Luận văn Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - Điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp trong đó có Viện kiểm sát (VKS) là một đòi hỏi có tính cấp bách của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: "Viện kiểm sát nhân dân tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp", yêu cầu trên đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức VKS năm 2002. Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự thể hiện chức năng của VKS, bảo đảm hoạt động khởi tố - điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Đồng thời còn là biểu hiện của việc thực hiện quyền lực nhà nước góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, Nghị quyết số 08/NQTW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị đã đặt ra yêu cầu: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng làm nhiệm vụ . Tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, bảo đảm đúng pháp luật; những trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ. Viện kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm về những oan, sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình". Để đáp ứng yêu cầu này ngành kiểm sát phải không ngừng nâng cao chất lượng thực hiện chức năng của mình trong quá trình giải quyết vụ án. Thực tiễn những năm qua cho thấy, VKS đã cố gắng thực hiện tốt chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự góp phần có hiệu quả trong đấu tranh, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động của VKS vẫn còn có những hạn chế trong việc thực hiện chức năng của mình, như: Vẫn để xảy ra tình trạng hồ sơ vụ án phải trả để điều tra bổ sung nhiều, vẫn còn nhiều người bị bắt, khởi tố, điều tra oan, sai. Theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) trong năm 2000: Trong cả nước có 92/ 8850 người bị lạm dụng bắt khẩn cấp; Cơ quan điều tra (CQĐT) và VKS đã đình chỉ 362 vụ án vì không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm, trong số bị can bị đình chỉ thì có 1939 người bị áp dụng biện pháp tạm giam; trong thời gian từ 1/12/2001 đến 31/11/2002 trong cả nước có 1925 vụ/ tổng số 49684 vụ án VKS các cấp phải trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung v.v . Những hạn chế đó đã gây ra những hậu quả về danh dự, nhân phẩm cũng như vật chất đối với những người bị bắt, khởi tố - điều tra oan, sai hơn nữa còn làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của ngành kiểm sát nói riêng và các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung trước quần chúng nhân dân và dư luận xã hội. Thời gian qua Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung và ban hành nhiều văn bản pháp luật như: Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Luật tổ chức VKS năm 2002 và BLTTHS năm 2003 nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và VKS nói riêng. Các văn bản pháp luật trên có nhiều quy định mới liên quan đến chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS. Vì vậy, cần nghiên cứu làm rõ nội dung các quy định của luật góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát của VKS. Từ các yêu cầu đặt ra nói trên, thì việc nghiên cứu chức năng "Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát" là hết sức cần thiết cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Nên tôi đã chọn đề tài này làm đề tài cho luận văn của mình. 2. Tình hình nghiên cứu Kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự là một đề tài rộng. Đề tài này đã được một số tác giả nghiên cứu và các công trình khoa học đó đã công bố, như: Tác giả Nguyễn Thành Trì, Luận văn cao học luật, năm 1996 "Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn khởi tố điều tra án hình sự"; tác giả Vũ Thị Xuân Nhuệ, Luận văn cao học luật, năm 1998, "Một số hoạt động kiểm sát điều tra án kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh". Các công trình khoa học nói trên mặc dù có đề cập đến chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự của VKS, nhưng lại nghiên cứu đối với vụ án kinh tế hay mới dừng lại ở hoạt động nghiệp vụ kiểm sát khởi tố - điều tra, mà chưa đi sâu làm rõ về mặt lý luận chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự là một trong hai chức năng chính của VKS. Hơn nữa, các công trình khoa học đó nghiên cứu trên cơ sở các quy định của các văn bản pháp luật quy định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự trước đây, hiện nay các văn bản pháp luật đó đã được sửa đổi, bổ sung với nhiều quy định mới. Do vậy, hiện nay tiếp tục cần có sự nghiên cứu cụ thể và toàn diện hơn. Luận văn nghiên cứu tương đối toàn diện lý luận và thực tiễn chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách tư pháp. 3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu chức năng "Kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự" nhằm làm rõ bản chất của hoạt động này trong giai đoạn khởi tố - điều tra và mối liên hệ chặt chẽ giữa các khâu kiểm sát trong hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự. Luận văn cũng nghiên cứu thực trạng hoạt động kiểm sát tư pháp của VKS trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự từ năm 1999 đến nay. Trên cơ sở đó chỉ ra những hạn chế của hoạt động này và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự. Để thực hiện mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ: - Làm sáng tỏ lý luận về giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự; hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra trong tố tụng hình sự. - Khảo sát thực tiễn thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự của VKS, từ đó thấy được những ưu điểm, tích cực và mặt hạn chế để từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chức năng này. Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận cơ bản về giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự và hoạt động kiểm sát của VKS trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự. Luận văn giới hạn việc khảo sát thực tiễn từ năm 1999 đến nay trên địa bàn toàn quốc. 4. Ý nghĩa và điểm mới của luận văn Các kết quả của luận văn có ý nghĩa nhất định về mặt khoa học góp phần xây dựng một cách nhìn toàn diện về hoạt động kiểm sát của VKS trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự. Qua đó thấy được vai trò to lớn của VKS trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Luận văn có nêu ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho công tác Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự của VKS. Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu tác giả có sự so sánh giữa các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) 1988 với các quy định của BLTTHS 2003 để thấy được những điểm mới liên quan đến hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự. Hơn nữa, các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập cũng như làm tài liệu cho các cán bộ kiểm sát trong hoạt động nghiệp vụ của mình. 5. Cơ sở lý luận Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở nhận thức luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phương pháp luận là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Đồng thời để phục vụ các nhiệm vụ khoa đặt ra từ đề tài luận văn, luận văn có sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, tổng hợp, so sánh và khảo sát thực tế. 6. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giai đoạn khởi tố - điều tra và hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra trong tố tụng hình sự. Chương 2: Pháp luật về kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự. Chương 3: Thực trạng, giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự.

