Luận văn Giao lưu văn hóa việt – Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (1975 – 2000)

Hiện nay song song với nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, việc xây dựng nền văn hóa văn minh hiện đại, trong đó bảo tồn và phát huy văn hóa bản địa là việc làm vô cùng cần thiết trong hệ thống giáo dục Việt Nam, đặc biệt trong giáo dục trung học phổ thông và đại học hiện nay. Những trí thức Việt Nam trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nền kinh tế tri thức toàn cầu phải là những hiền tài, nguyên khí của quốc gia, mang đầy đủ bản lĩnh, bản sắc và tinh hoa của dân tộc Việt. Phải làm sao để các giá trị truyền thống của 4.000 năm văn hiến lan tỏa thành giá trị đặc thù của nền văn hóa Việt. Hiện nay và trong tương lai, đất nước Việt Nam chúng ta đang trên đà phát triển và từng bước khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế. Phát huy những yếu tố văn hóa dân tộc, trên cơ sở đó tạo nên sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc hay giữa các nước trên thế giới, tạo nền tảng của việc mở rộng quan hệ ngoại giao. Cùng với quá trình toàn cầu hóa, quá trình giao lưu văn hóa càng trở nên mạnh mẽ. Đó như một quy luật tất yếu mà không một nền văn hóa nào có thể đứng ngoài. Mỗi một nền văn hóa muốn phát triển, tiến ngang tầm thời đại thì không thể tự khép mình, đóng cửa với những “luồng gió” văn hóa mới.

pdf144 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 14/08/2017 | Lượt xem: 244 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Giao lưu văn hóa việt – Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (1975 – 2000), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
chọn lọc những yếu tố tiến bộ, phù hợp với văn hóa của các dân tộc khác. 101 Như vậy, do đặc điểm cư trú đan xen và quá trình giao lưu văn hóa giữa các dân tộc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhất là sự ảnh hưởng văn hóa của người Việt, diễn ra khá mạnh mẽ, nên trong thực tế đã và đang diễn ra một quá trình “đồng hóa tự nhiên”. Trong điều kiện đó, đồng bào dân tộc Khmer đang có nguy cơ mất dần những sắc thái văn hóa của dân tộc mình, đặc biệt là tiếng nói và chữ viết. “Thực tế đáng báo động là nhiều nơi hiện nay, người Khmer và ngay cả giáo viên người dân tộc Khmer cũng không biết nói và viết tiếng Khmer” [29, 209]. Tuy nhiên, khắc phục những biểu hiện “đồng hóa” về văn hóa. Cần nhận thức rằng, quá trình xích lại gần nhau giữa các dân tộc mà điển hình là hai dân tộc chủ thể Việt và Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đã tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc phát triển toàn diện, là cơ sở để củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nhưng không phải vì thế mà để xảy ra sự đồng hóa về văn hóa dù đó là sự đồng hóa tự nhiên, dẫn tới tình trạng làm mất đi các giá trị văn hóa của dân tộc Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là sự mai một của tiếng nói và chữ viết Khmer. Do đó, cần đào tạo đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ người Khmer, chính lực lượng này sẽ giữ vai trò nồng cốt trong việc bảo tồn, giữ gìn những giá trị văn hóa trước sự đồng hóa và sự mai một của các giá trị văn hóa. Phải nhận thức đúng đắn và tầm quan trọng của những giá trị văn hóa Khmer đối với việc củng cố khối đoàn kết dân tộc. Văn hóa Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tín ngưỡng tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo Tiểu thừa, họ tin tưởng tuyệt đối vào các nhà chùa và các sư sãi, là một tộc người có tư duy sáng tạo, cần cù, chịu khó, có truyền thống đấu tranh chống áp bức. Những giá trị văn hóa Khmer thể hiện đặc điểm của cư dân nông nghiệp lúa nước, in đậm dấu ấn Bàlamôn và Phật giáo Tiểu thừa, đồng thời thể hiện sự hòa nhập, giao lưu văn hóa với các dân tộc khác trong vùng, vừa độc đáo riêng biệt, vừa phong phú đa dạng. 102 KẾT LUẬN Đồng bằng sông Cửu Long – một miền đất giàu đẹp của Tổ quốc ta, vốn có những dấu vết văn hóa lâu đời, liên tục từ thời tiền sử cho đến nay, nơi đã từng diễn ra những tiếp xúc của nhiều lớp, nhiều tầng văn hóa vùng Đông Nam Á. Vì vậy, việc nghiên cứu văn hóa đồng bằng sông Cửu Long cần được xét trong quá trình thống nhất văn hóa của cả nước. Ngay từ buổi đầu mở đất, các dân tộc cộng cư ở đồng bằng sông Cửu Long đã chung lưng đấu cật, đoàn kết để chống chọi với thiên nhiên, với thú dữ và nhiều tai họa khác. Bên cạnh việc đoàn kết để chống chọi với những khó khăn còn là để cho có bạn có bè, cho đỡ quạnh hiu giữa chốn rừng thiên nước độc. Vì lẽ đó, cư dân ở đồng bằng sông Cửu Long quan niệm “Bán bà con xa mua láng giềng gần”. Yếu tố láng giềng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với cư dân, trong việc giúp đỡ nhau những lúc hoạn nạn khó khăn, tối lửa tắt đèn có nhau, trong việc khẩn hoang lập ấp, mở rộng xóm làng, tạo dựng cho cuộc sống ngày càng phát triển lên. Có lẽ vì vậy dân đồng bằng sông Cửu Long có tinh thần hiếu khách, trọng nghĩa khinh tài. Và trong hơn ba thế kỷ qua, các cộng đồng dân tộc cộng cư trên đồng bằng sông Cửu Long đã khẳng định được sức sống mãnh liệt trên vùng đất mới của Tổ quốc. Các dân tộc đã đoàn kết, giúp đỡ nhau trong công cuộc xây dựng cuộc sống, kiến tạo những nét văn hóa thêm phong phú và hơn hết đã góp phần gìn giữ trọn vẹn đất nước trước các cuộc xâm lấn, nô dịch từ nhiều phía. Sự cộng cư của nhiều dân tộc trên một vùng đất đã giúp vùng đồng bằng sông Cửu Long có được một bản sắc văn hóa phong phú và đa dạng. Lúc đầu, có thể chỉ là sự liên kết đơn thuần của nhiều cộng đồng người để chống lại những thiên tai dịch họa, hòng tìm sự bình yên trong cuộc sống và sản xuất. Như trên đã trình bày, đồng bằng sông Cửu Long có nhiều tộc người sinh sống như người Hoa, Khmer, Chăm và nơi đây người Việt chiếm số lượng đông đảo nhất. Họ cùng cộng cư lâu dài với nhau trên vùng đất mới này. Trong quá trình lao động và chinh phục thiên nhiên cũng như trong đấu tranh chống lại sự áp bức bóc lột của giai 103 cấp phong kiến và sau này là thực dân đế quốc thống trị, đã đoàn kết hòa hợp với nhau. Đây là cơ sở thực tế để mỗi tộc người tồn tại và phát triển, là tình cảm giai cấp của quần chúng lao động cùng chịu chung một số phận chính trị, và cũng là quá trình diễn ra sự giao lưu văn hóa một cách tự nguyện và sâu sắc nhất. Khi Việt Nam hoàn toàn độc lập thống nhất, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long mới thực sự được giải phóng, quyền bình đẳng, dân chủ được khôi phục, thực sự được tôn trọng và có nhiều điều kiện phát triển tự do trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, lĩnh vực văn hóa cũng dần dần được khởi sắc, đồng hành cùng văn hóa của các dân tộc khác trong vùng cũng như trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Do điều kiện địa lý đặc thù, nên cách thức hoạt động sản xuất của cư dân trên vùng đất phì nhiêu rộng lớn này mang đặc trưng đồng bằng sông nước rõ nét nhất, đồng thời cũng đa dạng nhất so với tất cả các vùng miền khác. Từ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, do dân số gia tăng và đất hoang ngày càng ít, người Việt và người Khmer đã khai phá cả những mảnh đất bưng phèn ở các vùng ngập mặn chỉ có thể cấy lúa một vụ. Bên cạnh việc trồng lúa nước, người Khmer còn trồng hoa màu trên đất rẫy giống người Việt. Ở vùng ven sông biển, người Khmer cũng làm nghề đánh bắt cá mà chủ yếu là cá đồng, cá sông, với kỹ thuật và ngư cụ giống như người Việt. Nghề chăn nuôi nhìn chung còn gắn với nông nghiệp, mặc dù đã hình thành được những đàn bò, trâu, vịt tàu khá lớn. Các nghề thủ công đan mây tre, đan đệm, dệt chiếu rất phổ biến. Nghề dệt và làm gốm còn duy trì ở An Giang, Kiên Giang. Đến Nam Bộ để khai hoang lập ấp, người Việt cũng theo truyền thống để tổ chức quần cư thành làng ấp. Tuy nhiên, về nội dung và hình thức, làng ấp của người Việt Nam Bộ có nhiều điểm khác biệt với làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ. Về nội dung, làng ấp của người Việt ở Nam Bộ là một tập hợp cư dân đến từ nhiều vùng, nhiều họ tộc khác nhau, gắn bó với nhau không phải do quan hệ dòng họ mà chủ yếu là do quan hệ láng giềng. Tập hợp cư dân của mỗi làng ấp cũng thường 104 xuyên biến động hơn, kẻ đến người đi đổi chỗ cho nhau, nên không có sự phân biệt đáng kể giữa dân chính cư với dân ngụ cư. Về hình thức, để tiện việc đi lại, làng ấp ở Nam Bộ thường hình thành dọc theo kinh rạch hoặc trục lộ, không có luỹ tre làng đóng kín. Do đó, tính cố kết cộng đồng của làng ấp Nam Bộ lỏng lẻo hơn làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ. Đối với người Khmer trước kia theo chế độ gia đình song hệ nhưng đang trong xu hướng chuyển sang phụ hệ. Có lẽ do sự ảnh hưởng trong quá trình cộng cư lâu dài với người Việt. Hình thức gia đình chủ yếu là tiểu gia đình, mặc dù vẫn còn tồn tại các đại gia đình gồm 3, 4 thế hệ sống chung trong các phum nhỏ. Hình thức tổ chức cộng đồng cơ sở là phum, bao gồm dăm ba gia đình có quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân với nhau, phát triển từ công xã thị tộc mẫu hệ nguyên thuỷ, đứng đầu là mê phum. Nhưng cũng có phum lớn, bao gồm cả trăm gia đình thuộc nhiều dòng họ khác nhau. Các gia đình trong phum là những đơn vị kinh tế độc lập, có ruộng đất, tài sản, sinh hoạt và sản xuất riêng. Cũng như làng ấp của người Việt, sóc của người Khmer không có sự phân biệt đáng kể giữa dân chính cư và dân ngụ cư. Về tín ngưỡng, là một vùng đất đa tộc người, Nam Bộ cũng là nơi gặp gỡ các tín ngưỡng tôn giáo sẵn có từ Bắc Bộ, Trung Bộ, đồng thời là cái nôi sinh thành những tín ngưỡng tôn giáo mới. Vì vậy, đây chính là vùng đất phong phú nhất về tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam. Tiếp nối truyền thống của người Việt ở đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ, người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long cũng dành ưu tiên cho đạo Phật, kết hợp với tín ngưỡng vạn vật hữu linh và thờ cúng tổ tiên. Chùa chiền có mặt ở khắp đồng bằng, đặc biệt là những vùng đồi núi sót, có sơn thuỷ hữu tình. Phong tục của người Việt cũng có nguồn gốc từ đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ, nhưng có tiếp biến thêm nhiều yếu tố từ phong tục của người Khmer. Đối với người Khmer và đại bộ phận người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long, Phật là chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất, là đấng thiêng liêng nhất, còn sư sãi là những người thay Đức Phật để hoằng hóa độ sinh, vì vậy rất được mọi người tôn kính. 105 Ở Nam Bộ nói chung và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng có một kho tàng văn học, văn nghệ dân gian phong phú. Đó là các truyện dân gian phản ánh sự nghiệp khai phá đất đai, gắn liền với những danh thắng, di tích và nhân vật lịch sử. Đó là kho tàng ca dao và dân ca với các điệu hò, điệu lý, các bài hát huê tình, hát ru em, hát đồng dao, hát sắc bùa, hát thài, hát rối, hát vọng cổ, hát tài tử, v.v. Đặc biệt, hát vọng cổ và hát tài tử rất được ưa thích. Trên cơ sở khai thác đặc điểm ngữ âm và những thành tựu của ca nhạc, sân khấu dân gian và ca nhạc tài tử Nam Bộ, cùng với sự tiếp biến loại hình sân khấu kịch nói phương Tây, cải lương đã nhanh chóng trở thành một trong ba loại hình sân khấu dân tộc phổ biến ở Việt Nam. Người Khmer Nam Bộ có một kho tàng văn học dân gian rất phong phú bao gồm nhiều thể loại như truyện cổ tích (rương prêng), thần thoại (rương boran), tục ngữ (sopheaset), bài ca (châm riêng), và được chia làm hai mảng lớn là văn xuôi (peak sâmrai) và văn vần (kâm nap). Người Khmer Nam Bộ cũng có nhiều loại hình nghệ thuật rất độc đáo như múa, âm nhạc, sân khấu, kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, trang trí Trong đó, nghệ thuật múa được chú ý nhiều nhất, bao gồm múa dân gian và múa chuyên nghiệp. Ẩm thực của người Việt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng theo truyền thống bảo đảm cân bằng âm dương và theo quy luật ngũ hành tương sinh tương khắc của người Việt nói chung. Tuy nhiên, do điều kiện địa lý đặc thù và giao lưu tiếp biến văn hoá, cơ cấu bữa ăn thông thường của người Việt nơi đây đã được điều chỉnh thành cơm – canh – rau – tôm cá. Để cân bằng với khí hậu nóng nực, người Việt nơi đây rất món ăn, và do tiếp biến các món canh chua của người Khmer, nên các món ăn ở vùng đất này cực kỳ phong phú, nhiều địa phương ở đây cũng có những đặc sản nổi tiếng. Do sống trong môi trường sông nước, nông dân người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long, cả nam và nữ, rất thích chiếc áo bà ba và chiếc khăn rằn. Chiếc áo bà ba gọn nhẹ rất tiện dụng khi chèo ghe, bơi xuồng, lội đồng, tát mương, tát đìa, cắm câu 106 giăng lưới, và có túi để có thể đựng một vài vật dụng cần thiết. Chiếc khăn rằn được dùng để che đầu, lau mồ hôi, và có thể dùng quấn ngang người để thay quần. Trang phục thường nhật của nam giới người Khmer Nam Bộ cũng là bộ bà ba đen, quấn khăn rằn. Hiện nay, trang phục của người Khmer giống với người Việt ở địa phương. Nhà của người Việt có ba loại chính: nhà đất cất dọc theo ven lộ, nhà sàn cất dọc theo kinh rạch, và nhà nổi trên