Luận văn Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách tại ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố đồng hới, tỉnh Quảng Bình

Cơ chế giám sát cộng đồng phải đơn giản, hiệu quả và đảm bảo quyền giám sát thực sự là của nhân dân: Cộng đồng dân cư là nơi hưởng thụ một phần thành quả cũng là nơi chịu sự tác động cả về tích cực và tiêu cực của dự án đầu tư trên địa bàn đưa lại. Mặt khác, họ cũng là những người có điều kiện để thể hiện quyền giám sát của mình đối với tài sản sở hữu toàn dân qua kênh giám sát trực tiếp đối với quá trình thực thi sử dụng, định đoạt vốn đầu tư của các cá nhân và tổ chức được Nhà nước giao quyền. Vì vậy, để đảm bảo quyền về giám sát của mọi người dân và tạo điều kiện cho giám sát cộng đồng một cách hiệu quả thiết thực thì cơ chế giám sát cộng đồng phải được hoàn thiện theo hướng đơn giản và hiệu quả; thực hiện giải mã các số hiệu định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giản và cụ thể hoá các nội dung cần quản lý theo yêu cầu phổ thông hoá quản lý. 3.2. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách trên địa bàn thành phố Đồng Hới 3.2.1. Hoàn thiện công tác lập dự án, lập kế hoạch vốn đầu tư Công tác lập dự án, lập kế hoạch phải dựa trên quy hoạch phát triển của ngành, vùng và kế hoạch phát triển trung và dài hạn. Bố trí đủ vốn theo tiến độ cho các mục tiêu, công trình trọng điểm cấp bách; công trình có khả năng hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm để đồng vốn phát huy được hiệu quả tối đa. Kiên quyết không bố trí vốn cho những dự án không đủ thủ tục theo quy định. Cụ thể là: - Kế hoạch vốn đầu tư trung và dài hạn phải lấy quy hoạch làm cơ sở, chỉ đưa vào kế hoạch vốn hàng năm các dự án đã được duyệt ở kế hoạch trung hạn. Việc xây dựng kế hoạch vốn đầu tư cần phải khách quan, công khai, minh bạch, khảo sát kỹ tình hình thực tế của các địa phương tránh tình trạng đầu tư không hợp lý giữa các vùng hoặc đầu tư không hiệu quả dẫn đến lãng phí nguồn vốn. - Việc xác định danh mục dự án để đưa vào kế hoạch trung hạn cần bám sát nhu cầu thực tế, cần phân công hợp lý các đơn vị đầu mối để đề xuất danh mục dự án tránh tình trạng một dự án nhưng có nhiều đơn vị cùng đề xuất gây trùng lặp. Đối với các dự án có phần vốn đối ứng của các xã, phường cần phải kiểm tra, thẩm định kỹ phần vốn đối ứng của các xã phường trước khi đưa vào kế hoạch tránh tình trạng các công trình đã được ghi vào kế hoạch nhưng không thực hiện được do xã, phường không có vốn đối ứng.

pdf115 trang | Chia sẻ: ngoctoan84 | Ngày: 17/04/2019 | Lượt xem: 185 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách tại ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố đồng hới, tỉnh Quảng Bình, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
i ích xã hội, môi trường đầu tư còn hời hợt, thiếu cụ thể. + Một bộ phận cán bộ công chức làm công tác quản lý vốn đầu tư còn yếu, sa sút đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, như đòi hối lộ, thông đồng móc ngoặc, gian lận... Nguyên nhân về trách nhiệm của các cơ quan quản lý chưa cao Sự phối hợp trong công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực đầu tư chưa chặt chẽ, chưa có cơ chế phối hợp, quy trình phối hợp và chế độ trách nhiệm Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 81 để gắn kết với nhau nhằm kịp thời ngăn chặn, phát hiện và xử lý nghiêm minh những cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật, lập lại trật tự kỷ cương trong lĩnh vực đầu tư. Lộ trình xóa bỏ tình trạng khép kín trong đầu tư tiến hành còn chậm. Hệ thống tư vấn về đầu tư chậm được đổi mới, chuẩn hóa và củng cố lại.Với cơ chế giám sát như hiện nay, cơ quan tư vấn giám sát không độc lập được, gây ra tình trạng không khách quan, dẫn đến chất lượng công trình kém và tạo điều kiện cho thất thoát vốn đầu tư. - Công tác kế hoạch vốn đầu tư chưa gắn với quy hoạch xây dựng. - Công tác quy hoạch chưa được chú trọng như: bố trí ngân sách hàng năm cho quy hoạch còn thấp, chất lượng quy hoạch chưa cao, thiếu công khai các loại quy hoạch, thiếu kiểm tra việc thực hiện đầu tư theo quy hoạch, gây lãng phí vốn. - Cách thức thẩm định dự án đầu tư còn rất đơn giản, chưa xác định được mức độ cần thiết và lợi ích đem lại cho xã hội so với chi phí đầu tư để xác định thứ tự ưu tiên. - Còn biểu hiện cơ chế “xin – cho” trong bố trí kế hoạch vốn đầu tư Trong quá trình xây dựng dự toán NSNN về chi đầu tư XDCB hàng năm của tỉnh Quảng Bình vẫn còn nặng nề cơ chế “xin – cho”, chưa thật sự dựa vào nhu cầu đầu tư của địa phương. Vẫn còn tình trạng dự án chưa hoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư, chưa đủ thủ tục đầu tư theo quy định, nhưng vẫn được bố trí vốn để thực hiện đầu tư. Trong khi đó, còn nhiều dự án vẫn đang chờ vốn để thực hiện, dẫn đến bất hợp lý và khó khăn trong việc bố trí vốn đầu tư XDCB của địa phương. - Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng còn gặp nhiều khó khăn Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư hiện nay bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: đơn giá và chính sách bồi thường luôn thay đổi; việc thu hồi đất là vấn đề nhạy cảm vì liên quan đến quyền lợi và cuộc sống tái định cư của người dân. Các cơ quan liên quan làm công tác bồi thường chưa đồng bộ và thủ tục rườm rà; thời gian chi trả tiền bồi thường kéo dài, làm chậm tiến độ thực hiện dự án. - Kế hoạch vốn đầu tư hàng năm thường hay điều chỉnh. - Chỉ tiêu vốn đầu tư hàng năm thường được UBND Thành phố quyết định giao rất sớm ngay từ đầu năm; nhưng việc bổ sung, điều chỉnh lại diễn ra thường Đại học Kinh tế Huế Đại học kin tế Huế 82 xuyên trong năm kế hoạch, nhất là vào thời điểm cuối năm; đây là một trong những khó khăn cho các cơ quan quản lý, chủ đầu tư và đơn vị thi công trong việc thực hiện kế hoạch được giao; nên nhiều đơn vị không sử dụng hết tiền được cấp mà khối lượng thực hiện trong năm lại ít, dẫn đến kéo dài thời gian thực hiện dự án. Các biện pháp chế tài chưa đủ mạnh Hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực quản lý đầu tư và xây dựng chưa đồng bộ và chưa theo kịp với thực tế. Cơ chế quản lý hiện có vừa cồng kềnh, vừa chồng chéo nhau, làm cho có nhiều người có thẩm quyền can thiệp vào dự án nhưng không thể xác định được trách nhiệm thuộc về ai, do đó công tác quản lý kém hiệu quả. Mặc dù những năm gần đây Nhà nước đã quan tâm thay đổi bổ sung cơ chế chính sách quản lý đầu tư XDCB tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, vẫn chưa quy định chi tiết về mức độ vi phạm và hình thức xử lý cụ thể trong một số trường hợp, như: - Quyết định đầu tư không đúng với quy hoạch, không đúng với mục tiêu đầu tư của cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương. - Công tác giám sát không chặt chẽ và hình