyễn Đình Thi đã viết: "Chung quanh xốn xao vui. Người quân hiệu đi cùng vệ sĩ. Thủ Độ trở lên trên thềm, đi lại, nghĩ ngợi. Bỗng có tiếng hô hét bên ngoài. Tiếng hô bật lên: "Thánh thượng muôn tuổi". Trong sân im phắc. Trần Cảnh vào, cùng đi có một người dáng dấp thư sinh. Theo hầu hai bên, vệ sĩ mang gươm. Mọi quân lính quỳ xuống, tung hô: "Thánh thượng muôn tuổi". (30, 323-324) Ở một vở kịch khác, vở Tiếng sóng, trong cảnh một, tác giả đã chú thích như sau lúc giới thiệu sự xuất hiện của người con gái huyền ảo: "Tất cả im lặng. Chỉ còn tiếng sóng vỗ. Một vệt đèn pha lướt tới, cho thấy dòng sông phía xa đang dào sóng. Hiện lên một người con gái huyền ảo." (30, 505) Ở cảnh bốn, nói về quang cảnh sinh hoạt của một bệnh viện kháng chiến trong rừng: " Anh bộ đội vác bó củi đi. Cô y tá vào một căn lán, tiêm thuốc cho người bệnh. Căn lán này có đệm, chăn len, ghế vải v.v... Người bệnh mặc áo len, một người đàn bà đã đứng tuổi, vẻ người thành phố." (30, 554) Và ở cảnh cuối cùng của vở kịch, tác giả đã viết một lời chú thích tương đối dài nhưng thật đầy đủ và ý nghĩa hàm chỉ về quy luật sinh tồn, phát triển cùng những vui buồn khổ đau của đời người. Mỗi một sinh linh bé bỏng khi chào đời thì cũng có nghĩa là đã có một dòng sông đang hiện hữu và không ngừng vỗ sóng cho đến cuối cuộc đời: "Người con gái biến đi. Hiện lên cảnh một bến sông lổn nhổn những hố bom. Ánh cháy chập chờn phía xa. Một gốc cây cụt. Một người đàn bà, bụng có mang, đeo chiếc bị cói, đi tới. Lửa loe, từng tràng tiếng nổ, pháo bắn đến tới tấp. Người đàn bà quỵ xuống bên gốc cây cụt. Trong ánh lửa đạn, người ta thấy thấp thoáng bóng người đàn bà lăn lộn, trở dạ sau gốc cây. Một tiếng kêu dài. Im lặng. Rồi bật lên tiếng khóc oe oe của đứa trẻ mới sinh. Người con gái huyền ảo hiện lên. Những tiếng nổ lại ầm ầm. Người con gái bế đứa trẻ sơ sinh giơ lên cao. " (30, 597-598) Trên đây là những lời chú thích tiêu biểu trong rất nhiều lời chú thích của kịch Nguyễn Đình Thi mà chúng tôi không tiện dẫn hết ra đây được. Lời chú thích thì ở vở kịch nào cũng có nhưng không phải là có thể viết lan man, dài dòng thế nào cũng được mà cần phải có một nghệ thuật viết sao cho thật cô đọng và hàm súc. Bên cạnh đó, phải chú thích sao cho những người ở khâu chuẩn bị sân khấu dễ sắp xếp. Trong những lời chú thích ở kịch của mình, Nguyễn Đình Thi đã đáp ứng được một cách xuất sắc những yêu cầu trên. Không những thế, đọc những lời chú thích ấy của ông, ta còn thấy nó chan chứa một chất văn, chất thơ chứ không phải vì là lời chú thích mà có thể viết khô khan cứng nhắc thế nào cũng được. Và đây cũng là nét đáng quý được ghi nhận từ một nhà viết kịch nghiêm túc như Nguyễn Đình Thi. Tóm lại, một yêu cầu chung đối với lời văn trong một vở kịch, cả đối thoại, độc thoại lẫn chú thích đều phải có tính văn học. Một vở kịch được hoàn thành trước hết phải là một tác phẩm văn học có giá trị dù chưa được diễn trên sân khấu. Kịch của Nguyễn Đình Thi được các nhà nghiên cứu đánh giá là giàu chất văn học, ngôn ngữ phong phú, sinh động. Công sức của Nguyễn Đình Thi đã bỏ ra cho thể loại này không phải là nhỏ. Ngoài niềm đàm mê sáng tác kịch, chúng ta không thể phủ nhận tài năng vốn có của Nguyễn Đình Thi. Một vở kịch được đánh giá là hay ngoài hành động, kịch tính còn phải xét đến giá trị văn học của lời kịch. Hai yếu tố đó gắn bó hữu cơ với nhau bởi nếu lời kịch thiếu tính văn học thì cũng không có tính hành động đầy đủ được. 2.3.4 Điểm hạn chế trong ngôn ngữ kịch của Nguyễn Đình Thi xét từ góc độ sân khấu. Do tìm hiểu về đặc điểm kịch Nguyễn Đình Thi nên chúng tôi xin lạm bàn một chút về nét hạn chế trong ngôn ngữ kịch của ông ở một vài vở khi được đưa lên dàn dựng trên sân khấu. Đó là lời thoại quá dài, nặng chất văn học và chậm rãi về tiết tấu. Đây cũng là ý kiến của một số nhà nghiên cứu và đạo diễn sân khấu. Thiết nghĩ kịch viết ra chủ yếu là diễn chứ không phải để đọc nên khi gặp phải vấn đề khó khăn khi dàn dựng thì quả thật là điều đáng tiếc. Một loạt các vở kịch của ông khi vừa ra đời đã được giới văn nghệ sĩ công nhận là hay, có ý nghĩa sâu sắc và cũng mau chóng được các nhà đạo diễn bắt tay vào dàn dựng. Nhưng người ta thật sự ngạc nhiên vì sự "yểu mệnh" của nó trên ánh đèn sân khấu. Ví dụ như vở Con nai đen, sáng tác năm 1961, đến năm 1962 đã được Thế Lữ dàn dựng trên sân khấu, nhưng chỉ ra mắt khán giả chỉ vẻn vẹn mấy buổi. Đến vở Hoa và Ngần, do Dương Ngọc Đức đạo diễn, chỉ xuất hiện duy nhất ở đêm tổng duyệt. Và Nguyễn Trãi ở Đông Quan, viết năm 1979, đến năm 1980 đã được đạo diễn danh tiêng thời ấy là Nguyễn Đình Nghi dàn dựng với sự thể hiện của các diễn viên nổi tiếng Nhà hát kịch Trung ương nhưng cũng chỉ "sống" được có 9 đêm diễn. Lúc ấy trong giới sân khấu có truyền tụng một giai thoại vui: "Nếu kịch bản sân khấu mang tên Nguyễn Đình Thi, lại đạo diễn Nguyễn Đình Nghi thì khâu duyệt vở nhất định sẽ là Nguyễn Đình Chỉ!" (33, 397) Riêng kịch bản Rừng trúc, từ khi mới ra đời ai cũng tấm tắc khen hay nhưng phải lặng lẽ chờ đến hơn hai mươi năm sau, từ năm 1978 đến năm 1999 mới có cơ hội hóa thân thành một vở diễn hoành tráng trên sân khấu. Nói về vở kịch này, đạo diễn Nguyễn Đình Nghi tâm sự: "Vở kịch của anh Thi sáng tác theo phong cách cổ điển, thường đọc thì rất hay nhưng diễn thì lại khó cho cả đạo diễn lẫn diễn viên." (33, 366). Như vậy, lí do dẫn đến sự ra đời muộn màng của vở diễn Rừng trúc là ở khâu dàn dựng chứ không phải ở chủ đề tư tưởng. Có thể do tính chất kịch của Nguyễn Đình Thi chủ yếu đánh vào lòng trắc ẩn của mọi người, thể hiện sự xót xa, day dứt về những số phận nhỏ nhoi, đáng thương của con người nên trong kịch có nhiều đoạn thoại rất dài để nhân vật bộc lộ suy nghĩ, tâm trạng, ước muốn của mình. Ví dụ như lời thoại của Chiêu Thánh ở các trang: 298, 299, 304, 305, 306, 307..., lời thoại của Nguyễn Trãi ở các trang: 444, 445, 469, 480, 481..., lời thoại của các nhân vật trong vở Con nai đen ở các trang: 20, 48, 64, 65... in trong Tuyển tập Nguyễn Đình Thi (tập 1). Điều đó hoa ra là một trở ngại khi dàn dựng vở kịch vì diễn viên phải độc diễn một mình trên sân khấu không phải là một điều dễ, nêu không là một diễn viên thật sự tài năng. Thêm nữa, lời thoại quá dài khi lên sân khấu có thể làm giảm tính hấp dẫn, lôi cuốn khán giả hơn là những vở kịch có lời thoại ngắn nhưng nhiều hành động, mâu thuẫn và kịch tính. Thế nhưng, không thể vì những hạn chế nhỏ mà quên đi những giá trị to lớn mà vở kịch mang lại. Vì vậy, sau bao nhiêu năm nung nấu dự định trong lòng, đạo diễn nhân dân Nguyễn Đình Nghi và Phạm Thị Thành đã cùng nhau dàn dựng thành công vở Rừng trúc với sự giúp sức của một dàn nghệ sĩ tài danh Nhà hát Tuổi trẻ. Bằng năng lực diễn xuất tuyệt vời, họ đã vượt qua mọi thách đố khi dựng vở. Bằng chứng là chỉ riêng màn hai NSƯT Lê Khanh gần như độc diễn bằng độc thoại trong khoảng 40 phút. Đó là điều không phải diễn viên nào cũng có thể làm được. Và đó cũng là điều băn khoăn của các nhà đạo diễn bao nhiêu năm qua khi nghĩ liệu khán giả có chịu ngồi yên để theo dõi diễn viên độc thoại trong chừng ấy thời gian không? Liệu diễn viên có một mình làm chủ được sân khấu mà không trở thành người diễn thuyết hoặc cái loa phát ngôn của tác giả?... Như vậy, cuối cùng vở Rừng trúc cũng được hoa thân trọn vẹn thành những hình tượng sân khấu tuy phải trải qua gần 1/4 thế kỷ. Một thời gian dài cho thấy những khó khăn khi dàn dựng vở kịch là một thực tế không dễ vượt qua. Dù Là một nhà viết kịch có tài nhưng Nguyễn Đình Thi vẫn mắc phải điểm hạn chế mà ông không lường trước được. Hạn chế ấy tuy không lớn, không ảnh hưởng gì đến tư tưởng chủ đề của vở kịch nhưng cũng gây ra không ít trở ngại cho việc giới thiệu rộng rãi kịch của ông với công chúng. Tuy nhiên, điều ấy cũng không ngăn cản sự ngưỡng mộ của chúng ta đối với những công sức to lớn mà Nguyễn Đình Thi đã đóng góp cho thể loại kịch nói của nước nhà. KẾT LUẬN 1.Nguyễn Đình Thi là một trong những tác gia tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại. Những đóng góp của ông đặc sắc trên nhiều thể loại: thơ, tiểu thuyết, nhạc, kịch... Từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường ông đã được nhiều người biết đến qua việc giới thiệu các tác phẩm Triết học, nhưng; ông chỉ thật sự nổi tiếng từ sau Cách mạng tháng Tám bằng một sức sáng tạo dồi dào không mệt mỏi của mình (Vào những năm 1990 người ta còn tìm thấy những tác phẩm thơ của ông). Chính vì lòng say mê, nhiệt tình và năng lực sáng tạo ấy, ông được giới văn nghệ sĩ tín nhiệm giao cho giữ các chức vụ quan trọng trong các Hội Văn học nghệ thuật cho đến cuối cuộc đời. Và ông đã xứng đáng với lòng tin ấy... 2.