sông nước. Nhà nổi trên sông nước là nơi cư trú đồng thời là phương tiện mưu sinh của những gia đình theo nghề nuôi cá bè, vận chuyển đường sông, buôn bán ở các chợ nổi, bán sỉ và bán lẻ trên sông. Người Khmer trước đây đều ở nhà sàn, nhưng ngày nay phần nhiều đã chuyển thành nhà đất, nhà sàn chỉ còn phổ biến ở những khu vực gần biên giới. Nhà ở của họ ngày nay về hình dáng, vật liệu kiến trúc cũng gần giống với nhà của người Việt. Để đi lại, vận chuyển, các tộc người cư trú nơi đây đều phải lựa chọn những phương tiện phù hợp với các địa hình đặc trưng của không gian Nam Bộ nói chung và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng. Nói chung, cho đến nay ở miền Tây giao thông đường thuỷ vẫn rất thông dụng và thuận lợi, mặc dù giao thông đường bộ đã được cải thiện nhiều. Như vậy, theo qui luật phát triển của lịch sử văn hóa Việt Nam đã chỉ rõ: quá trình đấu tranh cho độc lập dân tộc gắn với quá trình thống nhất đất nước trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử Việt Nam. Vì vậy, một đặc điểm nổi bật của cuộc sống kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng đồng bằng sông Cửu Long xưa và nay là sự hỗn dung văn hóa với cơ cấu đa thành phần, tuy có ít nhiều tách biệt. Chính nhân dân các dân tộc ở đây đã đưa nền văn hóa truyền thống của người Việt hội nhập với văn hóa địa phương mà điển hình là loại hình sân khấu cải lương với loại hình Yukê của người Khmer, hiện nay được nhân dân cả nước ưa thích và là một trong những loại hình có khả năng đổi mới để góp phần xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa trong cả nước. Đó là mặt chủ đạo, mặt tích cực của văn hóa đồng bằng Nam Bộ mà ta cần phát huy, 107 khai thác mạnh mẽ, như thế là chúng ta đã làm đúng theo đường lối văn nghệ của Đảng và cũng phù hợp với lòng dân. Từ sự phân tích trên có thể thấy một số biểu hiện tích cực trong quá trình giao lưu văn hóa Việt – Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, được biểu hiện: Thứ nhất, trong quá trình cộng cư trên vùng đất này đã nảy sinh một quá trình tiếp xúc văn hóa tự nguyện của hai dân tộc Việt - Khmer. Trong quá trình sinh sống, làm ăn, hành trang mang theo của cư dân là những vốn truyền thống từ làng quê, đất tổ đã thẩm thấu lẫn nhau tạo nên một nét mới để thích nghi, phù hợp với vùng sinh thái tự nhiên và xã hội. Người dân tới vùng đất phương Nam phải gạt bỏ dần những tập tục phong kiến để tiếp thu, thẩm thấu những nét, những sắc thái văn hóa hết sức đa dạng, phong phú và riêng có của văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long trong nền văn hóa người Việt. Đây là một sự gắn kết của hai dân tộc anh em, cùng khai phá, cùng sống và cùng phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc mình. Thứ hai, chính trạng thái cộng cư xen kẽ lâu dài, nên quá trình hình thành và phát triển văn hóa của người Việt và người Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là kết quả của sự vận động phát triển tự thân mỗi tộc người mà còn là kết quả của sự giao lưu văn hóa. Những giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người Việt vùng đồng bằng sông Cửu Long có nguồn gốc từ đồng bằng Trung và Nam Trung bộ, nhưng trong quá trình cộng cư lâu dài đã có sự tiếp biến thêm nhiều yếu tố từ phong tục của người Khmer, người Hoa. Đây là quá trình tiếp xúc văn hóa tự nguyện qua quá trình cùng sống, sinh hoạt lâu dài trên cùng một địa vực. Thứ ba, những gì ban đầu mà người Việt, người Khmer mang theo đến vùng đất này để “mở cõi” là những vốn sống, hành trang văn hóa vật chất và tinh thần trong huyết quản, tiềm thức và để thích ứng với điều kiện tự nhiên của vùng đất mới, cho nên họ đã bao dung lẫn nhau, cùng hòa đồng, thân thiện, làm ăn, sinh sống. Chính vì vậy một tổng thể của các sắc thái văn hóa và tôn giáo cùng tồn tại, cùng chung sống, cùng phát triển trong sự tôn trọng lẫn nhau đã làm nên nét văn hóa đặt trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long, đó là đa tôn giáo, đa dân tộc. Thông qua 108 các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo, hoạt động sản xuất, lễ hội truyền thống hay văn hóa dân gian của hai dân tộc Việt, Khmer tại vùng đồng bằng sông Cửu Long tạo điều kiện cho quá trình giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ hơn, qua đó thúc đẩy sự gắn kết cộng đồng, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp đã có, hiện có và sẽ có trong tương lai. Thứ tư, những giá trị văn hóa của cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long trong lịch sử phát triển của mình đã kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp những giá trị văn hóa của quốc gia dân tộc. Đây là một sự kế thừa tích cực, làm cho nền văn hóa dân tộc Việt Nam có thêm những giá trị văn hóa mới. Thứ năm, xét trên bình diện tổng thể thì sự tiếp xúc văn hóa giữa các nền văn hóa cùng có mặt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long là sự tiếp xúc văn hóa trong hòa bình, sự tiếp biến văn hóa có chọn lọc. Chính điều này đã làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia có nền văn hóa đa dạng, phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc. Sự va chạm giữa các nền văn hóa trên thế giới đôi khi xảy ra những xung đột, nhưng cũng có lúc sự va chạm này diễn ra một cách hòa bình. Khi những yếu tố văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam, dù bằng con đường truyền đạo hay xâm lược thì những yếu tố văn hóa đó vẫn bén rễ và phát triển ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sự tiếp biến có chọn lọc những giá trị văn hóa của nhiều nền văn hóa khác nhau đã tạo ra một sự phát triển đa dạng và đặc sắc của cư dân trên vùng đất này. Tuy nhiên, bên cạnh những biểu hiện tích cực trong quá trình giao lưu văn hóa lâu đời của hai tộc người Việt – Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long thì cũng có một số hạn chế trong sự giao lưu này, được thể hiện ở một số điểm như sau: Thứ nhất, ở đồng bằng sông Cửu Long không trải qua cuộc cải cách ruộng đất, phần nhiều người dân có ruộng, có vườn, nên cuộc sống cũng không vất vả, cực nhọc như những cư dân miền Bắc, miền Trung. Có lẽ vì vậy người dân thường có những suy nghĩ giản đơn, ít có sự nhìn xa, trông rộng để có sự đầu tư cho con cái trong 109 tương lai về vấn đề học hành, sự nghiệp, tiến thân. Tâm lý và tính cách tiểu nông trong lối sống của cư dân nơi đây vẫn còn tồn tại khá phổ biến, ý chí làm giàu chưa trở thành mẫu số chung trong nhân sinh quan của người dân, thái độ sống thụ động, lệ thuộc, không cầu tiến vẫn tồn tại khá rõ nét. Những yếu kém và bất cập không chỉ thể hiện sức ì, bảo thủ, tính cục bộ và phân tán của con người trong nhận thức và hành động mà còn chứng tỏ một sự thật là nền kinh tế của vùng sông nước này vẫn còn là nền kinh tế tiểu nông, nghèo nàn, lạc hậu và bộc lộ rõ nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế và tri thức trong quá trình phát triển ở đồng bằng sông Cửu Long . Đây là những trở ngại lớn đối với nhu cầu phát triển bền vững cũng như xây dựng lối sống văn hóa mới cho đồng bằng sông Cửu Long. Khi cả nước đi vào kinh tế thị trường, nguồn nhân lực yêu cầu cần được đào tạo, có chuyên môn, có trình độ cao thì ở đồng bằng sông Cửu Long tỉ lệ người không có việc làm còn cao, số người nghèo còn đông (9,25%) nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Thứ hai, do đặc điểm cư trú đan xen và quá trình giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc, diễn ra khá mạnh mẽ, nên trong thực tế và đang diễn ra một quá trình “đồng hóa tự nhiên”. Trong điều kiện đó, đồng bào dân tộc Khmer đang có nguy cơ mất dần những sắc thái văn hóa của dân tộc mình, đặc biệt là tiếng nói và chữ viết. Thực tế đáng báo động là nhiều nơi hiện nay, người Khmer và ngay cả giáo viên người dân tộc Khmer cũng không biết nói và viết tiếng Khmer. Thứ ba, đức tin của Phật giáo Tiểu thừa từ bao đời nay đã ăn sâu vào tiềm thức của các thế hệ người Khmer và được lưu truyền từ đời này sang đời khác, trở thành một lý tưởng truyền thống, một động lực phát triển, họ rất tự hào về ngôi chùa và các sư sãi, đối với họ “mất Phật giáo là mất dân tộc” [29, 138]. “Người Khmer nếu không có chùa không thành người Khmer” [22, 67]. Tuy nhiên hiện nay trong các giá trị văn hóa truyền thống ấy đã có một số giá trị bắt đầu mai một hoặc có những biểu hiện mới cần phải quan tâm, lưu ý như: Số người đi tu ngày càng ít và số người chọn việc tu hành lâu dài càng ít hơn, điều đó làm giảm vị thế của nhà chùa và các vị sư. Bởi ngôi chùa từ lâu là trung tâm sinh hoạt tôn giáo văn hóa, nơi giữ gìn và phát huy các 110 giá trị văn hóa dân tộc, dạy giáo lý, đạo đức, chữ viết cho người Khmer. Nhưng ngày nay, đa số thanh niên Khmer không xem trọng tiêu chuẩn đi tu, số người đi tu ngày càng ít dần. Điều đó cũng nói lên rằng việc đi tu ngày nay chỉ là việc học đạo chứ nhà chùa không còn là nơi giáo dục đạo đức cho thanh niên. • Một số kiến nghị: Kiến nghị thứ nhất: Cần nhận thức rằng, quá trình xích lại gần nhau giữa hai dân tộc tạo điều kiện cho dân tộc kia phát triển và ngược lại, nhằm tạo điều kiện cho mỗi dân tộc phát triển toàn diện về văn hóa, là cơ sở để củng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc, nhưng không phải vì thế mà để xảy ra sự đồng hóa về văn hóa, dù đó là sự đồng hóa tự nhiên, dẫn tới tình trạng làm mất đi các giá trị văn hóa của dân tộc Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long. Do đó, cần nhanh chóng đào tạo đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ người Khmer, chính lực lượng này sẽ giữ vai trò nòng cốt trong việc bảo vệ, giữ gìn những giá trị văn hóa trước sự đồng hóa, sự mai một các giá trị văn hóa dân tộc. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý nhà nước về văn hóa, tôn giáo. Kiến nghị thứ hai: Trình độ dân trí thấp của bộ phận người Việt thiểu số và đông đảo người Khmer, nên hiểu biết về các giá trị truyền thống còn hạn chế, tình trạng mù chữ dân tộc còn nhiều. Đòi hỏi Đảng và Nhà nước cũng như các cấp lãnh đạo ở đồng bằng sông Cửu Long cần có những chính sách tích cực hơn nữa nhằm tuyên truyền, vận động họ nâng cao kiến thức, tạo điều kiện và hổ trợ để đẩy mạnh việc giáo dục ở địa phương trong từng tỉnh, nhất là tỉnh có số người Khmer đông. Kiến nghị thứ ba: Các hình thức lễ hội, văn hóa dân gian được tổ chức hay diễn ra vào những ngày lễ trọng đại của từng tộc người (ví dụ: Lễ Ok om Bok, Lễ hội đua Ghe Ngo của người Khmer,) tạo cơ hội cho các cộng đồng dân tộc người Việt, hay người Khmer hay bất cứ một dân tộc nào khác được giao lưu văn hóa, gắn kết thêm tính cộng đồng, đoàn kết. Cho nên việc giữ nguyên bản sắc văn hóa bản địa của loại hình văn hóa này là rất cần thiết. 111 Kiến nghị thứ tư: Có thể khẳng định rằng, không có giá trị văn hóa thì ngành kinh doanh du lịch của quốc gia đó không thể có tiềm năng phát triển nhưng tác động của du lịch đến văn hóa cũng mang cả những ý nghĩa tích cực và tiêu cực của nó. Một trong những ý nghĩa tích cực đầu tiên là du lịch giúp mở rộng giá trị của sản phẩm văn hóa. Nếu không có du lịch thì bạn bè thế giới không thể biết đến Việt Nam nói chung hay vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng. Nếu không có du lịch, sản phẩm văn hóa chỉ đơn thuần có giá trị lịch sử, nghệ thuật hay khoa học không thể một năm đóng góp một giá trị kinh tế nhất định cho nền kinh tế quốc dân. Thứ hai, chính hoạt động du lịch giúp bảo tồn, duy trì lâu bền những giá trị văn hóa đang dần mai một hoặc bị phá hủy bởi thời gian, bởi sự lãng quên của người dân bản địa. Minh chứng rõ ràng rằng hàng năm chính quyền các cấp luôn dành một khoản kinh phí lớn hay nhỏ cho việc trùng tu, tôn tạo chùa chiền, các công trình điêu khắc, mỹ thuật, tùy theo sức hấp dẫn du khách của điểm đến. Tuy nhiên, hoạt động du lịch cũng mang đến những tác động tiêu cực đối với nền văn hóa. Trước tiên, du lịch thâm nhập vào cộng đồng làm thương mại hóa những giá trị văn hóa bản địa thuần túy. Ngày nay, dễ dàng nhận thấy những hình ảnh khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, các quán ăn tạm, các cửa hàng bán đồ ăn theo mọc lên nhan nhản với các hoạt động kinh doanh manh mún, xô bồ xung quanh khu vực đền, chùa – nơi vốn là chốn thiêng, không gian tĩnh mịch của tâm linh. Thứ hai, chính du lịch ảnh hưởng đến lối sống của một bộ phận dân địa phương, làm mai một đi những giá trị văn hóa trong tâm thức họ. Tóm lại, mặc dù hoạt động du lịch hiện nay đang có những tác động rất lớn đến các thành tựu văn hóa dân tộc song không thể không khẳng định lại sự gắn kết chặt chẽ của lịch sử, du lịch với văn hóa. Du lịch hình thành dựa trên những giá trị văn hóa. Có thể kết luận rằng “Giao lưu văn hóa vừa là kết quả của trao đổi vừa là chính bản thân của sự trao đổi, có hiểu như vậy, mới thấy hết tầm quan trọng của giao lưu văn hóa trong lịch sử nhân loại vì bên cạnh sản xuất, trao đổi là động lực thúc đẩy sự phát triển lịch sử” [112, 28]. “Văn hóa là của chung nhân loại, không của riêng dân 112 tộc nào. Trong bài viết, “Yếu tố Hoa – Việt trong kiến trúc chùa chiền Việt Nam”(1998), tác giả Nguyễn Duy Hinh, viết: “Việc tiếp thu văn hóa ngoại lai là điều kiện cần thiết và thông minh có lợi cho sự phát triển văn hóa bản địa. Công bằng mà nói, không có nền văn minh nào “thuần chủng”.