doc132 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/08/2013 | Lượt xem: 1038 | Lượt tải: 11download
Tóm tắt tài liệu Luận văn Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - Điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ra lối cửa sau nhà, qua bờ mẫu,tắt qua ruộng chạy thẳng về nhà bà Sáu Tỷ (dì ruột của Trình) rồi đi ngủ. Khoảng 13 giờ ngày 4/4/1994 một số người ở ấp ánh Dân phát hiện tại nhà ông Kiểng có vụ án mạng xảy ra. Anh Dương Công Tắc là chú họ các nạn nhân đã cùng một số người đưa cháu An đi cấp cứu. Trên đường đi có lúc cháu An tỉnh mọi người hỏi thì cháu nói: "Trình chém chị Chi, chị Nương và đánh con", trên cơ sở lời khai này chính quyền và công an xã Nguyễn Huân đã đưa Lê Văn Trình sinh 1977 về trụ sở UBND xã vào lúc 16 giờ cùng ngày, trên đường dẫn giải Trình đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và khi được hỏi có ai cùng tham gia thì khai có Tô Trường Giang sinh năm 1974 ở cùng ấp tham gia gây ra vụ án này. Công an xã đã lấy biên bản ghi lời khai của Trình và trên cơ sở lời khai này vào khoản 18 giờ cùng ngày đã đưa Giang đến trụ sở UBND xã xét hỏi, đồng thời báo cáo vụ việc lên công an huyện và tổ chức bảo vệ hiện trường. Sau khi nhận được tin có án mạng Công an, VKS huyện Đầm Dơi cùng cán bộ y tế huyện đến tại hiện trường để bảo vệ và thu thập nguồn tin ban đầu, chiều ngày 4/4/1994 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh (Minh hải) nhận được tin báo, ông Nguyễn Đình Việt phó thủ trưởng Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh đã ra quyết định khởi tố vụ án về tội "hiếp dâm, giết người", đồng thời tổ chức đoàn khám nghiệm hiện trường gồm: cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh cử điều tra viên Trần Thanh Kiên chủ trì, điều tra viên Nguyễn Thanh Tòng thành viên; cơ quan kỹ thuật hình sự công an tỉnh cử cán bộ Nguyễn Hoàng Phúc tham gia; VKSND tỉnh cử kiểm sát viên sơ cấp Trần Ngọc Phúc tham gia kiểm sát khám nghiệm. Đầu giờ chiều ngày 5/4/94 đoàn khám nghiệm có mặt tại nơi xảy ra tội phạm, tại đó có bác sĩ Huỳnh Tấn Kiệt (không phải bác sĩ pháp y) mà là cán bộ trung tâm y tế huyện được mời thành lập hội đồng khám nghiệm hiện trường. Theo biên bản khám nghiệm hiện trường và bản ảnh thì xác của cháu Chi và cháu Nương nằm ngửa dưới đất cùng một chỗ lọt vào khe trống có chiều rộng 57cm giữa chân giường trong và tường nhà. Xác của cháu Chi nằm dưới không mặc quần, chân của cháu Nương gác chéo qua đùi của cháu Chi, đầu của cháu Nương ở trong gầm giường. Các dấu vết có trên hiện trường như các vết máu trên nền nhà, vết máu trên các đồ vật, vết máu kéo dài trên bao lúa, các vật chứng, đồ vật mang dấu vết tội phạm như chiếc quần dính máu dưới cán búa, chiếc quần dài cuộn lòng quân lót dắt trên vách nhà, trên đầu cây trên sàn nước ngay lối đi cửa sau nhà có vết máu. Các vật chứng thu được tại hiện trường như cái búa, quẹt gas, mẫu máu tại hiện trường, quần áo dính máu của nạn nhân, cũng như của bị can không đóng gói niêm phong, không tiến hành khám mở rộng hiện trường quanh nhà. Khám nghiệm bổ sung ngày 7/4/94 tại hiện trường để thu thập dấu chân trên bùn nghi là của tội phạm để lại khi rút chạy nhưng chỉ có Điều tra viên Trần Thanh Kiên, Nguyễn Thanh Tòng tiến hành thực hiện và thuê thợ ảnh tư nhân chụp dấu vết chân, vẽ sơ đồ, mô tả dấu vết sơ sài, không rõ, không yêu cầu lấy phim đã chụp dấu vết chân, tài liệu này điều tra viên không để vào hồ sơ vụ án. Từ năm 1994 đến năm 1998, Tòa án nhân dân đã 4 lần đưa vụ án ra xét xử Lê Văn Trình về tội " hiếp dâm, giết người" và tuyên phạt 20 năm tù giam (vì Trình là người chưa thành niên phạm tội). Sau đó Trình có đơn kháng cáo, do vụ việc phức tạp nên tháng 7/1996 CQĐT Bộ công an và VKS Tối cao đã thụ lý giải quyết vụ việc, kết thúc điều tra không chứng minh được hành vi phạm tội của Tô Trường Giang nên phải đình chỉ điều tra đối với Tô Trường Giang. Tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh qua cả 2 lần xét xử phúc thẩm đều nêu ra nhiều vấn đề mà CQĐT chưa làm rõ, có khả năng bỏ lọt tội phạm đối với Tô Trường Giang, nên Hội đồng xét xử kiến nghị VKSNDTC phục hồi điều tra đối với Tô Trường Giang để làm rõ các chứng cứ của vụ án có liên quan đến hành vi của Giang. Qua nghiên cứu vụ án trên, chúng tôi thấy những vi phạm trong khám nghiệm hiện trường, tử thi đó là: Khám nghiệm hiện trường tại nhà ông Kiểng (nơi xảy ra vụ án) điều tra viên không xác định và thu thập đầu đủ các dấu vết, vật chứng hiện có ở hiện trường như các dấu vết chân, dấu vết vân tay trên búa, bật lửa gas, nền nhà; hai chiếc quần dài của nạn nhân (1 chiếc dưới đất, một chiếc lồng xoắn với chiếc quần lót được dắt trên vách nhà), đôi dép và các dấu vết khác như các vết máu có tại hiện trường; không tiến hành khám nghiệm hiện trường mở rộng. Biên bản hiện trường không phản ánh đầy đủ hiện trường của vụ án, không mô tả các đặc điểm của công cụ phạm tội (cái búa chỉ mô tả lưỡi búa rộng 8cm, cán dài...). Ngoài ra, sơ đồ hiện trường được lập sơ sài, do đó phải làm đi làm lại ba lần. Khi khám nghiệm tử thi không có bác sĩ pháp y, không mổ phẩu thuật tử thi lấy phủ tạng để giám định khoa học xác định thời gian chết của nạn nhân, không giám định nguyên nhân chết của nạn nhân; hoặc trên mặt các nạn nhân có các vết thương hình tam giác (2cm x 1cm) mà đến nay không thể làm rõ được do hung khi nào gây ra, những vi phạm này đã gây khó khăn cho việc điều tra tiếp theo và ảnh hưởng kết quả điều tra vụ án. Là một vụ án đặc biệt nghiêm trọng nhưng VKS tỉnh giao cho kiểm sát viên sơ cấp ít kinh nghiệm trong công tác thực hiện kiểm sát khám nghiệm vụ án dẫn đến thụ động trong quá trình kiểm sát hoạt động khám nghiệm, nên không phát hiện được các vi phạm của CQĐT như đã nói ở trên. 3.2. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT KHỞI TỐ - ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ Sở dĩ có những hạn chế trong việc thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động khởi tố - điều tra như đã trình bày ở trên là xuất phát từ những nguyên nhân sau: a) Quy định của pháp luật: Hệ thống pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự mặc dù đã được ban hành khá đầy đủ, nhưng có nhiều vấn đề chưa được hướng dẫn kịp thời, hoặc tuy có hướng dẫn nhưng lại hướng dẫn đơn ngành, dẫn đến việc nhận thức và áp dụng không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Ví dụ, trong thực tiễn công tác kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, VKS hầu như chỉ thực hiện chức năng kiểm sát quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, còn quyết định không khởi tố vụ án hình sự gần như không kiểm sát được vì không có cơ sở pháp lý, vì CQĐT xuất phát từ nhận thức cho rằng chỉ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì CQĐT mới phải gửi quyết định đó cho VKS theo như quy định tại Khoản 3 Điều 87 BLTTHS "trong thời hạn 24 giờ quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT,... được gửi đến VKS để kiểm sát việc khởi tố". Bên cạnh đó, hiện nay việc hướng dẫn vấn đề xác định giá trị tài sản bị xâm hại trong các tội xâm phạm sở hữu để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đặt ra nhiều vấn đề khó khăn và bất