Luận văn Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật Việt Nam

Hiệu lực và sức mạnh của một đạo luật phụ thuộc vào khả năng tổ chức thực thi của Nhà nước và thái độ đón nhận của xã hội" Vì thế phải có các giải pháp nhằm xây dựng một cơ chế thực thi pháp luật cạnh tranh đủ mạnh để kiểm soát, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo nguyên tắc độc lập trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan thực thi Luật cạnh tranh. Chương 2 luận văn đã đề cập đến cơ quan thực thi Luật cạnh tranh của Việt Nam bao gồm hai cơ quan là: Hội đồng cạnh tranh là Cục quản lý cạnh tranh. Hội đồng cạnh tranh là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước độc lập, có chức năng xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh. Cục quản lý cạnh tranh là tổ chức trực thuộc Bộ công thương. Khi giải quyết một vụ tập trung kinh tế, Cục quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ thụ lý, điều tra vụ việc; còn Hội đồng cạnh tranh là cơ quan có quyền xử lý vụ việc (có thẩm quyền tổ chức phiên điều trần và quyết định xử lý vụ việc qua Hội đồng xử lý vụ việc). Như vậy, kết quả xử lý vụ việc của Hội đồng cạnh tranh gần như phải lệ thuộc vào kết quả của hoạt động điều tra của Cục quản lý cạnh tranh. Qua đó nhận thấy, nếu Cục quản lý cạnh tranh không vô tư, không có thực quyền thì vấn đề thực thi Luật cạnh tranh khó mà hiệu quả và công bằng. Tham khảo kinh nghiệm của các nước thấy họ không những trao quyền lực cho cơ quan thực thi cạnh tranh mà còn đặt chúng đúng vị trí của nó trong bộ máy các cơ quan nhà nước tùy thuộc vào điều kiện, đặc điểm thị trường của mỗi quốc gia.

pdf13 trang | Chia sẻ: ngoctoan84 | Ngày: 17/04/2019 | Lượt xem: 160 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1 2 Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật Việt Nam : \ Luận văn ThS. Luật: 60 38 50 \ Phạm Thị Ngoan ; Nghd. : TS. Vũ Quang Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ VÀ KIỂM SOÁT BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI TẬP TRUNG KINH TẾ 5 1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về tập trung kinh tế 5 1.1.1. Sự hình thành và phát triển của hiện tượng tập trung kinh tế trên thế giới và ở Việt Nam 5 1.1.2. Khái niệm và bản chất pháp lý của tập trung kinh tế 9 1.1.3. Các hình thức tập trung kinh tế 10 1.1.4. Tác động của tập trung kinh tế đối với nền kinh tế 12 1.2. Kiểm soát bằng pháp luật đối với tập trung kinh tế 15 1.2.1. Các luận cứ cho việc kiểm soát tập trung kinh tế 15 1.2.2. Vai trò của pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế 17 1.2.3. Những yếu tố chi phối hoạt động về kiểm soát tập trung kinh tế 20 1.2.4. Những nội dung cơ bản của pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế một số nước trên thế giới và Việt Nam 23 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM 31 2.1. Các quy định về tập trung kinh tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam 31 2.2. Mô hình kiểm soát tập trung kinh tế 40 2.2.1. Mô hình kiểm soát tập trung kinh tế theo pháp luật các nước 40 2.2.2. Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật Việt Nam 45 2.3. Thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế 51 2.3.1. Thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế theo pháp luật các nước 52 2.3.2. Trình tự, thủ tục xem xét tập trung kinh tế theo Luật cạnh tranh Việt Nam 56 2.4. Tố tụng cạnh tranh (vụ việc tập trung kinh tế) 61 2.4.1. Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh 61 2.4 2. Trình tự tố tụng cạnh tranh (vụ việc về tập trung kinh tế) ở Việt Nam 62 2.5. Xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế 64 2.6. Cơ quan quản lý cạnh tranh trong kiểm soát tập trung kinh tế 66 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM 68 3.1. Một số căn cứ cho việc đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tập trung kinh tế ở Việt Nam 68 3.2. Những giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam 69 3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế 70 3.2.2. Nâng cao năng lực của cơ quan quản lý cạnh tranh trong kiểm soát tập trung tế 78 3.2.3. Xây dựng cơ chế thực thi pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế 82 KẾT LUẬN 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 3 4 PHỤ LỤC 91 5 6 MỞ ĐẦU 1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài Tập trung kinh tế là một hiện tượng bình thường trong đời sống kinh tế, là hành vi của doanh nghiệp. Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế thị trường xuất phát điểm từ một nền sản xuất nhỏ đi lên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm một số lượng chủ yếu thì việc các doanh nghiệp đó tìm cách liên kết, tập trung lại với nhau là một điều tất yếu và rất cần thiết. Mặt khác, trong bối cảnh chúng ta đang tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, đã xuất hiện các công ty đa quốc gia, với tiềm lực mạnh mẽ về kinh tế các công ty đa quốc gia này đã, đang và sẽ tiến hành các vụ tập trung kinh tế nhằm hình thành vị trí thống lĩnh vị trí độc quyền dẫn đến một bộ phận doanh nghiệp Việt Nam bị loại khỏi thương trường, gây tác hại tiêu cực đến nền kinh tế thị trường non trẻ Việt Nam. Rõ ràng các hành vi tập trung kinh tế có các tác động khác nhau và tác động trực tiếp đến sự vận hành của thị trường - cần thiết phải được pháp luật điều chỉnh. Nhận thức được tầm quan trọng của việc tập trung kinh tế dẫn đến độc quyền nên hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ban hành pháp luật để kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế. Bài học đầu tiên đối với Việt Nam là học tập kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế thị trường trong việc kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế và phải điều chỉnh, ban hành kịp thời các quy định pháp luật cụ thể về vấn đề này. Tuy nhiên các quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam còn mới mẻ, khoa học pháp lý có ít những công trình nghiên cứu toàn diện, công phu. Vì vậy tác giả đã mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật Việt Nam". 