Sự thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển văn hóa ở Cần Thơ

Văn hóa là một hệ thống hữu cơcác giá trịvật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và được con người tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, xã hội và giữa con người với con người. Văn hóa là tổng hòa những giá trị vật chất và tinh thần, cũng nhưcác phương thức tạo ra chúng, kỹ năng sử dụng các giá trị đó vì sự tiến bộ của loài người và sựtruyền thụcác giá trị đó từ thế hệ này sang thếhệ khác. Văn hóa, đó là thuộc tính bản chất, tộc loài của con người với các chức năng: giáo dục, nhận thức, định hướng, đánh giá, xác định chuẩn mực của hành vi, điều chỉnh các quan hệ ứng xử, giao tiếp. Song, cốt lõi trong các chức năng của những giá trịvăn hóa đem lại là chủ nghĩa nhân đạo, tính đạo đức.

pdf207 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 08/01/2014 | Lượt xem: 1442 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sự thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển văn hóa ở Cần Thơ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
, công tác chưa trở thành mối quan tâm thường xuyên của báo chí, chưa có sức thuyết phục cao; mặt trái xã hội đề cập quá nhiều và không thích đáng. Thông tin trên các trang tin điện tử (Website) còn nhiều sơ hở, khai thác thông tin nước ngoài thiếu chọn lọc, kiểm chứng. Phát triển văn học và nghệ thuật, trong những năm gần đây, thành phố Cần Thơ đã củng cố một bước tổ chức của các hội văn học nghệ thuật, xác định rõ hơn tính chất “chính trị - xã hội - nghề nghiệp” của các hội nhằm tập hợp, đoàn kết các văn nghệ sĩ; phát hiện, bồi dưỡng tài năng; tăng cường đầu tư sáng tác và giới thiệu, truyền bá sáng tác mới. Trang cấp kinh phí cho các hội văn học nghệ thuật về căn bản đảm bảo cho hoạt động của hội. Bên cạnh các văn nghệ sĩ trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến tiếp tục giữ vị trí nòng cốt trong sáng tác, đã hình thành lực lượng nghiên cứu, phê bình, sáng tác trẻ đông đảo, có triển vọng. 179 Đoàn cải lương Tây đô, hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp của thành phố Cần Thơ, chủ yếu ở 2 đoàn nghệ thuật: Ca múa kịch Cần Thơ17 và Cải lương Tây đô. Đoàn cải lương Tây Đô tiếp tục phát huy truyền thống, đội ngũ cán bộ diễn viên tương đối vững tay nghề. Ngoài phục vụ nhiệm vụ chính trị, đoàn cố gắng duy trì hoạt động ở vùng nông thôn. Thỉnh thoảng, các đài phát thanh - truyền hình của khu vực, của thành phố mời đoàn tham gia chương trình thu, phát hình kịch bản cải lương hoặc những bài ca lẻ. Hình thức biểu diễn của đoàn ngày càng điều chỉnh theo hướng tổng hợp, tiết mục gọn nhẹ; chỉ diễn một vài trích đoạn cải lương, thay vì nguyên vở như thời kỳ trước. Trường trung học Văn hoá Nghệ thuật đã nâng cấp lên thành trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật, hàng năm trường đều có sự phát triển về quy mô và số lượng lớp học, khoa đào tạo, số lượng học viên. Trường luôn chủ động phối hợp, liên kết với Trường đại học Văn hoá Hà Nội, Trường đại học Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh tổ chức thêm bậc học cao đẳng, đại học. Trường đang bổ sung đội ngũ cán bộ, giáo viên, xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng chương trình, giáo trình giảng dạy để lập đề án nâng lên bậc đại học đến năm 2020. Xây dựng, phát triển các doanh nghiệp thuộc ngành văn hoá, thành phố Cần Thơ có 03 doanh nghiệp văn hoá; đến năm 2006, cả 03 doanh nghiệp đã chuyển sang cổ phần hoá với tên gọi: Công ty cổ phần sách và dịch vụ văn hoá Tây Đô, Công ty cổ phần điện ảnh Cần Thơ, Công ty cổ phần in tổng hợp Cần Thơ. Quá trình thực hiện kinh doanh theo phương thức mới, dù còn không ít khó khăn, thách thức nhưng cả 03 doanh nghiệp đều hoàn thành công tác phục vụ các nhiệm vụ chính trị, cơ sở vật chất không ngừng được đầu tư, chỉ tiêu kinh doanh của Công ty hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch đề ra. Mặt bất cập trên lĩnh vực văn học và nghệ thuật đáng quan tâm là: còn ít những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, phản ánh chân thực, 17. Năm 2004, đoàn Ca múa kịch chuyển về tỉnh Hậu Giang. 180 sâu sắc, đúng tầm vóc sự nghiệp cách mạng, công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố. Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa, hoạt động bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở Cần Thơ có bước tiến đáng kể. Công tác kiểm kê di tích, sưu tầm văn hóa phi vật thể, xây dựng luật pháp, thực hiện các chương trình chống xuống cấp di tích đã được các cơ quan trong thành phố quan tâm thực hiện. Việc xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa đạt được bước tiến về cả quy mô, chất lượng và hiệu quả. Đã tạo được phong trào quần chúng rộng rãi, góp nhiều công sức, tiền của cho bảo tồn, tôn tạo, vừa tham gia quản lý và vừa phát huy các di sản đó. Văn hóa dân gian, cổ truyền, các loại hình nghệ thuật của các dân tộc anh em như: Khmer, dân tộc Hoa đã được tổ chức sưu tầm, lưu giữ lâu dài phục vụ nhu cầu văn hóa của nhân dân. Bảo tàng thành phố đã có những bước phát triển nhảy vọt. Từ cơ sở cũ chật hẹp, nội dung trưng bày hạn chế, bảo tàng đã được đầu tư xây dựng mới có quy mô lớn ở đồng bằng sông Cửu Long. Mạng lưới các phòng truyền thống quận, huyện, xã, phường phục vụ tốt công tác giáo dục truyền thống tại địa phương. Trong 5 năm 2005-2009, đã tổ chức sưu tầm bổ sung hơn 2.847 hiện vật các loại. Hoàn thành phòng trưng bày với diện tích 360m2 tại di tích Chiến thắng 75 tiểu đoàn địch, với 176 hiện vật và hình ảnh các loại. Hoàn thành công tác trưng bày Bảo tàng Cần Thơ trên diện tích 1.388m2 với 1.195 hiện vật, 981 hình ảnh và 239 tài liệu khoa học bổ trợ. Thực hiện dự án bảo tồn và phát huy các giá trị di sản phi vật thể “Kỹ thuật đóng ghe xuồng ở Phụng Hiệp”, “Chợ nổi”, “Đờn ca tài tử”, “Nghi thức làm phước trong Lễ dâng y của người Khmer”, “Múa bóng rỗi” và “Nghề dệt chiếu”. Mới đây, tại lễ hội đời sống dân gian Smíthonian 2007, diễn ra từ ngày 23-6 đến ngày 09-7-2007 tại thủ đô Washington, Hoa Kỳ, “Nghệ thuật làm bánh dân