Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển thành phố Hà Nội

Chất lượng tín dụng là vấn đề phức tạp, và việc nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng không phải là đơn giản, nó đòi hỏi có sự phối hợp đồng bộ từ những chính sách vĩ mô của Nhà nước cho đến chính sách của NHNN, sự phối hợp cùng thực hiện giữa các chi nhánh trong cùng hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Những giải pháp và kiến nghị tôi đưa ra ở đề tài này cũng mới chỉ là những giải pháp nhỏ để góp phần nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn. Do lĩnh vực nghiên cứu là rất rộng và phức tạp trong khi đó thời gian nghiên cứu còn hạn chế, những kinh nghiệm thực tiễn mà tôi được tiếp xúc vẫn còn thiếu, cho nên đề tài của tôi sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý của thầy cô giáo, các cán bộ của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội để tôi có thể hoàn thiện và phát triển đề tài cho luận văn tốt nghiệp sau này.

pdf87 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 07/01/2014 | Lượt xem: 1379 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển thành phố Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ích dự phòng rủi ro kinh doanh có lãi hợp lý. - Thẩm định về các biện pháp bảo đảm tiền vay. Ngân hàng thoả thuận với khách hàng lựa chọn các biện pháp bảo đảm tiền vay thích hợp. Thứ ba, là cần phải nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn cho các cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định đồng thời cần phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn trong công tác thẩm định. Như đã phân tích ở phần trên các dự án của ngân hàng thì có phần lớn là các thông số kỹ thuật ở rất nhiều ngành nghề khác nhau mà trong khi đó các cán bộ của ngân hàng chủ yếu là tốt nghiệp ở các trường kinh tế ra do vậy sự hiểu biết và thẩm định được các dự án là gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, bên cạnh việc bồi dưỡng cho cán bộ ngân hàng thì ngân hàng cần phải có sự phối hợp với các cơ quan chuyên môn để họ phối hợp cùng ngân hàng thực hiện thẩm định dự án có như vậy thì chất lượng thẩm định tín dụng mới được nâng cao. 3.2.3 Thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt Lãi suất của một khoản vay tuỳ thuộc vào mức lãi suất chung, chi phí khi thực hiện khoản vay của ngân hàng, thời hạn cho vay, rủi ro của khoản cho vay… Nếu các nhân tố này tăng lên thì lãi suất cũng sẽ tăng lên. Đặc biệt đối với các khoản tín dụng trung, dài hạn thì thường diễn ra trong thời gian dài, trong thời gian đó hoạt động kinh doanh của khách hàng vay và hoạt động của bản thân dự án luôn bị chi phối bởi nhiều yếu tố, nếu các yếu tố này thay đổi bất thường thì sẽ làm cho các dự tính của người vay lẫn ngân hàng sẽ bị sai lệch, khả năng xảy ra rủi ro sẽ cao. Chính bởi yếu tố này đã làm cho các khoản tín dụng trung, dài hạn có lãi suất thường cao. Ngân hàng nào mà xây dựng được một chính sách lãi suất phù hợp thì sẽ làm cho thu nhập của ngân hàng tăng lên, góp phần hạn chế rủi ro lãi suất, đồng thời nâng cao được sức cạnh tranh của sản phẩm tín dụng ngân hàng so với các tổ chức tín dụng khác. Hiện nay, ở Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã có hướng chỉ đạo cho các chi nhánh là áp dụng nhiều mức lãi suất khác nhau nhưng ở Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội thì chưa thực hiện được. Tôi xin đưa ra một số giải pháp để góp phần xây dựng một chính sách lãi suất linh hoạt. Cần thực hiện: - Lãi suất ưu đãi cho một số đối tượng khách hàng như: đối với các khách hàng truyền thống của ngân hàng, với những khách hàng là các doanh nghiệp lớn, tổng công ty có tình hình tài chính lành mạnh, làm ăn hiệu quả… Tuy thực hiện chính sách này thì thu nhập của ngân hàng có thể bị giảm sút nhưng nhờ vậy sẽ tăng sự gắn bó của các khách hàng trong đó có nhiều các khách hàng lớn, duy trì thị phần của mình trong việc cung cấp tín dụng. Đây là vấn đề mang tính chiến lược. - Lãi suất thay đổi theo thời gian Như ta đã biết các ngân hàng phải huy động vốn có các mức chi phí khác nhau theo thời hạn do vậy khi cho vay ngân hàng cũng nên thực hiện mức lãi suất khác nhau theo thời gian (áp dụng mức lãi suất thấp hơn đối với các khoản vay có thời hạn ngắn hơn vì chi phí huy động vốn với thời hạn ngắn cũng rẻ hơn).Và một yếu tố nữa là những khoản vay với thời hạn ngắn thì thường tiềm ẩn ít rủi ro hơn, do vậy những khoản vay có thời hạn ngắn hơn mà áp dụng một mức lãi suất thấp hơn cũng là điều hợp lý. - Lãi suất giảm dần theo mức tăng qui mô của các khoản tín dụng Lý do là có thể áp dụng chính sách này là bởi vì cùng với một khoản cho vay mà có giá trị lớn thì ngân hàng sẽ tiết kiệm chi phí hơn so với nhiều khoản vay có giá trị nhỏ gộp lại vì ngân hàng chỉ cần một lần thẩm định dự án, xác định giá trị tài sản đảm bảo… tuy vậy chính sách này chỉ nên áp dụng với những khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh làm ăn hiệu quả và hoàn toàn có khả năng trả nợ đúng hạn. Bởi vì rủi ro đem lại cũng cao hơn khi rủi ro tập trung toàn bộ cho một dự án thay vì chia sẻ cho nhiều dự án. 3.2.4 Đa dạng hoá các loại hình tín dụng trung, dài hạn Việc phát triển tín dụng trung, dài hạn không chỉ dựa trên những hình thức tín dụng đã có mà còn cần phải mở thêm những hình thức tín dụng mà hiện nay ngân hàng chưa có. Hiện nay tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội thì đã triển khai những hình thức tín dụng trung, dài hạn sau: cho vay dự án, cho vay hợp vốn, cho vay tiêu dùng (chủ yếu là cho vay mua ô tô) vì vậy theo tôi ngân hàng có thể phát triển thêm các hình thức sau: chiết khấu các khoản phải thu trung, dài hạn, và thêm một số lĩnh vực khác trong cho vay tiêu dùng (còn do đặc thù của hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã có một công ty chuyên thực hiện cho thuê tài chính, nên hình thức này không được đề cập ở đây). Những hình thức có thể triển khai thêm trong những năm tới là: - FORFAITING (chiết khấu các khoản phải thu): khách hàng của ngân hàng sẽ là những doanh nghiệp (người bán) họ có khoản phải thu từ đối tác (sau đây gọi là người mua) của họ (họ bán hàng trả chậm), và họ đến ngân hàng để được xin chiết khấu. Nếu ngân hàng chấp nhận cho chiết khấu, thì người bán sẽ nhận được tiền ngay từ ngân hàng (= giá trị hợp đồng – lãi chiết khấu – chi phí khác liên quan) và ngân hàng sẽ chịu trách nhiệm sau đó thu tiền từ người mua. FORFAITING thực hiện tài trợ thông qua các công cụ như hối phiếu, lệnh phiếu, thư tín dụng… Trừ khi người mua có đủ uy tín và không cần bảo đảm, thông thường hối phiếu phải được kí hậu bảo đảm thanh toán bởi một ngân hàng của người mua. - Cho vay mua nhà (hoặc xây dựng nhà ở): Đây là hình thức cho vay trung, dài hạn đối với cá nhân để họ mua hoặc xây dựng nhà ở. Đối tượng cho vay chính là các hộ gia đình (thường là gia đình trẻ) có thu nhập ổn định, có nhu cầu về nhà ở nhưng hiện tại họ chưa tích luỹ đủ tiền cho mua hoặc xây nhà. Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội nằm trên địa bàn có kinh tế phát triển cao, đời sống người dân không ngừng được nâng cao, có nhu cầu về nhà ở rất lớn, đặc biệt ở trên địa bàn Hà Nội thì có rất nhiều các cặp vợ chồng trẻ chưa có chỗ ở hay là họ không muốn ở cùng bố mẹ với nhiều lý do, họ rất muốn có 1 ngôi nhà riêng nhưng hiện tại vốn tích luỹ chưa đủ và họ chấp nhận trả góp cho ngân hàng (khi ngân hàng cung cấp dịch vụ này) bằng số tiền trích ra từ thu nhập hàng tháng của họ. Ngân hàng có thể cho vay với hình thức này trong khoảng từ 5 – 15 năm là phù hợp và tiến hành dưới các hình thức như sau: + Ngân hàng có thể đứng ra mua đất xây nhà hay mua các căn hộ chung cư rồi bán lại cho những người có nhu cầu theo phương thức trả góp.Trong thời gian khách hàng chưa trả hết nợ thì nhà vẫn thuộc quyền sở hữu của ngân hàng, do vậy nếu gặp rủi ro (khách hàng không thể trả được nợ) xảy ra thì ngân hàng vẫn có quyền thu hồi nhà để đem bán lại, chính điều này giảm thiệt hại cho ngân hàng. + Ngân hàng có thể tiến hành cho vay đối với khách hàng có nhu cầu vay tiền để xây nhà (khách hàng đã có quyền sử dụng đất). Để đảm bảo an toàn cho ngân hàng, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng sử dụng mảnh đất và giá trị ngôi nhà mới xây làm tài sản thế chấp. 3.2.5 Chú trọng nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng Bất kỳ một lĩnh vực hoạt động nào chứ không riêng gì lĩnh vực hoạt động kinh doanh của ngân hàng, yếu tố con người chính là vấn đề cốt lõi quyết định sự thành bại của hoạt động đó. Do vậy, để nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn thì vấn đề cốt lõi chính là cần nâng cao chất lượng các cán bộ tín dụng, thẩm định (sau đây gọi chung là cán bộ tín dụng), cần những cán bộ có đủ tài và đức. Bên cạnh trình độ chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo các cán bộ cần phải có một phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao, và cần phải có một bản lĩnh vững vàng trước mọi tình huống. Do vậy cho dù các cán bộ nào có trình độ chuyên môn cao mà đạo đức có vấn đề, có biểu hiện tiêu cực thì dứt khoát không thể để trong đội ngũ cán bộ tín dụng. Để nâng cao chất lượng tín dụng, trước hết trong công tác tuyển dụng cán bộ mới, ngân hàng cần chọn lọc (có thể thông qua thi tuyển khách quan) ra được những nhân viên mới không chỉ có những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ mà còn có cả những sự hiểu biết về các chính sách của Nhà nước, sự hiểu biết rộng về các lĩnh vực liên quan đến công tác sau này của họ, kỹ năng phân tích, khả năng xử lý trong các tình huống… đồng thời thực hiện bố trí luân chuyển cán bộ sao cho phù hợp, bố trí đúng người đúng việc để các cán bộ có thể phát huy tối đa năng lực của mình. Tiếp đó, ngân hàng cần phải thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ, về các chính sách tín dụng mới, kiến thức về pháp luật, kinh tế liên quan đến lĩnh vực mà họ công tác, cần tăng cường tổ chức giao lưu, trao đổi thông tin, kinh nghiệm nghiệp vụ giữa các cán bộ tín dụng trong chi nhánh, giữa chi nhánh Hà Nội và các chi nhánh khác trong cùng hệ thống. Và ngân hàng cần có chế độ hỗ trợ cho những cán bộ đi học để nâng cao trình độ, sau vẫn phục vụ cho ngân hàng (ví dụ như cho cán bộ đi học thạc sỹ, tiến sỹ nhưng vẫn được hưởng lương). Một yếu tố quan trọng nữa là ngân hàng cần quan tâm tới thu nhập của nhân viên, vì nếu nhân viên của ngân hàng có nguồn thu nhập ổn định đảm bảo được cuộc sống của họ từ đó sẽ tạo ra tâm lý tin tưởng và họ sẽ hết mình cống hiến cho công việc. Đồng thời ngân hàng luôn đẩy mạnh thi đua lao động giỏi theo mục tiêu thi đua do Công đoàn và ban lãnh đạo ngân hàng phát động. Định kỳ biểu dương thành tích của những cán bộ tín dụng xuất sắc. 3.2.6 Tăng cường công tác quản lý nợ, cần tổ chức bộ phận quản trị rủi ro chuyên trách Công tác quản lý nợ là công tác vô cùng quan trọng đối với các NHTM, nếu công tác này không được thực hiện tốt thì sẽ ảnh hưởng đến sự sống còn của các ngân hàng. Vì vậy, công tác quản lý nợ cần luôn được tăng cường, cần thực hiện theo hướng sau: - Cần thực hiện phân loại nợ định kỳ (sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, có thể nói Ngân hàng Đầu tư và Phát triển đã đi đầu trong việc xây dựng hệ thống này) để xác định đúng chất lượng tín dụng làm cơ sở trích lập các khoản dự phòng nhằm hạn chế rủi ro tín dụng. Trên cơ sở đó ta sẽ có những chính sách cụ thể cho các khách hàng đó là: mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng đó hay là duy trì theo mức cũ hoặc là hạn chế, ngừng quan hệ tín dụng. - Cần có sự giám sát chặt chẽ đối với những khách hàng có dư nợ lớn phải gia hạn, những khách hàng có tình hình tài chính kém, kinh doanh không hiệu quả. Đối với những khoản nợ mà xin gia hạn, cần có sự thẩm tra kỹ càng, và những khoản nợ nào nhận thấy không đáp ứng được đủ các điều kiện đặt ra, không thể trả được nợ trong tương lai thì dứt khoát phải dừng cấp tín dụng. - Cần tăng cường kiểm tra giám sát đối với những khách hàng sau khi vay vốn, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng khách hàng sử dụng nguồn vốn sai mục đích. Nếu phát hiện ra những khách hàng sử dụng vốn sai mục đích thì phải dừng giải ngân các kỳ sau (thông thường giải ngân tín dụng được chia làm nhiều đợt), triển khai các biện pháp mạnh để rút dư nợ. - Đối với các khoản nợ quá hạn ngân hàng có thể xử lý một cách linh hoạt không nên cứng nhắc. Đối với những khách hàng bị nợ quá hạn chủ yếu là do những yếu tố khách quan tác động và ngân hàng xét thấy họ có khả năng duy trì kinh doanh và có ý thức trả nợ ngân hàng, thì ngân hàng có thể hỗ trợ họ bằng cách giảm một phần hoặc toàn bộ lãi phạt của khoản nợ cũ, cho vay mới (nếu doanh nghiệp cần vốn để khắc phục khó khăn) với lãi suất ưu đãi để họ có thể khắc phục khó khăn, khôi phục lại tình