cập trong thực tiễn áp dụng. Ví dụ: hiện nay khi định giá một số tài sản bị chiếm đoạt nhưng là những tài sản đã qua sử dụng như xe máy, xe đạp, đồng hồ...trong trường hợp không thu được số tài sản đã bị chiếm đoạt thì cơ quan tiến hành tố tụng thường chỉ căn cứ vào lời khai của bị hại hoặc người liên quan khác biết về tài sản đó rồi đối chiếu với giá thị trường tại thời điểm người bị hại mất tài sản mà định giá tài sản làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự, việc định giá này theo chúng tôi là thiếu tính khách quan vì nếu căn cứ vào lời khai của bị hại thì tài sản thường được định giá cao lên so với giá thực tế trên thị trường với mục đích được đền bù thoả đáng, do vậy để lấy một mức giá chính xác làm căn cứ khởi tố là rất khó, nhất là những tài sản có giá trị chênh lệch không đáng kể so với mức giá trị được quy đổi thành tiền ở cấu thành cơ bản trong các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại BLHS 1999. Trong trường hợp CQĐT thu hồi được các tài sản bị xâm hại, việc định giá tài sản trong trường hợp này phải trưng cầu cơ quan chuyên môn tham gia định giá tài sản (cơ quan tài chính), nhưng việc định giá trong nhiều trường hợp không chính xác vì giá thị trường thường có sự biến động lên xuống khác nhau, trong khi đó hành vi phạm tội thường được thực hiện trước khi bị phát hiện một khoảng thời gian dài và nếu khoảng thời gian này càng dài thì càng khó khăn cho việc xác định phần chất lượng còn lại và lại phải định giá theo giá thị trường tại thời điểm tài sản bị mất, hơn nữa việc định giá theo kiểu này còn phát sinh những tiêu cực như thông đồng định giá tài sản phạm pháp thấp hơn số tiền được quy định ở cấu thành tội phạm để chạy tội cho người phạm tội hoặc cố tình nâng giá tài sản lên cao để đưa người bị bắt vào vòng tố tụng nhằm biện bạch cho những việc làm đã rồi, như đã khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam. b) Tổ chức thực hiện chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự Theo mô hình tổ chức thực hiện chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự, VKS phải thực hiện chức năng kiểm sát ngay từ khơi khởi tố vụ án. Nhưng do không thực hiện kiểm sát từ đầu nên công tác kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự trở nên thụ động, phụ thuộc vào kết quả điều tra của CQĐT nên VKS không kịp thời phát hiện ra các vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra cũng như không chỉ đạo được quá trình điều tra làm cho hoạt động điều tra sơ sài, qua loa cho xong việc nên vụ án thiếu chứng cứ, vi phạm pháp luật tố tụng… cho đến khi vụ án kết thúc điều tra chuyển VKS truy tố mới phát hiện được vi phạm phải trả lại yêu cầu điều tra bổ sung. Hạn chế đó đã làm cho quá trình giải quyết vụ án bị kéo dài. Do không kiểm sát khởi tố - điều tra từ đầu nên nhiều đơn vị nghiệp vụ kiểm sát điều tra vô tình đã trở thành khâu trung gian giữa khởi tố - điều tra với xét xử mà không khẳng định được đúng vai trò của mình, khi xây dựng cáo trạng để quyết định truy tố bị can ra xét xử công khai tại phiên Tòa đã sao chép bản kết luận điều tra một cách thụ động. Ngoài ra, trong quan hệ phối hợp giải quyết án hình sự với CQĐT, các Kiểm sát viên vẫn còn biểu hiện của tư tưởng ngại va chạm, xuôi chiều, để mặc cho CQĐT thực hiện các hoạt động điều tra, nên không sâu sát, kịp thời phát hiện ra các vi phạm pháp luật, hoặc ỷ lại vào sự chỉ đạo của cấp trên hay của liên ngành mà các Kiểm sát viên chưa chủ động đề ra các yêu cầu điều tra, yêu cầu CQĐT khắc phục vi phạm. Hơn nữa, công tác kiến nghị đối với các vi phạm pháp luật của CQĐT chưa đã các VKS làm thường xuyên và đều đặn ở cả ba cấp. c) Công tác cán bộ Đất nước trong thời kỳ đổi mới, chính sách hội nhập kinh tế thế giới và khu vực đã tạo ra những thuận lợi to lớn cho phát triển kinh tế - xã hội. Nhưng bên cạnh đó cũng nảy sinh ra những khó khăn mới trong quá trình điều tra xử lý tội phạm, nhất là các tội phạm mang tính xuyên quốc gia hoặc tội phạm có yếu tố nước ngoài, như các tội phạm về kinh tế, tội phạm về ma túy... Mặt khác tình hình tội phạm ở trong nước còn diễn biến phức tạp; quy mô tính chất mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng; thủ đoạn hoạt động phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt; số lượng các vụ án hình sự xảy ra nhiều và có chiều hướng gia tăng, năm sau cao hơn năm trước, nhưng nhiều VKS chưa kịp thời bổ sung biên chế, dẫn đến tình trạng một Kiểm sát viên kiểm sát điều tra một số lượng vụ án quá lớn, đặc biệt là ở các thành phố trực thuộc trung ương như Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh hay một số thành phố trực thuộc tỉnh. Trong khi yêu cầu chứng minh tội phạm và thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự ngày càng đòi hỏi chặt chẽ hơn, tránh để xảy ra oan, sai trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Ngoài ra, do thái độ, tinh thần trách nhiệm của nhiều kiểm sát viên được phân công kiểm sát khởi tố - điều tra chưa cao, không nghiên cứu kỷ hồ sơ vụ án để đánh giá các chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội, các qui trình nghiệp vụ không được coi trọng và thực hiện đúng quy định. Hơn nữa không trau dồi kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm nghiệp vụ nên nhiều quy định của pháp luật không được nhận thức đầy đủ. Bên cạnh đó, còn có một số kiểm sát viên và Điều tra viên không có bản lĩnh vững vàng, kiên quyết đấu tranh chống tội phạm đã bị kẻ xấu lợi dụng mua chuộc để che giấu tội phạm bằng việc không khởi tố để xử lý trước pháp luật, việc làm đó đã ảnh hưởng tới hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Công tác hướng dẫn chỉ đạo của VKS cấp trên đối với VKS cấp dưới có lúc có nơi chưa thực hiện nghiêm túc. Việc tổ chức rút kinh nghiệm và kiểm điểm đối với cán bộ làm công tác kiểm sát điều tra để xảy ra thiếu sót trong việc thực hiện chức năng kiểm sát điều tra chưa được các đơn vị quan tâm và thực hiện có hiệu quả. d) Cơ sở vật chất Trong thời gian qua các cơ quan tư pháp nói chung và VKS nói riêng gặp hết sức khó khăn về cơ sở vật chất, và phương tiện phục vụ cho việc thực hiện chức năng của mình. Đặc biệt là ở cấp huyện có nhiều đơn vị phải đi thuê địa điểm để làm trụ sở hay trụ sở chật chội, phương tiện phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ lại không có v.v...Những khó khăn đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công tác kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự. Theo số liệu thống kê của VKSND Tối cao (tính đến thời điểm tháng 4/2002) toàn ngành mới chỉ có 29,3% số VKS có trụ sở ổn định, đáp ứng yêu cầu làm việc; 23,4% số VKS phải xây dựng mới toàn bộ, nhiều VKS cấp huyện còn phải đi thuê địa điểm, mượn nhà làm trụ sở; 4% số VKS phải sửa chữa, nâng cấp, cải tạo, mở rộng. Số ô tô còn để phục vụ cho công tác còn thiếu; trong số hiện có thì có đến 47% số xe có chất lượng dưới 30% lẽ ra phải thanh lý; máy vi tính, máy phô tô mặc dù đã được trang bị nhưng đến nay đã cũ và kém chất lượng… Những khó khăn trên đã được Bộ chính trị nêu trong Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 2/1/2002 khi đánh giá về nguyên nhân của những tồn tại trong công tác tư pháp trong thời gian qua đã khẳng định: "Cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của các cơ quan tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nhất là ở cấp huyện nhiều nơi trụ sở còn rất chật chội, phương tiện làm việc vừa thiếu lại vừa lạc hậu; chính sách đối với cán bộ tư pháp chưa tương xứng với nhiệm vụ và chức trách được giao". 