gian” của nghệ nhân Nguyễn Thị Xiềm là một nét văn hóa độc đáo 181 của Cần Thơ18. Tổ chức trưng bày 16 chuyên đề tại bảo tàng, phục vụ hơn 500 ngàn lượt khách tham quan, trong đó có hơn 5.000 lượt khách nước ngoài. Bên cạnh những kết quả đã đạt được về công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa, vẫn còn một số hạn chế là: công tác phát hiện, bảo tồn, phát huy giá trị và khai thác giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể còn nhiều bất cập do thiếu kinh phí và cơ chế quản lý phù hợp, phát sinh nhiều tiêu cực trong trùng tu, tôn tạo. Một số di sản văn hóa vật thể tiếp tục bị xâm phạm, lấn chiếm, đánh cắp, làm hư hại khá nặng nề, nhiều di sản không còn khả năng khôi phục. Văn hóa đối với tôn giáo, các cấp uỷ Đảng và chính quyền ở Cần Thơ đảm bảo cho các tôn giáo hoạt động bình thường trên cơ sở tôn trọng pháp luật, nhiều lễ hội của các tôn giáo, như: lễ Phật Đản, Giáng sinh, các lễ hội tôn giáo của người Khmer, người Hoa đã trở thành sinh hoạt văn hóa của cộng đồng dân cư trong thành phố. Lãnh đạo thành phố và các ngành chức năng thành phố Cần Thơ đã triển khai nhiều hoạt động văn hóa để phát huy ý tưởng công bằng, bác ái, hướng thiện… trong các giáo lý tôn giáo, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần ổn định chính trị xã hội, không ngừng nâng cao đời sống đồng bào có đạo. Mặt nhược điểm là, nhận thức về tôn giáo và văn hóa trong tôn giáo của một số cấp uỷ đảng và chính quyền còn sơ lược, đơn giản, chưa thật nắm vững tính đặc thù để lãnh đạo, quản lý phù hợp, có hiệu quả. Thiếu sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các ngành, đoàn thể trong công tác phát triển văn hóa đi đôi với phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. 3.2. QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở CẦN THƠ TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 18. Bộ Văn hoá - thông tin đã quyết định chọn 11 loại hình di sản văn hoá phi vật thể của Việt nam để giới thiệu tại Lễ hội đời sống dân gian Smíthonian 2007, diễn ra từ ngày 23-6 đến 09-7-2007 tại thủ đô Washington, Hoa Kỳ, có 39 nghệ nhân tham gia trong các loại hình văn hoá di sản: Nghệ thuật cồng chiêng, nghề đẽo thuyền độc mộc, nghề đan gùi và sử thi của đồng bào Bana Rơngao (Kon Tum); đờn ca tài tử, múa lân (Bạc Liêu); nghệ thuật hát bội (Vĩnh Long); nghề dệt dân tộc Chăm (An Giang)…và nghệ thuật làm bánh dân gian của nghệ nhân Nguyễn Thị Xiềm (Cần Thơ). 182 3.2.1. Quan điểm và phương hướng chung trong việc phát triển văn hóa ở Cần Thơ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cách đây từ rất lâu, con người đã nhận thức được vai trò to lớn của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, do trình độ phát triển và do điều kiện lịch sử của mỗi nước mà có sự vận dụng khác nhau cho phù hợp với đặc điểm tình hình của nước mình. Ở Liên Xô, cách nay nhiều thập kỷ, trong quá trình lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ văn hóa của nhân dân còn thấp kém hơn nhiều so với các nước phát triển, V.I.Lênin đã khẳng định tính cấp thiết của cách mạng văn hóa. Ông đã coi việc “tiến hành công tác văn hóa trong nông dân” là một trong “hai nhiệm vụ chủ yếu có ý nghĩa đánh dấu thời đại”, và ông khẳng định “chỉ cần hoàn thành cuộc cách mạng này là đủ để… trở thành một nước hoàn toàn xã hội chủ nghĩa xã hội”. Ở nước ta, ngay sau khi nước ta độc lập, nhân dân ta bắt tay vào công cuộc xây dựng xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định, để “biến một xã hội dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao”, chúng ta phải phát triển đồng thời cả kinh tế và văn hóa, lấy phát triển văn hóa làm cơ sở để phát triển kinh tế. Điều đó cho thấy, trong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa là nguồn lực nội sinh của mọi sự phát triển, là cơ sở cho sự phát triển lâu bền, toàn diện; rằng văn hóa không chỉ gắn liền với kinh tế, phát triển văn hóa không chỉ là điều kiện cho sự phát triển kinh tế, mà hơn thế, phát triển văn hóa cùng với phát triển kinh tế đều phải hướng tới phát triển xã hội, phát triển con người, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trên cơ sở nhận thức một cách sâu sắc vai trò to lớn của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên 183 tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam” [32, 106] để văn hóa thực sự vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Trên nền tảng lý luận đó, phương hướng xây dựng nền văn hóa mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở Cần Thơ là: xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc của vùng đồng bằng sông nước, văn minh miệt vườn, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao. Phát triển, nâng cao chất lượng sáng tạo văn học, nghệ thuật; khẳng định và biểu dương những giá trị chân, thiện, mỹ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém, đấu tranh chống những biểu hiện phi văn hóa. Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân. Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng đồng bộ, hiện đại, thông tin chân thực, đa dạng, kịp thời, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện phương hướng chung đó, cần quán triệt các quan điểm chủ yếu như sau: Quan điểm thứ nhất, xây dựng và phát triển văn hóa ở Cần Thơ phải thật sự coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền 184 tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, con người phát triển toàn diện. Văn hóa là kết quả của kinh tế, đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển. Quan điểm thứ hai là, xây dựng và phát triển văn hóa ở Cần Thơ là xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị, đặc điểm riêng của văn hóa Cần Thơ trên cơ sở tiếp thu những cái mới, cái tiến bộ của những thành tựu và tinh hoa văn hóa trong thời đại mới . Xây dựng, giữ gìn và phát huy truyền thống và hiện đại của văn hóa Cần Thơ là giữ gìn và phát huy những giá trị và đặc điểm riêng của văn hóa Cần Thơ như: đặc điểm của nền văn hóa mang tính sông nước, văn hóa miệt vườn và tính cách phóng khoáng, giản dị, khoan dung, trọng nghĩa