“Giao lưu văn hóa là một xu thế tất yếu trong lịch sử của mỗi quốc gia và toàn nhân loại” [119, 98]. Theo Trần Hồng Liên, trong bài viết “Văn hóa phi vật thể qua các văn khắc tại những cơ sở tín ngưỡng – tôn giáo người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh” trong “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trang 10 thì “Giao lưu văn hóa – nhu cầu tất yếu của một nền văn hóa đa dân tộc”. Qua việc nghiên cứu đề tài, có thể rút ra rằng, môi trường tự nhiên và điều kiện xã hội đóng vai trò không nhỏ trong việc hình thành quan điểm tư tưởng, tâm lý, triết lý sống và đời sống tâm linh của một cộng đồng. Suốt mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, chúng ta có thể tự hào mà nói rằng, văn hóa bản địa, văn hóa làng xã là tài sản vô giá của dân tộc cần phải được giữ gìn, phát huy trên cơ sở sàng lọc, loại bỏ những gì phi văn hóa, duy trì và làm phong phú thêm những nét đep văn hóa vốn có. Trong thời đại Hồ Chí Minh, với đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta, văn hóa Việt Nam tiếp tục được phát huy, đã góp phần quyết định vào những thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách và bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc “vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”, là sự nghiệp xây dựng và sáng tạo to lớn của nhân dân ta, đồng thời là một quá trình cải biến xã hội sâu sắc đòi hỏi phát huy khả năng và trí tuệ ở mỗi con người Việt Nam. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội, nhu cầu tăng 113 nhanh về văn hóalà những yếu tố làm thay đổi nhiều mặt đời sống văn hóa dân tộc. Nhìn nhận những di sản và hạn chế của những đặc điểm lịch sử, xã hội đối với sự phát triển và phát triển bền vững của các tộc người tại chỗ (bản địa), tức chúng ta xem xét trong mối quan hệ tương tác giữa tác động lịch đại và đồng đại đến sự phát triển của một tộc người. Ngày nay, đồng bằng sông Cửu Long không những chiếm một vị trí chiến lược trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà còn có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp đoàn kết quốc tế, trước hết là sự liên minh chiến lược giữa các nước trong khu vực. Do đó, việc khẳng định và phát huy truyền thống văn hóa vùng này trong sự nghiệp cách mạng văn hóa – tư tưởng của cả nước và trong mối giao lưu văn hóa với các nước bạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Tóm lại, chính sự hòa hợp và đoàn kết giữa các dân tộc mà điển hình là người Việt, người Khmer cùng cộng cư trên vùng đồng bằng sông Cửu Long này đã tạo nên một nguồn lực to lớn trong việc khai khẩn và phát triển vùng. Cuộc sống cộng cư của các dân tộc, mà thành phần người Việt là chủ yếu, giữa vùng đất hoang vu đầy khắc nghiệt đã tạo nên sự đoàn kết, hòa thuận giữa các dân tộc anh em. Tất cả cùng chung sức khai phá vùng đất hoang với quy mô ngày càng lớn. Trong quá trình đó, họ đã biến vùng đất hoang vu, rừng rậm này trở thành những xóm làng đông đúc, ruộng đồng phì nhiêu, xây lộ, đắp cầu, dần dần hình thành chợ búa, thị tứ và từ đó trung tâm dân cư cũng được thiết lập. Nói đến văn hóa ở vùng đất mới này là phải nói đến văn hóa của các dân tộc cùng cộng cư trên một vùng đất. Trong đó, giao lưu và hòa nhập văn hóa là một yếu tố đặc trưng của văn hóa vùng miền. Không gian văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long là một không gian văn hóa mở, sẵn sàng chấp nhận bất kỳ một nền văn hóa nào du nhập vào. Nhưng đây là sự chấp nhận có chọn lọc, củng cố, bổ sung và làm giàu thêm cho bản sắc văn hóa của mình. “Không thể kể hết sự giao lưu văn hóa người Việt với văn hóa các dân tộc khác trong vùng trên tất cả các lĩnh vực: cung cách làm ăn, việc ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, vui chơi, giải trí, giữ gìn sức khỏe v.v... Trong sự giao lưu đó, trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc, nền văn hóa của 114 người Việt trong vùng đã được nâng lên, được làm phong phú thêm với nhiều nét đặc sắc. Hiện nay song song với nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, việc xây dựng nền văn hóa văn minh hiện đại, trong đó bảo tồn và phát huy văn hóa bản địa là việc làm vô cùng cần thiết trong hệ thống giáo dục Việt Nam, đặc biệt trong giáo dục trung học phổ thông và đại học hiện nay. Những trí thức Việt Nam trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nền kinh tế tri thức toàn cầu phải là những hiền tài, nguyên khí của quốc gia, mang đầy đủ bản lĩnh, bản sắc và tinh hoa của dân tộc Việt. Phải làm sao để các giá trị truyền thống của 4.000 năm văn hiến lan tỏa thành giá trị đặc thù của nền văn hóa Việt. Hiện nay và trong tương lai, đất nước Việt Nam chúng ta đang trên đà phát triển và từng bước khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế. Phát huy những yếu tố văn hóa dân tộc, trên cơ sở đó tạo nên sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc hay giữa các nước trên thế giới, tạo nền tảng của việc mở rộng quan hệ ngoại giao. Cùng với quá trình toàn cầu hóa, quá trình giao lưu văn hóa càng trở nên mạnh mẽ. Đó như một quy luật tất yếu mà không một nền văn hóa nào có thể đứng ngoài. Mỗi một nền văn hóa muốn phát triển, tiến ngang tầm thời đại thì không thể tự khép mình, đóng cửa với những “luồng gió” văn hóa mới. 115 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1991), Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Nxb Sự thật, Hà Nội. 2. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, H. 3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 126. 4. Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Đảng thời kì đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX) – Về văn hóa, xã hội, khoa học – kỹ thuật, giáo dục, đào tạo. 5. Văn kiện của Đảng và Nhà nước về Chính sách Dân tộc (1960-1977) (1978), Nxb Sự thật, Hà Nội. 6. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1997), Nxb Sự Thật, Hà Nội. 7. Văn kiện Đảng về chính sách dân tộc (1978), Nxb Sự Thật, Hà Nội. 8. Bùi Minh Đạo (2003), Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 9. Bùi Xuân Đính (2012), Các tộc người ở Việt Nam, Nxb Thời Đại. 10. Cao Xuân Phổ, Văn hóa Phật giáo của người Khmer Nam Bộ, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/ 2004. 11. Đặng Phương Kiệt (2006), Gia đình Việt Nam, Nxb Lao động. 12. Đặng Thị Vũ Thảo (1981), Sân khấu của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Tổng hợp tỉnh Hậu Giang. 13. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Tp.Hồ Chí Minh. 14. Đinh Khắc Thuần (2006), Tục lễ cổ truyền làng xã Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 15. Đinh Lê Thư (2005), Vấn đề giáo dục vùng đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Đại học Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh. 116 16. Đinh Lư Giang (2011), Tình hình song ngữ Khmer – Việt tại đồng bằng sông Cửu Long, Một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn, Nxb Tp. Hồ Chí Minh. 17. Đinh Văn Hạnh (1999), Đạo Tứ ân hiếu nghĩa của người Việt ở Nam Bộ (1867 - 1975), Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh. 18. Đinh Văn Liên (1985), Giao lưu văn hóa giữa các dân tộc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long trong Mấy đặc điểm văn hóa đồng bằng sông Cửu Long, Viện Văn hóa xuất bản, Hà Nội. 19. Đỗ Mười (1993), Chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người vì mục đích dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, Văn kiện Hội nghị BCH TW lần thứ 4 khóa VII, Nxb Sự thật, H. 20. Đoàn Giỏi (2010), Đất rừng phương Nam, Nxb Văn học. 21. Đoàn Văn Chúc (2009), Xã hội học Văn hóa, Nxb Văn hóa – thông tin, Hà Nội. 22. Hà Lý (2004), Chùa Khmer Nam Bộ với văn hóa đương đại, Nxb Dân tộc, Hà Nội. 23. Hà Thắng (1997), Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Giáo dục. 24. Hồ Bá Thâm (2011), Văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc, Nxb Văn hóa thông tin. 25. Hội khoa học lịch sử TP. Hồ Chí Minh (2004), Nam Bộ đất và người, Nxb Trẻ. 26. Huỳnh Công Bá (1998), Lịch sử Văn hóa Việt Nam, Nxb Thuận Hóa. 27. Huỳnh Lứa (1987), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb Tp. Hồ Chí Minh. 28. Huỳnh Quốc Thắng (2003), Lễ hội văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, Nxb Văn hóa thông tin. 117 29. Huỳnh Thanh Quang (2011), Giá trị văn hóa Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Chính trị Quốc gia, Sự Thật, Hà Nội. 30. Lê Bá Thảo (2004), Thiên nhiên Việt Nam, Nxb Giáo dục. 31. Lê Duẩn (1982), Các dân tộc đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội. 32. Lê Minh (1984), Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Tp. Hồ Chí Minh. 33. Lê Thanh Bình (2012), Giao thoa văn hóa và chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật, Hà Nội 34. Lê Thanh Sơn (1997), Ngôi chùa trong đời sống văn hóa của người Khmer tỉnh Sóc Trăng, Luận văn Thạc sĩ khoa học văn hóa , tr.73. 35. Lê Văn Chương (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ. 36. Lê Xuân Diệm (1978), Những phát hiện khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam, Viện Khoa học xã hội. 37. Lương Duy Thứ (2000), Đại cương văn hóa phương Đông, Nxb Đại học quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh. 38. Mạc Đường (1991), Về vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 39. Ngô Đức Thịnh (1997), Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam, H, Nxb Văn hóa Dân tộc. 40. Ngô Đức Thịnh (1993), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H. 41. Ngô Văn Lệ (2003), Một số vấn đề tộc người ở Nam Bộ và Đông Nam Á, Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Đại học Quốc gia. 42. Ngô Văn Lệ (2003), Nghiên cứu thực trạng kinh tế-xã hội và những giải pháp xóa đói giảm nghèo ở người Khmer tỉnh Sóc Trăng, Đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia. 118 43. Ngô Văn Lệ (2003), Thực trạng kinh tế-xã hội và những giải pháp xóa đói giảm nghèo ở người Khmer tỉnh Sóc Trăng, Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh. 44. Ngô Văn Lệ (2004), Tộc người và văn hóa tộc người, Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh. 45. Nguyễn Công Bình (1995), Đồng bằng sông Cửu Long – Nghiên cứu phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 46. Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường (1990), Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long, Hà Nội, Nxb Khoa học xã hội. 47. Nguyễn Đăng Duy (2001), Các hình thái tín ngưỡng – tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 48. Nguyễn Đức Sự, Lê Tâm Đắc (2000), Mấy vấn đề Phật giáo trong Lịch sử Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H. 49. Nguyễn Đức Tồn (2002), Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy của người Việt: Trong sự so sánh với những dân tộc khác, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội. 50. Nguyễn Duy Hinh (1998), Yếu tố Hoa – Việt trong kiến trúc chùa chiền Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội, trang 147. 51. Nguyễn Hồng Phong (1963), Tìm hiểu tính cách dân tộc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 52. Nguyễn Hùng Khu (2008), Hôn nhân và gia đình của người Khmer Nam Bộ, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 53. Nguyễn Hữu Hiếu (2004), Tìm hiểu văn hóa tâm linh – Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ. 54. Nguyễn Khắc Cảnh (1998), Phum, sóc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 119 55. Nguyễn Mạnh Cường (2002), Vài nét về người Khmer Nam Bộ, Nxb KH – XH, Hà Nội. 56. Nguyễn Phương Thảo (2008), Văn hóa dân gian Nam Bộ, những phác thảo. Nxb Văn hóa Thông tin . 57. Nguyễn Quản Tuân, Huỳnh Lứa, Trần Hồng Liên (1994), Những ngôi chùa ở Nam Bộ, Nxb Tp. Hồ Chí Minh. 58. Nguyễn Tất Đạt (2011), Mối quan hệ giữa nhà nước và giáo hội Phật giáo Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia. 59. Nguyễn Thanh Tuấn (2010), Đa dạng văn hóa và quyền văn hóa hiện nay ở Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin và Viện văn hóa, Hà Nội. 60. Nguyễn Thị Hương, Trần Kim Cúc (2011), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 61. Nguyễn Văn Chiến (1994), Yếu tố Việt trong tiếng Khmer Nam Bộ (cách nhìn và phương pháp), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 62. Nguyễn Văn Huyên (1995), Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam, tập I-II, Nxb Khoa học xã hội, H. 63. Nhiều tác giả (2003), Phát triển giáo dục vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh. 64. Võ Văn Sen, Phan Văn Dốp (1998), Văn hóa vùng, văn hóa tộc người và sự phát triển kinh tế - xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long, Trường ĐHKHXH &NV – TP.HCM, Viện phát triển bền vững Vùng Nam Bộ. 65. Phạm Bích Hợp (2007) , Người Nam Bộ và tôn giáo bản địa. Nxb. Tôn giáo, Hà Nội. 66. Phạm Thị Phương Hạnh (2011), Văn hóa Khmer – Nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội. 67. Phan An (1991), Một số vấn