3.3. GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TRONG KHỞI TỐ - ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ Xuất phát từ những hạn chế trong việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự và những nguyên nhân cơ bản của các hạn chế đó, chúng tôi mạnh dạn nêu lên một số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả việc thực hiện chức năng kiểm sát của VKS trong thời gian tới. 3.3.1. Giải pháp, kiến nghị về xây dựng pháp luật và hoàn thiện pháp luật Để thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra các vụ án hình sự có hiệu quả cao thì điều kiện quyết định là phải có hệ thống pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự quy định thống nhất, đồng bộ. Đặc biệt là các quy định của BLTTHS phải chặt chẽ, cụ thể về trình tự, thủ tục điều tra, kiểm sát điều tra. Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực thi hành từ lâu, nhưng có một số quy định của Bộ luật về các cấu thành tội phạm mới sơ với Bộ luật hình sự năm 1985 nay chưa được hướng dẫn thi hành, vi dụ như cấu thành của các tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"; "tội sử dụng trái phép chất ma túy", hoặc chưa có văn bản hướng dẫn của liên ngành trung ương để làm rõ ranh giới pháp lý giữa "tội phạm" với các tranh chấp có tính chất dân sự, kinh tế dẫn đến những vướng mắc trong quá trình áp dụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, cụ thể theo chúng tôi đề nghị cần tập trung giải thích hướng dẫn làm rõ các dấu hiệu đặc trưng của tội phạm chiếm đoạt ví dụ như các tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" (Điều 139); "tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" (Điều 140); "tội sử dụng trái phép tài sản". Liên ngành trung ương sớm có thông tư hướng dẫn một số khái niệm cơ bản, tình tiết cấu thành tội phạm hoặc khung hình phạt ở một số tội phạm cụ thể quy định trong BLHS năm 1999, không nên để tình trạng từng ngành có hướng dẫn riêng, nhất là những tội phạm trong thực tế thường xảy ra như các tội phạm liên quan đến giá trị tài sản; các tội phạm về ma túy, ví dụ như các tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và "tội sử dụng trái phép chất ma túy". Đồng thời tổ chức sơ tổng kết rút kinh nghiệm để sửa đổi, bổ sung một số thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng một số điều của BLHS trước đây không còn phù hợp với thực tế và diễn biến của tình hình tội phạm, ví dụ như các Thông tư số 01/1998/TTLT- TATC- VKSNDTC-BNV ngày 2/1/1998 và Thông tư số 02/1998 ngày 5/8/1998 hướng dẫn thi hành các quy định của BLHS về các tội phạm ma túy. Ngoài ra, trong BLHS năm 1999 phần lớn các loại tài sản phạm pháp đều được tính thành tiền Việt Nam đồng để làm một trong những căn cứ xác định cấu thành cơ bản hoặc tình tiết định khung tại các khoản, điều của nhiều tội danh khác nhau, ví dụ như các tội "cướp tài sản"; "trộm cắp tài sản"; "cướp giật tài sản"... Việc quy đổi trị giá tài sản phạm pháp thành tiền Việt Nam đồng để xác định trách nhiệm hình sự thay thế cho cách quy đổi tính bằng số lượng gạo như các văn bản hướng dẫn áp dụng BLHS năm 1985 trước đây đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giải quyết các vụ án hình sự nhanh chóng và dễ dàng hơn. Mặc dù việc xác định giá trị tài sản đã có thông tư của liên ngành trung ương hướng dẫn thi hành, nhưng việc vận dụng hướng dẫn đó vào thực tiễn đã phát sinh nhiều trường hợp định giá tài sản không bảo đảm được đầy đủ cơ sở pháp lý và mang nặng tính chủ quan của các cơ quan tiến hành tố tụng, vấn đề thực trạng việc xác định giá trị tài sản phạm pháp chúng tôi đã đề cập ở phần trước, qua thực trạng này chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị sau: Thứ nhất, việc định giá tài sản phạm pháp đã qua sử dụng thì trước khi định giá phải trưng cầu giám định phần chất lượng còn lại của tài sản phạm pháp, đối với những tài sản phức tạp khó định giá thì phải trưng cầu giám định của cả hội đồng định giá thì mới xác định chính xác giá trị các loại tài sản này. Thứ hai, những tài sản phạm pháp còn mới 100% thì việc định giá cần có qui định hướng dẫn thống nhất là giá thị trường nào được áp dụng để làm căn cứ tính giá trị tài sản phạm pháp. Có nghĩa phải lấy giá thị trường nơi tội phạm xảy ra hay giá thị trường chung của toàn quốc, hoặc giá thị trường nơi tổ chức định giá để làm căn cứ áp dụng tính giá trị tài sản phạm pháp? Đối với BLTTHS năm 1988 quy định trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại (Khoản 1 Điều 88), trong đó quy định: "chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của người bị hại". Đây là quy định gây không ít khó khăn cho CQĐT cũng như VKS trong quá trình thực hiện chức năng của mình. Trong thực tiễn đấu tranh chống tội phạm, nhiều vụ việc khi xảy ra tội phạm, người bị hại thường đề nghị cơ quan pháp luật để cho họ và đối tượng phạm tội tự giải quyết, nhưng sau đó do không thỏa mãn về vấn đề bồi thường hay lý do khác, người bị hại khi đó lại có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Khi CQĐT, VKS nhận được đơn yêu cầu khởi tố thì đã quá thời hạn khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Điều 86 BLTTHS và hơn nữa trong những trường hợp này việc xác định dấu hiệu phạm tội gặp rất nhiều khó khăn vì tội phạm đã xảy ra từ lâu. BLTTHS đã không quy định căn cứ để CQĐT, VKS có thể bác đơn yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại trong trường hợp nêu trên và vấn đề này BLTHS năm 2003 nhà làm luật vẫn chưa bổ sung. Do vậy, theo chúng tôi cần có văn bản hướng dẫn việc khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, trong đó quy định cụ thể như sau: "Đối với những vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì trong thời hạn không quá hai mươi ngày kể từ khi tội phạm xảy ra người bị hại phải gửi đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự hoặc không khởi tố vụ án hình sự cho CQĐT hoặc VKS, trong trường hợp có những lý do khách quan dẫn đến việc gửi đơn chậm thì thời hạn gửi đơn không được quá hai tháng kể từ khi tội phạm xảy ra. Nếu quá thời hạn nói trên thì CQĐT, VKS có quyền bác đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của người bị hại". Trên cơ sở các quy định của BLTTHS mới năm 2003, đề nghị liên ngành trung ương xây dựng quy định về " phối hợp hoạt động giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, cụ thể là giữa CQĐT và VKS", trong đó quy định những vấn đề cần thiết để hạn chế việc trả hồ sơ, cần phân định rõ trách nhiệm của mỗi ngành khi thực hiện chức năng để xảy ra sai phạm, tránh việc đùn đẩy, đổ lỗi cho nhau hoặc thiếu sự phối hợp trong quá trình giải quyết án. 3.3.2. Giải phá, kiến nghị để thực hiện tốt các biện pháp nghiệp vụ Với vị trí là cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với CQĐT và các cơ quan khác được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình khởi tố - điều tra vụ án hình sự, VKS có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do BLTTHS quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của các cơ quan nói trên, nhằm bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Do vậy, hơn ai hết VKS các cấp phải nhận thức đúng, đủ chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra các vụ án hình sự được quy định trong BLTTHS và Luật tổ chức VKSND năm 2002. Trước hết đòi hỏi ngành kiểm sát cần tập trung giải quyết triệt để những vấn đề về mặt lý luận như bản chất của các hoạt động tư pháp trong tư pháp hình sự được coi là đối tượng kiểm sát của VKS; phạm vi kiểm sát các hoạt động tư pháp; mối quan hệ giữa chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực tư pháp hình sự... Bởi vì, hiện nay đang có những nhận thức không thống nhất về chức năng của VKS. Đề tài này của chúng tôi được thực hiện cũng là nhằm mong muốn góp phần giải quyết những vấn đề lý luận nói trên với mục đích để nhận thức đúng, đủ về chức năng của VKS. Bên cạnh việc nhận thức đúng, đủ về chức năng của VKS trong giai đoạn khởi tố - điều tra các vụ án hình sự, VKS các cấp còn phải thực hiện tốt các biện pháp nghiệp vụ trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát của mình. Cụ thể phải thực hiện các yêu cầu sau: Thứ nhất, phải tăng cường công tác kiểm sát việc giải quyết các tố giác và tin báo về tội phạm: Để nâng cao hiệu quả công tác đầu tranh chống tội phạm, chống bỏ lọt tội phạm, VKS các cấp cần tăng cường kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các tin báo về tội phạm của CQĐT và các cơ quan khác được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra theo đúng quy định mới của BLTTHS năm 2003. Có biện pháp phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính như UBND các cấp, Thanh tra Nhà nước, Thuế, Quản lý thị trường…để kịp thời nắm được các vi phạm có dấu hiệu tội phạm, từ đó yêu cầu các cơ quan đó chuyển hồ sơ cho CQĐT xử lý. Bên cạnh đó, tăng cường tuyên truyền chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát để nhân dân hiểu, cung cấp cho VKS các thông tin về tội phạm. Thứ hai, thực hiện tốt kiểm sát quyết định khởi tố và quyết định không khởi tố vụ án hình sự: Khi CQĐT có quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự, VKS trực tiếp xem xét các quyết định đó có đúng pháp luật hay không. Nếu VKS các cấp làm tốt công tác kiểm sát khởi tố sẽ hạn chế được số lượng vụ án, bị can đã khởi tố sau đó phải đình chỉ điều tra vì không phạm tội. Muốn làm được như vậy, VKS các cấp phải nắm chắc về số liệu tội phạm đã khởi tố điều tra và tiến hành kiểm sát ngay từ đầu, chỉ chấp nhận khởi tố vụ án và thụ lý kiểm sát điều tra khi đã xác định đầy đủ dấu hiệu phạm tội theo quy định tại Điều 83 BLTTHS, chấp nhận khởi tố bị can để tiến hành điều tra khi có căn cứ quy định tại Điều 103 BLTTHS. Những trường hợp khởi tố vụ án, bị can không có căn cứ phải kiên quyết hủy bỏ quyết định khởi tố trong giai đoạn kiểm sát khởi tố. Đặc biệt, VKS các cấp cần thận trọng trong việc kiểm sát khởi tố các vụ án về các tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"; "Tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản" và "tội sử dụng trái phép tài sản" được quy định trong BLHS năm 1999, nếu thấy có dấu hiệu tranh chấp về hợp đồng và chưa đủ dấu hiệu phạm tội thì cương quyết không khởi tố vụ án hình sự, nếu thấy phức tạp thì phải báo cáo ngay cho VKS cấp trên để chỉ đạo. Trong các tranh chấp về hợp đồng dân sự, kinh tế cần chú ý đến thời hạn hợp đồng, vấn đề thanh lý hợp đồng và yếu tố bảo đảm tài sản trong hợp đồng, các vấn đề này cần phải tiến hành kiểm tra xác minh cụ thể ngay từ đầu, nếu chưa đủ căn cứ để chứng minh dấu hiệu chiếm đoạt thì chưa vội khởi tố vụ án. Thứ ba, thực hiện tốt công tác kiểm sát các hoạt động điều tra: Như Chỉ thị của Viện trưởng - VKSND tối cao tại Hội nghị triển khai công tác kiểm sát năm 2003 đã nêu: "Để thực hiện nghiêm túc các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về chức năng của VKSND, toàn ngành nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử, giam giữ có căn cứ và đúng các quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội". Trước yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, theo chúng tôi VKS các cấp phải thực hiện tốt những nội dung cơ bản đó là: Phải hạn chế đến mức thấp nhất việc phải trả hồ sơ cho CQĐT yêu cầu điều tra bổ sung. Muốn làm được như vậy, VKS các cấp phải phân công kiểm sát viên kiểm sát điều tra, theo dõi chặt chẽ quá trình điều tra để đề ra yêu cầu điều tra. Nhất là cần tăng cường công tác kiểm sát điều tra ngay từ đầu, bám sát tiến độ điều tra và việc điều tra của Điều tra viên trong quá trình thu thập chứng cứ. Phải chú trọng kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, đối chất, kiểm tra chặt chẽ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, đảm bảo chất lượng hồ sơ. VKS các cấp cần xây dựng chế độ trách nhiệm rõ ràng đối với các đơn vị nghiệm vụ (ở cấp tỉnh), bộ phận nghiệp vụ (ở cấp huyện) và cán bộ, kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra khi để xảy ra việc trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung. Khi sơ kết, tổng kết phải gắn việc kiểm điểm trách nhiệm với việc thực hiện chế độ khen thưởng nghiêm minh để có tác dụng động viên khuyến khích người làm tốt, phê phán xử lý đối với hành vi thiếu trách nhiệm hoặc vi phạm kỷ luật nghiệp vụ. VKSND tối cao cần đưa chỉ tiêu chất lượng công tác và hạn chế tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thành chỉ tiêu xét duyệt thi đua công tác hàng năm của cá nhân và đơn vị trong toàn ngành. VKS các cấp phải xây dựng được chế độ báo cáo án giữa thời hạn điều tra và trước khi kết thúc điều tra để kịp thời phát hiện những thiếu sót, vi phạm của CQĐT cũng như những khó khăn vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ án từ đó đề ra các biện pháp giải quyết kịp thời, tránh việc hồ sơ kết thúc điều tra chuyển sang VKS mới phát hiện thì khi đó không phát huy được hiệu quả công tác kiểm sát điều tra và sẽ dẫn đến tỷ lệ án phải trả lại yêu cầu điều tra cao. Đồng thời, VKS các cấp phải kiểm sát chặt chẽ việc đình chỉ điều tra của CQĐT, nếu có trường hợp đình chỉ điều tra do không phạm tội và đình chỉ điều tra dẫn đến để lọt tội phạm thì VKS phải báo cáo đầy đủ, kịp thời lên VKS cấp trên trực tiếp, VKS cấp trên trực tiếp phải kiểm tra để kết luận và chỉ đạo biện pháp giải quyết ngay. VKS cấp tỉnh phải nắm chắc số án đình chỉ do không phạm tội của cấp mình và cấp huyện để báo cáo VKSND tối cao, đồng thời tiến hành kiểm điểm làm rõ trách nhiệm người gây ra vi phạm. Có biện pháp quả lý đầy đủ, chặt chẽ số vụ án, bị can bị đình chỉ điều tra, nếu phát hiện việc đình chỉ điều tra trái pháp luật dẫn đến bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, VKS các cấp kiên quyết hủy bỏ quyết định trái pháp luật đó và yêu cầu CQĐT phục hồi điều tra. Thứ tư, thực hiện tốt công tác kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn của CQĐT: VKS phải nâng cao trách nhiệm pháp lý của mình trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo đảm việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn có căn cứ và đúng pháp luật. Đối với các trường hợp phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các lệnh bắt khẩn cấp, bắt tạm giam, tạm giam, gia hạn tạm giữ, gia hạn tạm giam, VKS phải nghiên cứu kỷ hồ sơ và chỉ phê chuẩn khi có đủ căn cứ được quy định trong BLTTHS. VKS các cấp phải có biện pháp cụ thể nhằm khắc phục tình trạng lạm dụng bắt khẩn cấp, đối với trường hợp phức tạp, có khó khăn trong việc xác định căn cứ để phê chuẩn bắt, tạm giữ, tạm giam thì Lãnh đạo Viện phải trực tiếp xem xét, quyết định, trong trường hợp cần thiết phải trực tiếp gặp hỏi người bị bắt, tạm giữ để làm rõ căn cứ đê quyết định phê chuẩn. VKS các cấp phải tiến hành kiểm sát thường kỳ tại nhà tạm giữ và nhà tạm giam của cơ quan Công an cùng cấp, không cần thiết phải có vi phạm hay có người bị tạm giữ, tạm giam thì mới tiến hành kiểm sát, đây là yêu cầu có tính đặc thù của công tác kiểm sát tại chỗ nhà tạm giữ, nhà tạm giam. Kiểm sát viên khi thực hiện công tác kiểm sát thường kỳ tại nhà tạm giữ, tạm giam phải nắm được tổng số người bị giam, giữ, phân từng loại tạm giữ, tạm giam rồi xem xét các đối tượng bị giam, giữ thuộc đối tượng bị bắt trong trường hợp nào, việc tạm giữ, tạm giam có lệnh hoặc quyết phê chuẩn của VKS hay không… nếu phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam thì VKS cần có kiến nghị với CQĐT có biện pháp khắc phục ngay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. 