Ở mỗi thể loại được sáng tác, ông đã đặt vào đó biết bao tâm huyết và kết quả của những năm tháng miệt mài là một số lượng tác phẩm thật đầy đặn. Vào giai đoạn sau của cuộc kháng chiến chống Mỹ và những năm sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Nguyễn Đình Thi tập trung vào sáng tác kịch và tỏ ra rất say mê. Mười vở kịch không phải là số lượng ít so với một tác giả sáng tác trên nhiều thể loại. Kịch của ông được viết theo nhiều đề tài khác nhau thể hiện tấm lòng yêu quí thiết tha dành cho quê hương đất nước và con người Việt Nam. Người ta thấy những vở kịch viết về đề tài lịch sử thời đầu nhà Trần và đầu nhà Lê. Trong đó là tình cảm của ông dành cho những nhân vật in đậm dấu son trong lịch sử dân tộc như Lý Chiêu Hoàng, Trần Cảnh, Nguyễn Trãi... Một loạt các vở kịch được sáng tác dựa theo các truyện cổ tích truyền thuyết thể hiện năng lực sáng tạo riêng rất độc đáo của Nguyễn Đình Thi nhằm tô đậm thêm lên những câu chuyện cảm động từ các tích xưa. Và không thể nào quên giai đoạn hào hùng và đau thương của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Phấp - Mỹ, Nguyễn Đình Thi trong một số vở kịch của mình đã phần nào thể hiện sống động giai đoạn lịch sử đó theo cách nhìn và cảm nhận riêng của mình. Đọc những vở kịch của ông được sáng tác trong khoảng gần 30 năm, người ta nhận thấy tuy phong phú về đề tài nhưng có phần hơi dàn trải nên trừ các vở kịch về đề tài lịch sử, còn lại ông không có những tác phẩm được đánh giá là thật xuất sắc ở các đề tài khác. 3.Về những vấn đề chủ yếu trong kịch của Nguyễn Đình Thi, nhìn chung tác giả nghiêng về những nỗi đau thương, bất hạnh của con người trong cuộc sống và lồng vào trong những trang kịch ấy là sự cảm thông và thương tiếc khôn nguôi cho những số phận không may của họ. Đọc những tác phẩm kịch của ông, người ta nhận thấy đã là con người thì không thể nào tránh được những nỗi đau khổ của kiếp người, nó dai dẳng triền miên qua các thời đại. Từ những con người trong lịch sử ngàn năm của dân tộc còn in đậm mãi những dấu ấn đau thương, đến những bi kịch mà họ gặp phải trong đời sống gia đình, xã hội và trong chiến tranh... Nguyên nhân gây ra những nỗi bi thương của con người thì nhiều vô kể và không có nguyên nhân nào giống nguyên nhân nào. Như nạn tranh giành và củng cố quyền lực đã đẩy con người ra khỏi địa vị cao quí mà họ đã có, thói ghen tuông mù quáng đưa đến sự lầm lỡ đáng tiếc, sự vô tình hồi trẻ dại đã gây ra nỗi oan nghiệt khi trưởng thành, chiến tranh phi nghĩa gây ra bao cảnh tang thương, mất mát... Mặc dù một số vở kịch của ông có cốt truyện quen thuộc với bạn đọc, với khán giả nhưng người ta vẫn cảm nhận được cái hay, cái lạ, bởi nó chứa đựng phần hồn của tác giả gửi vào trong tác phẩm. Đó là những tâm tư tình cảm, những nỗi lòng xót xa, day dứt được thể hiện trong từng câu nói. Đọc kịch của ông, người ta hiểu thêm về cuộc đời còn lắm nhọc nhằn và cay đắng, từ đó rút ra bài học tốt về nhân sinh, thế sự. Đọc kịch của ông, người ta càng tự hào về con người Việt Nam, không những thủy chung, hiền dịu mà còn mạnh mẽ, kiên cường. Trong chiến tranh, nét đẹp của những tính cách ấy như càng nhân thêm lên. Dầu trong bom đạn hiểm nguy, con người vẫn kiên cường chiến đấu và chiến thắng. Họ vượt lên trên mọi đau thương, mọi khó khăn của hoàn cảnh để hy sinh vì nghĩa lớn. Như vậy, kịch của Nguyễn Đình Thi, ngoài việc tô đậm thêm những câu chuyện của quá khứ, nó còn chở nặng cái tình. Tình của tác giả chan chứa với tình người. 