khinh tài của người dân Cần Thơ; giữ gìn và phát huy những giá trị, đặc điểm văn hóa Cần Thơ còn là phải tôn trọng tính phong phú và đa dạng của nền văn hóa khác nhau của các dân tộc khác nhau (Kinh, Khmer, Hoa), đã dung hợp, giao thoa cũng như tác động lẫn nhau trong suốt chiều dài lịch sử, cải tạo, đấu tranh xây dựng vùng đất này, gồm văn hóa Kinh, Khmer, Hoa, được biểu hiện qua các loại hình văn hóa như: nghệ thuật kiến trúc xây dựng, với những kiểu kiến trúc khác nhau (nhà cổ Long Tuyền, chùa Nam Nhã, chùa Khmer…), những khu di tích lịch sử - văn hóa (lịch sử khai dân, mở ấp,…), lịch sử đấu tranh cách mạng (lộ Vòng Cung, khu căn cứ tỉnh ủy…), các phong tục tập quán (cưới xin, ma chay…), các lễ hội của các dân tộc (lễ cúng đình của người Việt, lễ Ok Ombok, lễ Đôn ta của người Khmer…), các hình thức văn học - nghệ thuật (ca dao, dân ca, hò, vè, hát ru…). Tất cả những giá trị, đặc điểm đó phải đặt trong 185 mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại để giáo dục cho thế hệ trẻ hiểu được truyền thống hào hùng của nhân dân Cần Thơ. Giữ gìn và phát huy các giá trị, các đặc điểm của văn hóa Cần Thơ phải gắn kết với mở rộng giao lưu với các nền văn hóa của các vùng miền khác nhau trên cả nước và quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác và phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ. Quan điểm thứ ba là, xây dựng và phát triển văn hóa ở Cần Thơ là xây dựng một nền văn hóa phải đảm bảo tính thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa sống ở thành phố Cần Thơ. Các dân tộc sống trên địa bàn thành phố Cần Thơ đều có những giá trị và sắc thái văn hóa riêng. Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hóa Cần Thơ và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hóa cúa các dân tộc anh em. Quan điểm thứ tư là, xây dựng và phát triển văn hóa ở Cần Thơ là sự nghiệp của toàn dân do Đảng bộ thành phố Cần Thơ lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng. Mọi người dân Cần Thơ phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh đều tham gia sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa thành phố. Công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân, cũng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Đội ngũ trí thức gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa. Quan điểm thứ năm, xây dựng và phát triển văn hóa ở Cần Thơ là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và kiên trì, thận trọng. Bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa tốt đẹp của Cần Thơ, sáng tạo nên những giá trị văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị ấy thấm sâu vào cuộc sống toàn xã hội và mỗi con người, trở thành tâm lý và tập quán tiến bộ, văn minh là một quá trình cách mạng đầy khó khăn, phức 186 tạp, đòi hỏi nhiều thời gian. Trong công cuộc đó, “xây” đi đôi với “chống”, lấy “xây” làm chính”. Cùng với việc giữ gìn và phát triển những di sản văn hóa quý báu của Cần Thơ cũng như của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới, sáng tạo, vun đắp nên những giá trị mới, phải tiến hành kiên trì cuộc đấu tranh bài trừ các hủ tục, các thói hư tật xấu, nâng cao tính chiến đấu, chống mọi mưu toan lợi dụng văn hóa để thực hiện “diễn biến hòa bình”. 3.2.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại trong việc phát triển văn hóa ở Cần Thơ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển văn hóa ở Cần Thơ hiện nay, tác giả xin đề xuất các nhóm giải pháp như sau: 1- Trong quá trình phát triển văn hóa ở Cần Thơ, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm chuyển biến căn bản tâm lý, lối sống của mọi tầng lớp nhân dân (kể cả cán bộ, đảng viên) sống trong một tỉnh thuần nông qua nhiều thế hệ sớm thích nghi với đời sống đô thị; làm chuyển đổi căn bản về nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là cán bộ quản lý về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Có như vậy mới huy động được sức mạnh tổng hợp của nhân dân trong việc xây dựng thành phố Cần Thơ văn minh, hiện đại. Tập trung đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa tương ứng và khai thác có hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa đó; đồng thời đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp một số công trình văn hóa, nghệ thuật hiện đại. Thu hẹp dần khoảng cách đời sống văn hóa giữa các nhóm xã hội, giữa đô thị và nông thôn, giữa vùng kinh tế phát triển và vùng sâu, vùng xa. Chú trọng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, nhất là cộng đồng dân cư, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tốt đẹp, phong phú. Môi trường văn hóa của xã hội cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong giáo dục nhân cách con người, trong đó có giáo dục truyền thống. 187 Đưa cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu có tính thiết thực và hiệu quả. Nâng cao tính tự quản của cộng đồng trong xây dựng nếp sống văn hóa, khu dân cư và đơn vị văn hóa. Xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội; đẩy lùi hủ tục, các tệ nạn cờ bạc, ma túy, mại dâm, bạo lực, gây rối trật tự công cộng. Coi trọng vai trò, vị trí của gia đình trong giáo dục thế hệ trẻ và duy trì phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Cần Thơ. Trên cơ sở đó, xác lập những định hướng xây dựng một hệ thống giá trị mới vừa dân tộc vừa hiện đại và cần được xã hội hóa bằng nhiều chính sách và biện pháp, trong đó quan trọng nhất là giáo dục gia đình và trường học, là môi trường văn hóa lành mạnh và phong phú của xã hội, là hệ thống pháp luật thống nhất và đồng bộ. 2- Phải đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển. Chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, nâng cao dân trí để nhân dân hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa. Nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ xây dựng con người Cần Thơ theo 5 đức tính được xác định trong Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) và những chuẩn mực giá trị của con người Cần Thơ đương đại: “Trí tuệ, năng động, nhân ái, hào hiệp, thanh