3.3.3. Giải pháp, kiến nghị về tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành và tổng kết rút kinh nghiệm nghiệp vụ Để nâng cao chất lượng công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực tư pháp hình sự, việc tăng cường hơn nữa vai trò quản lý, chỉ đạo điều hành và tổng kết rút kinh nghiệm nghiệp vụ của Viện trưởng - VKS các cấp là yêu cầu khách quan, xuất phát từ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của ngành kiểm sát là tập trung dân chủ. Một thực tế tồn tại lâu nay là có nhiều Viện trưởng - VKS các cấp quá tập trung vào các công việc hành chính, sự vụ mà phó mặc các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự cho cấp Phó và cho các Kiểm sát viên dưới quyền, nhiều quyết định tố tụng được Viện trưởng ban hành chỉ trên cơ sở nghe báo cáo của cấp dưới, do vậy đã xảy ra những trường hợp oan, sai. Với vai trò là người lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm chung về toàn bộ hoạt động của VKS mỗi cấp cũng như chịu trách nhiệm về hoạt động của VKS cấp dưới, đồng thời trước yêu cầu nâng cao chất lượng công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra các vụ án hình sự, theo chúng tôi Viện trưởng - VKS các cấp phải thực hiện tốt các nội dung sau: Thứ nhất, phải tham gia trực tiếp vào những hoạt động kiểm sát quan trọng nhằm bảo đảm các quyết định pháp lý được ban hành phải đúng đắn, hợp pháp và có căn cứ. Ví dụ: trong các vụ án giết người không quả tang, Lãnh đạo VKS phải trực tiếp cùng kiểm sát viên tham gia kiểm sát khám nghiệm hiện trường; vấn đề phê chuẩn việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong các trường hợp phức tạp, khó khăn trong việc xác định căn cứ để phê chuẩn thì Lãnh đạo Viện phải trực tiếp xem xét hồ sơ trước khi quyết định phê chuẩn. Thứ hai, phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý chặt chẽ đối với các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở mỗi cấp kiểm sát. Hoạt động quản lý trước hết phải bảo đảm quản lý chặt chẽ những hoạt động quan trọng như quản lý về tiếp nhận, xử lý về tin báo tội phạm; quản lý vấn đề khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; quản lý vấn đề trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hay quản lý các trường hợp án đình chỉ... Bên cạnh đó, còn phải quản lý con người để phát huy hết năng lực của cán bộ khi được giao thực hiện chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự. Thứ ba, Viện trưởng - VKS cấp trên phải tăng cường công tác chỉ đạo cho Viện trưởng - VKS cấp dưới trong công tác kiểm sát hoạt động tư pháp, trước tiên Viện trưởng - VKS cấp trên cần có biện pháp để các VKS cấp dưới thực hiện tốt chế độ báo cáo, thống kê, chế độ thỉnh thị nghiệp vụ, đồng thời phải tạo cơ chế chặt chẽ trong việc xử lý các thông tin báo cáo, trả lời thỉnh thị của VKS cấp trên. Tiếp theo là phải tăng cường công tác kiểm tra hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra của các VKS cấp dưới, như quy định chế độ giao ban công tác giữa VKS cấp trên với VKS cấp dưới, lập các đoàn kiểm tra...việc kiểm tra của VKS cấp trên đối với VKS cấp dưới phải thực hiện nghiêm túc, thường xuyên và có hiệu quả như nội dung của Chỉ thị công tác năm 2003 của đồng chí Viện trưởng - VKSND tối cao đa nêu: "VKS cấp trên cần tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn, chỉ đạo nghiệm vụ đối với VKS cấp dưới. VKS cấp dưới phải báo cáo đầy đủ, kịp thời về hoạt động của mình cho VKS cấp trên theo quy định của ngành". Qua các giải pháp nói trên, chúng tôi đưa ra một số kiến nghị sau: Cần quy định rõ trong các quy chế công tác kiểm sát của ngành về trách nhiệm cụ thể của VKS cấp trên trong việc trả lời thỉnh thị của VKS cấp dưới, nhất là vấn đề thời gian trả lời thỉnh thị và quan hệ giữa các đơn vị nghiệp vụ cấp trên có liên quan đến vấn đề thỉnh thị của VKS cấp dưới. Với quy định đó sẽ khắc phục được tình trạng nhiều vụ việc khi VKS cấp dưới thỉnh thị nhưng chưa được VKS cấp trên trả lời kịp thời, mà để kéo dài thời gian ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết vụ án. 3.3.4. Giải pháp, kiến nghị về công tác cán bộ của ngành kiểm sát Có thể nói trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã quan tâm, chú trọng công cuộc cải cách tư pháp, trong đó có đề cập đến công tác cán bộ tư pháp nói chung và cán bộ của ngành kiểm sát nói riêng, điều đó được thể hiện rõ trong các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước. Yêu cầu về công tác cán bộ mà Đảng và Nhà nước đặt ra là phải tăng cường rèn luyện ý thức chính trị và phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ pháp lý và chuyên môn nghiệp vụ, thực hiện đúng lương tâm và trách nhiệm. Nhận định về những ưu, khuyết điểm trong công tác cán bộ, Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 2-1-2002 của Bộ chính trị đã đánh giá như sau: "Phần lớn các cán bộ làm công tác tư pháp giữ vững phẩm chất chính trị, có tinh thần trách nhiệm và hoàn thành nhiệm vụ, nhiều đông chí đã tận tụy với công việc, có những trường hợp đã hy sinh cả tính mạng trong cuộc đấu tranh chống tội phạm". Tuy nhiên Nghị quyết cũng đánh giá: "Công tác cán bộ của các cơ quan tư pháp chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình hiện nay. Đội ngũ cán bộ tư pháp còn thiếu về số lượng, yếu về trình độ và năng lực nghiệp vụ, một bộ phận tiêu cực, thiếu trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, sa sút về phẩm chất đạo đức. Đây là vẫn đề nghiêm trọng làm ảnh hưởng tới kỷ cương, pháp luật, giảm hiệu lực của Bộ máy nhà nước". Quán triệt và thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ, ngành kiểm sát trong những năm vừa qua đã có nhiều cố gắng trong việc quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ và tăng cường công tác rèn luyện về phẩm chất chính trị và đạo đức của người cán bộ kiểm sát. Nghiêm túc đánh giá thấy rằng tuy trình độ của đa số cán bộ được nâng lên hơn trước nhưng năng lực vận dụng vào thực tế và chất lượng của đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên chưa theo kịp được yêu cầu, vẫn còn một số cán bộ chưa tự giác học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ về mọi mặt... Tuy trên 80% biên chế của toàn ngành có trình độ Đại học luật và Cao đẳng kiểm sát, nhưng trong đó chỉ có trên 30% tốt nghiệp Đại học luật, còn trên 50% là Cao đẳng kiểm sát, ngoài ra còn 20% là trung cấp và chưa qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ. Đa số cán bộ, kiểm sát viên cấp huyện được đào tạo ở hệ chuyên tu, tại chức Cao đẳng kiểm sát, số đào tạo Đại học luật chính quy chỉ có 30%. Số có trình độ trung