Luận văn Một số biện pháp nhằm tăng cường xã hội hóa công tác giáo dục ở Quận 2 TP.Hồ Chí Minh

Đối với các trường trên địa bàn Quận 2, chúng tôi cũng xin có một số kiến nghị như sau: Các trường mầm non: Tích cực, khẩn trương qui hoạch, xây dựng đội ngũ giáo viên đồng thời không ngừng nâng chuẩn trình độ. Nâng cao hơn nữa chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ phù hợp với đòi hỏi của sự phát triển kinh tế, xã hội trong điều kiện hiện nay. Các trường tiểu học: Tăng cường chất lượng dạy cả nội khóa và ngoại khóa. Tranh thủ sự giúp đỡ về mọi mặt của cộng đồng để phát triển cơ sở vật chất. Tiếp tục nâng chuẩn cho đội ngũ giáo viên, đáp ứng nhiệm vụ đối mới trong giáo dục. Các trường trung học cơ sở: Đổi mới việc kiểm tra và đánh giá thi cử. Tranh thủ sự đầu tư từ mọi nguồn lực trong xã hội để nâng cao điều kiện dạy học. Cần quan tâm hơn nữa đến việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu.

pdf97 trang | Chia sẻ: builinh123 | Ngày: 02/08/2018 | Lượt xem: 12 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Một số biện pháp nhằm tăng cường xã hội hóa công tác giáo dục ở Quận 2 TP.Hồ Chí Minh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ả ngân sách Nhà nước và các nguồn khác từ những tổ chức phi chính phủ, từ các tổ chức kinh tế xã hội , những mạnh thường quân có tâm huyết đóng góp để phát triển giáo dục. Trong thời gian tới, ngoài nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước cấp cần tranh thủ huy động có hiệu quả những nguồn lực tài chính khác. Các khoản thu từ nguồn tài chính tự nguyện nên để vào quĩ bảo trợ giáo dục, dùng chi vào những việc như cải thiện cơ sở vật chất cho nhà trường, trợ giúp học sinh nghèo học giỏi, chi cho các hoạt động phong trào trong nhà trường, chi một phần nhằm cải thiện đời sông vật chát, tinh thần của giáo viên. Việc sử dụng các nguồn tài chính huy động cần phải triệt để tuân thủ các nguyên tắc công khai, dân chủ, hiệu quả. Thực tế cho thấy trong ba năm học (1998 - 2000) các trường trong Quận đã thu được trên 2 tỷ đồng góp phần đáng kể vào việc giải quyết những khó khăn về tài chính cho giáo dục địa phương làm cho giáo dục địa phương phát triển mạnh mẽ hơn và có chất lượng hơn. cThực hiện đa dạng hóa các loại hình trường lớp và các hình thức giáo dục Ngành giáo dục Quận 2 trong những năm qua chưa phát huy được vai trò chủ động tích cực của mình trong việc thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường lớp. Chỉ ở bậc học mầm non là có các trường tư thục, dân lập và một số ít lớp bán công trong trường công ở một trường trung học phổ thông. Toàn Quận có một trường Tiểu học dân lập nhưng chỉ tồn tại được 3 năm. Trong thời gian tới, Quận 2 cần tiếp tục quan tâm đến việc phát triển các trường ngoai công lập. cần đẩy mạnh hơn nữa việc đa dạng hóa hình thức học tập mới có thể thực hiện một xã hội học tập. Có thể tiến hành những hình thức sau: - Thường xuyên tổ chức các cuộc thi cho gia đình nhằm nâng cao hơn nữa kiến thức, trách nhiệm của các bậc cha mẹ trong việc chăm sóc và giáo dục con cái trong gia đình. - Thường xuyên tổ chức các hội thi nâng cao tay nghề, khuyết khích mọi người phải luôn trau dồi thêm kiến thức chuyên môn. - Mở thêm các lớp học dành cho những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em khuyết tật, mồ côi). - Tổ chức hoặc bảo trợ cho các lớp học bổ túc văn hóa, Trung học cơ sở hay Trung học phô thông có học nghê. - Khuyến khích nhân dân mở lớp dạy nghề truyền thống. 