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Hiện tượng tập trung kinh tế nói riêng và cạnh tranh nói chung đều được các quốc gia trên thế giới quan tâm và kiểm soát bằng nhiều cách khác nhau như: chính sách thuế, kiểm soát giá cả, quốc hữu hoá, ban hành pháp nhau trong đó việc các quốc gia ban hành pháp luật được xem là công cụ hữu hiệu nhất. Ở Việt Nam, Luật cạnh tranh được Quốc hội thông qua ngày 03/12/2004 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2005. Đây cũng là lần đầu tiên vấn đề về kiểm soát tập trung kinh tế mới được quy định một cách có hệ thống. Do vậy dưới giác độ khoa học pháp lý, công việc nghiên cứu về kiểm soát tập trung kinh tế mới chỉ dừng lại trong một số bài viết cho các tạp chí, các báo điện tử hoặc với tính chất là một chuyên đề trong đề tài khoa học cấp trường, cấp Bộ mà chưa có công trình nào khảo cứu chuyên sâu, được xem xét một cách hệ thống, toàn diện và cụ thể. Như vậy, tính đến thời điểm mà tác giả lựa chọn và bảo vệ đề tài: "Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật Việt Nam" thì có thể được coi là vấn đề còn mới ở Việt Nam. Điều đó cũng đồng nghĩa việc tác giả phải đối mặt, song hành với nhiều cơ hội thách thức và khó khăn. 3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ bản chất, nội dung của tập trung kinh tế và pháp luật cạnh tranh kiểm soát hành vi tập trung kinh tế, từ đó đưa ra phương hướng và các giải pháp khi xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh điều chỉnh vấn đề này. Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu sau: Phân tích, đánh giá những vấn đề lý luận cơ bản về tập trung kinh tế. Pháp luật Việt Nam điều chỉnh hành vi tập trung kinh tế. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật cạnh tranh kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế ở Việt Nam trong mối quan hệ so sánh với pháp luật cạnh tranh ở một số nước trên thế giới. Đưa ra phương hướng và một số giải pháp pháp lý nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế để đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ với các quy định của pháp luật hiện hành về cạnh tranh và hài hòa với pháp luật quốc tế. 4. Phạm vi nghiên cứu đề tài Mặc dù người viết có tinh thần quyết tâm cao muốn tìm hiểu việc pháp luật kiểm soát hành vi tập trung kinh tế trong tổng thể các mối quan hệ pháp luật khác nhau nhưng theo yêu cầu và giới hạn của luận văn tốt 7 8 nghiệp cao học luật, người viết không thể có tham vọng nghiên cứu sâu tất cả các vấn đề pháp luật liên quan đến kiểm soát tập trung kinh tế mà chỉ ở một số các quy định trong Bộ luật dân sự, luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật chứng khoán. Nhưng chủ yếu tác giả nghiên cứu cụ thể và luận giải bằng hệ thống các quy phạm trong Luật cạnh tranh. Hy vọng một ngày không xa tác giả sẽ được quay trở lại nghiên cứu đề tài mà mình yêu thích này ở mức độ hoàn thiện, toàn diện hơn. 5. Phương pháp nghiên cứu đề tài Luận văn đã sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, so sánh luật học kết hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, đồng thời quán triệt sâu sắc các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để giải quyết những mục đích, nhiệm vụ do đề tài đặt ra. 6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn Luận văn đã lý giải được cơ sở khoa học về sự ra đời của tập trung kinh tế, làm rõ đặc điểm pháp lý của tập trung kinh tế và ảnh hưởng của tập trung kinh tế đến nền kinh tế. Luận văn đã phân tích khá toàn diện quá trình kiểm soát tập trung kinh tế theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam và pháp luật cạnh tranh một số nước trên thế giới. Căn cứ vào yêu cầu thực tiễn nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật cạnh tranh trong quá trình kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế ở nước ta. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về kiểm soát tập trung kinh tế và kiểm soát bằng pháp luật đối với tập trung kinh tế. Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam. Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ VÀ KIỂM SOÁT BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI TẬP TRUNG KINH TẾ 1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về tập trung kinh tế 1.1.1. Sự hình thành và phát triển của hiện tượng tập trung kinh tế trên thế giới và ở Việt Nam * Tập trung kinh tế bắt nguồn từ một số nguyên nhân cơ bản sau: Thứ nhất, do nhu cầu tăng hiệu quả kinh tế và nắm vị thế độc quyền trên thị trường. Thứ hai, do tác động của cạnh tranh và nhu cầu chia sẻ rủi ro trong kinh doanh Thứ ba, do các cuộc khủng hoảng kinh tế. * Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động tập trung kinh tế: Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX do tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập trung tư bản, hình thành các xí nghiệp có quy mô lớn. Như vậy, tập trung kinh tế là một xu hướng phát triển tất yếu của tư bản. Tập trung kinh tế được thể hiện dưới các hình thức sáp nhập, mua lại xí nghiệp: các xí nghiệp lớn luôn tìm cách mua lại các xí nghiệp nhỏ, yếu hơn; còn các xí nghiệp nhỏ liên kết, sáp nhập với nhau để tránh nguy cơ bị các xí nghiệp lớn thôn tính. Ở Mỹ nửa đầu thập kỷ 1980 đã diễn ra hàng loạt những vụ hợp nhất bắt đầu từ các công ty hoạt động trong ngành công nghiệp, sau đó lấn sang toàn bộ nền kinh tế và cuối cùng tràn ra toàn thế giới. 9 10 Việt Nam hình thức tập trung kinh tế xuất hiện đầu tiên là các Tổng công ty nhà nước được thành lập theo Quyết định số 90 và 91/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 7/3//1994 (gọi tắt là Tổng công ty 90 và 