hình sản xuất kinh doanh để họ có khả năng trả được nợ ngân hàng. Còn những khoản nợ mà ngân hàng xét thấy khách hàng hoàn toàn không có khả năng thu hồi được nợ thì phải thực hiện: + Trường hợp với những khách hàng có tài sản đảm bảo, thì ngân hàng có thể tiến hành phát mại tài sản, đối với những tài sản mà không thực hiện phát mại được ngay (ví dụ như đối với những máy móc chuyên dụng) thì ngân hàng cần có biện pháp để khai thác một cách kịp thời. + Trường hợp đối với khách hàng không có tài sản đảm bảo (chủ yếu do thời kỳ trước để lại, nhiều khoản cho vay thực hiện dưới hình thức cho vay tín chấp), mà sau khi dùng mọi cách không thể thu được nợ thì buộc phải thực hiện biện pháp mạnh là thông báo toàn ngành, kiện ra toà án. Và để công tác quản lý nợ được hiệu quả hơn, ngân hàng cần thành lập bộ phận quản trị rủi ro chuyên trách để quản trị rủi ro tín dụng, thực hiện phân loại các khoản vay theo mức độ rủi ro, xây dựng hạn mức tín dụng đối với từng khách hàng, ngành kinh tế, khu vực và có những giải pháp xử lý đối với các khoản vay có vấn đề. Và việc thành lập bộ phận chuyên trách này sẽ giảm tải khối lượng công việc cho các cán bộ tín dụng phụ trách vì hiện nay một cán bộ tín dụng phụ trách sẽ phải đảm nhiệm tất cả các công việc sau cho một khoản vay: từ việc hướng dẫn khách hàng làm hồ sơ vay, tìm kiếm thông tin, đánh giá thẩm định tiến hành cho vay, đăng ký tài sản đảm bảo theo dõi giám sát khách hàng, tư vấn cho khách hàng cho đến các việc thu nợ, đòi nợ, việc phát mại tài sản, làm các thủ tục khởi kiện ra toà. Do vậy, việc lập ra bộ phận này góp phần nâng cao chất lượng tín dụng. 3.2.7 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ luôn là một công tác quan trọng trong hoạt đọng kinh doanh của ngân hàng nhằm đảm bảo kinh doanh an toàn và hiệu quả. Sự phát triển của hoạt động tín dụng trong đó có hoạt động tín dụng trung, dài hạn, đồng thời muốn nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng ngân hàng cũng ngày càng phải nâng cao chất lượng kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong ngân hàng. Nếu hoạt động tín dụng mà được mở rộng mà ngân hàng không quan tâm tới công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ thì có thể ngân hàng sẽ gặp phải những rủi ro trong hoạt động tín dụng, nợ quá hạn, nợ xấu sẽ tăng lên. Trong những năm vừa qua công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ của ngân hàng luôn được thực hiện tốt và đã góp phần giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Trong những năm tới ngân hàng cần phát huy và tổ chức thực hiện tốt hơn nữa công tác kiểm tra, kiểm soát của mình. Đối với hoạt động tín dụng để đạt hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ cần phải thực hiện đầy đủ, theo từng giai đoạn cụ thể, kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay: Kiểm tra trước khi cho vay: là quá trình xem xét trước khi cho vay xem có vi phạm những qui định của ngân hàng hay không, hay có điều gì là không hợp lý hay không, hồ sơ vay vốn của khách hàng có đủ tài liệu cần thiết chưa… Kiểm tra trong khi cho vay: là quá trình xem xét quá trình thực hiện việc thẩm định và ra phán quyết tín dụng của các cán bộ tín dụng có điều gì sai sót hay không, quá trình thực hiện có theo đúng thủ tục, qui trình tín dụng hay không… Kiểm tra sau khi cho vay: là quá trình xem xét tính hợp lệ, hợp pháp thông qua rà soát lại hồ sơ chứng từ của các hồ sơ cho vay đã được thực hiện, thực hiện kiểm tra quá trình trả nợ của khách hàng cho ngân hàng có đúng thời hạn hay không, qui trình xử lý của các cán bộ tín dụng đối với những khoản nợ quá hạn, nợ xấu ra sao… Nếu thực hiện tốt những điều này, công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ có những bước phát triển mới theo đúng phương châm của ngân hàng: “Chất lượng, an toàn, hiệu quả và phát triển”. 3.2.8 Tăng cường công tác Marketing trong ngân hàng Marketing ngân hàng thuộc nhóm Marketing kinh doanh, là lĩnh vực đặc biệt của ngành dịch vụ. Marketing ngân hàng là một hệ thống tổ chức quản lý của một ngân hàng để đạt được mục tiêu đặt ra của ngân hàng là thoả mãn tốt nhất nhu cầu về vốn, cũng như các dịch vụ khác của ngân hàng đối với nhóm khách hàng lựa chọn bằng các chính sách, các biện pháp hướng tới mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận. Hoạt động của Marketing ngân hàng nhằm đạt được những mục tiêu: đáp ứng tốt nhất nhu cầu mong muốn của khách hàng về các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, đồng thời có các biện pháp nhằm kích thích nhu cầu của khách hàng để đạt mức sử dụng sản phẩm của ngân hàng cao nhất và không chỉ dừng lại ở mức độ thoả mãn nhu cầu trực tiếp của khách hàng mà còn tác động cả vào môi trường tinh thần của con người nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của con người trên mọi lĩnh vực cả vật chất lẫn tinh thần. Để thực hiện tốt công tác tăng cường Marketing ngân hàng, các ngân hàng thương mại cần phải thực hiện nắm bắt toàn bộ các thông tin về môi trường kinh doanh, về khách hàng. Trên cơ sở này, các ngân hàng sẽ sử dụng một cách linh hoạt,mềm dẻo bốn chính sách để thoã mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Bốn chính sách lớn đó là: - Chính sách thông tin – nghiên cứu – tìm hiểu - điều tra. - Chính sách sản phẩm – giá cả - Chính sách phân phối (chính sách cung ứng sản phẩm ngân hàng). - Chính sách giao tiếp - khuếch trương. Hiện nay, tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội thì chưa thực sự chú ý tới công tác này, công việc này mới chỉ thực hiện đơn thuần là quảng cáo trên một số tờ báo nhưng hiệu quả của hình thức này cũng không cao bởi vì khách hàng rất khó cảm nhận được đầy đủ giá trị dịch vụ mà ngân hàng cung cấp và hoạt động này cũng được thực hiện không nhiều, việc nghiên cứu nắm bắt nhu cầu của khách hàng để thoả mãn tốt nhất nhu cầu của họ. Trước điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng như hiện nay thì việc hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng khó khăn, việc phát triển hoạt động tín dụng trung, dài hạn cũng vậy, ngân hàng sẽ không thể thụ động chông trờ vào khách hàng tự tìm đến mình mà ngân hàng cần có sự thay đổi, chú trọng hơn vào hoạt động Marketing, ngân hàng cần chủ động nắm bắt nhu cầu của khách hàng để thoả mãn tốt nhất nhu cầu của họ, ngân hàng cần tích cực tìm kiếm các khách hàng mới, các dự án khả thi để nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn. Ngân hàng cần chú trọng tới hình thức truyền thông bán hàng trực tiếp (là việc ngân hàng thông qua giao dịch giữa khách hàng và nhân viên ngân hàng để thông tin về dịch vụ ngân hàng, hình ảnh ngân hàng. Đây là hình thức phù hợp nhất với ngân hàng nhưng thực tế hiện nay ở ngân hàng bị coi nhẹ, vì hình thức này nếu so với các hình thức truyền thông khác như: quảng cáo, khuyến mại, PR, Marketing trực tiếp… thì không đòi hỏi ngân hàng phải bỏ ra chi phí tốn kém nhưng lại là hình thức hữu hiệu nhất cung cấp thông tin cho khách hàng. Qua nghiên cứu thực tế bộ máy tổ chức tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội, tôi có ý kiến đề xuất là ngân hàng có thể thành lập phòng Marketing để hoạt động Marketing được chuyên môn hoá cao hơn và thực sự đem lại hiệu quả cho ngân hàng. 3.2.9 Ngân hàng phải luôn dự báo các rủi ro tiềm ẩn và biện pháp phòng ngừa Công tác dự báo luôn giữ một vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kì một tổ chức sản xuất kinh doanh nào và đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng vậy. Như ta đã biết khi thực hiện nghiệp vụ tín dụng (cho vay) ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất. Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rủi ro tín dụng là không xảy ra. Tuy nhiên đó là việc xét trên tính nguyên tắc bởi vì không một nhà kinh doanh tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân. Hơn nữa nhiều cán bộ ngân hàng không có khả năng phân tích tín dụng thích đáng. Do vậy trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro đối với hoạt động tín dụng là không thể tránh khỏi chỉ có thể đề phòng, hạn chế. Do đó ngân hàng phải luôn dự báo các rủi ro tiềm ẩn và trên cơ sở đó có các biện pháp phòng ngừa. Khi công tác này được thực hiện tố thì rủi ro tín dụng sẽ được hạn chế và chất lượng tín dụng sẽ được nâng cao. Và đối với riêng hoạt động tín dụng trung, dài hạn thì công tác này phải được quan tâm nhiều hơn do các khoản tín dụng trung, dài hạn thường là có thời gian kéo dài do đó khả năng xảy ra rủi ro là rất lớn và khi rủi ro xảy ra thì sẽ xảy ra tổn thất rất lớn cho ngân hàng (các khoản tín dụng trung, dài hạn thường có giá trị lớn) và không chỉ có vậy nếu rủi ro xảy ra thì sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều các ban ngành khác, và ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của đất nước. Ngân hàng cần thực hiện công tác dự báo bao gồm cả những dự báo chung và các dự báo cụ thể: - Dự báo chung: đó là những dự báo của ngân hàng cho toàn bộ hoạt động tín dụng trung, dài hạn trong những năm tới. Như với tình hình hiện nay và trong những năm tới Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội cần giảm dư nợ đối với lĩnh vực cho vay xây lắp (vì hiện nay lĩnh vực này hoạt động không hiệu quả) và ưu tiên cho vay với các ngành kinh tế có thế mạnh, đảm bảo được đầu ra và được đánh giá là ít rủi ro như: thuỷ điện, nhiệt điện, xi măng, chế biến xuất khẩu thuỷ hải sản, gỗ, công nghiệp khai khoáng, hạ tầng giao thông, BOT cầu đường bộ, đường sắt, cảng biển, hàng không… - Dự báo cụ thể: là ngân hàng thực hiện dự báo những rủi ro tiềm ẩn cho từng dự án trung, dài hạn cụ thể. Ngân hàng cần xem xét những rủi ro: như thiên tai, thay đổi chính sách vĩ mô của Nhà nước, biến động đột biến của thị trường (ví dụ như sự thay đổi trong giá nguyên vật liệu đầu vào như giá xăng, dầu… sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới các dự án) và những rủi ro trong tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng…có sự tác động tới dự án. 3.2.10 Một số giải pháp khác Trên đây là những giải pháp chính nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn, ngoài các biện pháp trên ngân hàng cần kết hợp với các giải pháp phụ trợ sau để nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng trung, dài hạn: - Chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng: ngân hàng cần phối hợp với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam để triển khai xây dựng hệ thống công nghệ thông tin một cách đồng bộ trong đó chú trọng việc xây dựng các phần mềm ứng dụng phục vụ cho các qui trình nghiệp vụ của ngân hàng (trong đó có nghiệp vụ tín dụng) và công tác quản lý điều hành của ngân hàng. - Nâng cao công tác tư vấn của ngân hàng: ngân hàng không chỉ tư vấn cho khách hàng trong lập hồ sơ vay mà còn thực hiện tư vấn cho khách hàng ở trong công tác thẩm định, giám sát sau khi cho vay, ngân hàng sẽ tư vấn cho khách hàng những điểm chưa thực sự phù hợp của dự án nhờ đó các dự án sẽ hoạt động một cách hiệu quả hơn và khách hàng có khả năng trả được nợ ngân hàng đúng hạn cao, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn. - Phát huy hơn nữa sức mạnh của công đoàn, đoàn thể trong công tác thi đua, khen thưởng… 3.3 KIẾN NGHỊ 3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước Trong thời gian vừa qua, Nhà nước cùng với những định hướng, chính sách phát triển kinh tế của mình đã tạo điều kiện tốt cho nền kinh tế nước ta nói chung và với hoạt động tín dụng của các NHTM nói riêng. Và tôi xin mạnh dạn đưa ra những đề xuất với Nhà nước để phát huy hơn nữa vai trò của các NHTM trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là các khoản tín dụng trung, dài hạn: - Chính phủ cần phải ban hành hệ thống pháp luật đồng bộ có hiệu lực tạo hành lang pháp lý an toàn cho sự phát triển các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động của ngành ngân hàng nói riêng. Nhà nước cần có sự quản lý với các biến số kinh tế vĩ mô như tỷ giá, lạm phát, lãi suất để hạn chế đến mức thấp nhất những biến động bất thường của nền kinh tế. - Nhà nước cần tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, có như vậy hoạt động tín dụng mới có thể phát triển mạnh mẽ: + Thúc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút mạnh các nguồn FDI, tạo ra động lực phát triển thị trường nội địa, tạo sức cạnh tranh để kích thích các doanh nghiệp trong nước phát triển. Cần phải xác định rõ các trọng điểm tăng trưởng của nền kinh tế để có biện pháp củng cố và thúc đẩy các trọng điểm tăng trưởng kinh tế. + Nhà nước cần có những chính sách phát triển kinh tế đồng đều cho các vùng, ưu tiên những vùng sâu vùng xa, nông thôn miền núi…, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải không hiệu quả lãng phí ngân sách của Nhà nước. + Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh, huy