thức, không xử lý kịp thời những vướng mắc về giải pháp kỹ thuật. - Đấu thầu, chọn thầu không đúng quy định, ký kết hợp đồng kinh tế không chặt chẽ. Các nhà thầu cố tình bỏ giá thấp để được trúng thầu, rồi xin phát sinh khối lượng, điều chỉnh hợp đồng hoặc tìm cách hạ giá thành bằng cách dùng vật tư sai quy cách, kém phẩm chất dẫn đến chất lượng công trình thấp, lãng phí vốn đầu tư. - Chủ đầu tư theo dõi giám sát quá trình thi công tại hiện trường không kịp thời, phó mặt cho bên nhận thầu. Năng lực một số chủ đầu tư còn hạn chế và tiêu cực nên dễ dàng chấp nhận bàn giao các công trình kém chất lượng. - Nghiệm thu thanh toán không đúng khối lượng thực tế thi công, không đúng chủng loại và chất lượng vật tư theo thiết kế làm gia tăng giá trị công trình sai qui định. Mức xử phạt về hành vi vi phạm quản lý chất lượng công trình còn quá thấp so với giá trị sai phạm gây ra, gây thất thoát, lãng phí vốn Nhà nước. - Tạm ứng, thanh toán vốn XDCB không đúng với quy định và khối lượng thực tế hoàn thành. Thẩm tra, phê duyệt quyết toán còn chậm và thiếu chính xác về Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 83 khối lượng thực tế thi công. Số lượng hồ sơ chậm quyết toán hàng năm vẫn còn nhiều (khoảng 27%) ảnh hưởng đến chất lượng công tác quản lý vốn đầu tư. Luật và các quy định về quản lý Vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN chưa hoàn thiện. - Chưa có một văn bản luật thống nhất về đầu tư XDCB từ NSNN làm cơ sở pháp lý triển khai thực hiện và quản lý đầu tư sử dụng vốn nhà nước. Các quy định hiện hành có ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau nên gây khó khăn trong việc tra cứu và thi hành. + Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành chưa xác định rõ yêu cầu quản lý nhà nước về vốn đầu tư XDCB từ NSNN, đối tượng và nội dung quản lý trong các khâu quy hoạch, kế hoạch, chuẩn bị đầu tư, triển khai thực hiện dự án, quản lý sử dụng vốn, quản lý khai thác dự án và một số vấn đề khác. + Trong các vấn đề cụ thể nêu trong các luật hiện hành còn có những nội dung chưa rõ và chưa đủ, quy định chưa nhất quán trong việc phân định trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quá trình đầu tư, quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN. + Thiếu các chế tài cụ thể để đảm bảo chấp hành kỷ cương, kỷ luật trong đầu tư; khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, hiệu quả thấp, lãng phí thất thoát và xử lý những vi phạm trong quản lý đầu tư. - Ngoài ra, việc triển khai thực hiện Luật và các quy định của Trung ương về đầu tư XDCB của UBND tỉnh Quảng Bình chưa được cập nhật kịp thời, thậm chí có một số nội dung triển khai thực hiện chưa đúng với quy định, ví dụ: Theo quy định của Nghị định 59/2015/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình thì cơ quan chuyên môn về xây dựng của cấp huyện chịu trách nhiệm thẩm định các dự án chỉ yêu cầu lập Báo cáo Kinh tế kỹ thuật do UBND huyện quyết định đầu tư nhưng UBND tỉnh phân cấp lại cho cơ quan chuyên môn thuộc UBND Thành phố chỉ được thẩm định các dự án có tổng mức đầu tư dưới 4 tỷ, UBND huyên dưới 3 tỷ làm giảm sử chủ động của Thành phố và các huyện trong việc triển khai dự án. Hoặc theo quy định của Luật Đầu tư công thì UBND cấp huyện được phê duyệt dự án nhóm B, nhóm C thuộc nguồn vốn ngân sách cấp huyện cân đối nhưng UBND tỉnh phận cấp lại UBND Thành phố chỉ được phê duyệt các dự án có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ kể cả các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách cấp huyện cân đối. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế H ế 84 Tiểu kết chương 2 Trong chương 2, tác giả luận văn đã làm rõ thực trạng, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN của thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Quá trình phân tích, tác giả đã chỉ ra những việc đã làm được cũng như những hạn chế và nguyên nhân quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN của thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn 2012-2016. Kết quả đánh giá, phản ánh thực trạng trong công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN và kết quả phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đồng Hới giai đoạn 2012-2016 là cơ sở để tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN của thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tại chương 3. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 85 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XDCB TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI 3.1. Cơ sở tiền đề cho việc đề xuất giải pháp 3.1.1. Các dự báo Xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng với trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế, do đó công tác quản lý vốn đầu tư sẽ ngày càng phức tạp khi có các yếu tố nước ngoài tham gia vào các hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Dẫn đến hệ thống pháp luật của Việt Nam phải ngày càng hoàn thiện, tiệm cận với pháp luật quốc tế, đội ngũ quản lý nhà nước cũng như các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng lực trình độ cũng như nâng cao năng lực và quy mô của doanh nghiệp để thành công trong xu thế hội nhập. Trình độ hiểu biết của người dân nói chung và các doanh nghiệp nói riêng ngày càng tăng. Sự giám sát, phản biện xã hội, giám sát đầu tư cộng đồng ngày càng phát triển, năng lực giám sát ngày càng cao. Thêm vào đó với sự phát triển bùng nổ của khoa học công nghệ được biết đến như là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ có tác động không nhỏ đến công tác quản lý VĐTTNS. Do đó, trong công tác quản lý VĐTTNS phải thường xuyên đổi mới, tích cực ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, công nghệ thông tin vào công tác quản lý; hoạt động của cơ quan quản lý phải luân công khai, minh bạch, kiến tạo. Nguồn thu ngân sách ngày càng tăng đồng thời chi cho đầu tư phát triển sẽ tăng nhanh trong thời gian tới. Hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống pháp luật liên quan đến công tác quản lý vốn đầu tư từ NSNN nói riêng ngày càng hoàn thiện và tiệm cận với thông lệ quốc tế. Xu hướng đầu tư theo hình thức đối tác công tư sẽ là xu hướng chủ đạo trong thời gian tới do nguồn vốn ngân sách còn hạn chế trong khi nhu cầu đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội đang tăng cao. Do đó việc đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách cần được định hình lại đảm bảo huy động có hiệu quả nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển. Đại học Kinh tế Huế Đại học ki h tế Huế 86 3.1.2. Cơ sở pháp lý Luận văn xác định 03 văn bản liên quan trực tiếp cũng như chủ đạo trong công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN 3.1.2.1. Luật Đầu tư công năm 2014 Nhằm tạo lập hệ thống cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ, nâng cao hiệu quả đầu tư công, tại kỳ họp thứ 7, ngày 18 tháng 6 năm 2014 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13. Luật Đầu tư công quy định nhiều nội dung đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn đầu tư công và phù hợp với các thông lệ quốc tế. Phạm vi điều chỉnh Luật bao quát được việc quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư công. Đã thể chế hóa quy trình quyết định chủ trương đầu tư. Tăng cường công tác theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công. Đổi mới hoàn thiện quy chế phân cấp quản lý đầu tư công phân định quyền hạn đi đôi với trách nhiệm của từng cấp Với việc quy định rõ ràng, cụ thể các quy định pháp lý trong toàn bộ hoạt động đầu tư trong Luật Đầu tư công, là một bước tiến lớn trong quản lý, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng nguồn lực của Nhà nước, góp phần và tạo điều kiện pháp lý để đẩy mạnh công cuộc phòng chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm trong đầu tư XDCB. 3.1.2.2. Luật Xây dựng năm 2014 Ngày 18/6/2014, Quốc Hội khóa XIII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 (gọi tắt là Luật Xây dựng 2014. Đây là Bộ Luật quan trọng về lĩnh vực hoạt động đầu tư xây dựng với những đổi mới căn bản, có tính đột phá nhằm phân định quản lý các dự án đầu tư xây dựng sử dụng các nguồn vốn khác nhau thì có phương thức, nội dung và phạm vi quản lý khác nhau. Phạm vi điều chỉnh của Luật Xây dựng năm 2014 đã điều chỉnh toàn diện các hoạt động đầu tư xây dựng từ khâu quy hoạch xây dựng, lập báo cáo tiền khả thi, báo cáo khả thi, lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cho đến khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, nghiệm thu, bàn giao, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng, áp dụng đối với các dự án đầu tư xây dựng thuộc mọi nguồn vốn. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 87 Luật Xây dựng 2014 đã phân định rõ các dự án đầu tư xây dựng sử dụng các nguồn vốn khác nhau phải có phương thức và phạm vi quản lý khác nhau. Trong đó, đối với các dự án có sử dụng vốn nhà nước thì các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành phải quản lý chặt chẽ theo nguyên tắc “tiền kiểm” nhằm nâng cao chất lượng công trình, chống thất thoát, lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Luật cũng đã đổi mới mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng theo hướng chuyên nghiệp hóa, áp dụng các mô hình ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên nghiệp theo chuyên ngành hoặc theo khu vực để quản lý các dự án có sử dụng vốn nhà nước. 3.1.2.3. Luật Đấu thầu năm 2013 và Nghị định số 63 /2014/NĐ-CP Ngày 26/11/2013, Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014, đồng thời, ngày 26/6/2014, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 63 /2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thấu về lựa chọn nhà thầu có hiệu lực ngày 15/08/2014 thay thế nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009. Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 gồm 13 chương với 96 điều và Nghị định 63/2013/NĐ-CP bao gồm 15 chương với 130 điều được xây dựng trên cơ sở yêu cầu khách quan trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về mua sắm sử dụng vốn nhà nước, góp phần tăng cường hiệu quả sử dụng vốn của Nhà nước. Đã quy định cụ thể quản lý nhà nước trong công tác đấu thầu, trách nhiệm của các bên có liên quan và các hoạt động đấu thầu, khắc phục những mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong cùng một lĩnh vực và bảo đảm tính thống nhất, minh bạch của hệ thống pháp luật. 3.1.2. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Thành phố Đồng Hới đến năm 2020 tầm nhìn 2025 được phê duyệt tại Quyết định số 396/QĐ-UBND ngày 22/02/2013 của UBND tỉnh Quảng Bình [21] Theo quy hoạch, để đảm bảo thành công quá trình phát triển kinh tế - xã hội Thành phố Đồng Hới đến năm 2020 cần tập trung vào các khâu đột phá sau: - Tạo mọi điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh phát triển dịch vụ du lịch là lợi thế của Thành phố. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 88 - Tập trung hoàn chỉnh và hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, đặc biệt là các trục giao thông chính trên địa bàn Thành phố và kết nối Thành phố với mạng lưới giao thông của tỉnh và vùng. - Ưu tiên đầu tư xây dựng trung tâm thương mại Thành phố, củng cố và mở rộng mạng lưới chợ, hệ thống siêu thị tạo môi trường thuận lợi cho lưu thông hành hoá và thu hút khách du lịch mua sắm; tăng cường và khuyến khích đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển các tuyến, điểm du lịch. - Hoàn thành kết cấu hạ tầng các KCN, cụm công nghiệp. Xúc tiến đầu tư, ưu tiên thu hút các dự án phát triển công nghiệp sạch, sử dụng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn. 3.1.3. Quan điểm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn thành phố Đồng Hới - Hoàn thiện cơ chế quản lý vốn để nâng cao hiệu quả KT-XH: Về mặt nguyên lý, mọi dự án và nguồn vốn đầu tư đều hướng tới mục tiêu đầu tư nhất định. Mục tiêu đầu tư của Doanh nghiệp là lợi nhuận về kinh tế còn đầu tư của Nhà nước thì mục tiêu không phải dừng lại ở kinh tế thuần tuý mà gắn với hiệu quả xã hội, do đó quan điểm quản lý VĐTTNS chủ yếu là để nâng cao hiệu quả KT-XH của vốn. - Quản lý VĐTTNS phải đáp ứng thực hiện mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là đích vận động của tất cả các nước xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường từ một nền kinh tế kém phát triển. Mặt khác, trong điều kiện phân công lao động quốc tế ngày càng mở rộng đang đặt ra nhiều cơ hội cũng như đầy rẫy những thách thức đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta. Với vai trò tạo lập hạ tầng KT-XH và đầu tư phát triển kinh tế mũi nhọn; VĐTTNS đã và đang trở thành công cụ quan trọng của Nhà nước trong quá trình đường hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Từ những luận điểm trên, hoàn thiện cơ chế quản lý VĐTTNS để nhằm thực hiện mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 89 - Quản lý vốn phải đáp ứng nâng cao năng lực quản lý vĩ mô của bộ máy Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật và hệ thống các mục tiêu, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án phát triển KT-XH và phát triển ngành, vùng, lãnh thổ. VĐTTNS là một trong những công cụ cơ bản của Nhà nước để thực hiện các mục tiêu, quy hoạch, kế hoạch KT-XH đã định của Nhà nước. Do đó quản lý VĐTTNS phải đáp ứng nâng cao năng lực quản lý vĩ mô của bộ máy Nhà nước. - Quản lý vốn phải bảo đảm sự phối hợp đồng bộ giữa các chủ thể quản lý, vận hành vốn theo nguyên tắc: Tự chủ, công bằng và minh bạch. Sản phẩm XDCB được