91). Song thực chất, việc tính thành các Tổng công ty 90 và 91 lại là sự liên minh, sáp nhập theo thể thức hành chính chứ không mang bản chất của hành vi tập trung kinh tế theo quy định của hệ thống pháp luật cạnh tranh. Khi Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật doanh nghiệp nhà nước 1995 đã xuất hiện các vụ sáp nhập, hợp nhất, liên doanh.. Trong suốt thời gian qua trước khi có Luật cạnh tranh 2004, chúng ta đã giảm số lượng từ trên 13000 doanh nghiệp nhà nước xuống còn trên 3000 doanh nghiệp thông qua việc hợp nhất các doanh nghiệp lại với nhau 1.1.2. Khái niệm và bản chất pháp lý của tập trung kinh tế Tập trung kinh tế ở Việt Nam được xem xét theo ba cách tiếp cận cơ bản: Thứ nhất: Với tính chất là quá trình gắn liền với hơn hình thành và thay đổi của cấu trúc thị trường, tập trung kinh tế được hiểu là quá trình mà số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất. Thứ hai: Với tính chất là hành vi của các doanh nghiệp, tập trung kinh tế (còn gọi là tập trung tư bản) được hiểu là sự gia tăng tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác Thứ ba: Dưới góc độ pháp luật, Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định các hành vi được coi là tập trung kinh tế. Theo đó, khoản 3 Điều 3 quy định tập trung kinh tế thuộc nhóm các hành vi hạn chế cạnh tranh. Chỉ có các trường hợp tập trung kinh tế tạo ra trên 50% thị phần kết hợp trên thị trường liên quan mới tiềm ẩn nguy cơ hạn chế cạnh tranh, 1.1.3. Các hình thức tập trung kinh tế Tập trung kinh tế bao gồm tập trung theo chiều ngang, tập trung theo chiều dọc hoặc tập trung theo đường chéo (tập trung hỗn hợp). Tập trung kinh tế theo chiều ngang: là sự sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc liên doanh của các doanh nghiệp trong một thị trường liên quan (sản phẩm và không gian). Tập trung kinh tế theo chiều dọc: là sự hợp nhất, sáp nhập, mua lại hoặc liên doanh giữa các doanh nghiệp có quan hệ người mua - người bán với nhau. Tập trung kinh tế theo đường chéo là sự hợp nhất, sáp nhập, mua lại, liên doanh của các doanh nghiệp không cùng hoạt động trên một thị trường sản phẩm đồng thời cũng không có mối quan hệ khách hàng với nhau. 1.1.4. Tác động của tập trung kinh tế đối với nền kinh tế Tập trung kinh tế là một hiện tượng kinh tế xuất hiện trong môi trường tự do cạnh tranh. Sự ra đời của hiện tượng tập trung kinh tế có tác động nhất định tới cơ cấu nền kinh tế nói chung và cạnh tranh nói riêng. Tuy nhiên tác động của tập trung kinh tế tới cạnh tranh cũng được đánh giá theo hai mặt tích cực và tiêu cực của nó. - Tập trung kinh tế tạo ra quy mô kinh doanh lớn (đặc biệt hữu ích đối với những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ tham gia tập trung kinh tế - Tập trung kinh tế giúp thúc đẩy tiến Bộ khoa học kỹ thuật: Với sự phát triển như vũ bão của các cuộc cách mạng khoa học- công nghệ đã rút ngắn chu kỳ sống của các thế hệ công nghệ, vì vậy để đứng vững và giành được ưu thế trên thương trường bắt buộc các doanh nghiệp luôn phải đầu tư đổi mới công nghệ. Bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực, bất lợi đối với nền kinh tế, tập trung kinh tế cũng có những mặt tiêu cực sau: "Tự do cạnh tranh đẻ ra tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuất này, khi phát triển tới một mức độ nhất định, lại dẫn tới độc quyền". Như vậy tập trung kinh tế là "cửa ngõ" tạo ra những doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể hoặc tăng quyền lực của thị trường mà doanh nghiệp duy nhất đã vốn có hoặc tán ra sự độc quyền. - Tập trung kinh tế còn làm giảm đối thủ cạnh tranh độc lập trên thị trường và tạo điều kiện "thúc đẩy" những doanh nghiệp còn lại tham gia 11 12 vào việc liên kết mang tính phản cạnh tranh theo các hình thức thỏa thuận hạn chế cạnh tranh để chống lại sức mạnh của những doanh nghiệp được hình thành sau vụ tập trung kinh tế. Kiểm soát tập trung kinh tế nhằm tăng cường lợi ích và hạn chế mặt tiêu cực của nó đối với thị trường. 1.2 Kiểm soát bằng pháp luật đối với tập trung kinh tế. 1.2.1. Các luận cứ cho việc kiểm soát tập trung kinh tế Thứ nhất: Tập trung kinh tế để các doanh nghiệp phát triển kinh doanh Thứ hai: Tập trung kinh tế để thống lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh. 1.2.2. Vai trò của pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế Vai trò của Nhà nước trong kiểm soát tập trung kinh tế là rất quan trọng. Cạnh tranh là cuộc chạy đua để xác định những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nhất, nhà nước có vai trò đảm bảo trật tự chung và chỉ nên can thiệp vào cạnh tranh một cách hạn chế. Để bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, các cơ quan kiểm soát độc quyền (trong đó có kiểm soát tập trung kinh tế) nên xem xét ảnh hưởng của hành vi độc quyền dưới hai tiêu chí cơ bản: - Đối với sự phân bổ có hiệu quả của mọi nguồn lực kinh tế; - Đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 1.2.3. Những yếu tố chi phối hoạt động về kiểm soát tập trung kinh tế Cơ chế quản lý kinh tế là khái niệm dùng để chỉ phương thức mà qua đó nhà nước tác động vào nền kinh tế để định hướng nền kinh tế tự vận động đến các mục tiêu đã định. Cơ chế quản lý kinh tế là phương thức tác động của Nhà nước do đó nó mang tính chủ quan. Cơ chế kinh tế là phương thức vận động của nền kinh tế, nó mang tính khách quan. Nhà nước tác động vào nền kinh tế thông qua cơ chế kinh tế chứ không trực tiếp tác động vào nền kinh tế. Thị trường mà nhà nước không can thiệp vào gọi là thị trường tự do. Và người ta coi "bàn tay vô hình" là các quy luật kinh tế khách quan sẽ chi phối nền kinh tế. Thị trường tự do cho phép cá nhân theo đuổi lợi ích riêng của mình mà không có sự khống chế nào của chính phủ. Lúc này hiện tượng tập trung kinh tế diễn ra phổ biến nhưng dựa trên nền tảng "tự do được nuôi dưỡng bởi tự