3.4.3- tăng cường hiệu lực cơ chế điều hành, đảm bảo sự phối hợp đồng bộ giữa nhà trường và các thiết chế xã hội, giữa các lực lượng tham gia vào hoạt động xã hội. a) Cơ chế điều hành: Cơ chế điều hành được xem như nguyên tắc bất di bất dịch sau đây: Đảng giữ vai trò lãnh đao, Nhà nước quản lý, Ngành giáo dục - Đào tạo giữ vai trò chủ động, nòng cốt. Các nguyên tắc trên được thực hiện cụ thể như sau: * Vai trò lãnh đạo của Đảng: thể hiện toàn diện ở mọi lĩnh vực, trong mọi hoạt động. Trong lĩnh vực hoạt động xã hội hóa công tác giáo dục, các cáp ủy có trách nhiệm: - Lãnh đạo, chỉ đạo về tư tưởng theo đường lôi chủ trương chung mà Nghị quyết Hội nghị Đảng các cấp đề ra; có những vận dụng mềm dẻo cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của địa phương. - Đề ra những chủ trương, ban hành những Nghị quyết về xã hội hóa hoạt động giáo dục trong đó xác định rõ mục tiêu, phương hướng chỉ đạo, các biện pháp cụ thể sát hợp với tình hình thực tế và phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của địa phương. - Lãnh đạo sâu sát, có sự kiểm tra thường xuyên các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan ban ngành thực hiện các Nghị quyết trên. Để thực hiện tốt những vấn đề nêu trên, Ban Tuyên giáo là bộ phận tham mưu trực tiếp cho các cấp ủy Đảng, đồng thời giúp cấp ủy hướng dẫn, triển khai, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng. * Vai trò lãnh đạo của Ủy ban nhân dân: là cơ quan hành pháp thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước về giáo dục theo các qui định chung về phân cấp quản lý giáo dục. Quản lý Nhà nước về giáo dục cần phải hình thành theo một cơ chế thông thoáng, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đảm bảo thực hiện tốt những biện pháp mà xã hội hóa công tác giáo dục đã đề ra. Ủy ban nhân dân các cấp đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo, điều hành và cùng phối hợp với các lực lượng trong xã hội thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục. Với tinh thần" dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong "cần quán triệt cơ chê Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, nhân dân làm chủ. *Vai trò của Hội đồng nhân dân: Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng về mọi mặt của nhân dân ở địa phương, trong đó có nguyện vọng của nhân dân về giáo dục và hưởng thụ giáo dục; thực hiện sự công bằng trong giáo dục, đóng góp cho công tác giáo dục V.V.. Hội đồng nhân dân bàn bạc, cụ thê hóa các chủ trương, định hướng trong hàng loạt các chỉ thị của cấp trên như mục tiêu hoạch định, các chỉ tiêu cụ thể v.v... sau đó cân đôi các điều kiện thực hiện. Hội đồng nhân dân giao trách nhiệm cho Uy ban nhân dân thực hiện các chủ trương, Nghị quyết về xã hội hóa công tác giáo dục nhằm đạt được những chỉ tiêu mà Hội đồng nhân dân đã xác định. Vai trò của các ngành trong bộ máy quản lý của Nhà nước được phân công, phân cáp cụ thể theo chức năng và nhiệm vụ. * Vai trò của ngành giáo dục - đào tạo: là vai trò chủ động, nòng cốt thể hiện qua việc đê xuât tham mưu với Ủy ban nhân dân cùng cáp vê các nội dung xã hội hóa công tác giáo dục. Ở cấp quận, vai trò này thuộc vê phòng giáo dục - đào tạo với Ủy ban nhân dân quận. Cần phải nhận thức