động tối đa các nguồn lực phát triển, tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy, coi trọng phát triển thị trường vốn, thị trường tài chính, chỉ đạo tổ chức thực hiện sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước. Đẩy mạnh cổ phần hoá công khai, hoàn thiện cơ chế đấu thầu đấu giá, định giá đất đai, tài sản theo hướng thị trường hoá các quan hệ kinh tế này, bảo đảm tính công khai minh bạch của thị trường. Cần tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng giữa doanh nghiệp Nhà nước với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước để ngăn ngừa giảm thiểu các hình thức tài trợ, bảo lãnh các doanh nghiệp tài chính và phi tài chính của Nhà nước. Nghiên cứu cơ chế quản lí và phát triển đối với thị trường bất động sản. Đổi mới cơ chế quản lí Quĩ hỗ trợ xuất khẩu, bỏ những nhiệm vụ chi có tính bao cấp, tăng chi hỗ trợ mở rộng thị trường, ưu tiên các chương trình xúc tiến thương mại ngành hàng trọng điểm. Các tỉnh, thành phố thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ để khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh. Thực hiện cải cách thủ tục hành chính một cách triệt để giảm bớt cơ chế xin cho gây phiền hà cho các nhà đầu tư. + Đồng thời, Nhà nước cần tăng cường kiểm tra giám sát đối với các thành phần kinh tế hạn chế đến mức thấp nhất những hoạt động kinh doanh trái phép gây tiêu cực xã hội để tạo một môi trường kinh doanh lành mạnh: như buôn lậu, trốn lậu thuế, làm hàng quốc cấm, hàng giả, hàng nhái… - Qua nghiên cứu tình hình hoạt động tín dụng trung, dài hạn cụ thể tại ngân hàng thì tôi thấy hiện nay trong vấn để bảo đảm tiền vay còn nhiều vướng mắc, tôi xin đưa ra một số kiến nghị với Nhà nước về vấn để này: + Chính phủ cần đưa ra một khung giá phù hợp hơn về định giá đối với các tài sản thế chấp vì hiện nay thì việc định giá này đã không đánh giá đúng giá trị tài sản, việc đánh giá tài sản quá thấp đã gây khó khăn cho cả người vay và cho cả ngân hàng. + Nhà nước cần đẩy mạnh hơn nữa công tác cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong việc vay vốn ngân hàng (được sử dụng để làm tài sản thế chấp), đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi trong việc xử lý tài sản đảm bảo khi có rủi ro xảy ra (khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng). + Cần ban hành những chính sách cụ thể để hạn chế khó khăn cho các ngân hàng khi phát mại tài sản, và đối với các trường hợp mà các khoản vay được bảo lãnh bằng bên thứ 3 khi gặp rủi ro xảy ra thì lại chưa có một khung pháp lý nào cụ thể qui định về quyền đòi nợ của ngân hàng với bên thứ 3. 3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần tích cực đổi mới, bổ sung hoàn thiện cơ chế tín dụng theo hướng thông thoáng phù hợp với thực tiễn hoạt động và thông lệ quốc tế, chú trọng việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản qui định về nghiệp vụ tín dụng nhằm nâng cao năng lực quản lý và đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng. Cụ thể: tập trung hoàn thiện qui trình tín dụng, phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro, ban hành qui định về tiêu chuẩn và yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống quản trị rủi ro hữu hiệu… NHNN cần nghiên cứu và xây dựng một hệ thống các chỉ số mang tính chuẩn mực để thống nhất đánh giá so sánh chất lượng tín dụng của các NHTM, hệ thống chỉ số và giới hạn để dự báo trước các nguy cơ rủi ro cho các NHTM. Có thể định kỳ hàng năm thu thập thông tin và tính toán các báo cáo của các NHTM để đánh giá tình hình chất lượng toàn ngành và có những điều chỉnh kịp thời. NHNN phối hợp cùng các NHTM có thể triển khai xây dựng qui trình tín dụng, thẩm định chung toàn ngành để phục vụ cho công tác thẩm định và ra phán quyết tín dụng, xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, xếp loại doanh nghiệp một cách thống nhất nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác quản trị rủi ro nhất là rủi ro tín dụng. Không nên để tình trạng mỗi ngân hàng một kiểu như hiện nay. NHNN cần tăng cường hỗ trợ cho các NHTM trong việc nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ tín dụng, thẩm định. Có thể định kỳ tổ chức các lớp bồi dưỡng, hội nghị hội thảo về kinh nghiệm tín dụng trong toàn ngành ngân hàng. Đổi mới hoạt động thanh tra, tích cực ứng dụng khoa học công nghệ thông tin, tăng cường công tác giám sát từ xa kết hợp với thanh tra tại chỗ nhằm kịp thời ngăn chặn, phát hiện và xử lý các sai phạm của các tổ chức tín dụng. Chú trọng công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện xử lý và kiến nghị xử lý sau thanh tra đối với các tổ chức tín dụng. Tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát từ xa theo thông lệ quốc tế (CAMELS), tuy phương pháp này đã được thực hiện từ lâu nhưng hiệu quả mang lại chưa cao, nhất là ở các chi nhánh địa phương. Đồng thời xây dựng và hoàn thiện qui trình thanh tra tại chỗ (BASEL I, II) theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. NHNN cần nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng, cải thiện chất lượng thông tin đầu vào để tạo nguồn đầu ra thông tin một cách chính xác về thị trường và doanh nghiệp, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM có thể sử dụng thông tin để phục vụ cho công tác thẩm định và ra phán quyết tín dụng, nhờ đó nâng cao được chất lượng tín dụng. 3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cần hệ thống hoá một cách cụ thể toàn bộ các văn bản pháp luật của Nhà nước liên quan đến vấn đề về bảo đảm tiền vay để ban hành trong hệ thống ngân hàng Đầu tư. Đồng thời cần thường xuyên giám sát, hỗ trợ cho các chi nhánh trong việc thu thập thông tin tín dụng, thẩm định tín dụng, các vấn đề liên quan đến bảo đảm tiền vay như: định giá tài sản bảo đảm, phát mại tài sản bảo đảm… Theo tiến trình cổ phần hoá của BIDV, đòi hỏi yêu cầu cao hơn về chất lượng tín dụng và điều kiện tín dụng. BIDV cần có những chỉ đạo và chấn chỉnh kịp thời đối với hoạt động tín dụng sao cho theo đúng lộ trình cổ phần hoá. Cụ thể như chỉ đạo các chi nhánh thực hiện xong việc cơ cấu nợ xấu trước thời điểm cổ phần hoá, hướng dẫn các chi nhánh áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ mới được xây dựng, thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo điều 7 của QĐ 493… Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam cần tạo ra được sự liên kết các chi nhánh trong hệ thống, các chi nhánh hợp tác chặt chẽ phối hợp thực hiện các chính sách về lãi suất, khách hàng, nguồn vốn… tạo nên một sức mạnh thống nhất của hệ thống Ngân hàng Đầu tư. Thực hiện hỗ trợ, chỉ đạo, phối hợp các chi nhánh để nâng cao năng lực công nghệ ngân hàng. Chú trọng cả về mặt trang thiết bị và những phần mềm tiện ích phục vụ cho hoạt động tín dụng. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng. BIDV cần thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho các chi nhánh, những buổi hội thảo trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng giữa các chi nhánh, thực hiện tốt công tác tuyển dụng cán bộ và phân công các cán bộ mới đó cho các chi nhánh, ngân hàng cần quan tâm tới tình trạng quá tải của các cán bộ tín dụng ở các chi nhánh tránh tình trạng do khối lượng công việc quá lớn mà dẫn đến các quyết định không hợp lý gây tổn thất cho ngân hàng. Những giải pháp và kiến nghị đưa ra ở đề tài này cũng mới chỉ là những giải pháp nhỏ, việc nâng cao chất lượng tín dụng đòi hỏi sự phối hợp nhiều giải pháp, sự cố gắng của bản thân ngân hàng và sự tham gia của các cấp, các ngành. KẾT LUẬN Chất lượng tín dụng là vấn đề phức tạp, và việc nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng không phải là đơn giản, nó đòi hỏi có sự phối hợp đồng bộ từ những chính sách vĩ mô của Nhà nước cho đến chính sách của NHNN, sự phối hợp cùng thực hiện giữa các chi nhánh trong cùng hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Những giải pháp và kiến nghị tôi đưa ra ở đề tài này cũng mới chỉ là những giải pháp nhỏ để góp phần nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn. Do lĩnh vực nghiên cứu là rất rộng và phức tạp trong khi đó thời gian nghiên cứu còn hạn chế, những kinh nghiệm thực tiễn mà tôi được tiếp xúc vẫn còn thiếu, cho nên đề tài của tôi sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý của thầy cô giáo, các cán bộ của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội để tôi có thể hoàn thiện và phát triển đề tài cho luận văn tốt nghiệp sau này. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................... - 1 - CHƯƠNG 1 ....................................................................................................... - 4 - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG, DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ............................................................... - 4 - 1.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ........ - 4 - 1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại .................................................... - 4 - 1.1.2 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng ....................................................... - 5 - 1.1.3 Phân loại tín dụng ............................................................................... - 6 - 1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG, DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ..................................................................... - 8 - 1.2.1 Khái quát về tín dụng trung, dài hạn .................................................... - 8 - 1.2.1.1 Khái niệm, đặc trưng của tín dụng trung, dài hạn .......................... - 8 - 1.2.1.2 Vai trò của tín dụng trung, dài hạn trong nền kinh tế thị trường .. - 11 - 1.2.1.3 Các hình thức tín dụng trung, dài hạn ......................................... - 13 - 1.2.2 Chất lượng tín dụng trung, dài hạn .................................................... - 17 - 1.2.2.1 Khái niệm ................................................................................... - 17 - 1.2.2.2 Đánh giá chất lượng tín dụng trung, dài hạn................................ - 18 - 1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung, dài hạn..... - 25 - CHƯƠNG 2 ..................................................................................................... - 31 - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG, DÀI HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ .................................................................................. - 31 - VÀ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ................................................... - 31 - 2.1. KHÁI QUÁT VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............................................................................... - 31 - 2.1.1 Quá trình phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội ....................................................................................................... - 31 - 2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội ..................................................................................... - 33 - 2.1.2.1 Các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của ngân hàng ........................... - 33 - 2.1.2.2 Hoạt động huy động vốn ............................................................. - 34 - 2.1.2.3 Hoạt động cho vay ...................................................................... - 35 - 2.1.2.4 Các hoạt động khác ..................................................................... - 38 - 2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG, DÀI HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI- 38 - 2.2.1 Thực trạng chất lượng tín dụng trung, dài hạn tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội ................................................................. - 38 - 2.2.1.1 Tình hình nguồn vốn cho vay trung, dài hạn ............................... - 38 - 2.2.1.2 Tình hình cho vay trung, dài hạn ................................................. - 40 - 2.2.1.3 Tình hình nợ quá hạn, nợ xấu cho vay trung, dài hạn .................. - 44 - 2.2.2 Đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng trung, dài hạn tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội ..................................................... - 47 - 2.2.2.1 Kết quả đạt được ......................................................................... - 47 - 2.2.2.2 Hạn chế và nguyên nhân ............................................................. - 49 - CHƯƠNG 3 ..................................................................................................... - 54 - NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN ............................................................................................................. - 