Luận văn Đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Để khắc phục những hạn chế này cần tiến hành đồng bộ những giải pháp về nhận thức chính trị - tư tưởng, kinh tế - xó hội, văn hoá - giáo dục, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Trong đó, trước hết cần có sự quan tâm, tham gia tích cực của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, các tổ chức chính trị - xó hội, cỏc doanh nghiệp trong việc tuyờn truyền, phổ biến nhằm nõng cao nhận thức cho toàn xó hội về vị trớ, vai trũ của đội ngũ công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đồng thời, cần phải có sự đầu tư thoả đáng về cơ sở vật chất cũng như về tinh thần cho đội ngũ công nhân.

pdf103 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 18/11/2013 | Lượt xem: 1777 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng đặc biệt quan trọng. 2.2.2. Nõng cao giỏc ngộ và bản lĩnh chớnh trị, trỡnh độ học vấn tay nghề, tác phong công nghiệp, thực hiện “trí thức hoá công nhân” Từ thực tiễn phong trào cỏch mạng cho thấy, một giai cấp nắm quyền lónh đạo cách mạng nhất thiết không chỉ là giai cấp triệt để cách mạng mà cũn phải là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, cú ý thức tổ chức kỷ luật chặt chẽ, tỡnh đoàn kết giai cấp, có trí tuệ, phẩm chất ưu trội. Giai cấp công nhân Việt Nam nói chung, đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang nói riêng không chỉ là người thực hiện thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc trong thời gian vừa qua mà hiện đang là chủ thể trong công cuộc dựng xây CNXH vốn vô cùng khó khăn phức tạp, chưa có tiền lệ. Từ thực tiễn Đổi mới của đất nước trên 20 năm qua cũng đó cho thấy để có thể hoàn thành sứ mệnh đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đội ngũ công nhân không có con đường nào khác là phải vượt qua mọi thách thức, chớp lấy thời cơ, chủ động hội nhập. Nhưng giai cấp công nhân chỉ thực sự là giai cấp lónh đạo cách mạng, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và phát triển nền kinh tế công nghiệp hiện đại, nền kinh tế tri thức khi và chỉ khi họ đó được chuẩn bị đầy đủ cả về trỡnh độ học vấn, tay nghề có thể chủ động nắm bắt và sáng tạo công nghệ mới, giác ngộ lợi ích giai cấp, dân tộc, có bản lĩnh chính trị vững vàng trước mọi bước quanh của lịch sử. Hơn nữa, giai cấp công nhân cũng cần tiếp tục nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chớnh trị, trỡnh độ học vấn và tay nghề, tác phong công nghiệp, thực hiện “trí thức hoá công nhân”. Bởi vỡ, việc nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị cho đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang nhằm làm cho đội ngũ công nhân có ý thức sâu sắc về địa vị làm chủ của mỡnh, thấm nhuần mục tiờu lý tưởng: độc lập dõn tộc và chủ nghĩa xó hội, giỏc ngộ lợi ớch giai cấp và lợi ớch dõn tộc; nắm vững, vận dụng và phỏt triển sỏng tao chủ nghĩa Mỏc - Lờnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động dịch vụ ở mỗi cơ sở, mang lại hiệu quả kinh tế - xó hội cho doanh nghiệp và cho xó hội; giỏc ngộ truyền thống yờu nước, tinh thần độc lập tự chủ, ý chớ tự lực tự cường, rốn luyện tỏc phong cụng nghiệp và ý thức tổ chức, kỷ luật của công nhân. Đúng như Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, khoá X đó khẳng định: Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: Là giai cấp lónh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiờn tiến; giai cấp tiờn phong trong sự nghiệp xõy dựng chủ nghĩa xó hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vỡ mục tiờu dõn giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ, văn minh; lực lượng nũng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lónh đạo của Đảng [15, tr.44]. Cùng với việc nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị cho đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang thỡ vấn đề cấp bách đang đặt ra đối với đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phải nâng cao trỡnh độ học vấn tay nghề, tác phong công nghiệp, thực hiện “trí thức hoá công nhân”. Đây thực chất là nhằm nâng cao trỡnh độ đội ngũ công nhân và tạo điều kiện để họ vừa lao động sản xuất vừa tham gia nghiên cứu khoa học, áp dụng và sáng tạo công nghệ mới nhằm cải tiến quản lý sản xuất, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Trong những năm qua, Đảng bộ, Chính quyền và đoàn thể các cấp tỉnh Kiên Giang đó cú sự quan tâm, chú trọng đến công tác đào tạo nghề cho người lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang nhờ vậy tay nghề của đội ngũ công nhân đó được nâng lên một bước mặc dù hiệu quả cũn thấp. Giải quyết vấn đề này rừ ràng việc đưa những công nghệ tiên tiến vào doanh nghiệp, thực hiện liên doanh, liên kết với các cơ sở đào tạo của trung ương cũng như của các tỉnh bạn là giải pháp thiết thực, có hiệu quả bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên đại bàn tỉnh Kiên Giang. Đào tạo nghề cho người lao động là công việc khó khăn, lâu dài bởi đa phần công nhân tỉnh Kiên Giang xuất thân từ nông dân và có tuổi đời cũn trẻ, và quan trọng hơn nữa trỡnh độ dân trí của họ cũn thấp. Chớnh vỡ vậy, nhiệm vụ đặt ra là: Thứ nhất, đổi mới và tăng cường công tác giáo dục chính tri, tư tưởng theo hướng gắn công tác tư tưởng với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở từng doanh nghiệp, công ty, đơn vị; gắn công tác tổ chức kiểm tra hoạt động sản xuất với khuyến khích bằng lợi ích vật chất. Ở đây có vấn đề cần đặc biệt lưu ý là công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần được gắn kết với giỏo dục ý thức phỏp luật và giỏo dục đạo đức cách mạng, với việc xây dựng lối sống mới, tác phong công nghiệp cũng như phải gắn kết việc giáo dục chính trị, tư tưởng với giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức dõn tộc và ý chớ vươn lên thoát nghèo nàn, lạc hậu. Việc đổi mới công tác xây dựng đảng cả về chính trị, tổ chức và tư tưởng là cơ sở để đổi mới công tác cán bộ Đảng và cán bộ trong doanh nghiệp, xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức lónh đạo của tổ chức cơ sở đảng. Việc thực hiện nghiêm chỉnh chế độ sinh hoạt đảng, nhất là ở các tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; làm tốt công tác phát triển đảng, tạo điều kiện kết nạp những công nhân ưu tú