đề kinh tế - xã hội vùng nông thôn Khmer đồng bằng sông Cửu Long, trong Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 120 68. Phan Cẩm Thượng (2011), Văn hóa vật chất của người Việt, Nxb Hà Nội. 69. Phan Đại Doãn (2001), Làng xã Việt Nam, Một số vấn đề kinh tế-văn hóa-xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 70. Phan Đăng Nhật (1998), Đại cương về văn hóa dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Thời Đại. 71. Phan Ngọc (2005), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa – thông tin, Hà Nội. 72. Phan Quang (1981), Đồng bằng sông Cửu Long, H. 73. Phan Thái Bình (2003), Ghe xuồng trong đời sống văn hóa người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long, Luận văn Thạc sĩ khoa học. 74. Phan Thị Yến Tuyết (1993), Truyền thống đoàn kết Việt – Khmer trong chiến đấu và xây dựng, Trong người Khmer ở Cửu Long, Nxb Văn hóa – Thông tin Cửu Long. 75. Phan Thị Yến Tuyết (1992), Văn hóa vật chất của các dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Tp. Hồ Chí Minh. 76. Phan Xuân An (1994), Nhìn lại những chính sách đối với cộng đồng người Hoa và người Khmer ở Việt Nam trong lịch sử, trong Báo cáo tổng hợp đề tài Khoa học, Viện Khoa học xã hội tại Tp. Hồ Chí Minh. 77. Sơn Nam (1981), Đồng bằng sông Cửu Long, nét sinh hoạt xưa, Nxb Tp. Hồ Chí Minh. 78. Sơn Nam (2009), Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Nxb Trẻ. 79. Thạch Phương (1992), Văn hóa dân gian Khmer ở Nam Bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 80. Theo Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Sóc Trăng (1998), Truyền thống Khmer Nam Bộ, Sóc Trăng. 81. Theo Văn hóa các dân tộc Tây Nam Bộ (2004), Thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 121 82. Tìm hiểu văn hóa tín ngưỡng tôn giáo và các phong tục tập quán, lễ hội tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Lao động, 2012 83. Toan Ánh (2005), Nếp cũ con người Việt Nam, Nxb Trẻ. 84. Toan Ánh (2005), Nếp cũ hội hè đình đám, Quyển thượng, Nxb Trẻ. 85. Toan Ánh (2005), Nếp cũ Làng xã Việt Nam, Nxb TP. Hồ Chí Minh. 86. Tổng cục Chính trị (1998), Một số vấn đề dân tộc và quan điểm chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 87. Trần Hồng Liên (2002), Văn hóa phi vật thể qua các văn khắc tại những cơ sở tín ngưỡng – tôn giáo người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh trong Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, trang 10 88. Trần Hồng Liên (2004), Cộng đồng ngư dân Việt ở Nam Bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 89. Trần Hồng Liên (2000), Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ Việt Nam (từ thế kỉ XVII – 1975), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 90. Trần Kim Dung (2000), Văn hóa truyền thống Khmer đồng bằng sông Cửu Long trong cuộc sống hiện nay, trong Văn hóa Nam Bộ trong không gian xã hội Đông Nam Á, Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh. 91. Trần Ngọc Khánh, Tài liệu điều tra điền dã ở huyện Mỹ Xuyên tỉnh Hậu Giang tháng 6 -1980. Khoa Sử trường Đai học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh 92. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục. 93. Trần Quốc Vượng (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 94. Trần Thị Nhung (1998), Lịch sử vùng đất Nam Bộ - một số kết quả nghiên cứu, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội. 95. Trần Thị Thu Lương (1994), Chế độ sở hữu và canh tác ruộng đất ở Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XIX, Nxb Tp. Hồ Chí Minh. 122 96. Trịnh Hoài Đức (1998), Gia Định thành thông chí, Bản dịch của Viện Sử học, Hà Nội, Nxb Giáo dục. 97. Trịnh Hoài Đức (1972), Gia Định Thành thông chí, quyển III, S. 98. Trường Lưu (1993), Văn hóa Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Văn hóa dân tộc. 99. Trương Thìn (2007)- Đại đức Thích Minh Nghiêm (hiệu đính), Nghi lễ thờ cúng tổ tiên, đền chùa, miếu phủ, Nxb Hà Nội. 100. Sở VH – TT An Giang (1984), Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Long Xuyên. 101. Viện Dân tộc học (1983), Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H. 102. Viện khoa học xã hội – Thành phố Hồ Chí Minh (1980), Người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Tp.Hồ Chí Minh. 103. Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh (1991), Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học Xã hội. 104. Viện văn hóa, (Trường Lưu) (1993), Văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr.94. 105. Viện văn hóa (1984), Mấy vấn đề văn hóa đồng bằng sông Cửu Long, Viện văn hóa xuất bản. 106. Viện văn hóa (1988), Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ, Nxb Tổng hợp Hậu Giang. 107. Viện văn hóa (1993), Văn hóa Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 108. Vũ Ngọc Khánh, Hoàng Khôi (2005), Gia đình gia phong trong văn hóa Việt, Nxb Hà Nội. 109. Vũ Ngọc Khánh (2007), Văn hoá làng ở Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 123 110. Đặng Vũ Thị Thảo (1981), “Sân khấu của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật, 41(6), tr. 37. 111. Hà Văn Tấn (1981), “Giao lưu văn hóa ở người Việt cổ”, Tạp chí văn hóa Nghệ thuật, (4), Bộ Văn hóa và Thông Tin, Hà Nội, tr. 28. 112. Lê Hương (1971), “Lễ Phật Đản của người Việt gốc Miên”, Văn hóa Nguyệt San, (2). 113. Lê Hương (1969), “Tìm hiểu người Việt gốc Miên”, Văn hóa tập san, (4 – 5), tr. 76 – 87. 114. Lương Hồng Quang (1992), “Đời sống văn hóa cơ sở ở đồng bằng sông Cửu Long”, Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, (1992), tr.101-104. 115. Mác Mod-Người Chàoa-Ku ở Châu Đốc, Tạp chí Dân tộc học, 1979 và tư liệu in-rô-nê-ô của Ban dân tộc học, Viện Khoa học Xã hội TP. Hồ Chí Minh 116. Nguyễn Công Bình (1998), “Phát triển xã hội trong công cuộc khai phá đất Nam Bộ”, Tạp chí Xã hội học. 117. Nguyễn Phương Thảo (1992), “An Giang, vị thế lịch sử - văn hóa trên đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, số 5/ 1992. 118. Nguyễn Văn Diệu (1996), “Giao lưu văn hóa ở Việt Nam trong lịch sử và hiện tại”, Tạp chí Khoa học xã hội, (29), Hà Nội, tr.98. 119. Nguyễn Danh Tiên (2005), “Lịch sử Đảng”, (12), tr.49 – 52. 120. Phạm Đức Mạnh (1997), “Giao lưu và hội tụ thành tố của bản sắc văn hóa cổ ở Việt Nam trong thời đại kim khí”, Tạp chí khảo cổ học, Viện khảo cổ, Hà Nội. 121. Phan Đại Doãn (1993), “Riêng và chung trong truyền thống văn hóa của các cộng đồng cư dân Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 4, Viện Dân tộc học, Hà Nội. 124 122. Phan Hữu Dật (1988), “Về xác định các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng”, Tạp chí Dân tộc học, (4), Viện Dân tộc học, Hà Nội, tr.15. 