4.V ề phương diện nghệ thuật viết kịch, Nguyễn Đình Thi cũng có những tìm tòi sáng tạo riêng. Trước hết, nói đến sự thành công của một tác phẩm kịch, không thể không nói đến nghệ thuật xây dựng nhân vật. Đây chính là yếu tố cốt lõi tạo nên sự thành công của vở kịch. Xuất hiện trong các sáng tác của tác giả là một thế giới nhân vật đa dạng phong phú. Người ta tìm thấy những nhân vật lịch sử đầy ắp tâm trạng, nỗi niềm, những nhân vật truyền kỳ với những nỗi đau riêng được lưu truyền trong dân gian, nhân vật biểu trưng lạ lẫm, độc đáo chuyên chở những trăn trở của tác giả, nhân vật con người mới anh hùng, mạnh mẽ trong chiến tranh. Ở mỗi loại nhân vật, ông đều có cách xây dựng, khắc họa theo lối riêng và đạt được những thành công nhất định. Đối với những nhân vật mang nặng nỗi ưu tư, phiền muộn, ngòi bút của ông thật sắc sảo, bóc tách dần những nỗi đau và tâm trạng của họ. Với những nhân vật biểu trưng, qua tài năng miêu tả, khắc họa đã mang màu sắc huyền biến, kỳ ảo nhưng những vấn đề mà nó chuyển tải thì lại không xa lạ với cuộc đời thật. Đến những nhân vật con người mới trong chiến tranh thì lại được tác giả xây dựng một cách sinh động, chân thật và gần gũi với cuộc sống hiện tại... 5.Việc tổ chức xung đột kịch là một đặc điểm nghệ thuật rất quan trọng trong kịch của Nguyễn Đình Thi. Tim hiểu kịch của ông, người ta nhận thấy có một số xung đột chính yếu như: xung đột giữa tham vọng của quyền lực và quyền sống hạnh phúc của con người; xung đột giữa tính cách và hoàn cảnh, giữa người anh hùng yêu nước và bè lũ cướp nước; xung đột giữa tình yêu nhân tính và dục vọng thú tính; xung đột hiểu lầm, một bi kịch gia đình. Ở mỗi kiểu xung đột đều thể hiện được năng lực tổ chức và dẫn dắt xung đột một cách tài tình của tác giả. Xung đột gay cấn, hấp dẫn trong một số vở kịch của Nguyễn Đình Thi đã thực sự góp phần quan trọng trong việc nâng cao giá trị kịch của ông. 6.Một đặc điểm nữa cũng không kém phần quan trọng mang đến thành công cho kịch của Nguyễn Đình Thi là ngôn ngữ nghệ thuật. Trong kịch của ông, có hai thứ ngôn ngữ đối thoại và độc thoại được sử dụng một cách thuần thục. về ngôn ngữ đối thoại, người ta nhận thấy một thế giới ngôn ngữ phong phú, nhiều vẻ của những con người đối đáp với nhau. Có thể tìm thấy hàng loạt các tính chất như : chất văn học, chất triết lý, chất dí dỏm, hài hước, chất khẩu ngữ, chất hành động. Ở mỗi tính chất lại có nét đặc sắc riêng, mang cái "duyên" riêng của tác giả. Ngôn ngữ độc thoại cũng phát huy nhiều tác dụng trong việc đặc tả tâm trạng của nhân vật. Do nội dung của vở kịch và tính cách của nhân vật, trong kịch của Nguyễn Đình Thi, ta thấy có rất nhiều đoạn độc thoại. Ngôn ngữ độc thoại, ngoài việc bộc lộ nội tâm của nhân vật còn mang chất truyền cảm cao nên rất dễ rung động lòng người. Tuy nhiên, đôi lúc do niềm cảm hứng quá dào dạt, Nguyễn