vào Đảng chính là khẳng định vị trí, vai trũ là người tổ chức và lónh đạo giai cấp công nhân của Đảng. Đây đồng thời cũng là việc khẳng định hoạt động của đoàn thanh niên tại khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh là hoàn toàn có thể và có nhiều triển vọng, chắc chắn sẽ được sự ủng hộ của giới chủ vỡ hoạt động đoàn nếu thực chất là hoàn toàn đồng thuận với mục tiêu của các doanh nghiệp: chất lượng, hiệu quả, xây dựng văn hoá doanh nghiệp lành mạnh, tiến bộ. Trong điều kiện thông tin bùng nổ như hiện nay thỡ việc cung cấp đầy đủ, kịp thời và có định hướng những thông tin cần thiết cho công nhân thông qua những đợt sinh hoạt chính trị, học nghị quyết, nghe thời sự và các hỡnh thức khỏc là biện pháp hết sức bổ ích nhằm nõng cao trỡnh độ nhận thức của công nhân về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trỡnh kế hoạch của doanh nghiệp, cũng như nhận thức đúng tỡnh hỡnh, nhiệm vụ của cỏch mạng, hiểu đúng thời cơ và thách thức, từ đó củng cố và nâng cao lũng tin đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quyết tâm thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cũng như của từng đơn vị. Thứ hai, để đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ hội nhập quốc tế, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thỡ việc nõng cao trỡnh độ học vấn tay nghề, tác phong công nghiệp, thực hiện “trí thức hoá công nhân” cần phải: * Bằng nhiều hỡnh thức, nhiều lực lượng (nhà nước, xó hội, người sử dụng lao động và bản thân người lao động) đẩy mạnh công tác giáo dục đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao tay nghề, nâng cao chất lượng lao động nhằm nhanh chóng tăng khả năng thích ứng, tiếp cận nhanh với khoa học công nghệ hiện đại phục vụ cho phát triển kinh tế ở những ngành, lĩnh vực thế mạnh của địa phương như nông - lâm - thủy sản, vật liệu xây dựng, du lịch.... Trong đào tạo việc nõng cao trỡnh độ chuyên môn tay nghề cho công nhân phải bảo đảm đem lại lợi ích thiết thực cho việc lựa chọn nghề, sống bằng nghề và yên tâm với nghề của họ, đồng thời tạo điều kiện cho họ có khả năng phát triển năng lực sáng tạo để góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xó hội cho doanh nghiệp và xó hội; phải hướng tới sự phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng ngành nghề, hiện đại hoá ngành nghề truyền thống và phát triển những ngành nghề mới có hàm lượng trí tuệ và công nghệ hiện đại cao; nâng cao tay nghề, bồi dưỡng lũng yờu nghề, đam mê nghề nghiệp của công nhân, góp phần định hướng và phát triển nhân cách cá nhân và các giá trị văn hoá lao động cho đội ngũ công nhân. Chú trọng chính sách đào tạo, sử dụng công nhân trong và sau khi đào tạo. * Xây dựng kế hoạch đào tạo công nhân đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà phải đi đôi với việc quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng những nhà kinh doanh có tài, có đức, những nhà quản lý giỏi và cỏc nhà khoa học, kỹ thuật cú trỡnh độ cao. Thực hiện phối kết hợp đồng bộ các lực lượng cùng tham gia đào tạo, cần có những chính sách phù hợp, các điều kiện vật chất - kỹ thuật đủ mạnh, đầu tư xây dựng trường lớp, cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại và phải có đội ngũ giáo viên dạy nghề đủ về lượng, giỏi về chất, phong phú về tâm hồn, trong sáng về đạo đức và thiết tha với nghề nghiệp. Có chính sách khuyến khích liên kết các cơ sở đào tạo nghề và các doanh nghiệp trong đào tạo, đào tạo lại. Trong thời gian trước mắt từ nay đến 2010 cần nghiên cứu ban hành một số chủ trương sau:  Bổ sung, sửa đổi chương trỡnh phỏt triển nguồn nhõn lực của tỉnh đến năm 2020, trong đó cần tập trung đào tạo cụng nhõn trẻ, cú trỡnh độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề cao có thể đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa tỉnh nhà.  Có kế hoạch tuyển chọn một bộ phận thanh niên ưu tú là nữ, người dân tộc có phẩm chất đạo đức, học vấn vào các trường dạy nghề nhằm đa dạng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là cơ sở để đào tạo được đội ngũ công nhân giỏi, đặc biệt trong các ngành chế biến thuỷ sản. Đây cũng là cơ sở để tuyển chọn đào tạo cán bộ quản lý, cỏn bộ lónh đạo xuất thân từ công nhân. Như vậy, các cấp chính quyền của tỉnh cần giữ vững tỷ lệ ngân sách chi cho đào tạo nghề hàng năm, đặc biệt quan tâm đào tạo nghề cho những khu, cụm công nghiệp. Bên cạnh đó việc đầu tư mở rộng các Trung tâm giới thiệu việc làm của Đoàn Thanh niên, Liên đoàn Lao động, Sở Lao động - Thương binh và Xó hội, cỏc trung tõm hướng nghiệp - dạy nghề ở các địa phương cũng là góp phần thực hiện tốt công tác dạy nghề trong tỉnh.  Thực hiện chính sách ưu đói cho các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu của địa phương, doanh nghiệp thỡ vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là hằng năm cần dành một phần kinh phí để đào tạo lại nghề cho công nhân (kinh phí được tính vào giá trị đầu tư và hạch toán vào chi phí sản xuất của doanh nghiệp); đi đôi quan tâm tạo điều kiện cho công nhân tự học tập nâng cao trỡnh độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ... theo phương châm công nhân giỏi một nghề, biết nhiều nghề.  Xây dựng chuẩn mực sống và làm việc có văn hóa, có kỷ luật tự giác trong công nhân, nhất là các chuẩn mực trong lao động sản xuất, trong quản lý, giao tiếp, rốn luyện tỏc phong cụng nghiệp như năng động, sáng tạo, có ý thức tổ chức, kỷ luật trong lao động…; phát động phong trào công nhân thực hiện tốt lối sống có văn hóa (ham thích học tập, sáng tạo, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ…). 