do" nên không có sự điều tiết và kiểm soát từ nhà nước, đương nhiên sẽ không thể có pháp luật điều chỉnh hành vi tập trung kinh tế. 1.2.4. Những nội dung cơ bản của pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế một số nước trên thế giới và Việt Nam Quy chế 139/2004 đã được Ủy ban Châu Âu ban hành ngày 20/2004 tại Điều 3 định nghĩa về hoạt động tập trung kinh tế thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy chế: Liên bang Nga không có khái niệm riêng về tập trung kinh tế. Theo Luật về cạnh tranh và hạn chế độc quyền trên thị trường hàng hóa năm 1991, sửa đổi mới nhất năm 2002 thì mục đích ngăn ngừa việc lạm dụng vị trí thống lĩnh của các tổ chức kinh tế hoặc việc hạn chế cạnh tranh của cơ quan chống độc quyền liên bang, nhà nước thực hiện việc kiểm soát các hành vi sau: - Kiểm soát việc thành lập, tổ chức lại và giải thể các tổ chức kinh tế khác và các liên hiệp gồm: Thành lập, sáp nhập, hợp nhất liên minh các tổ chức kinh tế, sáp nhập, hợp nhất các tổ chức kinh tế mà tổng giá trị tài sản của năm tài chính gần nhất vượt quá 200.000 lần mức lương tối thiểu - Kiểm soát việc thực hiện pháp luật chống độc quyền trong các trường hợp sau khi góp vốn hoặc mua cổ phần có quyền biểu quyết chiếm trên 20% vốn điều lệ của các tổ chức kinh tế, nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của một chủ thể kinh doanh khác nếu giá trị tài sản giao dịch vượt quá 10% tổng giá trị tài sản của chủ thể kinh doanh đó, nhận các quyền cho phép chủ thể kinh doanh đó thực hiện chức năng điều hành doanh nghiệp Ở Nga hệ thống pháp luật của nhà nước kiểm soát về tập trung kinh tế trên thị trường hàng hóa gồm hai bộ phận: Giám sát việc thành lập, tổ chức lại, giải thể các tổ chức thương mại và phi thương mại; Kiểm soát việc thực thi pháp luật chống độc quyền trong việc mua cổ phần, vốn góp vào vốn điều lệ của các tổ chức thương mại và trong các trường hợp khác 13 14 Ở Việt Nam quan điểm về tập trung kinh tế được thể hiện trong các văn kiện của Đại hội Đảng: và sau đó được thể chế hóa trong một số văn bản pháp luật hiện hành sau: - Luật cạnh tranh 2004; Bộ luật dân sự 2005; Luật doanh nghiệp 2005; Luật đầu tư 2005 - Nghị định số 16 của Chính phủ ngày 15/9/2005 (NĐ 116/cp) quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh; - Nghị định số 120/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/9/2005 (sau đây gọi tắt là Nghị định 120/CP) quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh; - Nghị định số 05 của Chính phủ ngày 9/1/2006 (sau đây gọi tắt là Nghị định 05/CP) về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh; - Nghị định 06 của Chính phủ ngày 9/1/2006 (sau đây gọi tắt là Nghị định 06/CP) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh Kiểm soát tập trung kinh tế đã được coi là một trong những nhiệm vụ cơ bản của pháp luật cạnh tranh hiện đại. Tất cả các quốc gia đang phát triển thị trường đều đặt ra cơ chế phối hợp giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật về doanh nghiệp để kiểm soát việc tập trung kinh tế Theo đó, pháp luật về doanh nghiệp sẽ thừa nhận quyền được tập trung kinh tế của doanh nhân, quy định về thủ tục pháp lý để họ thực hiện các hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua lại và góp vốn để bảo đảm trật tự pháp lý trong kinh doanh. Pháp luật cạnh tranh kiểm soát các hiện tượng tập trung kinh tế có khả năng đe dọa đến trật tự cạnh tranh của thị trường bằng hai cơ chế, đó là: - Cấm đoán các trường hợp tập trung kinh tế làm tổn hại đến tình trạng cạnh tranh; - Kiểm soát các trường hợp có khả năng tổn hại đến cạnh tranh. - Các trường hợp tập trung kinh tế được tự do thực hiện; Các trường hợp tập trung kinh tế được thực hiện sau khi được cơ quan nước có thẩm quyền xem xét chấp nhận; Cho hưởng miễn trừ đối với một số trường hợp tập trung kinh tế thuộc diện bị cấm. Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM 2.1. Các quy định về tập trung kinh tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam Trong hệ thống pháp luật Việt Nam có nhiều luật và văn bản dưới luật có các quy định liên quan đến tập trung kinh tế. * Bộ Luật Dân sự: Điều 94, 95 Bộ luật Dân sự 2005 * Luật Doanh nghiệp: Các quy định trong Luật Doanh nghiệp có thể được sử dụng làm căn cứ pháp lý để làm rõ khái niệm và phạm vi của các hoạt động tập trung kinh tế. Chẳng hạn để xác định khái niệm mua lại doanh nghiệp, khi thực thi cơ quan quản lý cạnh tranh có thể dẫn chiếu đến Luật Doanh nghiệp. Vấn đề mấu chốt để xác định hơn mua lại là quyền chi phối và kiểm soát doanh nghiệp bị mua lại, theo đó, nếu hơn mua tài sản chưa đủ tạo nên quyền chi phối, kiểm soát doanh nghiệp bị mua lại thì chưa cấu thành hiện tượng tập trung kinh tế. Pháp luật cạnh tranh xác định hai trường hợp tạo nên quyền kiểm soát, chi phối doanh nghiệp khác là: - Dành được quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ chiếm được trên 50% quyền bỏ phiếu tại Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị; - Dành được quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp bị kiểm soát ở mức mà theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ để doanh nghiệp mua lại chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp bị kiểm soát nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị kiểm soát. * Luật Cạnh tranh: Theo Ðiều 16 Luật Cạnh tranh do Quốc hội ban hành ngày 3/12/2004 và có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2005 thì: "Tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm:Sáp nhập doanh nghiệp; Hợp nhất doanh nghiệp; Mua lại doanh nghiệp; Liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật. 15 16 * Luật Chứng khoán: Luật Chứng khoán 2006 cũng có các điều khoản liên quan đến tập trung kinh tế thông qua các giao dịch trên thị trường chứng khoán như sau: "Tổ chức, cá nhân trở thành cổ đông lớn của công ty đại