Đình Thi đã cho ra đời những đoạn độc thoại hoặc đối thoại quá dài, điều đó phần nào gây ra những khó khăn, hạn chế trong việc đưa lên sân khấu một số vở kịch của ông. Ngoài ra, ngôn ngữ nghệ thuật còn thể hiện trong những lời chú thích được sử dụng một cách cô đọng, hàm súc. Dù không quan trọng trên sân khấu nhưng những lời chú thích này góp phần rất lớn cho việc chuẩn bị vở diễn và cả cho việc tìm hiểu đánh giá tài năng viết kịch của tác giả ở mỗi chúng ta. 7.Trong lịch sử văn nghệ cách mạng, Nguyễn Đình Thi là một dâu ấn khó phai mờ. Những đóng góp của ông không phải là nhỏ. Tuy sức sống của những tác phẩm của ông còn phải chịu sự kiểm chứng khắc nghiệt của thời gian nhưng tên tuổi của ông thì đã khắc vào thế kỷ. Với mong muốn được góp phần tìm hiểu về kịch của ông, chúng tôi đã tiến hành khảo sát những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật ở mảng sáng tác này. Dù phạm vi khảo sát còn chưa đầy đủ, chưa bao quát hết được những đặc điểm vốn có của kịch Nguyễn Đình Thi nhưng luận văn cũng đã chỉ ra những đóng góp rất có giá trị của ông cho thể loại kịch nói của dân tộc. Ngoài sự say mê viết kịch và tài năng của ông, người ta còn thấy tác phẩm của ông chứa đựng cái tâm. Đó là tấm lòng yêu thương nhân loại thật bao la, xót xa trước những hoàn cảnh khổ đau, bất hạnh của con người. Chính những mặt thành công ở thể loại này và ở những thể loại khác, cộng với tấm lòng nhiệt thành của ông đối với sự nghiệp văn học dân tộc đã tạo cho ông một địa vị xứng đáng trong lòng của bạn đọc bao thế hệ. Thời gian dẫu qua đi nhưng chúng ta vẫn tin rằng những gì còn lại của ông sẽ không mất. Người ta sẽ nhớ mãi một Nguyễn Đình Thi lịch thiệp, đôn hậu, tài năng nhưng vô cùng khiêm tốn: "Tôi không nói được mình đã trải đời Không nói được mình đã hiểu người Không dám nói mình đã biết yêu Không dám nói mình đã biết sống." {Tóc bạc) THƯ MỤC THAM KHẢO 1. Phạm Vĩnh Cư (2003) - Con nai đen của Nguyễn Đình Thi với Vua Hươu của Carlo Gozzi (Nghiên cứu so sánh dưới góc độ mỹ học tiếp nhận), Tạp chí Văn học số 6 (376) Tháng 6 - 2003. 2.Trần Bạch Đằng(2003) - Tiễn anh Nguyễn Đình Thi, nhớ lại Nguyễn trãi ở Đông Quan, Báo Công an TPCHM, số 1136, ngày 22-4-2003. 3.Trần Bạch Đằng(2003) - Tiễn anh Nguyễn Đình Thi, nhớ lại Nguyễn Trãi ở Đông Quan, báo Công an TPHCM, số 1137, ngày 24-4-2003. 4.Tất Đạt(1971) - Sáng tác và phê bình kịch theo chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa nghiêm túc, Tạp chí Văn học, sô 2. 5.Trung Đông(1986) - Sân khấu đi gần đến cuộc sống, Tạp chí Văn học, số 1. 6.Dương Ngọc Đức( 1984) - Một chặng đường đã đi và mấy vấn đề đặt ra trong sự phát triển của sân khấu kịch nói, Tạp chí Văn học, số 2. 7.Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi(1992) - Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục. 8.Đỗ Đức Hiểu(1997) - Bi kịch Vũ Như Tô, Tạp chí Văn học, số 10. 9.Đỗ Đức Hiểu(1998) - Mấy điều về kịch và thi pháp kịch, Tạp chí Văn học, số 2. 