2.2.3. Xây dựng và thực hiện tốt các chính sách tạo động lực cho đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang Thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước, cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đó chỉ rừ việc xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam nói chung và đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang nói riêng chỉ thực sự có hiệu quả nếu các cấp chính quyền đoàn thể tạo ra được động lực để đội ngũ này phát triển, phấn đấu vưon lên, bao gồm cả động lực vật chất và động lực tinh thần; động lực trực tiếp, động lực gián tiếp; động lực trước mắt và động lực lâu dài. Bới vỡ, động lực trực tiếp đối với người công nhân chính là lợi ích thiết thân về việc làm và thu nhập, là các nhu cầu ngày càng tăng về văn hoá - xó hội. Trong điều kiện hiện nay trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ công nhân cũn gặp khụng ớt khú khăn. Do vậy, cần có sự quan tâm giải quyết thoả đáng vấn đề lợi ích kinh tế cho công nhân thỡ chắc chắn sẽ phỏt huy được tinh thần trách nhiệm, tính năng động sáng tạo và tạo được sự gắn bó giữa công nhân với nông dân, trí thức và với toàn dân tộc. Tuy nhiên, khi giải quyết lợi ích kinh tế, cần phải có sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích kinh tế với lợi ích tinh thần, lợi ích chung với lợi ích riêng, lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài, lợi ích kinh tế gắn với các lợi ích khác. Muốn vậy, cần thường xuyên quan tâm xây dựng và thực hiện tốt các chính sách xó hội đối với đội ngũ công nhân bằng các biện pháp như sau: Một là, xây dựng và thực hiện có hiệu quả chính sách giải quyết việc làm cho công nhân Người lao động nói chung, đội ngũ công nhân Kiên Giang nói riêng phải có việc làm. Khi người công nhân có việc làm họ sẽ có thu nhập từ đó thoả món những nhu cầu cả về vật chất và tinh thần, là cơ sở để họ có điều kiện phát triển toàn diện. Đó là một nhu cầu thiết yếu đối với người lao động, là điều kiện để đội ngũ công nhân tồn tại và phát triển trên mọi phương diện. Không thể có được một đội ngũ công nhân vững mạnh khi họ thiếu việc làm. Thời gian qua thực hiện chương trỡnh giải quyết việc làm cho người lao động, các ngành, các cấp tỉnh Kiên Giang theo chức năng, nhiệm vụ được giao đó thực hiện nhiều giải phỏp tớch cực gúp phần hoàn thành chỉ tiờu, kế hoạch giải quyết việc làm hằng năm của tỉnh. Về phía các doanh nghiệp đó mở rộng sản xuất, thu hỳt được nhiều lao động tham gia. Trên địa bàn tỉnh đó cú nhiều doanh nghiệp cú số lao động tăng nhanh, ví như: Công ty liên doanh Bao bỡ Hà Tiờn, Cụng ty Kiờn Cường, Công ty thuỷ sản Bim Kiên Giang, Công ty Đầu tư và Xây dựng Kiên Giang… Tại các doanh nghiệp này, nhỡn chung, tỡnh hỡnh việc làm của cụng nhõn trong cỏc doanh nghiệp tương đối ổn định. Các quy định về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, các chế độ chính sách từng bước được các doanh nghiệp quan tâm, nhờ vậy đời sống người lao động từng bước được cải thiện. Mặc dù vậy, lao động việc làm luôn là vấn đề bức thiết của toàn xó hội, trong đó có Kiên Giang. Để giải quyết việc làm cho người lao động Đảng bộ và Chính quyền tỉnh Kiên Giang cần phải:  Sớm hoàn thiện các chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế ổn định lâu dài trên địa bàn tỉnh, nhất là các chính sách nhằm giải phóng mọi nguồn lực ở địa phương, phát huy mọi tiềm năng, khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức và cá nhân, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư vào sản xuất kinh doanh... tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, làm cho đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang phát triển đông về số lượng, mạnh về chất lượng.  Tập trung nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, sức khỏe cho công nhân. Thực hiện tốt các chính sách chế độ, quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện cho công nhân lao động phát triển kinh tế gia đỡnh. Nghiờn cứu thành lập Quỹ hỗ trợ thất nghiệp của tỉnh nhằm góp một phần trợ cấp để người lao động tăng khả năng tỡm việc làm mới.  Trước mắt, cần quan tâm đầu tư phát triển các ngành nghề, các lĩnh vực cần ít vốn mà có khả năng thu hút nhiều lao động. Phục hồi và phát triển các làng nghề truyền thống để giải quyết lao động dư thừa tại nông thôn, hạn chế sự cạnh tranh nhu cầu việc làm do người lao động từ nông thôn chuyển ra thành thị đi đôi với khuyến khích các doanh nghiệp mạnh dạn sử dụng công nghệ mới và thu hút lao động có tay nghề cao là một hướng phát trtiển tốt cần tiếp tục đầu tư phát triển.  Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác lao động và xuất khẩu lao động, chú trọng đào tạo nghề theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu lao động. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về lao động và việc làm nhằm bảo vệ lợi ích người lao động, chủ doanh nghiệp và của nhà nước. Hai là, thực hiện tốt chính sách tiền lương, tiền công lao động và tiền thưởng Tiền lương, tiền công là nguồn thu nhập chủ yếu, quan trọng nhất đối với công nhân. Bằng nguồn thu nhập đó người công nhân không chỉ dùng để tái tạo ra sức lao động mà cũn để họ tổ chức cuộc sống của mỡnh. Hơn nữa, lao động- việc làm - tiền lương, thu nhập của người lao động cũn thể hiện bản chất ưu việt của chế độ XHCN. Qua khảo sát thực tế tại một số doanh nghiệp của hai cụm công nghiệp là Tắc Cậu và Kiên Lương cho thấy, thu nhập của công nhân tại khu vực Kiên Lương cao hơn khu vực Tắc Cậu. Cụ thể, tại khu vực Kiên Lương thu nhập bỡnh quân 2.492.000đ/người/tháng, tại khu vực Tắc cậu là 1.366.666đồng/người/tháng. Các khoản tiền thưởng, ăn giữa ca tại khu vực Kiên Lương cũng cao hơn khu vực Tắc Cậu. Điều đáng chú ý là, tại khu vực Tắc Cậu, với mức lương bỡnh quõn là 1.366.666đống/người/tháng như trên (khu vực này chủ yếu là công nhân ngành chế biến thuỷ sản) thỡ so với 04 năm trước (bỡnh quõn 1,1 đến 1,3 triệu đồng) là tăng rất ít [16, tr.4]. Do vậy, đời sống của công nhân khu vực này sẽ rất khó khăn trước tỡnh hỡnh giỏ cả tăng cao như hiện nay. Theo quy định, tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động, nhưng không được thấp hơn so với mức lương tối thiểu và được trả theo năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc. Phần lớn các doanh nghiệp đó tớch cực tạo việc làm để tăng thu nhập cho người lao động. Nhỡn chung, cỏc đơn vị thực hiện trả lương đúng quy định. Một số công ty có mức lương bỡnh quõn tương đối khá như Công ty trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu Kiên Giang 3.800.000đ/người/tháng, Công ty Đầu tư và Xây dựng Kiên Giang 4.155.000đ/người/tháng (đối với lao động hợp đồng dài hạn), công ty cổ phần Xi măng Kiên Giang 3.140.000đ/người/tháng… Bên cạnh đó, vẫn có những doanh nghiệp trả lương cho người lao động thấp như: Công ty Trung Sơn 1.200.000đ/người/tháng, Công ty thuỷ sản Bim Kiên Giang 1.300.000đ/người/tháng, Công ty Kiên Cường 1.100.000 - 1.200.000đ/người/tháng, với mức