chúng (sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty đại chúng) phải báo cáo công ty đại chúng, Ủy ban chứng khoán nhà nước và Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Giao dịch chứng khoán nơi cổ phiếu của công ty đại chúng đó được niêm yết". Điều 29 và Điều 32 quy định về hơn chào mua công khai theo đó các tổ chức, cá nhân chào mua công khai số cổ phiếu có quyền biểu quyết dẫn đến hơn sở hữu từ 25% trở lên số cổ phiếu đang lưu hành của một công ty đại chúng phải gửi đăng ký chào mua đến UBCKNN. Điều 69 quy định về chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, theo đó các công ty này đều phải được sự chấp thuận của UBCKNN khi thực hiện các giao dịch này. *Luật các Tổ chức tín dụng: Điều 34 Luật các Tổ chức tín dụng 1997 quy định hơn chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, mua lại, giải thể tổ chức tín dụng phải được Ngân hàng nhà nước chấp thuận bằng văn bản. Tập trung kinh tế - giải pháp hữu hiệu để các ngân hàng thương mại Việt Nam đáp ứng yêu cầu tăng vốn pháp định trong điều kiện hiện nay 2.2. Mô hình kiểm soát tập trung kinh tế 2.2.1. Mô hình kiểm soát tập trung kinh tế theo pháp luật các nước Trên thế giới tồn tại hai mô hình chính của cơ chế kiểm soát tập trung kinh tế là mô hình Mỹ và mô hình châu Âu. 2.2.2. Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật Việt Nam Luật Cạnh tranh có nhiều điều khoản tạo hành lang pháp lý cho phép các cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế. Cụ thể là: *Được tự do tập trung kinh tế (khoản 1 Điều 20): Tất cả những trường hợp tập trung kinh tế mà có thị phần kết hợp dưới 30% thì không bị cấm và cũng không phải có nghĩa vụ thông báo; Những trường hợp tập trung kinh tế mà có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% cũng không bị cấm và không cần thông báo, nếu căn cứ vào sức mạnh cụ thể của doanh nghiệp trong thị trường mà chúng vẫn được xếp vào loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy định của pháp luật. * Được xem xét chấp nhận tập trung kinh tế: Đây là những trường hợp tập trung kinh tế chưa bị mặc nhiên cấm nhưng có thể được xem xét đồng ý sau khi làm thủ tục thông báo tại Cơ quan quản lý cạnh tranh. Khoản 1 Điều 20 Luật Cạnh tranh quy định: "Các doanh nghiệp tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của các doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế".) * Tập trung kinh tế được miễn trừ: Các trường hợp tập trung kinh tế được miễn trừ Ở Việt Nam được ghi nhận tại Điều 19 Luật cạnh tranh. Đó !à các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm theo quy định tại điều 18 của Luật cạnh tranh nhưng có thể được xem xét miễn trừ khi: Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể lâm vào tình trạng phá sản. Bộ trưởng Bộ Thương mại xem xét, quyết định việc miễn trừ bằng văn bản đối với trường hợp này * Tập trung kinh tế bị cấm: Luật Cạnh tranh có quy định cấm thực hiện tập trung kinh tế đối với các trường hợp trong đó thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia chiếm trên 50% trên thị trường liên quan và doanh nghiệp hình thành sau hoạt động tập trung kinh tế không thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật (Điều 18, Luật Cạnh tranh). Tuy nhiên, các vụ việc tập trung kinh tế thuộc diện bị cấm cũng có thể được xem xét và miễn trừ trong hai trường hợp: - Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản; - Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ (Điều 19 Luật Cạnh tranh). 17 18 2.3. Thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế Thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế có thể được thực hiện theo chế độ tiền kiểm hoặc hậu kiểm. Tiền kiểm là việc thông báo dự án tập trung kinh tế hoặc hoạt động tập trung kinh tế vừa thực hiện. Ngược lại hậu kiểm lại là việc cơ quan quản lý cạnh tranh xem xét vụ tập trung kinh tế sau khi nó đã được thực hiện xong để xem có vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế không. 2.3.1. Thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế theo pháp luật các nước Pháp áp dụng thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế dựa vào dự án cụ thể phải đạt tới một ngưỡng nhất định (đó là những giá trị định lượng tuyệt đối tức là doanh thu) và không thực hiện trên quy mô cộng đồng Châu Âu. Ngưỡng cụ thể như sau: - Tổng doanh thu chưa tính thuế trên phạm vi toàn cầu của toàn bộ các doanh nghiệp hoặc các nhóm thể nhân hoặc pháp nhân tham gia vụ tập trung kinh tế đạt trên 150 triệu euro; - Tổng doanh thu chưa tính thuế thực hiện trên lãnh thổ Pháp bởi ít nhất hai doanh nghiệp hoặc hai nhóm thể nhân hoặc pháp nhân liên quan đạt trên 50 triệu euro [29, tr.103].Việc kiểm soát tập trung kinh tế ở Pháp được chia thành các giai đoạn: Giai đoạn 1 gồm 2 bước sau: * Thông báo tập trung kinh tế * Thụ lý, xem xét hồ sơ vụ tập trung kinh tế: Quan điểm của Pháp là: Nếu hoạt động tập trung kinh tế không làm hạn chế một cách đáng kể cạnh tranh thực tế trên thị trường chung hoặc trên một phần đáng kể của thị trường chung, đặc biệt vì nó không tạo ra hoặc không củng cố vị trí thống lĩnh, thì phải được coi là phù hợp với thị trường chung. Ngược lại, nếu hoạt động tập trung kinh tế làm cho cạnh tranh thực tế bị hạn chế một cách đáng kể trên thị trường chung hoặc trên một phần đáng kể của thị trường chung, đặc biệt thông qua việc tạo lập hoặc củng cố vị trí thống lĩnh, thì phải được coi là không phù hợp với thị trường chung. 2.3.2. Trình tự, thủ tục xem xét tập trung kinh tế theo Luật cạnh tranh Việt Nam Trình tự, thủ tục xem xét một vụ tập trung kinh tế ở Việt Nam được quy định trong Luật cạnh tranh gồm các bước sau: Bước 1: Thông báo tập trung kinh tế Khoản 1 Điều 20 Luật Cạnh tranh Việt Nam quy định: Các doanh nghiệp tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của các doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế. Trường hợp thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế thấp hơn 30% trên thị trường liên quan hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì không phải thông báo. Bước 2: Thụ lý hồ sơ thông báo tập trung kinh tế Bước 3: Trả lời thông báo 2.4. Tố Tụng cạnh tranh (vụ việc tập trung kinh tế) 2.4.1. Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh Tố tụng cạnh tranh khác với tố tụng trong các hoạt động tư pháp. Tố tụng cạnh tranh là hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính. Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh gồm cơ quan quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh. Tuy nhiên Luật cạnh tranh Việt Nam đã tách hai chức năng điều tra và xử lý vụ việc tập trung cho hai cơ quan này: Cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ thụ lý, điều tra các vụ việc liên quan đến cạnh tranh và kiểm soát quá trình tập trung kinh tế, đó !à Cục quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Thương mại đã được thành lập theo Nghị định số 06/CP của Chính phủ ngày 9/1/2006. Cùng ngày 9/1/2006. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 05/CP về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh: Theo đó, Hội đồng cạnh tranh là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước độc lập có chức năng xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh. Cụ thể: Hội đồng cạnh tranh có nhiệm vụ tổ chức 19 20 xử lý, giải quyết khiếu nại đối với vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh. 2.4.2. Trình tự tố tụng cạnh tranh (vụ việc về tập trung kinh tế) ở Việt Nam Bước 1: Khiếu nại về vụ việc cạnh tranh Bước 2: Thụ lý hồ sơ khiếu nại Bước 3: Điều tra vụ việc cạnh tranh Điều tra sơ bộ vụ việc cạnh tranh được tiến hành theo quyết định của Thủ trưởng Bước 4: Mở phiên điều trần 2.5. Xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế Tại Việt Nam, hành vi vi phạm quy định về tập trung kinh tế được đề cập cụ thể tại Luật cạnh tranh 2004 và NĐ số 120 của Chính phủ ngày 30/9/2005 quy định về xử lý pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh bao gồm các hành vi: - Hành vi sáp nhập doanh nghiệp bị cấm (Điều 25) - Hành vi hợp nhất doanh nghiệp bị cấm (Điều 26) - Hành vi mua lại doanh nghiệp bị cấm (Điều 27) - Hành vi liên doanh doanh giữa các doanh nghiệp bị cấm (Điều 28) - Hành vi không thông báo về tập trung kinh tế (Điều 29) Chế tài áp dụng đối với mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh là chủ thể vi phạm phải chịu hình phạt chính là phạt tiền. Ngoài việc bị phạt tiền, doanh nghiệp vi phạm có thể bị buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả như chia, tách doanh nghiệp đã sáp nhập, hợp nhất, buộc bán lại doanh nghiệp đã mua, và các hình thức xử phạt bổ sung như bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đã cấp cho doanh nghiệp hợp nhất, doanh nghiệp liên doanh. 2.6. Cơ quan quản lý cạnh tranh trong kiểm soát tập trung kinh tế Theo pháp luật cạnh tranh và pháp luật doanh nghiệp, hơn kiểm soát các hành vi sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh giữa các doanh nghiệp có sự tham gia của các cơ quan là: Cơ quan quản lý cạnh tranh có chức năng: Kiểm soát quá trình tập trung kinh tế; Thẩm định hồ sơ thông báo, hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ tập trung kinh tế; Thụ lý, tổ chức điều tra vụ hơn cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh (gồm cả tập trung kinh tế; Hội đồng cạnh tranh 14 xử lý các hành vi vi phạm pháp luật như thực hiện tập trung kinh tế trong trường hợp bị cấm, tập trung kinh tế mà không thực hiện hơn thông báo; Cơ quan đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch Đầu tư và các Sở Kế hoạch đầu tư) thực hiện các thủ tục liên quan đến đăng ký kinh doanh trong các trường hợp sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh. Các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành (Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) thực hiện chức năng thẩm định, cấp phép đối với các trường hợp tập trung kinh tế trong lĩnh vực chuyên ngành theo pháp luật. Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM 3.1. Một số căn cứ cho việc đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tập trung kinh tế ở Việt Nam Thứ nhất, xuất phát từ đặc điểm quy mô doanh nghiệp tuyệt đại đa số là nhỏ bé, các vụ giao dịch quy mô nhỏ và vừa vẫn chiếm đại đa số thì các vụ tập trung kinh tế chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh chưa nhiều. Thứ hai, đa số các vụ tập trung kinh tế có quy mô đáng kể đều do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện, Thứ ba Các vụ tập trung kinh tế nằm trong ngưỡng phải thông báo hoặc bị cấm đã bắt đầu xuất hiện và có xu hướng gia tăng. Thứ tư, cần thống nhất một khái niệm và cách hiểu đúng về "kiểm soát tập trung kinh tế", đây là khái niệm được đưa ra dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh và là một chức năng của Cục quản lý cạnh tranh. 