lịch”. Việc xây dựng nền văn hoá mới, con người mới ở Cần Thơ cần cụ thể hóa theo các đối tượng, gắn chặt mục tiêu xây dựng con người mới với những đặc điểm vốn có của Cần Thơ như: phóng khoáng, khoan dung, cộng đồng, nhân ái, vừa phong phú, sâu sắc, vừa năng động, sáng tạo. Quy tụ mọi hoạt động văn hóa, phát huy thế mạnh của từng loại hình văn hóa - thông tin phục vụ nhiệm vụ bồi dưỡng lòng yêu nước, phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Cần Thơ, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giáo dục về chủ nghĩa xã hội, lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, tạo sự chuyển biến rõ rệt về bản 188 lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, trí tuệ người Cần Thơ và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và trong từng cá nhân, gia đình, thôn xóm, đơn vị, tổ chức cơ sở ở Cần Thơ. Cần xác định đây là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, vừa cấp bách, vừa cơ bản, lâu dài. Thường xuyên nâng cao trình độ phổ cập văn hóa đáp ứng nhu cầu văn hóa ngày càng cao và đa dạng của các tầng lớp nhân dân ở Cần Thơ; đi đôi với nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng các tài năng văn hóa, nhất là đội ngũ đạo diễn, nhà văn giỏi; khuyến khích văn nghệ sĩ sáng tạo được nhiều công trình văn hoá nghệ thuật tiêu biểu có giá trị cao ở Cần Thơ về tư tưởng và nghệ thuật, tương xứng với sự nghiệp cách mạng của dân tộc và công cuộc đổi mới. Đồng thời có giải pháp, chính sách phù hợp để bảo tồn, lưu truyền những công trình văn hóa nghệ thuật tiêu biểu này cho muôn đời sau. Giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, trước hết phải coi trọng giáo dục ngay từ gia đình. Trong suốt chiều dài lịch sử, gia đình bao giờ cũng giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong nuôi dạy con cái, truyền nối các giá trị văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác, hình thành nhân cách ban đầu của thế hệ trẻ. Ở đây, người mẹ đóng vai trò hết sức quan trọng. Vấn đề bức thiết hiện nay là phải có sự hướng dẫn, giúp đỡ người mẹ, cung cấp những tư liệu cần thiết cho người mẹ làm tròn sứ mạng giáo dục truyền thống cho con cái bằng những hình thức và nội dung phù hợp như lời ru, chuyện kể, trò chơi con trẻ… Trong nhà trường, nội dung giáo dục truyền thống thể hiện tập trung nhất trong môn lịch sử. Cần khẳng định rằng, môn lịch sử, trước hết là lịch sử dân tộc, có nội dung rất phong phú và có thể phát huy nhiều tác dụng giáo dục truyền thống. Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức nghiên cứu, đánh giá lại một cách khách quan và đưa ra một chương trình cải cách toàn diện về môn học này. Trong thời gian qua, do ảnh hưởng mặt trái của nền kinh tế thị trường nên môi trường văn hóa của xã hội bị nhiễm độc khá nghiêm 189 trọng, gây không ít hậu quả đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh, thiếu niên. Vì vậy, đề nghị Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch nên có những văn bản pháp quy, những chương trình và biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao và làm phong phú thêm môi trường và đời sống văn hóa của nhân dân, trong đó giá trị văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc giữ vị trí chi phối. Cho đến nay, tuy Cần Thơ đã được Nhà nước công nhận là thành phố loại I, trực thuộc Trung ương nhưng tỷ lệ dân số làm nông nghiệp còn nhiều; do đó, nông nghiệp, nông thôn, nông dân vẫn là nền tảng kinh tế - xã hội của Cần Thơ. Trong nông thôn, gia đình là tế bào của xã hội, nhưng bao giờ cũng tồn tại gắn bó mật thiết với cộng đồng làng, xã. Có thể nói, nền văn hóa nông nghiệp thực chất là “văn hóa làng, xã” mà cội nguồn và cơ sở căn bản là nền văn hóa dân gian. Làng (xã) là địa bàn tụ cư truyền thống, là đơn vị kinh tế - xã hội cơ sở, đồng thời là không gian văn hóa tác động sâu sắc đến sự phát triển nhân cách con người, đến sự kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống. Do đó, cần bảo đảm sự tôn trọng và thực thi pháp luật của nhà nước xuống tận cơ sở; đồng thời khai thác, phát huy mặt tích cực kết hợp với việc hạn chế, xóa bỏ mặt tiêu cực trong truyền thống cộng đồng, bảo tồn thuần phong mỹ tục của từng làng, xã. 3- Trong phát triển kinh tế - xã hội, cần bảo đảm sự phát triển cân đối cả ba lĩnh vực: kinh tế, xây dựng đảng và văn hóa; trong đó, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đảng là then chốt và văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Không nên quá chú trọng phát triển kinh tế, xem nhẹ phát triển văn hóa; ngược lại, không quá đề cao phát triển văn hóa, hạ thấp vai trò của phát triển kinh tế, tạo nên sự phát triển đồng bộ của các lĩnh vực này chính là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của thành phố. Gắn chặt nhiệm vụ xây dựng văn hóa với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng thông qua cuộc vận động lớn: Học tập và làm theo tấm gương 190 đạo đức Hồ Chí Minh, đặc biệt là tinh thần đoàn kết nội bộ, phải giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng như giữ gìn con người của mắt mình, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, mọi hiện tượng bè phái, cơ hội, làm mất đoàn kết trong đảng để Đảng bộ Cần Thơ thật sự trong sạch, vững mạnh, là “đạo đức”, là “văn minh”. .. Cụ thể hóa các chuẩn mực đạo đức, lối sống cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể ở Cần Thơ như: truyền thống cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo, tăng cường đoàn kết để phát huy tất cả các nguồn lực, mọi tiềm năng, lợi thế vốn có và sẽ có, coi đó là giải pháp quan trọng có tính chất quyết định để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa, xây dựng thành phố công nghiệp, văn minh, hiện đại, xứng đáng là thành phố cửa ngõ của vùng hạ lưu sông Mê Kông, là một cực tăng trưởng của vùng đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước. Trước mắt, cần nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cải cách hành chính để xây dựng Đảng bộ Cần Thơ luôn luôn đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh. 4- Bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa, trong quá trình mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hóa, cùng với việc tập trung xây dựng những giá trị mới của văn hóa đương đại ở Cần Thơ, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy các giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, bắt kịp sự phát triển của thời đại. Cần có quan điểm, phương pháp rõ ràng về bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa, vận dụng sáng tạo các chính sách của nhà nước phù hợp với điều kiện của Cần Thơ để bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc; đồng thời cần có biện pháp kiên quyết ngăn chặn những loại hình văn hóa không lành mạnh xâm nhập vào Cần Thơ. Đẩy mạnh hơn nữa việc sưu tầm, nghiên cứu và phổ biến các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc, có chính sách thỏa đáng đối với các nghệ nhân dân gian; có kế hoạch phù hợp, cụ thể từng thời kỳ, từng năm để bảo tồn những giá trị văn hóa vật thể. Tiếp tục trùng tu, tôn tạo các 191 di tích cách mạng, lịch sử, văn hóa, danh thắng trọng điểm. Thường xuyên giáo dục, nâng cao ý nghĩa lịch sử và văn hóa truyền thống của dân tộc và của quê hương đối với mọi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Gắn kết chặt chẽ công tác bảo tồn di sản văn hóa với kinh tế du lịch và thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hóa dân tộc trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, tăng cường hiểu biết giữa nhân dân Cần Thơ với nhân dân các nước, trước hết là với các nước bạn là Trung Quốc, Campuchia và Lào. Vừa phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, bản sắc độc đáo của văn hóa các dân tộc Việt, Hoa, Khmer, vừa kiên trì củng cố và nâng cao tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Cần Thơ, đấu tranh chống các khuynh hướng lợi dụng văn hóa để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 5- Phát triển nền văn học, nghệ thuật Cần Thơ hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc, thể hiện chân thật đời sống nhân dân, lịch sử vùng đất Cần Thơ và công cuộc đổi mới ở Cần Thơ với thái độ cổ vũ cái đúng, cái đẹp, đồng thời lên án cái xấu, cái ác. Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm những phong cách nghệ thuật và phương thức thể hiện mới đáp ứng nhu cầu tinh thần lành mạnh của công chúng; đồng thời bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh cho công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Khắc phục yếu kém, nâng cao tính khoa học, sức thuyết phục của hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, góp phần hướng dẫn sự phát triển lành mạnh của sáng tác văn học, nghệ thuật trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, đồng thời xây dựng và thực hiện các chính sách, chế độ có tính đặc thù, chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần của văn nghệ sĩ, nghệ nhân dân gian nhằm tạo điều kiện thuận lợi và động viên văn nghệ sĩ, nghệ nhân dân gian sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, góp phần xây dựng nền văn hóa và con người Cần Thơ. Đổi mới và nâng cao hiệu quả của hoạt động giới thiệu, 192 truyền bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật, phục vụ nhân dân và công chúng văn học, nghệ thuật ở nước ngoài. Nghiên cứu đề xuất với các Bộ, ngành có liên quan hoàn thiện chương trình, giáo trình; đổi mới phương thức đào tạo, gắn đào tạo với thực tiễn nghệ thuật Cần Thơ, phát triển đội ngũ giảng viên có trình độ cao nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng văn hóa Cần Thơ. Tiếp tục củng cố, đổi mới chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động, phát huy vai trò, năng lực tập hợp, tổ chức đội ngũ văn nghệ sĩ, nghệ nhân dân gian của các hội văn học, nghệ thuật. Tăng cường đầu tư cho văn hóa, đảm bảo kinh phí cho các chương trình mục tiêu lớn, cho hoạt động sáng tạo của các hội văn học, nghệ thuật. Chú trọng nâng cao chất lượng tư tưởng - văn hóa, khắc phục xu hướng thương mại hóa đơn thuần, xa rời tôn chỉ mục đích trong hoạt động báo chí, phát thanh, truyền hình, xuất bản. Xây dựng đội ngũ hoạt động báo chí, xuất bản vững vàng về tư tưởng - chính trị và nghiệp vụ, có năng lực hoạt động thích ứng với thời kỳ mới nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin đại chúng. Đổi mới mô hình, cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất - kỹ thuật của báo Cần Thơ theo hướng hiện đại. Phát triển, mở rộng việc sử dụng mạng Internet, đồng thời có biện pháp hạn chế tác dụng tiêu cực của thông tin mạng, ngăn chặn có hiệu quả hành vi lợi dung thông tin mạng truyền bá tư tưởng phản động, lối sống trái đạo lý, phản tiến bộ. Mở rộng và tăng cường hiệu quả hợp tác, giao lưu quốc tế về văn hóa. Đổi mới việc giới thiệu, truyền bá văn hóa, văn học, nghệ thuật Cần Thơ và đất nước, con người Cần Thơ với thế giới. Mở rộng phạm vi, đồng thời chú trọng nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin đối ngoại và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí, xuất bản. Sớm hoàn thành việc xây dựng trung tâm văn hóa Tây Đô, trung tâm dịch thuật - quảng bá văn hóa Cần Thơ ở nước ngoài. Tiếp thu những kinh nghiệm tốt về phát triển văn hóa, giới thiệu các tác phẩm văn học, nghệ thuật xuất sắc của nước ngoài với công chúng Cần 193 Thơ, nhằm góp phần tăng cường hiểu biết và bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh cho công chúng, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chủ động phối hợp với các đối tác nước ngoài tổ chức các hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật quốc tế tại Cần Thơ, từng bước khẳng định Cần Thơ là địa chỉ giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa. Xây dựng cơ chế, chế tài để ngăn chặn, đẩy lùi sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa đồi trụy, phản động từ nước ngoài vào Cần Thơ, bồi dưỡng và nâng cao sức đề kháng của công chúng, nhất là thế hệ trẻ đối với các sản phẩm trên. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Trong những năm qua, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Cần Thơ đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực: nền kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, huy động vốn đầu tư xã hội có nhiều tiến bộ, nhiều công trình kinh tế - xã hội quan trọng được đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng, bộ mặt đô thị cả nội thành và ngoại thành thay đổi nhanh chóng. Văn hóa - xã hội chuyển biến tích cực, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, công tác xóa đói giảm nghèo đạt kết quả khá tốt. Tuy nhiên chất lượng, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế chưa được cải thiện nhiều, quá trình phát triển còn tiềm ẩn nhân tố chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh thành phố. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tích cực, nhưng công nghiệp còn nhỏ lẻ, chưa có doanh nghiệp lớn; các loại hình dịch vụ chất lượng cao còn hạn chế; sản xuất nông nghiệp còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, giá cả không ổn định, đời sống của một bộ phận nông dân vẫn còn nhiều khó khăn. Phát triển văn hóa - xã hội chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, đời sống của một bộ phận nhân dân lao động còn nhiều khó khăn, kết quả giảm nghèo chưa thực sự vững chắc, nhiều vấn đề xã hội bức xúc phát sinh quá trình đô thị hóa chưa được giải quyết triệt để. Công 194 tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ vào cuộc sống còn hạn chế, hiệu quả chưa cao. Chất lượng giáo dục, cả về văn hóa, chính trị, hướng nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực. Đời sống văn hóa cơ sở yếu kém, thiếu chiều sâu, chậm triển khai vận động thực hiện tiêu chí về người Cần Thơ theo tinh thần Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị. Để khắc phục những hạn chế, yếu kém đó, Đảng bộ thành phố Cần Thơ cần quán triệt và tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp nêu trên, có như vậy văn hóa mới phát triển tương xứng với tăng trưởng kinh tế để thành phố Cần Thơ phát triển nhanh và bền vững, sớm trở thành trung tâm động lực phát triển của vùng đồng bằng sông Cửu Long. 195 KẾT LUẬN CHUNG Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và được con người tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, xã hội và giữa con người với con người. Văn hóa là tổng hòa những giá trị vật chất và tinh thần, cũng như các phương thức tạo ra chúng, kỹ năng sử dụng các giá trị đó vì sự tiến bộ của loài người và sự truyền thụ các giá trị đó từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hóa, đó là thuộc tính bản chất, tộc loài của con người với các chức năng: giáo dục, nhận thức, định hướng, đánh giá, xác định chuẩn mực của hành vi, điều chỉnh các quan hệ ứng xử, giao tiếp. Song, cốt lõi trong các chức năng của những giá trị văn hóa đem lại là chủ nghĩa nhân đạo, tính đạo đức. Chính vì vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nên Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) của Đảng khẳng định:“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [29, 110] và Nghị quyết hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) đã xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội… Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng” [29, 55 - 58]. Như vậy, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng, kinh tế không thể tự mình phát triển nếu thiếu nền tảng văn hóa, văn hóa không phải là sản phẩm thụ động, sản phẩm tự nhiên của kinh tế, mà là cội nguồn của sự tăng trưởng kinh tế, là “nguồn lực nội sinh” của phát triển kinh tế. Đồng thời, phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, “giải quyết tốt sự thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển văn hóa” chính là cơ sở, là nền tảng cho sự phát triển lâu bền, phát triển vì mục tiêu nhân văn, vì giá trị nhân đạo. 196 Ý thức được tầm quan trọng của sự thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển văn hóa nên trong những năm qua Cần Thơ luôn thể hiện nhất quán quan điểm: hiện đại bắt nguồn từ truyền thống, lấy truyền thống làm nền tảng trên cơ sở chắt lọc, kế thừa và phát triển truyền thống; đồng thời không phủ định sạch trơn truyền thống, truyền thống văn hóa ở Cần Thơ được bảo tồn, phát triển nâng cao sinh động, phong phú qua tính hiện đại. Nhờ vậy, mà thành phố Cần Thơ đã thu được những thành tựu và những kinh nghiệm của quá trình đổi mới nói chung và lĩnh vực phát triển văn hóa - xã hội nói riêng. Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền văn hóa mới được tạo dựng, quá trình đổi mới tư duy về văn hóa, xã hội, xây dựng con người và nguồn nhân lực có bước phát triển mới. Môi trường văn hóa xã hội có những thuận lợi cho việc phát huy nguồn nhân lực văn hóa, xã hội để xây dựng đất nước. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Cần Thơ ổn định tạo điều kiện cơ bản cho phát triển thành phố. Kinh tế tăng trưởng liên tục, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế mở ra triển vọng mới cho sự phát triển kinh tế tạo tiền đề giải quyết các vấn đề xã hội và văn hóa. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức đối với sự phát triển văn hóa ở Cần Thơ trong thời gian tới. Đó là: sự phát triển không cân đối giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, vì vậy sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Cần Thơ chưa nhanh và bền vững. Trong quá trình hội nhập quốc tế và giao lưu văn hóa, cùng với việc tập trung xây dựng những giá trị mới của văn hóa Cần Thơ đương đại, việc tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy các giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa Cần Thơ và tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, bắt kịp sự phát triển của thời đại còn hạn chế. Cần Thơ còn thiếu chính sách hợp lý để bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc và biện pháp kiên quyết ngăn chặn những loại hình văn hóa không lành mạnh xâm nhập vào Cần Thơ. Cần Thơ còn thiếu các thiết chế văn hóa, nhất là cấp quận, huyện để nhân dân sinh hoạt văn hóa và vui chơi. Do đó, hoạt động văn hóa ở một số huyện có 197 đông đồng bào theo đạo bị hoạt động tôn giáo lấn át, các tệ nạn xã hội nảy sinh và phát triển. Để khắc phục những thách thức, khó khăn nêu trên, Cần Thơ phải có sự đầu tư mạnh mẽ cho lĩnh vực văn hóa, sự tăng tốc trong công tác quản lý, điều hành; đặc biệt là cần có sự quan tâm của cấp lãnh đạo và sự phối hợp có hiệu quả với các ngành chức năng. Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, trong đó tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh trong cơ quan, nơi công cộng, cộng đồng dân cư, gia đình và mỗi cá nhân. Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, chú trọng chất lượng các mô hình văn hóa; đánh giá chặt chẽ và đúng thực chất danh hiệu gia đình văn hóa, khu vực văn hóa, phường văn hóa, xã văn hóa. Kế thừa và phát huy giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc, xây dựng con người Cần Thơ “Trí tuệ - năng động - nhân ái - hào hiệp - thanh lịch”19. Làm tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống cách mạng, nhằm tuyên truyền, giáo dục cho thế hệ trẻ lòng tự hào dân tộc. Tăng đầu tư ngân sách nhà nước cho văn hóa, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa. Huy động các nguồn lực, trí tuệ và sức sáng tạo trong xã hội để đầu tư xây dựng các công trình, thiết chế văn hóa. Khuyến khích và tạo điều kiện cho đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tạo các tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao. Tăng cường quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, kiên quyết ngăn chặn, đấu tranh đẩy lùi sự suy thoái về văn hóa, tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống và các biểu hiện phản văn hóa trong đời sống xã hội. Những nhiệm vụ đó chỉ có thể thực hiện thành công khi lãnh đạo thành phố Cần Thơ biết khơi dậy tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người. Tiềm năng sáng tạo này không ở đâu khác, nó nằm trong văn hóa, trong sự hiểu biết, trong tâm hồn, đạo lý, lối sống, thị hiếu và trình độ thẩm mỹ của mỗi con người và của cả cộng đồng dân tộc Việt, Khmer, Hoa ở Cần Thơ. 19. Nghị quyết 45-CT/TW của Bộ Chính “Về xây dựng và phát triển Cần Thơ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. 198 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phạm Ngọc Anh (2007), Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb. Tp.Hồ Chí Minh. 3. Đào Duy Anh (1996), Từ điển Hán Việt, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội. 4. Hoàng Chí Bảo (2006), Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 5. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá. 6. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức. 7. Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Vĩnh Long (2001), Tìm hiểu văn hóa Vĩnh Long , Nxb. Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh. 8. Trần Văn Bính (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Nam bộ - thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 9. Trần Văn Bính (2004 - Chủ biên), Toàn cầu hóa và quyền công dân ở Việt Nam nhìn từ khía cạnh văn hóa, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 10. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp. 11. Bộ Giáo dục và đào tạo (2003), Triết học 3 tập (Dùng cho Cao học và nghiên cứu sinh không chuyên ngành Triết học), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12. C.Mác và Ăngghen (2000), Toàn tập, tập 42, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 13. C.Mác và Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 14. C.Mác và Ăngghen (1999), Toàn tập, tập 39, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 199 15. Nguyễn Khắc Cảnh (1998), Phum sóc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 16. Nông Quốc Chấn - Huỳnh Khái Vinh (Chủ biên, 2002), Văn hóa các dân tộc Việt Nam thống nhất mà đa dạng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 17. Mạnh Chi (2003), Truyền thống văn hóa và Phật giáo Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội. 18. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn (Đồng chủ biên), (2002), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 19. Nguyễn Trọng Chuẩn (2006), Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển, www.chungta.com. 20. Đoàn Văn Chức (2004), Văn hóa học, Nxb. Lao Động, Hà Nội. 21. Cù Huy Chữ (1997), Kế thừa giá trị truyền thống văn hóa dân tộc trong việc xây dựng nền văn hóa nghệ thuật Việt Nam hiện nay, Nxb. Văn hoá - Thông tin, Hà Nội. 22. Nguyễn Văn Dân (2006), Văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 23. Lê Duẩn (1977), Xây dựng nền văn hóa mới, con người mới Xã hội chủ nghĩa, Nxb. Văn hoá, Hà Nội. 24. Thành Duy (2006), Bản sắc văn hóa và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 25. Thành Duy, 2004), Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 26. Đại học quốc gia Tp.Hồ Chí Minh - Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn - Trung tâm nghiên cứu phát triển đô thị và cộng đồng (2004),Văn hóa truyền thống trong phát triển đô thị, Nxb. Đại học quốc gia Tp.Hồ Chí Minh. 27. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự Thật, Hà Nội. 200 28. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 29. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 30. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 31. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 – 1999, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 32. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 33. Phạm Văn Đồng (1994), Văn hóa và đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 34. Encyclopcdie (1989), Từ điển Bách khoa toàn thư Pháp, Paris. 35. Trần Văn Giàu (1996), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám. Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, 3 tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 36. John Lê Văn Hóa (2003), Tìm hiểu nền tảng văn hóa dân tộc trong tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh, Nxb. Hà Nội. 37. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa (2000), Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 38. Nguyễn Văn Huyên (2006), Văn hóa mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 39. Phạm Minh Hạc (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, Nxb. Chính trị quốc giá, Hà Nội. 40. Vũ Khiêu (1996), Bàn về văn hóa Việt Nam, tập 3, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 41. V.I. Lênin (1980), Toàn tập, tập 24, Nxb. Tiến bộ Mátxcơva. 42. V.I. Lênin (1978), Toàn tập, tập 38, Nxb. Tiến bộ Mátxcơva. 201 43. Phan Huy Lê (1996), Truyền thống và hiện đại - Vài suy nghĩ và đề xuất, Tạp chí Cộng sản, số 18. 44. C.Mác và Ăngghen (1999), Toàn tập, tập 39, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 45. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 46. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 47. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 48. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 49. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 50. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 51. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 52. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 53. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 9, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 54. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 10, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 55. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 11, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 56. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 57. Huỳnh Minh (1966), Cần Thơ xưa và nay, Nhà in Hạnh Phúc, Gia Định. 58. Đỗ Mười (1993), Thể hiện khát vọng của nhân dân về Chân - Thiện - Mỹ, Nxb. Văn học, Hà Nội. 59. Rasun Gamzatov - Daghestan của tôi (1984), bản dịch tiếng Việt, Nxb. Cầu Vồng, Mát-xcơ-va. 60. Nguyễn Xuân Nam (1998), Văn hóa vì sự phát triển, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 61. Trần Đình Nghiêm, Trần Hoàn, Nguyễn Phúc Khánh (2000), Phác thảo chân dung văn hóa Việt Nam (Đề tài mã số 3.37 (V), Nxb. Chính trị quốc gia, HN. 62. Phan Ngọc (1998), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội. 63. Người đưa tin UNESCO, số 9/1997. 202 64. Bùi Đình Phong (2001), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa Việt Nam, Nxb. Lao động, Hà Nội. 65. Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (2005), Đại cương lịch sử Việt Nam, toàn tập, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội. 66. Nguyễn Văn Quán (2006), Nguồn văn hóa truyền thống Việt Nam, Nxb. Lao Động, Hà Nội. 67. Hồ Sĩ Quý (2005), Về giá trị và giá trị châu Á, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 68. Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1994), Bộ Văn hóa thông tin và Thể thao xuất bản, Hà Nội. 69. Trần Ngọc Thêm (1989), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 70. Nguyễn Chí Tình (2009), Văn hóa và thời đại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 71. Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân tỉnh Cần Thơ (2002), Địa chí Cần Thơ. 72. Trường Đại học KHXH&NV TP.Hồ Chí Minh, Viện KHXH tại TP.Hồ Chí Minh, Bảo tàng lịch sử Việt Nam TP.Hồ Chí Minh (1999), Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Vai trò của nghiên cứu và giáo dục, Nxb. TP.Hồ Chí Minh. 73. Trần Diễm Thúy (2009), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội. 74. GS.VS Hoàng Trinh (2000), Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa trong văn hóa, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 75. GS. Lương Duy Thứ (Chủ biên), Phan Nhật Chiêu, Phan Thu Hiền (1998), Đại cương văn hóa phương Đông, Nxb. Giáo Dục. 76. Từ điển triết học (1986), Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva. 77. Từ điển chính trị vắn tắt (1988), Nxb. Sự Thật, Hà Nội. 78. Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005), Nxb. Từ điển Bách khoa Hà Nội. 203 79. Viện khoa học xã hội vùng Nam bộ, Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, Thành uỷ - Uỷ ban nhân dân Tp. Cần Thơ, (2005), Đồng bằng sông Cửu Long hội nhập và phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 80. Trần Quốc Vượng (Chủ biên), Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền, Lâm Mỹ Dung, Trần Thúy Anh (2006), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo Dục. 204 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nguyễn Văn Dựa (2008), Văn hóa Cần Thơ và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, Luận văn thạc sĩ Triết học. 2. PGS.TS. Trịnh Doãn Chính, Nguyễn Văn Dựa (2006), Một số vấn đề chính sách dân tộc đối với đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long, Kỷ yếu Hội thảo đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng và giải pháp để trở thành vùng trọng điểm phát triển kinh tế, giai đoạn 2006-2010. Trường đại học KHXH&NV thuộc Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, tr. 202-212, Nxb. Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh. 3. PGS.TS. Doãn Chính, ThS. Nguyễn Văn Dựa (2009), Về giải pháp xóa đói, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc Khmer Tây Nam bộ, Tạp chí Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực II, tr. 31-37. 4. Nguyễn Văn Dựa (2010), Sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển văn hóa ở Cần Thơ, Tạp chí Khoa học xã hội, số 5 (141), tr. 8, 9, 10, 11, 12, 21 . 5. Nguyễn Văn Dựa (2008), 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) về công tác thanh niên ở tỉnh Vĩnh Long, Tạp chí Văn phòng cấp ủy, Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, số 6 (3/2008), tr. 24-25. 6. Nguyễn Văn Dựa (2009), Thực trạng công tác thủy lợi vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2006-2010 và định hướng 2020, Tạp chí Văn phòng cấp ủy, Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, số 16-17 (1-2/2009), tr. 57-59. 7. Nguyễn Văn Dựa (2010), Những tiến bộ của công tác phụ nữ ở thành phố Cần Thơ và một số vấn đề cần tập trung giải quyết, Tạp chí Văn phòng cấp ủy, Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, số 36 (9/2010), tr. 36, 37, 38, 46.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfthvnu0065_3369.pdf
Luận văn liên quan