lương này sau khi trừ tiền ăn 01 buổi và nhà ở thỡ mỗi lao động chỉ cũn lại vài trăm ngàn, nên gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống [16, tr.8]. Các chế độ phụ cấp, bồi dưỡng độc hại, ăn giữa ca đều được các doanh nghiệp quan tâm thực hiện. Một số doanh nghiệp đó xõy dựng được quy chế trả lương và thực hiện đúng theo quy chế. Chế độ nâng lương cho công nhân cũng được các doanh nghiệp quan tâm thực hiện. Đa số các doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần thực hiện chế độ tiền lương có nề nếp, đảm bảo quy trỡnh chặt chẽ trong việc xếp ngạch, bậc lương. Rừ ràng, việc xõy dựng chế độ tiền lương hợp lý đối với khu vực sản xuất kinh doanh là việc làm cần thiết hiện nay vỡ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thu nhập của đội ngũ công nhõn vẫn cũn thấp, tỷ lệ hộ đói nghốo cũn cao ( chiếm 8,89%), vẫn cũn có sự chênh lệch lớn giữa các khu vực kinh tế, giữa các doanh nghiệp (khu công nghiệp Kiên Lương tiền lương cao hơn khu công nghiệp Tắc Cậu - Châu Thành). Một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh lại cú hỡnh thức trả lương theo ngày, làm việc không hợp đồng lao động, trả lương theo hỡnh thức khoỏn theo cụng việc… Điều đó cho thấy vấn đề tiền lương hiện nay cần có sự điều chỉnh cho phù hợp là cần thiết. Xây dựng các thang bảng lương hợp lý, trong đó có khoảng cách mỗi bậc lương đáng kể để khuyến khích công nhân học tập nâng cao tay nghề; đảm bảo lương thực tế và đời sống công nhân. Trong chính sách tiền lương cần thực hiện đúng đắn nguyên tắc phân phối theo lao động, làm cho tiền công thực sự là đũn bẩy kớch thớch lao động sáng tạo, có hiệu quả, năng suất, chất lượng cao. Cần có nguyên tắc phân phối theo mức đóng góp và theo quỹ phúc lợi xó hội. Cú chớnh sỏch khuyến khớch cụng nhõn giỏi nghề. Để thực hiện tốt chính sách tiền lương, tiền công lao động và tiền thưởng cần phải:  Các doanh nghiệp thực hiện tốt chính sách chế độ như tiền lương, bảo hiểm xó hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động,... Chú trọng nâng mức sống trung bỡnh của cụng nhõn gắn với sự phỏt triển của doanh nghiệp và đời sống xó hội ở địa phương, có chính sách ưu đói cụng nhõn bậc cao, thợ lành nghề. Quan tâm chăm lo cải thiện điều kiện lao động, phũng chống tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho công nhân. Tổ chức tốt việc chăm sóc sức khỏe cho công nhân, nhất là công nhân làm việc nặng nhọc, trong môi trường độc hại, công nhân nữ làm việc trong các khu, cụm công nghiệp. Phát triển và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tại các khu, cụm công nghiệp, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh tại chỗ và xử lý cú hiệu quả tỡnh trạng ô nhiễm môi trường; chú ý đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm bữa ăn cho công nhân và giải quyết kịp thời các vụ ngộ độc trong sản xuất, ngộ độc thực phẩm xảy ra ở các khu công nghiệp, dịch vụ. Thực hiên tốt việc thoả ước lao động. Đây là vấn đề rất nhạy cảm vỡ có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người lao động, nhưng về phía doanh nghiệp và người sử dụng lao động thường ít chú ý đến vấn đề này một phần vỡ sợ trách nhiệm, phần khác khi thực hiện thoả ước lao động thỡ phải tăng thêm chi phí. Điều này lý giải tại sao năm 2007, Sở Lao động thương binh và xó hội chỉ thừa nhận 32 thoả ước lao động tập thể và 52 quy định lao động của các doanh nghiệp, phần lớn trong số đó là doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần có vốn nhà nước. Hầu hết doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa có thoả ước lao động tập thể. Hoặc một số nội dung thoả ước lao động tập thể không cũn phự hợp nhưng không được bổ sung, điều chỉnh kịp thời như Công ty cổ phần sản xuất vật liệu xây dựng Kiên Giang. Nhiều nội dung thoả ước lao động tập thể cũn chung chung, thiếu cụ thể. Việc thực hiện quy định về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi trong một số doanh nghiệp vẫn cũn bị vi phạm. Một số doanh nghiệp chưa quan tâm thực hiện chế độ nghỉ phép theo quy định. Chính vỡ vậy, để bảo vệ lợi ích của công nhân, tạo điều kiện cho họ phát triển thỡ bắt buộc người sử dụng lao động phải có hợp đồng, thoả ước lao động. Bởi lẽ, thỏa ước lao động giúp người lao động có được sự đồng thuận, khách quan, phù hợp với cách làm việc có tổ chức; tránh được những tư tưởng tự phát, những hành vi manh động không cân nhắc đến lợi ích trước mắt và lâu dài của cá nhân và tập thể.  Tăng cường kiểm tra, giám sát, kiên quyết xử lý những doanh nghiệp, người sử dụng lao động có hành vi vi phạm Luật Lao động, Luật Công đoàn, nhất là vi phạm các chính sách chế độ như bảo hiểm xó hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động, thời gian làm việc, nghỉ ngơi... đối với công nhân. Ba là, hoàn thiện và thực hiện tốt chính sáchbảo hiểm, nhà ở, bảo vệ sức khoẻ cho công nhân Sẽ là thiếu sót nếu giải quyết việc làm và thực hiện tốt chế độ tiền lương, tiền thưởng cho công nhân mà không chăm lo, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, giải quyết tốt vấn đề nhà ở, đáp ứng nhu cầu về điện, nước, đường, trường, nơi giữ trẻ, phương tiện đi làm, bệnh viện, cơ sở văn hoá, khu thể thao cho công nhân vỡ đây là một trong những nhu cầu thiết yếu đảm bảo cho người công nhân yên tâm, có thể công tác lâu dài tại doanh nghiệp. Đặc biệt là việc thực hiện các chế độ chính sách về bảo hiến y tế, bảo hiểm xó hội cần đặc biệt được tiến hành thường xuyên vỡ đây là một trong những quyền lợi cơ bản của người công nhân, là cơ sở để họ gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. Mặc dù việc thực hiện các chính sách về bảo hiểm đó được tiến hành đó lâu và thu được khá nhiều thành tựu nhưng hiện tại công tác này cũn chưa tương xứng với đũi hỏi của tỡnh hỡnh mới.Tính đến cuối năm 2007 trên địa bàn tỉnh Kiên Giang chỉ có 396 doanh nghiệp trong tổng số 3.312 doanh nghiệp với 15.947 công nhân được tham gia bảo hiểm xó hội và bảo hiểm y tế là quỏ ớt. Nhiều doanh nghiệp tham gia bảo hiểm xó hội, bảo hiểm y tế với mức rất thấp, điển hỡnh là Cụng ty Kiờn Cường (chỉ có 39 người đóng bảo hiểm xó hội trờn mức lương tối thiểu), không xây dựng thang lương, bảng lương để làm căn cứ tham gia chế độ bảo hiểm xó hội và bảo hiểm y tế, làm cho người công nhân bị thiệt