cấp, cao cấp lý luận chính trị chỉ mới đạt 30%. Nhìn chung đội ngũ cán bộ kiểm sát hiện nay tuy được tăng cường về số lượng nhưng đa số có trình độ Cao đẳng kiểm sát, do vậy đội ngũ cán bộ chưa ngang tầm với yêu cầu của việc cải cách tư pháp hiện nay. Vừa có tình trạng thừa cán bộ năng lực không đáp ứng yêu cầu, lại thiếu những cán bộ có năng lực chuyên môn nghiệp vụ cao, tình trạng hẫng hụt cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi ở các cấp kiểm sát vẫn đang tồn tại. Để đáp ứng với yêu cầu của tình hình mới hiện nay là nâng cao hơn nữa chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra các vụ án hình sự, theo chúng tôi công tác cán bộ trong thời gian tới tiếp tục thực hiện tốt các nội dung sau: Thứ nhất, người cán bộ kiểm sát phải không ngừng rèn luyện ý thức chính trị. Rèn luyện ý thức chính trị tức là đòi hỏi người cán bộ, kiểm sát viên phải luôn luôn nắm vững các chủ trương, chính sách của Đảng trong lĩnh vực đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm nói chung và trong công tác kiểm sát nói riêng, bên cạnh đó phải quán triệt đầy đủ những chủ trương của cấp ủy Đảng về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để hướng việc thực hiện chức năng kiểm sát phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của từng địa phương. Việc rèn luyện ý thức chính trị phải luôn đi đôi với việc rèn luyện phẩm chất đạo đức của người cán bộ kiểm sát theo như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng và khiêm tốn". Việc xa rời rèn luyện phẩm chất chính trị và đạo đức của người cán bộ kiểm sát sẽ dễ bị lợi ích vật chất, tinh thần cám dỗ và đi đến vi phạm pháp luật. Việc tăng cường rèn luyện phẩm chất chính trị và đạo đức của người cán bộ kiểm sát trong thời gian tới phải tiếp tục được thực hiện để tránh những vi phạm pháp luật của các cán bộ kiểm sát như nội dung của Chị thị công tác kiểm sát năm 2003 của Viện trưởng - VKSND tối cao đã nêu: "Qua vụ án Trương Văn Cam, tổ chức nghiên cứu rút ra những bài học về công tác quản lý, chỉ đạo nghiệp vụ, giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật để giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ trong ngành". Thứ hai, người cán bộ kiểm sát phải không ngừng học tập nâng cao trình độ pháp lý và trau dồi các nghiệp vụ chuyên môn để hoàn thành nhiệm vụ được giao phó. Muốn vậy, mỗi cán bộ phải ra sức học tập, nghiên cứu, tự nâng cao trình độ về mọi mặt, nắm vững chức năng, nhiệm vụ của ngành và các thao tác nghiệp vụ được quy định trong các quy chế nghiệp vụ. Bên cạnh đó Lãnh đạo ngành kiểm sát cần có sự quan tâm hơn nữa công tác đào tạo, đào tạo lại cán bộ, đặc biệt là còn trên 50% số cán bộ có trình độ Cao đẳng kiểm sát cần được đào tạo chuyển cấp lên Đại học luật, để làm được điều đó Lãnh đạo VKSND tối cao cần có biện pháp thực hiện tốt các nội dung sau: Thứ nhất, xây dựng quy hoạch dài hạn về công tác cán bộ, trong đó có nội dung qui hoạch về đào tạo và bồi dưỡng cán bộ. Thứ hai, xây dựng kế hoạch định kỳ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho các cán bộ kiểm sát, nhất là cán bộ kiểm sát làm công tác kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự. Thứ ba, trong xây dựng đội ngũ cán bộ phải đề ra yêu cầu về tiêu chuẩn hóa cán bộ, bảo đảm đủ về số lượng và chất lượng cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay. Thứ tư, chỉ đạo các trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ của ngành sớm xây dựng nội dung chương trình giảng dạy theo hướng tập trung đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, ví dụ như kỹ năng xét hỏi, tranh tụng, kỹ năng khám nghiệm hiện trường, kỹ năng kiểm sát điều tra, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án... Để trang bị cho mỗi cán bộ kiểm sát một kiến thức nghiệp vụ chuẩn để khi thực hiện chức năng kiểm sát trong thực tế có hiệu quả và chất lượng. 3.3.5. Giải pháp, kiến nghị về cơ sở vật chất Cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang bị cho các VKS trong thời gian tới là một yêu cầu khách quan để phục vụ tốt hơn cho hoạt động nghiệp vụ của ngành kiểm sát và yêu cầu này cũng chính là thực hiện một trong tám nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết số 08 -NQ/TW của Bộ chính trị đã nêu đó là: "Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất bảo đảm cho các cơ quan tư pháp có đủ điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ, có cơ chế chính sách hợp lý đối với cán bộ tư pháp. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện làm việc, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, từng bước hiện đại hóa các cơ quan tư pháp. Phấn đấu đến năm 2005 xây dựng đủ trụ sở và cơ sở làm việc của các cơ quan tư pháp từ trung ương đến cấp huyện". Do vậy, chúng tôi kiến nghị với các cấp, các ngành Trung ương cần quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất mà cụ thể trước mắt cần xây dựng trụ sở làm việc cho đơn vị nào chưa có trụ sở làm việc; sửa chữa, cải tạo lại những trụ sở đã xuống cấp nghiêm trọng và đầu tư một số trang thiết bị cần thiết phục vụ cho công tác như ở các huyện miền núi thì cần trang bị phương tiện xe máy, hơn nữa trong thời gian tới thực hiện chủ trương tăng thẩm quyền cho cấp huyện nên số lượng cán bộ ở các VKS cấp huyện sẽ tăng trong khi các trang thiết bị tối thiểu như bàn ghế hiện nay nhiều đơn vị không đủ các cán bộ phải dùng chung bàn và tủ đựng tài liệu, vì vậy cũng cần trang bị đầy đủ trang thiết bị tối thiểu cho các VKS cấp huyện. KẾT LUẬN Quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước Xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) tiếp tục khẳng định VKS là một trong bốn hệ thống cơ quan nhà nước do Quốc hội tổ chức ra, có chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự là mọt trong các hoạt động chính của VKS. Vì hoạt động khởi tố - điều tra tội phạm là hoạt động đặc biệt của cơ quan nhà nước trực tiếp tác động đến các quyền tự do thân thể, danh dự và tính mạng của công dân, để xảy ra việc khởi tố, điều tra, bắt giữ, giam và xử lý oan sai đối với một công dân không những chỉ gây ảnh hưởng đến đời sống của họ mà còn làm mất lòng tin của quần chúng nhân dân đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật. Mặt khác, nếu kẻ phạm tội không bị phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh là sự biểu hiện của pháp luật không nghiêm, tạo điều kiện cho tội phạm tiếp tục phát triển dẫn đến bất ổn tình hình xã hội. Do đó, đòi hỏi VKS phái thực hiện tốt, có hiệu quả chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự. Ngoài ra, trong tình hình mới hiện nay với việc thay đổi chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước ta đã làm nảy sinh nhiều loại tội phạm mới, có tính chất và mức độ nguy hiểm nên việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm vì vậy cũng khó khăn, phức tạp hơn. Bên cạnh đó, trong thời gian qua để đáp ứng với chính sách phát triển trong thời kỳ mới, Nhà nước ta đã có nhiều sửa đổi, bổ sung về pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự. Đứng trước những thay đổi đó đòi hỏi VKS không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả trong việc thực hiện chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự của mình. Qua nghiên cứu đề tài này, chúng tôi thấy rằng để thực hiện tốt chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự thì cần phải có đổi mới và hoàn thiện các vấn đề sau: Thứ nhất, về