rằng xã hội hóa công tác giáo dục là một chủ trương, một phương thức làm giáo dục, mang tính chuyên môn và được thực hiện dưới sự quản lý của Nhà nước. Mặc dù xã hội hóa công tác giáo dục là sự phối hợp, huy động các lực lượng xã hội làm giáo dục rất cần có phong trào nhưng cũng cần phải đặt nó dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Cơ chế phối hợp phải bắt đầu từ ngành giáo dục với tư cách là ngành chủ quản, là cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục. Trong cơ chế phối hợp, để thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục, nhà trường giữ vai trò chính, chủ đạo còn các lực lượng xã hội khác tham gia với các vai trò riêng tùy theo tính đặc thù chuyên biệt. Tại sao nhà trường lại phải chủ động làm tốt vai trò trung tâm và nòng cốt trong xã hội hóa công tác giáo dục? bởi vì không ai hiểu rõ được vấn đề giáo dục - đào tạo bằng nhà trường, không ai hiểu rõ bằng nhà trường về các đường lôi, chính sách giáo dục, nhiệm vụ năm học, thực tế giảng dạy, các điều kiện thực tế về phương tiện tiến hành hoạt động giáo dục, chất lượng và hiệu quả giáo dục, các vấn đề phát sinh từ thực tế v.v...do vậy, nhà trường phải thể hiện đầy đủ tính chủ động, đóng vai trò trung tâm nòng cốt mới có thể lôi cuốn và thu hút được các lực lượng xã hội tham gia vào xã hội hóa công tác giáo dục. Để phát huy vai trò nòng cốt, tạo động lực cho các lực lượng tham gia, nhà trường phải đạt được các yêu cầu sau: - Nhà trường phải thật sự là một bộ phận của cộng đồng, của địa phương. Hoạt động của nhà trường phải dựa trên cơ sở lợi ích và phục vụ thiết thực cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Nhà trường phải làm giáo dục vì cộng đồng và bằng sức mạnh của cộng đồng. - Nhà trường phải tạo được niềm tin trong xã hội. Muốn như vậy, nhà trường cần phải nỗ lực để đạt được chất lượng và hiệu quả trong giáo dục. Chỉ khi xã hội thấy được hoạt động của nhà trường đem lại hiệu quả thiết thực cho xã hội thì các lực lượng xã hội sẽ tham gia và đóng góp nhiều hơn. b) Cơ chế phối hợp các lực lượng xã hội trong việc tham gia xã hội hóa công tác giáo dục Nói đến tổ chức sự phối hợp tức là nói về cơ chế. Nói đến cơ chế tức là nói đến sự vận hành của các mối quan hệ giữa các lực lượng trong tổ chức xã hội nhằm đạt hiệu quả của hoạt động. Đây chính là sự vận hành trong cơ chế mang tính tất yếu và tự động. Trước hết cần xác định rõ trách nhiệm của các lực lượng trong xã hội tham gia vào xã hội hóa công tác giáo dục sau đó nêu ra cơ chế phối hợp liên kết trong tổ chức hoạt động. Trách nhiệm cụ thể của các lực lượng tham gia: Các ban ngành thuộc cơ quan tổ chức của Nhà nước : - Ngành tổ chức - cán bộ và ngành lao động – thương binh - xã hội tham gia xã hội hóa công tác giáo dục theo chức năng và nhiệm vụ của mình. Đó là các vấn đề về nhân sự, về chính sách đãi ngộ và đào tạo, những vấn đề về lao động, những vấn đề về xã hội. Cụ thể, có trách nhiệm xác định đủ biên chế đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và nhân viên các cơ sở giáo dục theo qui định chung trong đó có chú ý đến đặc trưng riêng của từng khu vực trong xã hội hóa công tác giáo dục. Thực hiện các chính sách chăm sóc giáo dục như giáo dục trẻ em, các chính sách lương, phụ cấp, trợ cấp cho giáo viên và cán bộ công nhân viên, giúp đỡ tài chính, hiện vật nhằm mở rộng các loại hình trường lớp