123. Sơn Nam (2008), “Sơn Nam đi và ghi nhớ”, Tạp chí Xưa và Nay, Nxb Văn hóa Sài Gòn, Tp. Hồ Chí Minh, , tr. 13 -14. 124. Tập san Khoa học xã hội & Nhân văn (Annals of USSH), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh), số 56, tháng 9/2012, tr. 25-40. 125. Trần Lâm Biền (1977), “Sơ lược về chùa Khmer”, thông báo nghệ thuật, (20), Viện Nghệ thuật – Bộ Văn hóa thông tin phát hành. 126. Trương Thìn (1992), Lễ “Óc-om-Bóc” và hội đua Ghe Ngo của người Khmer ở Nam Bộ, Văn hóa dân gian, (39), tr.51-53. 127. www.gso.gov.vn – Webside tổng cục thống kê. 125 PHỤ LỤC Hình 1: Vị trí các vùng kinh tế ở Việt Nam (*) I. Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ; II. Vùng đồng bằng sông Hồng III. Vùng Bắc Trung Bộ; IV. Vùng duyên hải Nam Trung Bộ V. Vùng Tây Nguyên; VI. Vùng Đông Nam Bộ; VII. Vùng Tây Nam Bộ I IV V VI II III VII 126 Hình 2: Vị trí các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long hiện nay (*) (*)Đồng_bằng_sông_Cửu_Long&oldid=121 95001 @ 127 Hình 3: Nhà ở Nam Bộ xưa. Ảnh: Trần Kiều Quang. Theo Báo Cần Thơ 128 Hình 4: Bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà và bộ bàn ghế cổ truyền mời khách uống trà, ăn trầu Ảnh chụp tại BTVH Khmer tỉnh Trà Vinh ngày 4/8/2012 Hình 5: Tạo dáng đồ gốm Ảnh sưu tầm 129 Hình 6: Cày hai trâu là một đặc trưng kỹ thuật nông nghiệp của người dân Khmer Ảnh sưu tầm Hình 8. Người nông dân dùng phảng chặt cỏ Hình 7: Cái phảng (Ảnh sưu tầm) 130 Hình 9: Các loại nọc cấy và phảng cấy Ảnh sưu tầm: Nguyễn Thị Mười Hình 13: Nọc cấy, phảng cấy và vật dụng Ảnh LTBH chụp tại BTVH Khmer tỉnh Trà Vinh ngày 4/8/2012 Một số điệu lý về chiếc phảng: (Sưu tầm) 131 Mùa màng mạ mọng cù lăn gieo cù lăn gieo Phảng kia phát chế cù nèo cà lăn quơ, cà lăn quơ. (Lý cái phảng Bến Tre) Hay: Chú kia vác phảng đi đâu Phảng mua, phảng mượn, phảng nhà của ai. Bớ nàng ơi, có chồng chưa ? giúp tình thương (Lý Cái phảng Gò Công) Hình 10: Thúng và đòn gánh các loại Ảnh LTBH chụp tại BTVH Khmer tỉnh Trà Vinh ngày 4/8/2012 132 Hình 11: Dụng cụ đánh bắt thủy sản của nông dân Khmer Ảnh LTBH chụp tại BTVH Khmer tỉnh Trà Vinh ngày 4/8/2012 Hình 12: Vật dụng trong sinh hoạt thường nhật (cối, chày) Ảnh LTBH chụp tại BTVH Khmer tỉnh Trà Vinh ngày 4/8/2012 133 Hình 14: Ghe Ngo Ảnh LTBH chụp tại BTVH Khmer tỉnh Trà Vinh ngày 4/8/2012 Hình 15: Lễ hội đua ghe Ảnh sưu tầm từ: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 134 Hình 16: Ghe Ngo Ảnh sưu tầm từ nguồn: Tạp chí VHNT số 332, tháng 2-2012 Hình 17: Trang phục áo dài, áo bà ba, nón lá và trang phục truyền thống Khmer Ảnh LTBH chụp tại BTVH Khmer tỉnh Trà Vinh ngày 4/8/2012 135 Hình 18: Thiếu nữ Khmer mặc áo dài trong ngày hội văn hóa dân tộc Ảnh: Vũ Thống Nhất đăng ngày 25/08/2010 Hình 19: Bộ nhạc cụ trong nghệ thuật sân khấu cải lương . Ảnh: LTBH chụp tháng 8/2013 tại phòng trưng bày Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh 136 Hình 20: Bộ nhạc khí trong nghệ thuật sân khấu của dân tộc Khmer Ảnh chụp tại BTVH Khmer tỉnh Trà Vinh ngày 4/8/2012 Hình 21: Buổi biểu diễn nghệ thuật sân khấu cải lương Ảnh LTBH chụp tại BTTPHCM tháng 8/ 2013 137 Hình 22: Đoàn Nghệ thuật tuồng cổ Phương Ánh (Cần Thơ) trình diễn hát bội tại lễ Kỳ Yên đình Bình Thủy Ảnh LTBH chụp tại BTTPHCM tháng 8/ 2013 Hình 23: Vở Dù kê “Trùng dương lặng sóng” của Đoàn Nghệ thuật Khmer Sóc Trăng. Ảnh sưu tầm từ nguồn: Sở VHTTDL Sóc Trăng 138 Hình 24: Buổi biểu diễn nghệ thuật sân khấu Khmer Ảnh LTBH chụp tại BTTPHCM tháng 8/ 2013 139 Hình 25: Vào ngày cuối của Tết Chol Chnam Thmay, đồng bào tập trung lại tắm Phật để sám hồi và nguyện sẽ từ bỏ những việc ác, thực hành thiện nghiệp Ảnh sưu tầm từ nguồn: Báo Tin Tức – TTXVN Hình 26: Hình Trong ngày lễ dâng y, y phục và các vật để dâng lên ngôi tam bảo được đồng bào tôn kính đội trên đầu Ảnh sưu tầm từ nguồn: Báo Tin Tức - TTXVN 140 Những tiếng Khmer còn giữ nguyên gốc trong tiếng Việt Xneng là dụng cụ đươn bằng nang tre, trúc của người Khmer, có hình như cái xuổng. Người bình dân dùng để xúc cá, tép ở những nơi có nước cạn, cỏ hoang mọc đầy. Câu hát của người nào đó đã cất lên vẳng văng trên cánh đồng thửa ruộng: Chiều chiều lấy cái xneng Lên đồng xúc cá hái sen một mình Ở một câu ca khác: Thằn lằn cụt đuôi ai nuôi mày lớn Dạ thưa thầy con lớn mình ên Khmer có êng: một mình, chuyển sang Việt ngữ mất chữ g thành ên cũng mang nét nghĩa một mình. Hay: Xa em nhớ vị sim lo Xa em nhớ khứa cá kho quê nghèo Sim lo (hay sum lo) là món canh của người Khmer nấu bằng bầu, hay lá bình bát dây, đặc biệt nó được nêm bằng mắm bò hóc (prahok), đây là từ người Việt mượn nguyên mẫu để sử dụng. Cái nóp đã gắn liền với quân dân Nam Bộ thành đồng. Nóp cũng là tiếng Khmer còn giữ lại nguyên gốc, nó chuyển sang tiếng Việt bằng phiên âm mà thôi: Vai mang cái nóp tay xách cái lọp cái lờ 141 Về miền đồng chua nước mặn đặng nhờ miếng ăn Cái lộp theo tiếng Khmer là dụng cụ đan bằng tre, dùng để bắt cá tôm. Một đầu của lộp có hom bện bằng tre vót cỡ chiếc đũa ăn, hình phễu, cá tôm, rùa rắn vào được nhưng không thể ra. Nông dân miệt này ai cũng biết, cũng dùng lộp để bắt thuỷ sản. Những từ Khmer được Việt hoá * Những từ chỉ địa danh Từ vùng đất mũi còn vang vọng lời ca : Cà Mau khỉ khọt trên bưng Dưới sông sấu lội, trong rừng cọp um (Cà Mau là từ Việt hoá của tiếng Khmer là Tuk Khmau, nghĩa là nước đen mà thành). Về đất Ba Xuyên nghe câu hát : Chợ Sóc Trăng chà gạo lộn trấu càng, Anh thương em là thương lời ăn tiếng nói dịu dàng, Chớ không phải anh vì bạc vì vàng mà thương. (Theo Lê Hương thì Sóc Trăng là do tiếng Khmer đọc trại ra từ chữ Srok Tréang có nghĩa là bãi sậy vì ngày xưa đất Sóc Trăng có nhiều lau sậy hoang vu). Qua cầu Rạch Miễu đến quê hương Đồng Khởi, xứ dừa : Bến Tre nhiều gái má hồng 142 Không tin thì xuống Mỹ Lồng mà coi (Theo cụ Vương Hồng Sển thì Bến Tre vốn là xứ sinh sản và sản xuất nhiều cá tôm, cho nên xưa, người Khmer gọi là Srok treay (đọc là sốc tre), nhưng sau này người Khmer gọi theo người Kinh là bến có nhiều tređể phân biệt với địa danh Cần Thơ, cũng có nhiều tre, người Khmer gọi tre là rusei, nên có hai địa danh rành rẽ: prêk rusei (sông tre): chỉ Cần Thơ/prêk kompong rusei để chỉ Bến Tre). Ngược lên vùng Bảy Núi, có câu: Anh về xứ Chắc Cà Đao Bỏ em ở lại như dao cắt lòng (Sưu tầm từ http//:www.google.com)

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftvefile_2014_03_13_9590606809_7594.pdf
Luận văn liên quan