54 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI ................................................................................... - 54 - 3.1 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG, DÀI HẠN ............................................................................................................. - 54 - 3.1.1 Định hướng của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) .............. - 54 - 3.1.2 Định hướng của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội - 55 - 3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG, DÀI HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............................................................................... - 57 - 3.2.1 Giải pháp huy động vốn cho vay trung, dài hạn ................................. - 57 - 3.2.2 Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng ........................................... - 58 - 3.2.3 Thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt .............................................. - 61 - 3.2.4 Đa dạng hoá các loại hình tín dụng trung, dài hạn ............................. - 62 - 3.2.5 Chú trọng nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng ................................. - 64 - 3.2.6 Tăng cường công tác quản lý nợ, cần tổ chức bộ phận quản trị rủi ro chuyên trách ........................................................................................................... - 65 - 3.2.7 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ ............................... - 66 - 3.2.8 Tăng cường công tác Marketing trong ngân hàng .............................. - 67 - 3.2.9 Ngân hàng phải luôn dự báo các rủi ro tiềm ẩn và biện pháp phòng ngừa- 69 - 3.2.10 Một số giải pháp khác ..................................................................... - 70 - 3.3 KIẾN NGHỊ ........................................................................................... - 70 - 3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước .................................................................... - 70 - 3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước .................................................. - 72 - 3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam .................. - 73 - KẾT LUẬN ..................................................................................................... - 74 - DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ Trang 1. Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của Chi nhánh 39 2. Bảng 2.2: Cơ cấu dư nợ 42 3. Bảng 2.3: Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn 44 4. Biểu đồ 2.4: Lượng vốn trung, dài hạn huy động qua các năm 45 5. Bảng 2.5: Tình hình cho vay trung, dài hạn tại Chi nhánh 46 6. Biểu đồ 2.6: Tỷ trọng cơ cấu cho vay trung, dài hạn theo thành phần kinh tế 48 7. Bảng 2.7: Doanh số cho vay trung, dài hạn 49 8. Bảng 2.8: Thu nhập từ lãi của hoạt động cho vay 49 9. Bảng 2.9: Nợ quá hạn trung, dài hạn xét trên tổng dư nợ trung, dài hạn 50 10. Biểu đồ 2.10: Nợ quá hạn trung, dài hạn qua các năm 51 11. Bảng 2.11: Nợ xấu trung, dài hạn xét trên tổng dư nợ trung, dài hạn 52 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1. NHTM: Ngân hàng thương mại 2. NHNN: Ngân hàng Nhà nước 3. DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước 4. BIDV: Bank Investment Development Vietnam (Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam) 5. Trđ: Triệu đồng 6. TDH: Trung, dài hạn DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội, Báo cáo tổng hợp huy động vốn, tình hình tín dụng, thu nhập từ lãi cho vay các năm 2004, 2005, 2006. 2. Đào Hải Hiền, Sửa đổi thông tư liên tịch số 03 về “ Hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay” là một vấn đề cấp thiết, Tạp chí Ngân hàng số 14 tháng 7/2006. 3.GS. TS. Lê Văn Tư, Quản trị Ngân hàng thương mại, NXB Tài Chính 2005. 4. Khắc Luyện, Gia hạn nợ vay ngân hàng: Phải xuất phát từ yếu tố khách quan, Tạp chí ngân hàng số 9 tháng 5/2006. 5. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Qui trình tín dụng trung, dài hạn, tháng 9/2001. 6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Quyết định của thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN. 7. Nguyễn Thị Thu Thủy, Rủi ro và những biện pháp hạn chế rủi ro, Tạp chí Ngân hàng số 15 tháng 8/2006. 8.PGS. TS. Nguyễn Thị Mùi, Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Thống Kê 2005 9. PGS. TS. Phan Thị Thu Hà, Ngân hàng thương mại, 2006. 10 Phan Đức Quang, Kiểm soát các rủi ro của hoạt động cho vay đối với các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế, Tạp chí Ngân hàng số 11 tháng 6/2006. 11. ThS. Vũ Thuý Ngọc, Hệ thống kiểm soát nội bộ của một ngân hàng hiện đại, Tạp chí Ngân hàng số 9 tháng 5/2006. 12. TS. Nguyễn Hữu Tài (Chủ biên), Giáo trình lí thuyết tài chính tiền tệ, NXB Thống kê 2002. 13.TS. Nguyễn Văn Tiến, Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, NXB Thống Kê 2003. PHỤ LỤC O1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ các phòng ban tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội GIÁM ĐỐC P. GIÁM ĐỐC P. GIÁM ĐỐC P. GIÁM ĐỐC KHỐI CHỨC NĂNG KHỐI KINH DOANH P.TD1 P.TD4 P.TD2 P.TD3 P.GD1 P.GD10 P.GD11 P.GD6 P.GD12 P.GD17 P.GD2 P.GD18 DV KH DOANH NGHIỆP DV KH CÁ NHÂN P.TT QUỐC TẾ P.NGUỒN VỐN P.TĐ&QLTD P. TỔ CHỨC CÁN BỘ P.TT ĐIỆN TOÁN P. TÀI CHÍNH KẾ TOÁN P. KIỂM TRA NỘI BỘ P.VĂN PHÒNG Nguồn: Tài liệu tập huấn nhân viên mới Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội 1. Khối tín dụng Sau khi chương trình dự án hiện đại hoá vận hành ổn định các phòng tín dụng được bố trí gồm 4 phòng: * Tín dụng 1: Chuyên sâu khách hàng là doanh nghiệp xây lắp, giao thông * Tín dụng 2: Chuyên sâu phục vụ khách hàng khối kinh tế địa phương * Tín dụng 3: Chuyên sâu khách hàng tư nhân và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh * Tín dụng 4: Chuyên sâu phục vụ khách hàng khối kinh tế Trung Ương trong lĩnh vực xây dựng công nghiệp: điện, lắp máy… a) Nhiệm vụ tín dụng doanh nghiệp * Bộ phận quan hệ trực tiếp với khách hàng: - Thiết lập duy trì mở rộng quan hệ với khách hàng - Nhận hồ sơ, kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ, chuyển đến các ban, phòng liên quan để thực hiện theo chức năng. - Phân tích doanh nghiệp, khách hàng vay theo qui trình nghiệp vụ, đánh giá tài sản đảm bảo nợ vay. - Đề xuất hạn mức tín dụng. - Quản lí sau giải ngân. - Cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động tín dụng cho phòng thẩm định, quản lí tín dụng tham gia xây dựng chính sách tín dụng. - Thực hiện các chức năng khác đối với khách hàng và nhiệm vụ khác của giám đốc phân công. * Bộ phận tác nghiệp (gián tiếp): Nhân viên tác nghiệp làm nhiệm vụ quản lí khoản vay bao gồm xem xét chứng từ pháp lí để mở tài khoản của khách hàng và mở tài khoản tiền vay, thiết lập thông tin về khách hàng, chuẩn bị các số liệu thống kê, các báo cáo về các khoản cho vay phục vụ cho mục đích nội bộ của chi nhánh Thành phố Hà Nội, của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các nhiệm vụ khác. b) Nhiệm vụ tín dụng dân cư Thực hiện các chức năng nhiệm vụ như như nhiệm vụ tín dụng doanh nghiệp đối với đối tượng khác hàng là các cá nhân (bao gồm cho vay cầm cố, chiết khấu sổ tiết kiệm, các chứng từ có giá…). 