mặt lý luận hiện nay trong ngành kiểm sát vẫn còn một số quan điểm, nhận thức chưa nhất quán về chức năng của VKS. Còn có quan điểm cho rằng VKS chỉ thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử, còn trong giai đoạn khởi tố - điều tra chỉ thực hiện chức năng kiểm sát là chính. Với nhận thức đó dẫn đến chưa phát huy hết quyền hạn của VKS trong quá trình kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự. Do vậy, trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ, Kiểm sát viên ngành kiểm sát cần xây dựng một môn hoặc một chuyên đề "Lý luận chung về chức năng của VKS". Thứ hai, hiện nay tình hình đơn thư tố giác và tin báo tội phạm của nhân dân, các cơ quan và tổ chức xã hội vẫn thường gửi đến các bộ phận nghiệp vụ của ngành Công an như Cảnh sát kinh tế, Cảnh sát hình sự… Các bộ phận nghiệp vụ trên có thụ lý, chuyển cho CQĐT hay không VKS không thể nắm được. Trong khi BLTTHS chỉ quy định VKS kiểm sát việc giải quyết các tin báo, tố giác tội phạm ở CQĐT, VKS không có quyền can thiệp vào hoạt động điều tra trinh sát của Công an. Vì thế, dẫn đến tình hình nhiều đơn thư tố giác tội phạm, tin báo tội phạm không được thụ lý giải quyết kịp thời. Do vậy, thời gian tới các cơ quan chức năng tiến hành sửa đổi bổ sung Thông tư liên ngành số 03 cần bổ sung quy định nghĩa vụ thụ lý mọi thông tin tội phạm theo trình tự, mẫu thống nhất tại tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, CQĐT, Tòa án, VKS. Quy định như vậy sẽ là cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm sát giải quyết thông tin về tội phạm của VKS. Thứ ba, BLTTHS năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2004 với nhiều quy định mới và quy định sửa đổi bổ sung liên quan đế việc thực hiện chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự của VKS. Do vậy, cần thiết phải có văn bản hướng dẫn thi hành kịp thời để tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan VKS thực hiện tốt chức năng của mình. Thứ tư, cần hoàn thiện hơn nữa về chương trình đào tạo nghiệp vụ kiểm sát đối với các kiểm sát viên làm công tác kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự để nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ về khoa học điều tra hình sự, chiến thuật hỏi cung bị can, chiến thuật khám nghiệm hiện trường… nhằm bảo đảm cho các kiểm sát viên thực hiện tốt vai trò của mình khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Trên đây cũng chỉ là một số ý kiến của chúng tôi trong số rất nhiều quan điểm, ý kiến về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự của VKS. Mục đích của chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài này là nhằm làm rõ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra của VKS. Bên cạnh đó, góp ý kiến vào việc sửa đổi các quy chế nghiệp vụ kiểm sát và các văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS năm 2003 và đồng thời đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc thực hiện chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự của VKS. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 (2001), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1999 (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1988 (2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2003 (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Lê Cảm (2004), "Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự", Kiểm sát, (2). Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên) (2001) Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1945, 1959, 1960, 1963, 1984. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Chỉ thị của Bộ Chính trị về trách nhiệm của các cơ quan tư pháp trong việc bắt, tạm giữ và tạm giam, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của các cơ quan tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội. Trần Văn Độ (2003), "Một số vấn đề về hoạt động tư pháp và kiểm soát hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay", Kỷ yếu đề tài cấp bộ: Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Hà Nội. Phạm Hồng Hải (2003), Mô hình lý luận Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. Hệ thống hóa các văn bản pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự (1994), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 (2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. V.I. Lênin (1990), Bàn về chế độ song trùng trực thuộc và pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự 1989 (1990), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Pháp lệnh về Kiểm sát viên 1993 (1994), Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội. Pháp lệnh về Kiểm sát viên 2002 (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992 (1993), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tòa án nhân dân tối cao (1990), Tập hệ thống hóa các văn bản về hình sự, dân sự, tố tụng, tập I, Hà Nội. Tòa án nhân dân tối cao (1992), Tập hệ thống hóa các văn bản về hình sự, dân sự, tố tụng, tập II, Hà Nội. Tòa án nhân dân tối cao (1995), Tập hệ thống hóa các văn bản về hình sự, dân sự, tố tụng, tập III, Hà Nội. Từ điển tiếng Việt, (1999), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ an (2001), Báo cáo án đình chỉ và tạm đình chỉ, Nghệ An. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (1991), "Hình sự", trong: Tập hệ thống hóa các văn bản cần thiết cho công tác kiểm sát, tập I , Hà Nội. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (1998), Quy chế công tác kiểm sát điều tra, Hà Nội. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (1998), Quy chế công tác kiểm sát giam, giữ và cải tạo, Hà Nội. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2000), Tài liệu tập huấn Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 (sửa đổi), Hà Nội. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2000), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm 1999, Hà Nội. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2000), Báo cáo về án đình chỉ, tạm đình chỉ, Hà Nội. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2001), Tài liệu tập huấn công tác kiểm sát điều tra án trị an - xã hội, Hà Nội. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2001), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm 2000, Hà Nội. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2001), Báo cáo về án đình chỉ, tạm đình chỉ, Hà Nội. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm 2001, Hà Nội. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2003), Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 08 NQ/TW của Bộ Chính trị, Hà Nội. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2003), Tài liệu tập huấn Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Hà Nội. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2003), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm 2002, Hà Nội. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2003), Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Kỷ yếu đề tài cấp bộ, Hà Nội. Nguyễn Tất Viễn (2003), "Hoạt động tư pháp và kiểm sát các hoạt động tư pháp", Kỷ yếu đề tài cấp bộ: Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Hà Nội. Võ Khánh Vinh (2003), "Về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa", Nhà nước và pháp luật, (8), tr. 4-5.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docKiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát.doc
Luận văn liên quan