thũi. Nhiều doanh nghiệp trỏnh việc tham gia bảo hiểm xó hội, bảo hiểm y tế bằng cỏch ký hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc khai thấp số lượng công nhân đang làm việc so với thực tế. Để thực hiện tốt chính sách về bảo hiểm, nhà ở nhằm đảm bảo sức khoẻ, cuộc sống cho đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang vấn đề đặt ra là phải: - Về phía Ủy ban nhân dân tỉnh cần xem xét và dành một tỷ lệ kinh phí thích hợp để đầu tư vào đất và vận động doanh nghiệp hỗ trợ về nhà ở, đất ở cho công nhân. Đồng thời khuyến khích đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân theo hướng nhà nước, doanh nghiệp, người lao động và xó hội cựng đóng góp, đầu tư xây dựng để bán, bán trả chậm hoặc cho thuê; đặc biệt ưu đói đối với công nhân nghèo, nhằm ổn định cuộc sống đảm bảo sức khoẻ cho công nhân - Ở các khu dân cư mới được quy hoạch gần các khu, cụm công nghiệp cần xây dựng các nhà chung cư do nhà nước đầu tư hoặc khuyến khích các tổ chức cá nhân có điều kiện đầu tư nhằm bán trả góp cho công nhân. Cách làm này sẽ làm giảm đáng kể áp lực về nhà ở cho công nhân. - Song song với quỏ trỡnh xõy dựng và phỏt triển nhà ở cho cụng nhõn, trong những năm tới cần quản lý tốt việc kinh doanh nhà trọ trên địa bàn tỉnh. Đặc biệt, ở các khu, cụm công nghiệp cần phải có quy định chặt chẽ về tiêu chuẩn nhà trọ dành cho công nhân như: thiết kế, kiến trúc, điều kiện vệ sinh, phũng chỏy chữa chỏy, khung giỏ cho thuờ… Đồng thời tăng cường kiểm tra nhà trọ nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các vấn đề phát sinh có liên quan đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xó hội, gúp phần ổn định cuộc sống, đảm bảo sức khoẻ cho công nhân. - Cùng với việc rà soát lại việc đóng bảo hiểm tạo cơ sở để có kế hoạch đóng bảo hiểm cho người lao động tại các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh là tiến hành biện pháp bắt buộc các doanh nghiệp phải đóng bảo hiểm cho người lao động theo qui định của pháp luật. Đồng thời giáo dục cho người lao động có ý thức tự bảo vệ quyền lợi của mỡnh, có quyền yêu cầu người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm cho mỡnh nếu muốn tuyển dụng. Trong trường hợp các doanh nghiệp cố tỡnh trây ỳ, chậm hoặc không đóng bảo hiểm thỡ các cơ quan chức năng có thể tuỳ theo mức độ vi phạm mà hoặc là truy thu lại tiền đó trốn không chịu nộp, hoặc nặng thỡ có thể truy tố trước pháp luật. Bốn là, đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho công nhân Thực hiện Chương trỡnh, mục tiờu quốc gia về đào tạo nghề, các cơ sở đào tạo từng bước được đầu tư thêm cơ sở vật chất, trang thiết bị, tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Tỉnh cũng đó tớch cực chỉ đạo, hướng dẫn và phân bổ ngân sách cho công tác đào tạo nghề. Các doanh nghiệp tự bỏ tiền đào tạo lao động để phát triển nhân lực cho doanh nghiệp mỡnh. Trong năm 2006 - 2007, các trường, cơ sở đào tạo nghề đó đào tạo được 36.397 người, trong đó trung cấp là 3.927 người, sơ cấp 3.807 người, dạy nghề thường xuyên 29.311 người, góp phần tăng tỷ lệ qua đào tạo nghề từ 11% năm 2006 lên 13,1% năm 2007 [16, tr.3]. Để nâng cao trỡnh độ cho công nhân góp phần nâng cao chất lượng giai cấp công nhân Kiên Giang, không có con đường nào khác là đào tạo nghề cho họ. Vỡ vậy, vấn đề đạt ra là:  Triển khai các quy định của Trung ương về phát triển giáo dục nghề nghiệp: tổ chức hướng dẫn các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến phát triển giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là Luật Giáo dục và Luật dạy nghề, song song đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý dạy và học. Hướng dẫn hệ thống tiêu chí và hệ thống chuẩn trong đào tạo bao gồm: chuẩn trường, chuẩn kỹ năng nghề, chuẩn giáo viên, chuẩn trang thiết bị… trên cơ sở đó triển khai hệ thống đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, tạo điều kiện cho công nhân có tay nghề lâu năm được bồi dưỡng kiến thức, cấp chứng chỉ.  Tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho công nhân về học nghề: phối hợp tổ chức đồng bộ, có hiệu quả giữa cơ quan quản lý Nhà nước về dạy nghề với các Sở chuyên ngành, các tổ chức chính trị - xó hội, cỏc tổ chức xó hội nghề nghiệp, cơ sở dạy nghề và cơ quan thông tin đại chúng nhằm tuyên truyền sâu rộng mục đích, ý nghĩa, chủ trương, chính sách về học nghề. Nâng cao nhận thức của toàn xó hội về vị trớ, vai trũ của người lao động có kỷ năng, tay nghề trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.  Thu hút mọi nguồn lực, đẩy mạnh xó hội hoỏ, tăng quy mô đào tạo: Nhà nước giữ vai trũ chủ đạo trong phát triển giáo dục nghề nghiệp. Thực hiện đa dạng hoá các loại hỡnh cơ sở dạy nghề và ban hành các chính sách ưu đói cho nhà đầu tư (thuế, đất, tín dụng…) tại các địa bàn khuyến khích đầu tư gồm: thành phố Rạch Giỏ, thị xó Hà Tiờn, huyện Phỳ Quốc, huyện Kiờn Lương, huyện Châu Thành. Khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư nguồn lực, tham gia phát triển cơ sở dạy nghề. Tạo cơ hội cho người lao động có nhu cầu được đào tạo nghề phù hợp.  Đổi mới nội dung chương trỡnh và liờn thụng đào tạo: đào tạo theo hướng gắn lý thuyết sát với thực tế sản xuất, tiếp cận với kỹ thuật công nghệ hiện đại. Xây dựng các chương trỡnh liờn thụng giữa cỏc trỡnh độ tay nghề với các trỡnh độ đào tạo khác trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm tạo điều kiện cho người lao động lựa chọn phương pháp học phù hợp. Chuyển phương pháp dạy nghề từ hỡnh thức thụ động sang tích cực chủ động.  Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề: đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề, đạt chuẩn quy định. Có chính sách thu hút đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm thực tế trong sản xuất về các cơ sở dạy nghề. Từ năm 2009 -2010 tuyển 100 giáo viên cho Trung tâm dạy nghề Bán đảo Cà Mau, Tây sông Hậu và Phú Quốc; từ năm 2011 - 2015, bổ sung nguồn giỏo viờn do quỏ trỡnh chuyển đổi và nâng cấp 120 người. 