dành cho trẻ em có nhiều khó khăn. Thực hiện việc tiêu chuẩn hóa nghiệp vụ, chức danh đối với giáo viên và cán bộ quản lý, thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ V.V.. - Các ngành Bảo vệ và chăm sóc trẻ em, y tế, thể thao, khoa học công nghệ và môi trường, theo chức năng của mình, các ngành này có trách nhiệm phối hợp với ngành giáo dục tổ chức việc giáo dục, bồi dưỡng cho mọi người, nhất là các bậc cha mẹ những kiến thức cần thiết về bảo vệ và chăm sóc trẻ em, về nuôi dạy con, về vệ sinh, tập luyện để bảo vệ và tăng cường sức khỏe, về bảo vệ môi trường tự nhiên. Chính các ngành này sẽ giúp đưa những tiến bộ khoa học - kỹ thuật - công nghệ vào chương trình giáo dục, hỗ trợ nhà trường nghiên cứu, sản xuất, góp phần tăng năng xuất lao động phục vụ địa phương. - Các ngành văn hóa - thông tin - du lịch là những ngành có nhiều điều kiện và có nhiều trách nhiệm trong việc phôi hợp với ngành giáo dục trong xã hội hóa công tác giáo dục do có cùng một chỗ đứng là văn hóa trong mối quan hệ hai chiều giữa văn hóa và giáo dục trong trục phát triển. Theo chức năng của những ngành này, họ có thể giúp nhà trường trong việc cung cấp các phương tiện văn hóa phi vật thể, tổ chức các sinh hoạt văn hóa, tham quan du lịch danh lam thắng cảnh tìm hiểu về đất nước, quê hương, tổ chức vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hóa văn nghệ, câu lạc bộ v.v..tóm lại , họ có thể dành cơ sở vật chất như sân bãi, nhà văn hóa thiếu nhi, các tụ điểm văn hóa cho học sinh, xây dựng môi trường văn hóa, xây dựng mô hình văn hóa địa phương, phối hợp cùng với các lực lượng khác giáo dục đạo đức, giáo dục quốc phòng, ngăn ngừa các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, sách báo, văn hóa phẩm đồi trụy vào học đường. - Các phương tiện thống tin đại chúng hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong thời kỳ bùng nổ thông tin. Các phương tiện thông tin đại chúng, truyền thanh mà nhất là truyền hình và truy cập mạng internet có tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến thế hệ trẻ. cần bảo đảm tính giáo dục của nội dung truyền thanh, truyền hình trong nước và cần phải kiểm soát hay giáo dục cho trẻ nhận thức đúng đắn về cái đẹp, cái đúng, cái hay trong khi khai thác mạng internet. - Các ngành kế hoạch – đầu tư, ngành tài chính theo chức năng riêng là những ngành có vai trò hết sức quan trọng mang tính sống còn đối với sự phát triển của giáo dục. Các ngành trên cần phải nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Cần nhận thức đúng đắn quan điểm giáo dục là quốc sách hành đầu và đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Từ những nhận thức trên các ngành trên cần có sự ưu tiên tối đa cho ngành giáo dục - Các ngành công an, quân đội và một số các ngành khác tùy theo nhiệm vụ và chức năng riêng của mình mà có những đóng góp cụ thể cho giáo dục. Hội đồng quốc gia về giáo dục cũng như Hội đồng giáo dục các cấp ở địa phương chính là sự phối hợp liên ngành dưới sự quản lý chung của Nhà nước. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Mặt trận Tổ quốc có vai trò lịch sử và là bộ phận quan trọng trong hệ thống chính trị ở Việt nam bên cạnh Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Luật giáo dục ( điều 84) đã nêu: " Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm động viên toàn dân chăm lo cho sự nghiệp giáo dục " . Các công việc cụ thể như sau: Tập hợp quần chúng, tạo nên những phong trào quần chúng làm giáo dục. Tập hợp để xây dựng thành những lực lượng hỗ trợ cho giáo dục. Thu thập nhu cầu, nguyện vọng của các tổ chức, các giai cấp, các tầng lớp nhân dân sau đó bàn bạc, thảo luận đề xuất những chủ trương, chương trình, kế hoạch, hoạt động; kiến nghị các chính sách chế độ với các cấp chính quyền địa phương nhằm thực hiện tốt xã hội hóa công tác giáo dục. Sau khi thống nhất chủ trương và được các cấp quản lý ban hành, Mặt trận Tổ quốc kêu gọi, động viên các lực lượng, các tổ chức, cá nhân, tổ chức thành phong trào quần chúng tham gia đóng góp các nguồn lực, xây dựng môi trường lành mạnh thuận lợi cho giáo dục. Tổng kết thực tiễn, rút ra những bài học kinh nghiệm từ đó đề xuất chính sách, chế độ cho phù hợp. - Tổ chức đoàn thanh niên nói ở đây bao gồm Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức khác của thanh niên như Hội liên hiệp thanh niên, Hội liên hiệp sinh viên . Tùy thuộc tính chất chính trị, tính chất quần chúng, tính chất xã hội mà có những đóng góp cụ thể, quan trọng trong xã hội hóa công tác giáo dục. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thực hiện chức năng giáo dục thế hệ trẻ. Đoàn có trách nhiệm phối hợp với Ngành Giáo dục thực hiện các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước về giáo dục. Các trách nhiệm đó là: Có nhiều biện pháp huy động, khích lệ học sinh trong độ tuổi đi học, giải quyết tình trạng bỏ học hoặc lưu ban. Cùng với nhà trường tham gia các hoạt động giáo dục ngay trong nhà trường như chỉ đạo việc học tập, rèn luyện đạo đức kết hợp với những chủ trương về giáo dục của bản thân Đoàn thanh niên theo hướng chỉ đạo của Ban chấp hành Đoàn trường và từ Ban chấp hành Trung ương Đoàn. Tổ chức các chiến dịch “ánh sáng văn hóa hè” đến những vùng sâu, vùng xa; tham gia công tác chông phù chữ và phổ cập giáo dục; tổ chức các lớp học tình thương cho trẻ em lang thang cơ nhỡ; tổ chức các quỹ khuyến khích tài năng trẻ sáng tạo, quỹ giúp học sinh nghèo vượt khó. Đoàn cùng với nhà trường tổ chức và thực hiện những hoạt động ngoại khóa, những chương trình giáo dục ngoài nhà trường. Đoàn giữ vai trò chính trong các hoạt động tham quan du lịch, vui chơi giải trí, thể dục thể thao, sinh hoạt câu lạc bộ, sinh hoạt nhà văn hóa, tổ chức các hoạt động công ích, hoạt động từ thiện, lao động sản xuất V...V.... Một hoạt động quan trọng rất thiết thực với xã hội hóa công tác giáo dục là tổ chức giáo dục trên địa bàn dân cư , đặc biệt trong thời gian hè. Đoàn phụ trách Đội thiếu niên tiền phong ở trong nhà trường cũng như ở địa phương. Công việc này thực chất là tham gia giáo dục thanh thiếu niên, một hoạt động thiết thực của xã hội hóa công tác giáo dục. Đoàn còn tham gia nhiều chương trình xã hội hóa công tác giáo dục cùng với các tổ chức khác với vai trò nòng cốt như tham gia Hội đồng giáo dục cơ sở, các tiểu ban của Hội đồng, chăm lo xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường, chăm lo đời sống cho giáo viên, xây dựng môi trường lành mạnh cho giáo dục. - Hội Liên hiệp phụ nữ: cần phát huy hơn nữa vai trò của phụ nữ trong xã hội hóa công tác giáo dục, cụ thể là tham gia vào việc giám sát, chống bỏ học trong thanh thiêu niên; tham gia phong trào" nuôi con khỏe, dạy con ngoan"; khuyến khích, động viên thế hệ trẻ và những ai có điều kiện đều tham gia các hình thức học tập, đào tạo, rèn luyện để hưởng thụ sự công bằng giáo dục và để nâng cao chất lượng cuộc sống. - Hội cựu chiến binh: tham gia giáo dục tinh thần yêu nước, giáo dục thế hệ trẻ trân trọng những gì có được trong cuộc sống hòa bình ngày hôm nay; biết ơn các thế hệ đi trước trong cuộc đấu tranh giành tự do độc lập cho dân tộc từ đó không ngừng rèn luyện, tu dưỡng bản thân để bảo vệ và đưa đất nước phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới như lời dạy của Bác Hồ. Ngoài những điều kể trên, Hội còn có thể tham gia xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, góp phần cải tạo các phong tục tập quán cũ, xây dựng lối sống mới tiến bộ, phát triển văn hóa lành mạnh, đấu tranh chống văn hóa độc hại và các tệ nạn xã hội. Chính các thành viên của Hội cựu chiên binh là những nhân tố xây dựng gia đình văn hóa mới, góp phần quan trọng trong việc lành mạnh hóa môi trường xã hội. * Các tổ chức kinh tế, cơ sở sản xuất, kinh doanh: tuy theo khả năng và điều kiện cụ thể cần góp phần đầu tư và tái đầu tư cho giáo dục để mọi người có điều kiện học tập nhằm nâng cao kiến thức cũng như khuyến khích các học sinh nghèo học giỏi bằng cách ủng hộ các quĩ khuyến học. * Các cơ sở, các tổ chức giáo dục: - Công đoàn giáo dục: chăm lo cải thiện mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần cho đoàn viên. Thực hiện dân chủ công bằng trong việc phân bổ chính sách, ngân sách v.v... - Hội đồng giáo dục cơ sở: cần phát huy hơn nữa vai trò của mình trong hoạt động xã hội hóa công tác giáo dục. Trong từng hoạt động cụ thể nên có sự kiểm tra, đánh giá, tổng kết hoạt động thường xuyên, tránh tình trạng đầu voi, đuôi chuột, làm chiếu lệ. - Hội cha mẹ học sinh: điều 83 Luật Giáo dục đã qui định quyền của cha mẹ học sinh là tham gia các hoạt động giáo dục theo kế hoạch của nhà trường; tham gia các hoạt động của cha mẹ học sinh do nhà trường tổ chức. Thực tế chỉ ra rằng cha mẹ học sinh chính là người thầy giáo đầu tiên và gia đình là môi trường vô cùng quan trọng trong việc giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách nên cần phải hết sức đề cao vai trò, trách nhiệm của cha mẹ học sinh. Để phát huy tiềm năng của lực lượng này, ngay từ những năm 1990 Bộ Giáo dục -Đào tạo đã ban hành Điều lệ Hội cha mẹ học sinh nên Hội có thế mạnh trong việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước trong các hội viên và nhân dân; ngoài ra còn vận động cha mẹ học sinh cùng với các lực lượng xã hội và nhà trường quản lý việc học tập, giáo dục đạo đức cho các em, đóng góp ý kiến xây dựng nhà trường về mọi mặt; giúp đỡ nhà trường trong việc xây dựng, bảo vệ cơ sở vật chất, thiết bị, chăm lo đời sống vật chất cho đội ngũ giáo viên, cán bộ công nhân viên nhà trường; thực hiện có hiệu quả các điều khoản về bảo vệ,chăm sóc, giáo dục trẻ em. Qua thực tiễn, có thể thấy rằng mối quan hệ giữa nhà trường với Hội cha mẹ học sinh là mối quan hệ đặc biệt, hai chiều, ở những trường nào Hội cha mẹ học sinh hoạt động tích cực thì sự tác động vào nhà trường sẽ mang lại hiệu quả cao và nếu nhà trường tổ chức tốt các hoạt động thì sẽ thu hút được sự hỗ trợ của Hội. - Hội khuyến học và quĩ tài năng trẻ: tham gia tài trợ giúp đỡ những học sinh nghèo hiếu học có hoàn cảnh khó khăn hay hỗ trợ những học sinh có tài nhằm tạo điều kiện cho