10.Phan Kế Hoành, Huỳnh Lý(1978) - Bước đẩu tìm hiểu lịch sử kịch nói Việt Nam (trước CMT8), NXB Văn hoa. 11.Phan Kế Hoành, Quang Vinh(1982) - Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nói Việt Afam(1945-1975), NXB Văn hoa. 12.Nguyễn Nam(1969) - Tim hiểu nghệ thuật viết kịch, Vụ văn hóa quần chúng xuất bản, Hà Nội. 13.Lịch sử Việt Nam, tập 1(1976) - NXB KHXH, Hà Nội. 14.Nguyễn Đình Nghi(2000) - Kịch nói Việt Nam đến hiện đại từ truyền thống, Tạp chí Văn học, số 6. 15.Hồ Ngọc(1967) - về đặc trưng kịch, Tạp chí Văn học, số 6. 16.Nhiều tác giả(1988) - Văn học Việt Nam 1945-1975 (tập 1), NXB Giáo dục. 17.Nhiều tác giả(1992) - Vãn học Việt Naml945-1975 (tập 2), NXB Giáo dục. 18.Học Phi(1983) - Một đảng viên, NXB Văn học. 19.Học Phi(1984) - Cô hàng rau, NXB Tác phẩm mới. 20.Đình Quang(1976) - vấn đề mâu thuẫn trong kịch, Tuần báo Văn nghệ, ngày 27-1. 21.Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế(1996) - Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội. 22.Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam(1987) - Lý luận Văn học, tập 2, NXB Giáo dục. 23.Tất Thắng(1971) - Chủ đề của tác phẩm kịch, Tạp chí Văn học, số 1. 24.Tất Thắng(1972) - Dành vị trí trung tâm của sân khấu cho những anh hùng của thời đại, Tạp chí Văn học, số 5. 25.Tất Thắng(1978) - Vài khía cạnh của vấn đề hình tượng con người mới trong kịch, Tạp chí Văn học, số 6. 26.Tất Thắng(1981) - về hình tượng con người mới trong kịch, NXB KHXH. 27.Tất Thắng(1986) - Một yếu tố làm nên sức hấp dẫn chân chính và giá trị lâu dài của kịch, Tạp chí Văn học, số 1. 28.Tất Thắng(1997) - Một yếu tố quan trọng trong thi pháp kịch, Tạp chí Văn học ,số 3. 29.Nguyễn Đình Thi (2003) - Tuyển tập kịch Nguyễn Đình Thi, NXB Văn học. 30.Nguyễn Đình Thi (1997) - Tuyền tập Nguyễn Đình Thi, tập 7, NXB Văn học. 31.Nguyễn Đình Thi (1997) - Tuyển tập Nguyễn Đình Thi, tập 2, NXB Văn học. 32.Nguyễn Đình Thi (1997) - Tuyển tập Nguyễn Đình Thi, tập 3, NXB Văn hoe. 33.Nguyễn Đình Thỉ, về tác gia và tác phẩm (Hà Minh Đức giới thiệu, tuyển chọn ) (2000), NXB Giáo dục. 34.Nguyễn Khắc Thuần - Danh tướng Việt Nam (tập 1) (2000) - NXB Giáo dục. 35.Nguyễn Khắc Thuần - Danh tướng Việt nam (tập 2) (2002) - NXB Giáo dục. 36.Đại Việt sử kí toàn thư (tập 1) (1983) - NXB KHXH. 37.Bùi Ngọc Trác (1987) - sự hình thành và phát triển hình tượng con người mới trong kịch nói Việt nam, Nghiên cứu nghệ thuật, số 4. 38.Thích Thanh Từ (1996) - Khoa hư lục giảng giải, NXB TPHCM. 39.Nguyễn Huy Tưởng (1996) - Tuyển tập Nguyễn Huy Tưởng, tập 1, NXB Văn học Hà Nại. 40.Nguyễn Huy Tưởng, về tác gia và tác phẩm (Bích Thu, Tôn Thảo Miên tuyển chọn, giới thiệu) (2001), NXB Giáo dục. 41.Trần Vượng(1971) - Mở rộng tìm tòi hình thức kịch để phản ánh chân thực cuộc sống mới, Tạp chí Văn học, số 1. 42.Sân khấu qua một chặng đường lịch sử (Kỷ yếu Đại hội sân khấu toàn quốc lần thứ 2) (1984) - Hội nghệ sĩ sân khấu.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfdac_diem_kich_nguyen_dinh_thi_327.pdf
Luận văn liên quan