2.2.4. Tăng cường sự lónh đạo của Đảng, phát huy vai trũ của tổ chức cụng đoàn và các tổ chức chính trị - xó hội khỏc trong xõy dựng đội ngũ công nhân Một là, tăng cường sự lónh đạo của các cấp uỷ đảng trong xây dựng đội ngũ công nhân. Bước vào nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế đan xen xuất hiện, sức lao động đó trở thành hàng hoỏ, vai trũ làm chủ của người lao động biểu hiện đa dạng và phức tạp hơn. Bên cạnh những mặt tích cực kinh tế thị trường là mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều được hạch toán, con người năng động, nhạy cảm thỡ cũng bộc lộ nhiều tiêu cực từ mặt trái của nó, đó là hiện tượng gian dối thương mại, lừa đảo, tham nhũng, buôn lậu, quan hệ chủ - thợ bất bỡnh đẳng, bất công xó hội gia tăng, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức chính trị của công nhân giảm sút vỡ một bộ phận công nhân thực dụng chỉ thích làm việc ở những đơn vị doang nghiệp có nhiều thu nhập, lương cao mà hoàn toàn không có hiểu biết đúng đắn về vị trí, vai trũ của mỡnh đối với xó hội. Một bộ phận khác bị kẻ xấu lợi dụng bôi đen chế độ, tuyên truyền thái quá về tính ưu việt của CNTB, làm sai lạc chủ trương chính sách của Đảng về phát huy các thành phần kinh tế. Đặc biệt vai trũ lónh đạo của các tổ chức đảng trong doanh nghiệp rất khó thể hiện nhất là trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nên nguy cơ chệch hướng mục tiêu xó hội chủ nghĩa là rất lớn. Để tăng cường sự lónh đạo của các cấp uỷ đảng trong các doanh nghiệp thỡ vấn đề cần thực hiện là: * Khẳng định các cấp ủy đảng thường xuyên chăm lo, củng cố và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và công nhân, giữa công nhân với Đảng và Chính quyền thỡ nhiệm vụ cần thực hiện là tiếp tục kiện toàn đổi mới nâng cao năng lực lónh đạo và sức chiến đấu của Đảng trước hết là các tổ chức cơ sở Đảng, chăm lo xây dựng đội ngũ đảng viên trong sạch vững mạnh, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân; đảm bảo dân chủ, kỷ cương, đoàn kết thống nhất để Đảng thật sự là đội tiền phong, là hạt nhõn lónh đạo cách mạng. Cấp ủy đảng, chính quyền các cấp tăng cường lónh đạo, tạo điều kiện thuận lợi hơn để công đoàn hoạt động; thường xuyên tiếp xúc, lắng nghe ý kiến của cụng nhõn và cụng đoàn, tôn trọng và phát huy vai trũ chủ động, sáng tạo của tổ chức công đoàn. Quan tâm kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo xây dựng công đoàn ngoài quốc doanh ở từng địa phương. * Thực hiện sự lónh đạo, chỉ đạo có hiệu quả phong trào công nhân và hoạt động công đoàn gắn với xây dựng giai cấp công nhân đáp ứng yêu cầu tỡnh hỡnh mới. Tập trung đầu tư xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, nhất là phát triển mạnh các ngành công nghiệp theo thế mạnh của từng địa phương; đi đôi quan tâm đào tạo nghề cho nông dân để chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng phát triển Đảng trong công nhân; phát hiện, đề bạt cán bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt xuất thân từ công nhân vào các cấp ủy đảng, các cương vị lónh đạo trong các cơ quan chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, văn hóa, xó hội... * Lónh đạo chặt chẽ sự phối hợp cộng tác của Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ... để thống nhất chủ trương xây dựng giai cấp công nhân, xây dựng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức vững chắc, làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hai là, xây dựng tổ chức công đoàn lớn mạnh, phát huy vai trũ cụng đoàn trong xây dựng giai cấp công nhân. Từ thực tiễn lónh đạo giai cấp công nhân nước Nga xô viết xây dựng CNXH V.I.Lênin đó đánh giá cao vị trớ, vai trũ của tổ chức cụng đoàn đối với việc xây dựng giai cấp công nhân. Người khẳng định: “Giai cấp vô sản ở bất cứ nước nào trên thế giới cũng chỉ phát triển và chỉ có thể phát triển bằng con đường công đoàn, bằng sự tác động qua lại giữa công đoàn và Đảng của giai cấp công nhân” [22, tr.217]. Như vậy, chính Lênin đó chỉ rừ giai cấp cụng nhõn muốn phỏt triển phải thụng qua tổ chức cụng đoàn vỡ công đoàn có vai trũ, vị trớ đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của giai cấp công nhân, là tổ chức bảo vệ công nhân khỏi bị sự xâm phạm của các tổ chức chính quyền như quan liêu, tham nhũng của các viên chức, công chức nhà nước, đồng thời cũng thông qua tổ chức công đoàn người công nhân có thể bảo vệ nhà nước, tham gia quản lý nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa, mở cửa, hội nhập đi liền với những cơ hội thỡ cũng xuất hiện nhiều khó khăn thách thức, đặc biệt là sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các thành phần kinh tế, nguy cơ người công nhân bị xâm hại quyền lợi là hết sức lớn. Như vậy, việc xây dựng tổ chức công đoàn lớn mạnh, thực sự là tổ chức đại diện cho ý chớ và quyền lợi người công nhân thỡ việc làm cần thực hiện là:  Tăng cường vai trũ lónh đạo và sự quan tâm của Đảng đối với tổ chức Công đoàn cơ sở. Các tổ chức công đoàn đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị, ý thức tự lực, tự cường, tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên định con đường xó hội chủ nghĩa cho giai cấp cụng nhõn và người lao động. Tiếp tục đa dạng hóa các hỡnh thức vận động, tập hợp quần chúng để phát huy, động viên được đông đảo công nhân trong các thành phần kinh tế tự nguyện gia nhập công đoàn, nghiệp đoàn. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công đoàn trưởng thành từ phong trào công nhân để đáp ứng yêu cầu phát triển của công nhân và tổ chức công đoàn. Cùng với việc đào tạo, tập huấn, cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết phải tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ công đoàn tự học tập nâng cao trỡnh độ về mọi mặt, cần có chính sách khuyến khích vật chất, tôn vinh và bảo vệ cán bộ có hiệu quả để cán bộ công đoàn các cấp thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mỡnh. Khắc phục hiện tượng hành chính hóa hoạt động công đoàn.  Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp phải luôn được kiện toàn tổ chức, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động để công đoàn thực sự là chỗ dựa tin cậy và vững chắc của công nhân. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh phối hợp chặt chẽ với Liên đoàn Lao động tỉnh để nâng cao hiệu quả công tác nữ công của công đoàn tại doanh nghiệp và các khu công nghiệp.  