các em phát triển. Gia đình tộc họ: lực lượng này có vai trò hết sức quan trọng trong việc động viên khuyến khích con em trong tộc học tập, tu dưỡng phấn đấu vì quyền lợi và vinh dự của gia đình họ tộc nói riêng và vì sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói chung. Hiện nay các gia đình, tộc họ đang phấn đấu trở thành gia đình văn hóa ở các khu dân cư. Để đạt dược danh hiệu này mỗi thành viên trong gia đình cần gương mẫu về mọi mặt trong cuộc sống. Gia đình cần chăm lo và tạo điều kiện tốt nhất cho con em trong học tập như sắm sửa đầy đủ dụng cụ, phương tiện học tập; tổ chức góc học tập; quản lý, nhắc nhở thời gian tự học tập ở nhà. Ngoài ra còn phối hợp với nhà trường tổ chức các hoạt động ngoài trường, tổ chức các hội thi nhân dịp các ngày lễ trong năm. Các cá nhân: các cá nhân đề cập ở đây là những người có uy tín trong xã hội. Họ có thể là những nhà hảo tâm, những " mạnh thường quân" tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, muốn đóng góp tài lực để phát triển giáo dục. Mỗi người tùy theo khả năng, điều kiện, vị thế mà có thể có những hình thức đóng góp như: đóng góp tài chính xây dựng trường lớp, đóng góp cho quĩ học bổng, tổ chức các hoạt động nhân đạo từ thiện, giúp đỡ mở các trường dân lập, tư thục. Ngoài ra, những người có uy tín có những ảnh hưởng trong cộng đồng có thể còn có những đóng góp quan trọng khác trong các hoạt động giáo dục từ gia đình đến nhà trường và ra ngoài xã hội. Các tổ chức quốc tế: hiện nay có rất nhiều những tổ chức phi chính phủ ở những nước phát triển đi tài trợ, giúp đỡ những nước chưa hoặc đang phát triển. Cần phải tìm hiểu về các tổ chức trên và yêu cầu giúp đỡ khi có điều kiện. Hiện nay nhiều Việt kiều ở nước ngoài cũng đang tìm về cội nguồn muôn giúp đỡ xây dựng làng xóm quê hương; hoặc những người nước ngoài vì mục đích nhân đạo bởi những quá khứ ám ảnh sau chiến tranh mong muốn làm một điều gì đó cho đất nước, con người Việt nam. Các cấp quản lý cùng các lực lượng trong xã hội cần có trách nhiệm tổ chức, khuyến khích, vận động cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho họ đóng góp vật chất, tài chính v.v... để xây dựng trường lớp hay trang bị các phương tiện dạy học, hỗ trợ cho các lớp học tình thương, lớp dạy trẻ khuyết tật, các trường dạy nghề. v.v... c) Cơ chế phối hợp liên kết * Tổ chức Đại hội giáo dục các cấp: Đây là một hình thức nhằm thể chế hóa việc thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục ở mỗi đơn vị, trên từng địa bàn để triển khai một cách có tổ chức, có kế hoạch, có hiệu quả. Nghị quyết của Đại hội giáo dục các cấp thể hiện ý chí của toàn thể cộng đồng và các lực lượng xã hội trên địa bàn, rành buộc trách nhiệm của các thành viên trong cộng đồng; đây là một hình thức văn bản dưới luật sát với tình hình thực tê của địa phương được đề ra một cách tự giác và đảm bảo sự thống nhất trong quá trình thực hiện. Quá trình tổ chức Đại hội: cần chú ý ngay từ khâu chuẩn bị, tổ chức Đại hội và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội. Trong thực tế hiện nay, hai khâu đầu thường được chú ý nhiều còn khâu sau rất quan trọng lại chưa được quan tâm đúng mức. Do vậy cần chú ý nhiều đến việc tuyên truyền phổ biên Nghị quyết của Đại hội, đôn đốc kiểm tra việc thực hiện, kịp thời phát hiện những vướng mắc trong quá trình triển khai để kịp thời điều chỉnh. Định