tạo lập thông qua nhiều khâu: Chủ trương đầu tư; chọn nhà thầu tư vấn lập dự án đầu tư; lập và phê duyệt dự án đầu tư; chọn nhà thầu thiết kế cong trình; tổ chức thi công và giám sát thi công...; quyết toán và phê duyệt quyết toán công trình. Tương ứng các khâu của quá trình đầu tư là chi phí và vận hành tác nghiệp của hệ thống các chủ thể: Chủ quản đầu tư, chủ đầu tư, đại diện của chủ đầu tư (Ban quản lý dự án hoặc tư vấn quản lý dự án), hệ thống các nhà thầu. Hiệu quả của vốn đầu tư và chất lượng của sản phẩm XDCB phụ thuộc vào trách nhiệm và chất lượng tác nghiệp của các chủ thể tham gia vận hành vốn. Do vậy, để tạo điều kiện cho VĐTTNS đầu tư đúng mục tiêu, quy hoạch, kế hoạch, đảm bảo hiệu quả và không thất thoát, yêu cầu: Cơ chế quản lý phải đáp ứng tính đồng bộ giữa các chủ thể theo nguyên tắc tự chủ, công bằng và minh bạch. - Lành mạnh hoá được các quan hệ kinh tế trong đấu thầu: Đấu thầu là sự cạnh tranh giữa các nhà thầu với nhau trong tham gia cung ứng sản phẩm XDCB và các dịch vụ liên quan cho chủ đầu tư. Để đảm bảo cho Nhà nước mua được những sản phẩm đạt yêu cầu và tạo điều kiện cho kinh tế thị trường phát triển, mối quan hệ kinh tế giữa nhà thầu với nhay phải đảm bảo cạnh tranh lành mạnh trên một thị trường cạnh tranh hoàn hảo; thông tin đấu thầu phải trở thành một hàng hoá thực thụ; cơ chế đấu thầu phải ngăn ngừa được các hành vi hiệp thương tiêu cực của các nhà thầu với nhau Sự lành mạnh các quan hệ kinh tế trong đấu thầu là điều kiện tiên quyết để hạn chế mọi tiêu cực về kinh tế dẫn tới thất thoát và đầu tư kém hiệu quả của mọi nguồn vốn nói chung và nguồn vốn NSNN nói riêng. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 90 - Cơ chế giám sát cộng đồng phải đơn giản, hiệu quả và đảm bảo quyền giám sát thực sự là của nhân dân: Cộng đồng dân cư là nơi hưởng thụ một phần thành quả cũng là nơi chịu sự tác động cả về tích cực và tiêu cực của dự án đầu tư trên địa bàn đưa lại. Mặt khác, họ cũng là những người có điều kiện để thể hiện quyền giám sát của mình đối với tài sản sở hữu toàn dân qua kênh giám sát trực tiếp đối với quá trình thực thi sử dụng, định đoạt vốn đầu tư của các cá nhân và tổ chức được Nhà nước giao quyền. Vì vậy, để đảm bảo quyền về giám sát của mọi người dân và tạo điều kiện cho giám sát cộng đồng một cách hiệu quả thiết thực thì cơ chế giám sát cộng đồng phải được hoàn thiện theo hướng đơn giản và hiệu quả; thực hiện giải mã các số hiệu định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giản và cụ thể hoá các nội dung cần quản lý theo yêu cầu phổ thông hoá quản lý. 3.2. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách trên địa bàn thành phố Đồng Hới 3.2.1. Hoàn thiện công tác lập dự án, lập kế hoạch vốn đầu tư Công tác lập dự án, lập kế hoạch phải dựa trên quy hoạch phát triển của ngành, vùng và kế hoạch phát triển trung và dài hạn. Bố trí đủ vốn theo tiến độ cho các mục tiêu, công trình trọng điểm cấp bách; công trình có khả năng hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm để đồng vốn phát huy được hiệu quả tối đa. Kiên quyết không bố trí vốn cho những dự án không đủ thủ tục theo quy định. Cụ thể là: - Kế hoạch vốn đầu tư trung và dài hạn phải lấy quy hoạch làm cơ sở, chỉ đưa vào kế hoạch vốn hàng năm các dự án đã được duyệt ở kế hoạch trung hạn. Việc xây dựng kế hoạch vốn đầu tư cần phải khách quan, công khai, minh bạch, khảo sát kỹ tình hình thực tế của các địa phương tránh tình trạng đầu tư không hợp lý giữa các vùng hoặc đầu tư không hiệu quả dẫn đến lãng phí nguồn vốn. - Việc xác định danh mục dự án để đưa vào kế hoạch trung hạn cần bám sát nhu cầu thực tế, cần phân công hợp lý các đơn vị đầu mối để đề xuất danh mục dự án tránh tình trạng một dự án nhưng có nhiều đơn vị cùng đề xuất gây trùng lặp. Đối với các dự án có phần vốn đối ứng của các xã, phường cần phải kiểm tra, thẩm định kỹ phần vốn đối ứng của các xã phường trước khi đưa vào kế hoạch tránh tình trạng các công trình đã được ghi vào kế hoạch nhưng không thực hiện được do xã, phường không có vốn đối ứng. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 91 - Công tác xác định tổng mức đầu tư của dự án để đưa vào Kế hoạch đầu tư phải trên cơ sở các căn cứ khoa học, sát đúng với thực tế tránh tình trạng do xác đinh tổng mức đầu tư không đúng phải điều chỉnh kế hoạch. - Việc bố trí vốn cho từng dự án phải tuân thủ theo đúng quy định của Luật Đầu tư công và các nghị định hướng dẫn, thường xuyên kiểm tra, giám sát để điều chỉnh kế hoạch vốn từ các dự án không khả thi sang các dự án đảm bảo tiến độ nhưng còn thiếu vốn. - Cần phát huy vai trò kiểm tra của tổ chức Đảng, chính quyền đối với việc sử dụng vốn NSNN. Thực hiện tốt việc công khai hóa kế hoạch vốn đầu tư trên địa bàn Thành phố trong thường trực Thành ủy, thường trực Uỷ ban nhân dân Thành phố và lãnh đạo chủ chốt của cấp cơ sở. 3.2.2. Nâng cao chất lượng lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư Để nâng cao chất lượng công tác lập và quản lý dự toán trong thời gian tới thì tất cả các bước của công tác lập và quản lý dự toán phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật, ngoài ra cần tập trung vào các nội dung sau: - Cần nâng cao năng lực của tổ chức và cá nhân tư vấn lập dự toán: UBND Thành phố cần quán triệt các đơn vị chủ đầu tư chỉ hợp đồng với các đơn vị tư vấn có đủ năng lực theo thông báo của Sở Xây dựng, trước khi ký kết hợp đồng phải kiểm tra kỹ hồ sơ năng lực cũng như kiểm tra kỹ các cá nhân tham gia lập thiết kế, dự toán. - Việc ký kết hợp đồng với tư vấn thiết kế phải quy định rõ tránh nhiệm bồi thường thiệt hại khi để xẩy ra sai sót. Đồng thời xử lý nghiêm các đơn vị tư vấn khi phát hiện ra sai sót dẫn đến thiệ hại về kinh tế. Thông báo công khai tên của các đơn vị tư vấn có sai phạm bị phát hiện. Kiên quyết không hợp đồng với các đơn vị tư vấn để xẩy ra sai sót nhiều lần. Ngoài việc phải lựa chọn đơn vị tư vấn có đủ năng lực chuyên môn để lập dự toán cho công trình thì chủ đầu tư phải có trình độ, chuyên môn và kinh nghiệm phù hợp với quy mô, nội dung dự án để kiểm tra, rà soát lại đơn vị tư vấn để hạn chế tối đa những sai sót có thể xẩy ra trong quá trình lập dự toán. Do đó phải nâng cáo năng lực của các đơn vị chủ đầu tư để đap ứng yêu cầu của từng dự án; đối với các dự án Đại học Kinh tế Huế Đại họ kinh tế Huế 92 có quy mô lớn, phức tạp thì phải giao cho Ban quản lý dự án Thành phố làm chủ đầu tư, chỉ giao cho các xã, phường làm chủ đầu tư các dự án có quy mô nhỏ, các dự án có phần vốn góp của dân. Không giao nhiệm vụ chủ đầu tư cho các đơn vị chủ đầu tư thường xuyên để xẩy ra sai sót. 3.2.3. Tăng cường công tác quản lý lựa chọn nhà thầu Việc đấu thầu trong hoạt động xây dựng là nhằm tìm được nhà thầu có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề phù hợp với từng loại và cấp công trình. Tùy theo quy mô, tính chất, nguồn vốn xây dựng công trình, người quyết định đầu tư hoặc chủ đầu tư áp dụng các hình thức đấu thầu như: đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế; chỉ định thầu; đấu thầu thiết kế kiến trúc công trình xây dựng... Để tăng cường quản lý vốn đầu tư thông qua công tác đấu thầu cần làm tốt các công tác sau: - Quy trình thủ tục đấu thầu: + Thực hiện việc đấu thầu rộng rãi đối với tất cả các gói thầu, hạn chế tối đa hình thức chỉ định thầu hoặc đấu thầu hạn chế. Hình thức đấu thầu rộng rãi sẽ hạn chế rất nhiều vấn đề thông thầu vì trường hợp một nhà thầu đã biết được thông tin của dự án cũng không thể có sức để thương thuyết với tất cả các nhà thầu muốn tham dự và mặt khác nếu sử dụng kinh phí để thương thuyết thì hiệu quả kinh doanh cũng không đáp ứng được chi phí tiêu cực phải bỏ ra; + Áp dụng cơ chế giảm giá ngay trong quá trình xác định giá gói thầu: Hiện nay giá gói thầu thường được xây dựng trên cơ sở bằng với giá dự toán được phê duyệt, để nâng cao hiệu quả khi tổ chức đấu thầu khi xây dựng giá gói thầu cần đưa ra một tỷ lệ giảm giá so với giá dự toán. Như vậy trong trường hợp có tình trạng thông thầu thì vẫn tiết kiệm được khoản kinh phí trong giá trúng thầu; - Cơ chế kiểm soát: + Ngăn chặn thông tin rò rỉ và thông thầu trong quá trình đấu thầu. Đây là một vấn đề thuộc về ý thức của con người, nên khó phát hiện và ngăn chặn bằng những biện pháp cụ thể, nhưng về một góc độ nào đó có thể hạn chế bằng những biện pháp như phê duyệt dự toán và giá gói thầu cùng một thời điểm mở thầu; các văn bản phê Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 93 duyệt dự toán, phê duyệt giá gói thầu chỉ phát hành rộng rãi ra bên ngoài khi đã thực hiện xong việc mở thầu như vậy sẽ hạn chế bớt lượng thông tin bị rò rỉ. + Thực hiện tốt các giải pháp nêu trên sẽ lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện dự án với đảm bảo kỹ thuật, chất lượng, tiến độ và tiết kiệm chi phí. Phấn đấu thông qua đấu thầu bình quân giá trúng thầu thấp hơn giá gói thầu tối thiểu là 3% (tương đương với kinh phí tiết kiệm được thông qua công tác quyết toán dự án hoàn thành). 3.2.4. Nâng cao chất lượng kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB Kiểm soát thanh toán VĐTTNS là nhân tố quan trọng trong việc giảm thất thoát, tiêu cực trong đầu tư XDCB, góp phần nâng cao chất lượng công trình xây dựng. Tuy nhiên, công tác kiểm soát thanh toán VĐTTNS ở Thành phố Đồng Hới vẫn còn tồn tại: tình trạng dư nợ tạm ứng kéo dài, thanh toán vốn chậm và dồn về các tháng cuối năm, thủ tục thanh toán rườm rà, gây khó khăn, đi lại nhiều lần,... ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án. Để khắc phục tình trạng trên hệ thống KBNN cần thực hiện các giải pháp sau đây: - Quy trình kiểm soát thanh toán: + Niêm yết công khai Quy trình kiểm soát thanh toán VĐTTNS theo hướng dẫn của Bộ Tài chính và của UBND tỉnh. + Căn cứ quyết định giao chỉ tiêu kế hoạch vốn hàng năm của UBND Thành phố theo danh mục dự án và từng loại nguồn vốn đầu tư, KBNN chủ động hướng dẫn các chủ đầu tư khẩn trương hoàn tất các hồ sơ pháp lý ngày từ đầu năm để làm cơ sở tạm ứng và kiểm soát thanh toán VĐTTNS cho các dự án kịp thời đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định. - Thủ tục thanh toán: + Thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong kiểm soát thanh toán VĐTTNS theo hướng công khai quy trình, giảm bớt các thủ tục, hồ sơ tài liệu không cần thiết (như bản vẽ thiết kế, bản vẽ hoàn công, biên bản nghiệm thu...), tăng cường kỹ năng giao tiếp và thái độ phục vụ của công chức KBNN, hướng tới mục tiêu “giao dịch thuận lợi, thủ tục đơn giản, kiểm soát chặt chẽ”. Đại học Kinh tế Huế Đại họ kinh tế Huế 94 + Tiếp tục triển khai tốt công tác tin học hoá trong kiểm soát thanh toán VĐTTNS, tổ chức vận hành và khai thác tốt chương trình Hệ thống Thông tin Quản lý Ngân sách và Kho bạc (gọi tắt là TABMIS), áp dụng chương trình thanh toán điện tử nhằm rút ngắn thời gian kiểm soát và thanh toán vốn cho các công trình, góp phần thực hiện cải cách hành chính, tháo gỡ khó khăn cho các đơn vị thi công. - Cơ chế kiểm soát: + Tăng cường hướng dẫn thực hiện tạm ứng cho các dự án đấu thầu, các công trình thủy lợi, đê điều vượt lũ theo đúng chế độ quy định. Để hạn chế dư nợ tạm ứng kéo dài, cần có những chế tài cụ thể gắn liền với từng giai đoạn đầu tư, đặc biệt là nâng cao nhận thức của chủ đầu tư trong việc thực hiện hoàn ứng vốn đầu tư. - Thời điểm cuối năm tiến hành rà soát tỷ lệ giải ngân, tổng hợp, đánh giá khả năng hoàn thành kế hoạch của từng dự án, phối hợp với Phòng Tài chính Kế hoạch tham mưu, đề xuất UBND Thành phố điều chuyển kịp thời kế hoạch vốn từ các công trình thừa vốn sang các công trình đã có khối lượng hoàn thành nhưng thiếu vốn. - Công tác cán bộ: Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức và bộ máy kiểm soát thanh toán VĐTTNS nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý thanh toán vốn đầu tư với quy mô ngày càng tăng. 3.2.5. Đẩy nhanh công tác quyết toán VĐT Quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành là khâu cuối cùng trong dây chuyền quản lý vốn đầu tư, quyết định giá trị tài sản của công trình đưa vào sử dụng. Trong thực tế công tác thẩm tra phê duyệt quyết toán vốn đầu tư của tại Thành phố còn chậm và nhiều sai sót. Tình trạng chủ đầu tư và nhà thầu đề nghị quyết toán cao hơn giá trị đích thực, công trình xây dựng hoàn thành chậm quyết toán đang là phổ biến. Người có thẩm quyền quyết định đầu tư đồng thời là người phê duyệt dự án hoàn thành, như vậy là "vừa đá bóng vừa thổi còi". Nếu không có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan với chủ đầu tư trong việc kiểm tra, đối chiếu, xác nhận số liệu cấp phát, thanh toán cho công trình, dự án hoàn thành; thì công tác thẩm tra phê duyệt quyết toán sẽ tiềm ẩn nhiều tiêu cực và khó phát hiện. Để khắc phục những tồn tại đó cần thực hiện các giải pháp: Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh ế Huế 95 - Quy trình, thủ tục: + Tiếp tục thực hiện tốt các quy định, hướng dẫn về công tác quyết toán vốn đầu tư XDCB hiện hành ( theo TT 09/2016/TT-BTC). + BQL dự án cần nắm chính xác số lượng dự án đầu tư hoàn thành bằng vốn NSNN đến nay chưa quyết toán, để có giải pháp xử lý cụ thể. + Trong thẩm tra quyết toán phải chú ý đến đơn giá, khối lượng, chất lượng, chủng loại vật liệu, đối chiếu với dự toán được duyệt và các điều kiện nêu trong hợp đồng, biên bản nghiệm thu, hồ sơ hoàn công, khối lượng phát sinh và các tài liệu liên quan khác. Không thẩm định quyết toán khi chưa đủ thủ tục theo quy định. - Cơ chế kiểm soát: Tuỳ theo quy mô và tính chất phức tạp của từng dự án, Tổ thẩm ra quyết toán trực tiếp thẩm