Hằng năm dành một phần ngân sách phục vụ cho công tác tổ chức, phát triển công đoàn ngoài khu vực kinh tế nhà nước. Có chủ trương bảo đảm các doanh nghiệp làm tốt việc trích nộp kinh phí hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật để tạo thuận lợi cho tổ chức công đoàn hoạt động. Kiên quyết xử lý nghiờm những doanh nghiệp cố tỡnh cản trở việc thành lập và hoạt động của tổ chức công đoàn.  Đẩy mạnh phong trào hành động cách mạng và phong trào thi đua yêu nước trong công nhân thực sự là động lực quan trọng để tập hợp trí tuệ, phát huy sáng tạo của công nhân, góp phần cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Chú trọng đúng mức phong trào thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo với năng suất, chất lượng, hiệu quả cao và tiết kiệm, đảm bảo môi trường xanh - sạch - đẹp, an toàn vệ sinh lao động và phong trào thi đua liên kết phục vụ nông nghiệp nhằm mục tiêu đẩy nhanh công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh nhà.  Cần đầu tư thoả đáng nguồn lực để tăng cường và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn hoạt động công đoàn, đặc biệt là mô hỡnh tổ chức hoạt động công đoàn các cấp, phù hợp với thực tiễn tỉnh Kiên Giang nhằm phát huy sức mạnh và đảm bảo sự phát triển bền vững của tổ chức công đoàn, góp phần xây dựng đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xây dựng đội ngũ công nhân vững mạnh là nhiệm vụ của Đảng bộ, Chính quyền và các tổ chức chính trị - xó hội, trong đó Công đoàn đó đang và sẽ đóng vai trũ quan trọng. Vỡ vậy, xõy dựng tổ chức cụng đoàn lớn mạnh, phỏt huy vai trũ của Công đoàn sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân. Ba là, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các doanh nghiệp. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là một tổ chức chính trị xó hội của thanh niờn, cú vai trũ quan trọng trong tập hợp cụng nhõn lao động trẻ, hướng họ vào các hoạt động chung có định hướng chính trị, định hướng nghề nghiệp, tạo điều kiện cho họ có cơ hội phát triển tài năng để trở thành người công nhân giỏi, quần chúng ưu tú để giới thiệu cho Đảng xem xét, bồi dưỡng và phát triển. Thực tế hiện nay trên địa bàn tỉnh Kiên Giang hoạt động của đoàn thanh niên cũng đang đặt ra nhiều vấn đề đáng lưu ý: tổ chức đoàn chủ yếu hoạt động có hiệu quả trong khối hành chính sự nghiệp và cỏc doanh nghiệp quốc doanh. Cũn đa số các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hoạt động đoàn thanh niên cũn nhiều yếu kộm. Vỡ vậy, cần phải đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đoàn thanh niên trong các doanh nghiệp bằng các biện pháp sau:  Đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các loại hỡnh doanh nghiệp (doanh nghiệp nhà nước, các công ty cổ phần, người sử dụng lao động...) đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của công nhân. Đa dạng hóa các hỡnh thức tập hợp, vận động thanh niên (kể cả chủ doanh nghiệp cũn trong độ tuổi) làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài... tham gia vào hoạt động đoàn và hội.  Hoạt động của đoàn, hội trong các doanh nghiệp cần tập trung vào việc tạo điều kiện nâng cao trỡnh độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, cổ vũ và khơi dậy tinh thần sáng tạo trong thanh niên công nhân; thường xuyên nắm bắt tâm tư nguyện vọng và phối hợp với tổ chức công đoàn chăm lo, bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của thanh niên. KẾT LUẬN 1- Là một tỉnh nằm ở cực Tây Nam của Tổ quốc, thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long được thiên nhiên ưu đói bởi có đủ các lợi thế về sông nước, núi rừng, đồng bằng và biển cả, nhiều danh lam thắng cảnh và địa danh di tích lịch sử nổi tiếng nên Kiên Giang có nhiều tiềm năng và điều kiện để phát triển du lịch, phát triển thương mại mậu biên. Với nguồn khoáng sản dồi dào bậc nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long, trong đó phần lớn là khoáng sản không kim loại thích hợp với việc sản xuất các loại sản phẩm vật liệu xây dựng như: xi măng. gạch ngói, gốm sứ, đá ốp lát là điều kiện thuận lợi để đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang phát triển, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH tỉnh nhà. 2- Đặc điểm nổi bật của đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang là có quá trỡnh ra đời sớm nhưng tính chất lao động công nghiệp vẫn đang trong quá trỡnh mới hỡnh thành, và đội ngũ công nhân của tỉnh chủ yếu là lao động phổ thông sản xuất trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác, chế biến thuỷ, hải sản là căn nguyên dẫn đến nhiều hạn chế, yếu kém cần phải được khắc phục nhất là cũn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, trỡnh độ tay nghề thấp, ý thức tổ chức kỷ luật và ý thức chớnh trị chưa cao. Đời sống và việc làm luôn là khát vọng chính đáng và thường trực của đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang nhưng vẫn cũn một bộ phận khụng nhỏ cụng nhõn thiếu việc làm, đời sống cũn thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần. Đây cũng là một trở ngại lớn cho đội ngũ công nhân phát huy vai trũ của mỡnh trong sự nghiệp cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoá. 3- Giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang là yêu cầu bức thiết để phát huy vai trũ của đội ngũ này. Nhưng đây lại là vấn đề khó, phức tạp vỡ cho đến nay tỉnh Kiên Giang về cơ bản vẫn là một tỉnh nông nghiệp, trỡnh độ dân trí chưa cao, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũn chậm chưa tương ứng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh. Để khắc phục những hạn chế này cần tiến hành đồng bộ những giải pháp về nhận thức chính trị - tư tưởng, kinh tế - xó hội, văn hoá - giáo dục, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Trong đó, trước hết cần có sự quan tâm, tham gia tích cực của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, các tổ chức chính trị - xó hội, cỏc doanh nghiệp trong việc tuyờn truyền, phổ biến nhằm nõng cao nhận thức cho toàn xó hội về vị trớ, vai trũ của đội ngũ công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đồng thời, cần phải có sự đầu tư thoả đáng về cơ sở vật chất cũng như về tinh thần cho đội ngũ công nhân. Bản thân đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang cũng phải phát triển những năng lực tự thân của mỡnh, phải nỗ lực vươn lên, ra sức học tập và rèn luyện để nâng cao chất lượng về chính trị, tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp, trỡnh độ học vấn, tay nghề, tác phong công nghiệp. Bên cạnh đó, việc giáo dục, đào tạo nghề thông qua việc liên doanh, liên kết giữa các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp của tỉnh và của trung ương là một trong các giải pháp chủ yếu nhằm từng bước xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hoá. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đỗ Trọng Bá (1996), “Giai cấp công nhân - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Thông tin lý luận, (7), tr.36-38. 2. Nguyễn Đức Bách, Lê Văn Yên, Nhị Lê (1998), Một số vấn đề về định hướng XHCN ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 3. Bùi Đình Bôn (1997), Một số vấn đề về giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 4. Chu Văn Cấp (1996), “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, (1), tr. 25-28. 5. Cục Thống kê Kiên Giang (2005), Kiên Giang 30 năm xây dựng và phát triển (1975 – 2005). 6. Cục Thống kê Kiên Giang (2007), Số liệu thống kê kinh tế – xã hội Kiên Giang 30 năm (1975 – 2005). 7. Cục Thống kê Kiên Giang (2008), Niên giám thống kê 2007. 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Hội đồng nhân dân tỉnh Kiên Giang (2008), Báo cáo kết quả giám sát tình hình sử dụng lao động và thực hiện một số chính sách đối ví người lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang từ năm 2005 đến nay. 17. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn bộ giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (1996), Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại ngày nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 18. Phan Thanh Khôi (2005), “Nội dung và chủ thể, quan điểm và giải pháp “trí thức hoá công nhân” ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Lao động và Công đoàn, (329 tháng 4 (kỳ 1)), tr. 2 -11. 19. Phan Thanh Khôi (2005), “Giai cấp công nhân Việt Nam với việc thực hiện liên minh giai cấp và đại đoàn kết dân tộc”, Tạp chí Lao động và Công đoàn, (338 tháng 8 (kỳ 2)), tr. 6 -7. 20. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 38, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 21. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 39, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 22. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 23. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 24. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 25. Liên đoàn Lao động tỉnh Kiên Giang (2003), Truyền thống công nhân lao động và công đoàn Kiên Giang (1930 – 1998). 26. Liên đoàn Lao động tỉnh Kiên Giang (2003), Văn kiện Đại hội lần thứ VII Công đoàn Tỉnh Kiên Giang. 27. Liên đoàn Lao động tỉnh Kiên Giang (2008), Báo cáo của Ban Chấp hành Liên đoàn lao động tỉnh khoá VII tại Đại hội VIII Công đoàn tỉnh Kiên Giang nhiệm kỳ 2008 - 2013. 28. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 29. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 30. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 31. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 32. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 33. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 34. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 35. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 36. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 37. Nguyễn An Ninh (2006), “Một số vấn đề về nhận thức giai cấp công nhân nước ta”, Tạp chí Lao động và Công đoàn, (370 tháng 12 (kỳ 2)), tr 6-7-36. 38. Nguyễn An Ninh (2008), Về xu hướng công nhân hoá nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 39. Dương Xuân Ngọc (2004), Giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 40. Dương Văn Sao (2007), “Xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân, nhân tố quyết định thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”, Tạp chí Lao động và Công đoàn, (376 tháng 3 (kỳ 2)), tr.2-3-35. 41. Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Kiên Giang (2008), Báo cáo tình hình đình công năm 2007 và 6 tháng đầu năm 2008. 42. Văn Tạo (2008), Đổi mới tư duy về giai cấp công nhân - kinh tế tri thức và công nhân tri thức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 43. Tạ Ngọc Tấn, Nguyễn Duy Hưng, Đoàn Văn Kiển (2008), Xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam trong điều kiện hiện nay, Hà Nội. 44. Tạ Ngọc Tấn, Trương Giang Long, Trần Văn Lợi (2008), Thực trạng đời sống văn hoá - tinh thần của công nhân ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vấn đề đặt ra, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 45. Tỉnh uỷ Kiên Giang (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ VIII Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2005 - 2010. 46. Tỉnh uỷ Kiên Giang (2008), Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 47. Nguyễn Đăng Thành (2007), Góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam từ thực trạng công nhân Thành phố hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 48. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam (2007), Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Lao động, Hà Nội. 49. Trung tâm Từ điển học (1994), Từ diển tiếng Việt, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội. 50. Uỷ ban nhân dân tỉnh Kiên Giang (2007), Báo cáo sơ kết 5 năm (2002 – 2006) thực hiện công tác đào tạo nghề và mục tiêu , giải pháp đào tạo nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2015. 51. Uỷ ban nhân dân tỉnh Kiên Giang (2007), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2007 và phương hướng nhiệm vụ năm 2008. 52. Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học (2006), Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học (Hệ cao cấp lý luận chính trị) , Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. Tài liệu trên internet 53. “Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới, ngày 10-9-1960”. 54. http: www.kiengiang. gov.vn (2008), Tổng quan về Kiên Giang, ngày 18/4. 55. http: www.kiengiang. gov.vn (2008), “Chuyển đổi từ đốt dầu sang đốt than tiết kiệm hơn 250 tỷ đồng/năm” ngày 9/9

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Đội ngũ công nhân tỉnh Kiên Giang trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.pdf
Luận văn liên quan