21 22 3.2. Những giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam 3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế Từ năm 2004 đến nay, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật cạnh tranh, sửa đổi bổ sung Bộ luật dân sự, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và một số Nghị định hướng dẫn Luật cạnh tranh điều chỉnh hành vi tập trung kinh tế. Nghị quyết của Đại hội VIII Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã ghi nhận cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh. cạnh tranh vì lợi ích phát triển đất nước, chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí nguồn lực, thôn tính lẫn nhau. - Các quy định kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế phải đảm bản sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, xóa bỏ hoàn toàn hiện tượng phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, - Pháp luật cần có những chuẩn mực hợp lý để phân tách những trường hợp tập trung kinh tế gây tổn hại thực sự cho thị trường cạnh tranh và những trường hợp có tác dụng tích cực cho nền kinh tế. - Các thủ tục cần được thực hiện không bị lạm dụng để gây khó khăn cho doanh nghiệp, không cản trở các chiến lược, kế hoạch kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp. Để cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng trên, các nhà hoạch định chính sách cũng cần nhìn nhận theo hướng khách quan và tích cực, nghĩa là hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp, những chủ thể chính trên thị trường, có khả năng tiếp cận, gia nhập thị trường không gặp trở ngại bởi những rào cản về mặt hành chính. Theo đó, các thủ tục cần phải được minh bạch, công khai, không tạo nên sự "khó hiểu" cho doanh nghiệp. * Pháp luật về tập trung kinh tế không thể tồn tại độc lập với chính sách cạnh tranh nói chung và định hướng phát triển trong từng ngành lĩnh vực kinh tế cụ thể. * Cần thống nhất và làm rõ các khái niệm về những hành vi tập trung kinh tế, đặc biệt là quan niệm về hành vi mua lại doanh nghiệp giữa các lĩnh vực pháp luật có liên quan * Nên nghiên cứu xem xét điều chỉnh Luật Cạnh tranh theo hướng quy định thủ tục thông báo tập trung kinh tế tự động theo tiêu chí kết hợp giữa thị phần và quy mô vốn điều lệ của doanh nghiệp tham gia. * Cần coi tập trung kinh tế là một kênh tiềm năng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài có hiệu quả. Theo đó, cần hoàn thiện khung pháp lý để xác lập và điều chỉnh các giao dịch tập trung kinh tế một cách minh bạch, có tính hướng dẫn và tiên liệu chắc chắn 3.2.2. Nâng cao năng lực của cơ quan quản lý cạnh tranh trong kiểm soát tập trung tế Cần tăng cường khả năng kiểm soát của Cục quản lý cạnh tranh - Cơ quan có chức năng kiểm soát tập trung kinh tế theo hướng cơ quan quản lý cạnh tranh cần được trao quyền chủ động khi thực thi dựa trên những nguyên tắc được pháp luật ghi nhận, bao gồm quyền tự chủ trong việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện, công cụ kỹ thuật cho từng vụ việc; chủ động xây dựng quy trình cho việc kiểm soát tập trung kinh tế. Để việc kiểm soát tập trung kinh tế được chủ động và hiệu quả, cơ quan quản lý cạnh tranh nên có những nghiên cứu và dự đoán trước những thị trường, những lĩnh vực kinh tế có nguy cơ xảy ra hiện tượng tập trung kinh tế, thậm chí những doanh nghiệp có khả năng thực hiện hành vi thâu tóm thị trường bằng hình thức tập trung kinh tế. Không phải mọi lĩnh vực kinh tế khi xảy ra hiện tượng tập trung kinh tế đều thuộc phạm vi kiểm soát của pháp luật cạnh tranh. Các cuộc sáp nhập, mua lạiở những thị trường có qui mô đầu tư nhỏ, phân tán sẽ không gây ảnh hưởng đến cơ cấu cạnh tranh của thị trường và thường không thuộc phạm vi kiểm soát của pháp luật về tập trung kinh tế. Phần 23 24 lớn các vụ tập trung kinh tế có tác động lớn đến thị trường cạnh tranh xảy ra ở những khu vực thị trường đang có mức độ tập trung kinh tế đáng kể hoặc có vị trí tương đối trong nền kinh tế. Những dự báo khi kết hợp với chính sách phát triển chung giúp cơ quan có thẩm quyền Để việc kiểm soát tập trung kinh tế hiệu quả, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành Việc kiểm soát tập trung kinh tế hiệu quả, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý cạnh tranh đối với cộng đồng doanh nghiệp 3.2.3. Xây dựng cơ chế thực thi pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế Hiệu lực và sức mạnh của một đạo luật phụ thuộc vào khả năng tổ chức thực thi của Nhà nước và thái độ đón nhận của xã hội" Vì thế phải có các giải pháp nhằm xây dựng một cơ chế thực thi pháp luật cạnh tranh đủ mạnh để kiểm soát, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo nguyên tắc độc lập trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan thực thi Luật cạnh tranh. Chương 2 luận văn đã đề cập đến cơ quan thực thi Luật cạnh tranh của Việt Nam bao gồm hai cơ quan là: Hội đồng cạnh tranh là Cục quản lý cạnh tranh. Hội đồng cạnh tranh là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước độc lập, có chức năng xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh. Cục quản lý cạnh tranh là tổ chức trực thuộc Bộ công thương. Khi giải quyết một vụ tập trung kinh tế, Cục quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ thụ lý, điều tra vụ việc; còn Hội đồng cạnh tranh là cơ quan có quyền xử lý vụ việc (có thẩm quyền tổ chức phiên điều trần và quyết định xử lý vụ việc qua Hội đồng xử lý vụ việc). Như vậy, kết quả xử lý vụ việc của Hội đồng cạnh tranh gần như phải lệ thuộc vào kết quả của hoạt động điều tra của Cục quản lý cạnh tranh. Qua đó nhận thấy, nếu Cục quản lý cạnh tranh không vô tư, không có thực quyền thì vấn đề thực thi Luật cạnh tranh khó mà hiệu quả và công bằng. Tham khảo kinh nghiệm của các nước thấy họ không những trao quyền lực cho cơ quan thực thi cạnh tranh mà còn đặt chúng đúng vị trí của nó trong bộ máy các cơ quan nhà nước tùy thuộc vào điều kiện, đặc điểm thị trường của mỗi quốc gia. Luật mẫu hiện tại được xây dựng trên cơ sở giả định rằng có lẽ mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh là cơ quan hành chính hiệu quả nhất nếu cơ quan này có thẩm quyền độc lập với Chính phủ, với thẩm quyền về mặt hành chính và tư pháp lớn cho việc tiến hành điều tra, xử lý, áp dụng chế tài. Hiện nay ở Việt Nam, vị trí của Cục Quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ Công thương dường như chưa hợp lý vì: - Là một đơn vị hành chính của một Bộ nên khó bảo đảm tính độc lập trong hoạt động vì rất dễ chịu sự can thiệp của Bộ công thương - Bản thân Bộ công thương cũng là Bộ chủ quản của không ít doanh nghiệp nhà nước.Trong các vụ kiện ra cơ quan quản lý cạnh tranh, liệu có niềm tin vào sự công bằng