tra báo cáo quyết toán. Song, trách nhiệm chính vẫn là cơ quan chủ trì là Phòng Tài chính - Kế toán và do cá nhân cán bộ thẩm tra quyết toán đảm nhận. - Kỷ luật: + Áp dụng nghiêm các hình thức xử phạt chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng, nhà thầu tư vấn có hành vi vi phạm các quy định về thời gian quyết toán chậm, nghiệm thu, thanh toán sai khối lượng và làm sai lệch giá trị quyết toán vốn đầu tư được quy định tại Nghị định 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính phủ. + Khi thanh tra nếu phát hiện cơ quan thẩm tra, phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành sai quy định gây lãng phí vốn đầu tư, phải xử lý nghiêm theo quy định tại Điều 29, Nghị định số 84/2006/NĐ-CP về mức xử phạt “Hành vi vi phạm quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đầu tư xây dựng các dự án sử dụng NSNN, tiền, tài sản nhà nước gây lãng phí”. - Công tác cán bộ: Bố trí cán bộ làm công tác thẩm tra quyết toán phải có đủ năng lực để phát hiện ra những sai phạm, như khối lượng khai khống, áp dụng định mức, đơn giá cao hơn quy định, phải đảm bảo thời gian thẩm tra đúng quy định. Kiến quyết chống mọi biểu hiện tiêu cực, vụ lợi các nhân, thông qua việc hợp thức hoá cho nhà thầu. 3.2.6. Tăng cường công tác thanh tra, giám sát Hoạt động thanh tra, kiểm tra về đầu tư và quản lý vốn đầu tư XDCB là chức năng quan trọng và cần thiết nhằm hạn chế thất thoát, lãng phí vốn của Nhà nước. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 96 UBND Thành phố cần có kế hoạch cụ thể về thanh tra, kiểm tra công trình được đầu tư từ NSNN, hạn chế tối đã sự trùng lặp, chồng chéo trong thanh tra gây khó khăn, mất thời gian cho các đối tượng thanh tra. Thường xuyên có những giải pháp nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ làm thanh tra, đặc biệt là chấn chỉnh thái độ, đạo đức của cán bộ thanh tra, khi phát hiện ra hiện tượng có thỏa thuận giữa cán bộ thanh tra và chủ đầu tư, nhà thầu thì phải xử lý nghiêm. Các đợt thanh tra cần tập trung vào những khâu yếu kém có nhiều dư luận xã hội và phản ánh của cộng đồng; làm rõ sai phạm, quy trách nhiệm và xử lý nghiêm những cán bộ, công chức thiếu năng lực, thiếu tinh thần trách nhiệm gây lãng phí thất thoát, dẫn đến hậu quả chất lượng công trình kém... Chống thông đồng, móc ngoặc giữa chủ đầu tư và tổ chức tư vấn, chống khép kín trong công tác giám sát, đánh giá đầu tư. Thực hiện nghiêm túc kết luận của thanh tra, kiểm toán Nhà nước và các cơ quan khác, công khai kết quả giải quyết, xử lý những vi phạm đã được phát hiện. Tăng cường chỉ đạo thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư đi vào thực chất tránh hình thức, đối phó. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân thực hiện quyền kiểm tra giám sát đầu tư cộng đồng và công khai tài chính trong việc quản lý và sử dụng vốn, tài sản Nhà nước và các khoản đóng góp của dân theo quy định của pháp luật. Khuyến khích dân cư sinh sống trên địa bàn tự nguyện tham gia hoạt động giám sát cộng đồng trong lĩnh vực đầu tư; nhằm phát hiện, kiến nghị với cơ quan Nhà nước kịp thời ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm về quản lý đầu tư, hạn chế lãng phí, thất thoát vốn và tài sản nhà nước, xâm hại lợi ích của cộng đồng. Tóm lại, nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra, thực hiện tốt công tác giám sát đầu tư cộng đồng và công khai tài chính trong đầu tư XDCB là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư XDCB, hạn chế đến mức thấp nhất lãng phí thất thoát vốn đầu tư của Nhà nước. 3.2.7. Một số giải pháp khác Để khắc phục những tồn tại, yếu kém trong quản lý VĐTTNS, ngoài những giải pháp nêu trên, thì việc tăng cường lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng và mang tính định hướng rõ rệt. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh t ́ Huế 97 a. Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức và nhân dân, đặc biệt là người đứng đầu đơn vị, địa phương trong thực hiện công tác phòng, chống thất thoát, lãng phí nguồn vốn NSNN trong đầu tư XDCB. - Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, xác định công tác phòng, chống thất thoát, lãng phí trong vốn đầu tư XDCB là nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, lâu dài. - Tăng cường quản lý việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và quan hệ xã hội của đảng viên, cán bộ, công chức; thường xuyên giáo dục, nhắc nhở, kiểm tra và kịp thời xử lý những trường hợp có dấu hiệu vi phạm. Đưa nội dung phòng, chống thất thoát, lãng phí vào tiêu chuẩn phân tích chất lượng tổ chức Đảng và đảng viên hàng năm. Thực hiện có hiệu quả cơ chế chất vấn trong sinh hoạt Đảng. - Lãnh đạo phát huy vai trò kiểm tra, giám sát của các tổ chức chính trị-xã hội. Chỉ đạo sơ kết rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng thực hiện chủ trương cán bộ chủ chốt phường - xã, thị trấn tự phê bình và phê bình trước hội nghị nhân dân do UBMTTQ tổ chức. b. Công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư XDCB Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động của các phòng ban chức năng, theo hướng tinh gọn, xác định rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân; thực hiện tốt công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bố trí, luân chuyển cán bộ; giáo dục đạo đức lối sống, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức. - Thực hiện tốt việc công khai, minh bạch trong tất cả các khâu từ khâu lập kế hoạch, tính dự toán, đến quản lý xây dựng của các cấp; chú trọng quản lý chặt chẽ nguồn vốn ngân sách. - Duy trì thực hiện chế độ khảo sát về sự hài lòng của công dân đối với các công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách, qua đó kịp thời chỉ đạo chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại, yếu kém của các nhà thầu cũng như sự giám sát của các cơ quan có thẩm quyền. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 98 c. Nâng cao trình độ cán bộ quản lý các dự án đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ là nhân tố rất quan trọng tác động to lớn đến việc quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN. Những tồn tại trong công tác quản lý vốn đầu tư của Thành phố Đồng Hới trong thời gian qua có nguyên nhân do hạn chế về trình độ năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ công chức. Để khắc phục tình trạng trên, trong thời gian tới cần tập trung vào các giải pháp cụ thể sau: - Tiến hành rà soát, đánh giá lại một cách cơ bản đội ngũ cán bộ đang làm công tác ở lĩnh vực đầu tư xây dựng; trên cơ sở đó định hướng sắp xếp, bố trí lại đội ngũ cán bộ cho hợp lý, bố trí đúng người đúng việc, phù hợp với khả năng và trình độ chuyên môn của cán bộ. Kiên quyết thay thế những cán bộ yếu kém về năng lực và phẩm chất, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. - Đối với công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm nhiệm vụ quản lý vốn đầu tư XDCB cần được chú ý đúng mức, thông qua việc mở các lớp tập huấn chuyên môn để cập nhật kịp thời kiến thức mới về quản lý đầu tư XDCB, đáp ứng yêu cầu quản lý hiện nay trong điều kiện cơ chế chính sách có nhiều thay đổi. - Về lâu dài, phải có kế hoạch tuyển dụng thu hút nhân tài là con em quê hương về công tác tại tỉnh; quy hoạch và cử cán bộ trẻ, có năng lực chuyên môn, có nghiệp vụ thành thạo đưa đi đào tạo bài bản ở các trường đại học và cam kết công tác lâu dài tại địa phương. Đồng thời có chế độ hỗ trợ phù hợp để động viên khuyến khích nhân tài. Tiểu kết chương 3 Trong chương 3, tác giả luận văn căn cứ pháp lý, các quan điểm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB để đưa ra nhóm gồm 07 giải pháp nhằm hoanf thiện và nâng cao công tác quản lý vốn tại Ban quảng lý dự án đầu tư xây dựng thành phố Đồng Hới để ngày càng nâng cao nguồn lực, điều kiện, các chỉ tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội của thành phố Đồng Hới phù hợp với thực triễn và định hướng đến những năm, tiếp theo. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 99 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. KẾT LUẬN Trong quá trình nghiên cứu đã được làm rõ thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư và các giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách tại BQLDA thành phố Đồng Hới, trong giới hạn này, tác giả rút ra một số kết luận cơ bản như sau: Thành phố Đồng Hới là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học kỹ thuật của tỉnh Quảng Bình, ngày 30 tháng 7 năm 2014 Thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số 1270/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Đồng Hới là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Quảng Bình. Việc công nhận thành phố Đồng Hới là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Quảng Bình sẽ tạo cho thành phố tiền đề để phát huy tối đa những tiềm năng tự nhiên, tạo thế và lực mới trong xu thế hội nhập, góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng cũng như phát triển thành phố trở thành trung tâm lớn về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của vùng Bắc Trung bộ xứng đáng thành phố du lịch của miền trung. Do vậy, việc đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ bản là giải pháp quan trọng có ý nghĩa chiến lược nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Với hệ thống luật và văn bản quản lý của nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản ngày càng được hoàn thiện, đã tạo cơ sở pháp lý cho địa phương triển khai thực hiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách tại BQLDA thành phố Đồng Hới đảm bảo đúng quy trình. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện đã nảy sinh nhiều điểm bất cập, chịu tác động cơ bản bởi các yếu tố cấu thành cơ bản gồm: (1)Công tác lập kế hoạch đầu tư chưa sát với tình hình thực tế; (2)Công tác lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư và giai đoạn chuẩn bị đầu tư như giải phóng mặt bằng, sự phối hợp giữa các đơn vị chức năng chưa tốt; (3) Công tác tổ chức chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh, đấu thầu và quản lý thi công còn nhiều bất cập; (4) Công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB chưa được chú trọng bởi công tác nhân lực và (5) Cơ chế và văn bản pháp luật liên quan đến quản lý đầu tư xây dựng có những hạn chế, chồng chéo, thay đổi liên tục nên ảnh hưởng nhất định đến công tác quản lý vốn. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 100 Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra những hàm ý, những điểm cần phải quan tâm, hoàn thiện các bước trong công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách tại BQLDA thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Dựa trên các kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất 07 nhóm giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB tại BQLDA thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, bao gồm:1) Nâng cao chất lượng công tác lập dự án, lập kế hoạch vốn đầu tư; 2)Nâng cao chất lượng thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư; 3) Tăng cường công tác quản lý lựa chọn nhà thầu; 4) Nâng cao chất lượng kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB; 5) Đẩy nhanh công tác Quyết toán dự án hoàn thành; 6) Tăng cường công tác thanh tra, giám sát; (7) Một số giải pháp khác. Đây là một hệ thống các giải pháp đồng bộ, có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong quá trình tổ chức thực hiện không nên xem nhẹ bất kỳ một giải pháp nào. Tuy nhiên, trong từng trường hợp cụ thể, tùy vào tình hình thực tế mà sử dụng hệ thống các giải pháp này một cách linh hoạt nhằm đáp ứng các mục tiêu, hiệu quả kinh tế - xã hội mà dự án đã đặt ra. 2. KIẾN NGHỊ Tùy vào từng cấp, từng đối tượng đề tài đưa ra một số kiến nghị sau: Đối với Chính phủ và các bộ ngành - Cần xây dựng hệ thống pháp lý phải đủ mạnh, rõ ràng, tập trung, dễ hiểu, đảm bảo cho các cấp chính quyền chủ động, độc lập trong việc quyết định đầu tư trên cơ sở kế hoạch và chiến lược dài hạn đã được Chính phủ và các cấp có thẩm quyền phê duyệt. - Trong một khoảng thời gian ngắn không nên ban hành quá nhiều văn bản chồng chéo tránh trường hợp văn bản trước chưa kịp thực hiện lại có văn bản mới thay thế, bổ sung. Trong trường hợp cần thiết thì phải chuẩn bị các văn bản dưới Luật cùng một lúc với Luật để triển khai thực hiện kịp thời, bổ sung các nội dung thay đổi mới cho phù hợp với tình hình thực tế, sau đó phổ biến để quán triệt các chính sách chế độ đầu tư đến các cấp, cán bộ lãnh đạo và chuyên viên; nhất là những người làm chức năng, nhiệm vụ quản lý đầu tư và tránh tình trạng Luật chờ Nghị định, Thông tư hướng dẫn. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 101 - Giảm bớt thủ tục hành chính không cần thiết nhằm tạo điều kiện thông thoáng thực hiện các dự án đầu tư, cắt bớt những thủ tục rườm rà làm chậm tiến độ triển khai dự án. - Hiện tại một số luật hướng dẫn đang vướng phải các thủ tục đầu tư như Luật Đầu tư công, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu đang có sự mẫu thuẫn ở một số nội dung trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Đề nghị xem xét hướng dẫn trên cơ sở có văn bản bản chỉ đạo hay điều chỉnh kịp thời, tạo điều kiện cho địa phương áp dụng đúng quy định. Đối với UBND tỉnh Quảng Bình Dựa vào đặc điểm tình hình phát triển kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ, mỗi khi Nhà nước ban hành các Nghị định, thông tư quy định và hướng dẫn về đầu tư và xây dựng, UBND tỉnh nên phân cấp mạnh hơn nữa trong quản lý hoạt động đầu tư và có văn bản hướng dẫn kịp thời để tạo quyền chủ động sáng tạo và phát huy quyền tự chủ của các cấp và tổ chức hướng dẫn kịp thời. - Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, có kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về nhu cầu vốn đầu tư để phân bổ nguồn lực hợp lý và tiết kiệm. Phân cấp quản lý vốn đầu tư cho các đơn vị Thành phố, huyện để cơ sở có quyền chủ động trong công tác quản lý vốn đầu tư. - Cần ban hành quy chế, quy định rõ trách nhiệm về vật chất và hành chính của từng đơn vị liên quan đến quá trình đầu tư xây dựng; phân định quyền hạn và trách nhiệm kinh tế của chủ đầu tư, ban QLDA, các tổ chức tư vấn trong quản lý bằng những quy định cụ thể. - Cần quan tâm hơn nữa đến công tác tổ chức, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý đầu tư. Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính nhằm sắp xếp, tinh giản bộ máy theo hướng tinh gọn và tập trung, không có sự chồng chéo về chức năng và nhiệm vụ; chống quan liêu, cửa quyền, nâng cao hiệu lực hoạt động của chính quyền các cấp trong Tỉnh. Thực hiện luân chuyển cán bộ hoạt động trong lĩnh vực hoạt động đầu tư xây dựng; đồng thời tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng để hạn chế các tiêu cực nảy sinh trong hoạt động đầu tư xây dựng. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 102 Hoàn thiện hệ thống thu thập, xử lý và sử dụng các thông tin (xác định các thông tin báo cáo, hệ thống thu thập và xử lý thông tin); xác định rõ trách nhiệm cung cấp thông tin đối với những cơ quan liên quan. Tập trung xây dựng và phát triển công tác dự báo và phân tích kinh tế; coi trọng vào các dự báo ngắn hạn; xử lý nhanh, kịp thời những thông tin có tác động trực tiếp đến điều hành kế hoạch nhằm hạn chế tổn thất các nguồn lực. Từ đó có kế hoạch phân bổ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trung ương, ngân sách tỉnh cho phù hợp với đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương (cấp huyện) trực thuộc tỉnh. Chỉ đạo các cơ quan liên quan như Sở Tài chính, Sở xây dựng phối hợp thực hiện làm đơn giá kịp thời, phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường để không bị trượt giá quá nhiều. Đối với UBND thành phố Đồng Hới Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế xã hội của thành phố, có kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về nhu cầu vốn đầu tư để phân bổ nguồn lực hợp lý và tiết kiệm. Phân cấp quản lý vốn đầu tư cho các đơn vị trực thuộc thành phố (xã, phường..) để cơ sở có quyền chủ động trong công tác quản lý vốn đầu tư. Tại mỗi cấp, đơn vị được giao quyền làm chủ đầu tư cần ban hành quy chế, quy định rõ trách nhiệm về vật chất và hành chính của từng cá nhân liên quan đến quá trình đầu tư xây dựng; phân định quyền hạn và trách nhiệm vật chất của chủ đầu tư, ban QLDA, các tổ chức tư vấn trong quản lý bằng những quy định cụ thể. Thành phố phải có những chính sách đồng bộ nhằm tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, thông thoáng, minh bạch và có tính cạnh tranh cao. Cần đẩy nhanh tốc độ giải ngân, tập trung quyết toán dứt điểm đối với các công trình đã hoàn thành để bàn giao đưa vào sử dụng tránh tình trạng nợ đọng vốn xây dựng cơ bản. Thành phố cần phải quan tâm hơn nữa đến công tác tổ chức, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý đầu tư. Vì nhân tố con người có tầm quan trọng đặc biệt trong phát triển khoa học và công nghệ tiên tiến. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 103 Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính nhằm sắp xếp, tinh giản bộ máy theo hướng tinh gọn và tập trung, không có sự chồng chéo về chức năng và nhiệm vụ; chống quan liêu, cửa quyền, nâng cao hiệu lực hoạt động của chính quyền các cấp trong thành phố. Thực hiện luân chuyển vị trí công tác cán bộ hoạt động trong lĩnh vực hoạt động đầu tư xây dựng; đồng thời tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng để hạn chế các tiêu cực nảy sinh trong hoạt động đầu tư xây dựng. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 104 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Giáo trình Kinh tế Đầu tư, Đại học Đà Nẵng, (2014), Tài liệu lưu hành nội bộ. [2]. Đại học Kinh tế quốc dân (2013), Lý luận cơ bản về vốn đầu tư XDCB và quản lý vốn đầu tư XDCB [3]. Chính phủ (2014), Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 về hướng dẫn Luật Đấu thầu. [4]. Chính phủ (2015), Nghị định số 136/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 về hướng dẫn một số điều của Luật Đầu tư công. [5]. Chính phủ (2015), Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. [6]. Chính phủ (2015), Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng. [7]. Chính phủ (2015), Nghị định số 77/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 về Kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm. [8]. Quốc Hội khóa 13 (2013), Luật Đấu thầu năm 2013, Hà Nội. [9]. Quốc Hội khóa 13 (2014), Luật Đầu tư công năm 2014, Hà Nội. [10]. Quốc Hội khóa 13 (2014), Luật Đầu tư năm 2014, Hà Nội. [11]. Quốc Hội khóa 13 (2014), Luật Ngân sách năm 2015, Hà Nội. [12]. Quốc Hội khóa 13 (2014), Luật Xây dựng năm 2014, Hà Nội. [13]. Chi cục Thống kê Đồng Hới (2014), Niên giám thống kê Thành phố Đồng Hới năm 2014, Quảng Bình. [14]. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Thành phố Đồng Hới đến năm 2020 tầm nhìn 2025 Được phê duyệt tại Quyết định số 396/QĐ- UBND ngày 22/02/2013 của UBND tỉnh Quảng Bình. [15]. Lê Toàn Thắng (2012), “Quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN của Thành phố Hà Nội”. Luận văn Thạc sĩ. [16]. Cấn Quang Tuấn (2009): “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB tập trung từ NSNN do Thành phố Hà Nội quản lý” năm 2009, đề tài luận án tiến sĩ. [17]. Nguyễn Văn Tuấn (2013), với bài báo “Quản lý vốn đầu tư từ NSNN” Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 12 Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế 105 [18]. Vũ Ngọc Tuấn, Đàm Văn Huệ (2014) Nhìn lại nguyên tắc ngân sách thường niên theo quan niệm cổ điển và việc tuân thủ nguyên tắc trong quản lý ngân sách tại Việt Nam. Tạp chí KT&PT, số 201 (II) tháng 03, tr. 21-28. [19]. UBND thành phố Đồng Hới (2011), Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đồng Hới đến năm 2020, tầm nhìn 2025. [20]. UBND tỉnh Quảng Bình (2010), Quyết định số 12/2010/QĐ-UBND ngày 22/11/2010 của UBND tỉnh Quảng Bình về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách tỉnh Quảng Bình năm 2011 và thời kỳ ổn định ngân sách mới theo quy định của Luật ngân sách. Đại học Kinh tế Huế Đại học kinh tế Huế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfhoan_thien_cong_tac_quan_ly_von_dau_tu_xay_dung_co_ban_tu_nguon_ngan_sach_tai_ban_qua_n_ly_du_a_n_da.pdf
Luận văn liên quan