2. Khối dịch vụ ngân hàng * Phòng dịch vụ khách hàng doanh nghiệp (tách ra từ phòng tài chính kế toán): chịu trách nhiệm xử lí các giao dịch đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức khác. * Phòng dịch vụ khách hàng cá nhân (phòng huy động vốn dân cư cũ): chịu trách nhiệm xử lí các giao dịch đối với khách hàng cá nhân. Cả 2 phòng dịch vụ khách hàng doanh nghiệp và cá nhân cùng thực hiện các chức năng sau: - Thực hiện giải ngân vốn vay cho khách hàng vay là tổ chức trên cơ sở hồ sơ giải ngân được duyệt. - Mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng, chịu trách nhiệm xử lí các yêu cầu của khách hàng về tài khoản hiện tại và tài khoản mới. - Thực hiện tất cả các giao dịch nhận tiền gửi và rút tiền bằng nội tệ, ngoại tệ của khách hàng. - Thực hiện giao dịch mua ngoại tệ giao ngay đối với khách hàng doanh nghiệp theo qui định và các chính sách kinh doanh ngoại tệ của giám đốc. - Thực hiện các giao dịch thanh toán, chuyển tiền cho khách hàng. - Thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến khách hàng và giám đốc phân công. * Phòng thanh toán quốc tế: - Trên cơ sở các hạn mức,khoản vay, bảo lãnh, L/C đã được phê duyệt, thực hiện các tác nghiệp trong tài trợ thương mại phục vụ các giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu cho khác hàng. - Mở các L/C có kí quĩ 100% vốn của khách hàng - Thực hiện nhiệm vụ đối ngoại với các ngân hàng nước ngoài - Đầu mối trong việc thực hiện các dịch vụ thông tin đối ngoại - Thực hiện các giao dịch mua, bán ngoại tệ với khách hàng doanh nghiệp gồm giao ngay (trừ mua giao ngay), kì hạn, quyền chọn, SWAP theo quyết định và kế hoạch kinh doanh ngoại tệ của giám đốc và thực hiện các nhiệm vụ khác khi được phân công. * Phòng tiền tệ - kho quĩ: Thực hiện các nhiệm vụ tiền tệ kho quĩ: quản lý nghiệp vụ của Chi nhánh, thu chi tiền mặt, quản lý vàng bạc, kim loại quý, đá quý, quản lý chứng chỉ có giá, hồ sơ tài sản thế chấp cầm cố, thực hiện xuất nhập tiền mặt… 3. Khối chức năng * Phòng Kế hoạch - nguồn vốn: - Tổ chức thu thập thông tin, nghiên cứu, phân tích môi trường, xây dựng chiến lược, các chính sách kinh doanh, marketting, chính sách khách hàng, lãi suất, huy động vốn, cân đối vốn. - Tham mưu cho giám đốc các vấn đề liên quan đến an toàn trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh Thành phố Hà Nội - Tổng hợp báo cáo, cung cấp thông tin kinh tế, phòng ngừa rủi ro, quản lí các hệ số an toàn… để xây dựng chính sách giá cả cho các sản phẩm dịch vụ. - Nghiên cứu các sản phẩm mới về huy động vốn, thu thập thông tin phản hồi về chính sách, biện pháp huy động vốn… - Làm thư kí hội đồng thi đua – khen thưởng Chi nhánh Thành phố Hà Nội. - Thư kí hội đồng quản lí tài sản nợ - có của chi nhánh. - Thực hiện các nhiệm vụ khác của giám đốc phân công. * Phòng thẩm định - quản lí tín dụng: - Thu thập các thông tin và đánh giá các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật. - Thẩm định, tham gia ý kiến quyết định cấp tín dụng các dự án cho vay, bảo lãnh (trung, dài hạn) và các khoản tín dụng ngắn hạn vượt mức phán quyết của Trưởng phòng tín dụng. - Thẩm định các đề xuất về hạn mức tín dụng, đánh giá tài sản đảm bảo nợ vay - Thư kí hội đồng tín dụng, hội đồng xử lí rủi ro.. của chi nhánh. - Giám sát chất lượng khách hàng xếp loại rủi ro tín dụng của khách hàng vay và đánh giá phân loại, xếp hạng khách hàng doanh nghiệp và các hoạt động liên quan đến giám sát và quản lí tín dụng khác. - Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới và thực hiện các nhiệm vụ khác được giao phó. * Phòng tài chính kế toán: Thực hiện công tác kế toán, tài chính cho toàn bộ hoạt động của Chi nhánh bao gồm tổ chức hướng dẫn thực hiện, kiểm tra công tác hoạch toán kế toán và phân tích các báo cáo tài chính, tham mưu thực hiện chế độ và các nhiệm vụ liên quan đến tình hình tài chính, chi tiêu của chi nhánh Thành phố Hà Nội. * Phòng điện toán: Quản lí mạng, quản trị hệ thống phân quyền truy cập, kiểm soát theo quyết định của giám đốc, quản lí hệ thống máy móc thiết bị tin học, đào tạo hỗ trợ các đơn vị trực thuộc vận hành hệ thống và các vấn đề liên quan đến tin học phục vụ kinh doanh khác. * Phòng kiểm tra - kiểm toán nội bộ - Hướng dẫn phổ biến lưu trữ các văn bản pháp qui, văn bản chế độ, tham mưu tư vấn cho giám đốc, các phòng nghiệp vụ những vấn đề pháp lí, soạn thảo, đàm phán, ký kết hợp đồng, giải quyết tố tụng trực tiếp. - Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm toán nội bộ tại trụ sở Chi nhánh Thành phố Hà Nội và tất cả các đơn vị trực thuộc chi nhánh Thành phố Hà Nội và các chức năng nhiệm vụ khác của bộ phận kiểm tra nội bộ theo qui định của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam. * Phòng tổ chức cán bộ: Tham mưu cho giám đốc và hướng dẫn cán bộ thực hiện các chế độ chính sách của pháp luật về trách nhiệm và quyền lợi của người sử dụng lao động và người lao động. Lập các kế hoạch tổ chức tuyển dụng nhân sự theo yêu cầu hoạt động của chi nhánh và tham mưu cho giám đốc về bố trí nhân sự phù hợp tiêu chuẩn trình độ chuyên môn của từng cán bộ. Quản lí các vấn đề khác liên quan đến hồ sơ, chế độ tiền lương, bảo hiểm làm việc của cán bộ công nhân viên. * Văn phòng: Thực hiện công tác hành chính và các công tác hậu cần, an ninh cho con người, tài sản tiền bạc của Chi nhánh và các khách hàng đến giao dịch tại chi nhánh Thành phố Hà Nội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf646_6386.pdf
Luận văn liên quan