của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong trường hợp "phía bên kia vụ kiện" là doanh nghiệp nhà nước, còn người cầm cân nảy mực lại là một đơn vị trực thuộc Bộ chủ quản của doanh nghiệp nhà nước đó. Do đó, cần phải nhanh chóng tách Cục quản lý cạnh tranh ra khỏi Bộ công thương và đảm bảo nguyên tắc độc lập trong tổ chức và hoạt động của nó. Hơn nữa, chuẩn bị về số lượng và chất lượng của đội ngũ nhân viên thực thi Luật cạnh tranh. Bồi dưỡng, nâng cao kiến thức kinh tế và pháp lý, chính sách và pháp luật cạnh tranh cho nhân sự của các cơ quan quản lý cạnh tranh và các tổ chức có liên quan. Điều tra một vụ tập trung kinh tế là vô cùng khăn, nhất là khi chúng ta chưa hề có kinh nghiệm trong việc kiểm soát tập trung kinh tế, đã thế số lượng đội ngũ nhân sự lại có hạn. có lẽ trong bối cảnh đó một giải pháp cần thiết là cơ quan quản lý cạnh tranh nên thiết lập một hệ thống cộng tác viên để hỗ trợ cùng xử lý, giải quyết các vụ việc tập trung kinh tế, và đưa pháp luật cạnh tranh vào chương trình giảng dạy của một số trường Đại học như Đại học Luật, Kinh tế, Học viện Tài chính... những nội dung kiến thức kinh tế và pháp lý để nhận biết và kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế. Về cơ chế kháng cáo quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh. Có hai lý do kiến nghị khi xây dựng các quy định của pháp luật để xác định 25 26 cơ quan có thẩm quyền nào sẽ xem xét các quyết đính của cơ quan cạnh tranh khi những quyết định này bị khiếu nại: Thứ nhất: Việc giải quyết các vụ việc cạnh tranh đòi hỏi những người có chuyên môn giỏi về kinh tế và pháp lý, không phải tòa án nào cũng có thẩm phán giỏi để xem xét lại các quyết định của Hội đồng cạnh tranh. Vì vậy ở Việt Nam trong giai đoạn trước mắt nên trao thảm quyền xét lại các khiếu nại của đương sự cho Tòa Kinh tế thuộc Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Nếu đương sự không đồng ý với quyết định của Tòa Kinh tế thì có thể tiếp tục khiếu nại lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, quyết định của Tòa này là chung thẩm. Tất nhiên vẫn có các thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Thứ hai: Vì quyết định của Hội đồng cạnh tranh là quyết định hành chính nên về nguyên tắc, doanh nghiệp vẫn có thể khiếu nại về quyết định đó lên Tòa hành chính. Và như vậy, đội ngũ thẩm phán ở Tòa hành chính phải được đào tạo kỹ càng các kiến thức kinh tế, pháp lý liên quan đến việc xem xét, giải quyết vụ việc tập trung kinh tế vì "Chừng nào Tòa hành chính còn chưa đủ mạnh thì chừng đó vẫn còn có thể xuất hiện nguy cơ lợi ích của doanh nghiệp bị xâm hại do một quyết định hành chính không khách quan". KẾT LUẬN Tập trung kinh tế là xu thế tất yếu của nền kinh tế thị trường nói chung và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nói riêng. Tập trung kinh tế có những tác động tích cực đến nền kinh tế, song mặt bên kia của tập trung kinh tế lớn lại chính là nguy cơ hình thành độc quyền, triệt tiêu cạnh tranh. Vì vậy, các quốc gia với phương châm phòng thủ từ xa đã ban hành pháp luật cạnh tranh - một đạo luật không thể thiếu của nền kinh tế thị trường để kiểm soát các vụ tập trung kinh tế. Nhìn chung các nước có nền kinh tế thị trường phát triển kiểm soát tập trung kinh tế là một công việc thường nhật của các cơ quan quản lý cạnh tranh. Ngược lại đây là một nhiệm vụ mới mà Việt Nam chưa từng có. Tính từ thời điểm Luật cạnh tranh có hiệu lực đến nay thì cơ quan thực thi Luật cạnh tranh nhận giải quyết một vụ tập trung kinh tế còn hạn chế. Vì vậy, việc kiểm soát tập trung kinh tế trên thị trường sẽ là một công việc vô cùng khó khăn đối với các cơ quan thực thi Luật cạnh tranh, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Khoa học pháp lý cũng chưa nghiên cứu kỹ về tập trung kinh tế, do vậy việc học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước để trang bị đầy đủ các kiến thức kinh tế, pháp lý để kiểm soát hữu hiệu hiện tượng tập trung kinh tế là việc bắt buộc phải thực hiện đối với các nhà lập pháp, các nhà quản lý kinh tế cũng như các cơ quan quản lý cạnh tranh. Từ yêu cầu của thực tiễn nền kinh tế Việt Nam trong xu thế hội nhập, trên cơ sở phân tích, tham khảo kinh nghiệm một số nước về kiểm soát tập trung kinh tế, luận văn đã đưa ra các yêu cầu xây dựng, hoàn thiện phương hướng và một số giải pháp đề hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam phương hướng và một số giải pháp đề hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam là:- Pháp luật cạnh tranh phải phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; - Pháp luật cạnh tranh phải bảo đảm sự bình đẳng cho các chủ thể kinh doanh và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh; - Pháp luật cạnh tranh phải phù hợp với hệ thống pháp luật nói chung và tiếp thu các giá trị, yếu tố hợp lý của pháp luật các nước. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh điều chỉnh hành vi tập trung kinh tế bao gồm: - Hoàn thiện các quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế. - Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước kiểm soát tập trung tế - Xây dựng cơ chế thực thi pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế. Tập trung kinh tế và kiểm soát tập trung kinh tế là một vấn đề phức tạp, có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến nền kinh tế. Luận văn này mới chỉ dừng lại ở những bước phác thảo đầu tiên dưới góc độ pháp lý về kiểm soát tập trung kinh tế. Chắc chắn nó sẽ đòi hỏi sự đầu tư nghiên cứu ở quy mô rộng, chuyên sâu đồng thời có sự phối hợp, hợp tác chặt chẽ giữa các nhà khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau cùng giới doanh nhân để kiểm soát tập trung kinh tế một cách hữu hiệu nhất.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfkiem_soat_tap_trung_kinh_te_theo_quy_dinh_cua_phap_luat_viet_nam_9587_2075488.pdf
Luận văn liên quan