kỳ cần kiểm tra việc thực hiện các qui định, chỉ tiêu, cam kết mà Nghị quyết Đại hội đã thông qua, cụ thể như: các chính sách khen thưởng học sinh, giáo viên, các cán bộ quản lý đạt thành tích cao trong học tập, giảng dạy, lãnh đạo. Các chế độ cho giáo viên đạt trình độ cao( nâng chuẩn). Kiểm tra kết quả phổ cập, các chê độ Bảo hiểm cho giáo viên ngoài công lập theo qui định tại điều 16,17 của Nghị định 73/CP ngày 9/8/1999 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đôi với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao... * Hình thành Hội đồng giáo dục: Hội đồng giáo dục do Đại hội giáo dục cùng cấp bầu ra. Hiện nay tại Quận 2, Hội đồng giáo dục cấp phường, cấp Quận hoạt động đều đặn khá tốt nhưng hiệu quả chưa cao do thành phần nặng về cơ cấu nên chưa phát huy được vai trò của các thành viên. Trong thời gian tới cần tập trung giải quyết những vấn đề sau: Đại hội giáo dục các cấp nhiệm kỳ tới cần cơ cấu hài hòa giữa các ngành cho phù hợp với năng lực của các thành viên . Cần phân công trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong hội đồng. Tránh tình trạng cùng làm nhưng không ai chịu trách nhiệm. Cần lập một số tiểu ban giúp Hội đồng như tiểu ban phụ trách công tác cơ sở vật chát, tiểu ban truyền thông, tiểu ban chăm lo đời sồng cho giáo viên, cán bộ công nhân viên .v.v... Xây dựng qui chế của Hội đồng giáo dục các cấp. Đảm bảo việc sinh hoạt định kỳ của Hội đồng giáo dục theo qui chế. Cần có sự giao lưu, học hỏi kinh nghiệm của Hội đồng giáo dục các cấp. Hội đồng giáo dục không phải là một cấp quản lý làm thay chức năng của Ủy ban nhân dân và cơ quan chuyên trách quản lý giáo dục mà là tổ chức có chức năng tham mưu với cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân cùng cấp về xã hội hóa công tác giáo dục. Hội động giáo dục còn tổ chức, động viên các tầng lớp nhân dân thực thi Nghị quyết Đại hội giáo dục, tham mưu với chính quyền khen thưởng, động viên những cá nhân, tập thể có nhiều thành tích đóng góp cho nhà trường và xử lý những trường hợp vi phạm. Hội đồng giáo dục cần phát huy quyền hạn và trách nhiệm sau: Yêu cầu các thành viên trong công đồng thực hiện Nghị quyết của Đại hội giáo dục. Yêu cầu các cấp quản lý ở địa phương trả lời những vấn đề liên quan đến nhà trường phổ thông. Đề xuất kịp thời với cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các biện pháp phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, bảo đảm tính khả thi. Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng giáo dục, các trường cần định kỳ thông báo cho Hội đồng những hoạt động của nhà trường cũng như các chủ trương biện pháp của ngành giáo dục, tiên độ thực thi các mục tiêu, chương trình, những thuận lợi, khó khăn trong mọi hoạt động của nhà trường cũng như những yêu cầu đối với địa phương để Hội đồng giáo dục kịp thời tập hợp, làm đề xuất kiến nghị với các cấp lãnh đạo. * Kiện toàn, củng cố Ban chỉ đạo: Đây cũng là cách thể chế hóa bằng tổ chức, phù hợp với yêu cầu của từng chương trình, mục tiêu, từng giai đoạn ở từng cấp hoặc từng nội dung hoạt động có tính nhất thời. Hiện nay Quận 2 cần thành lập và phát huy hơn nữa vai trò của một số Ban chỉ đạo sau: Ban chỉ đạo phổ cập: tiếp tục nâng cao, củng cố kết quả của phổ cập Tiểu học, Trung học cơ sở, chống tái mù chữ cho người lớn tuổi. Thực hiện phổ cập Tiểu học, Trung học cơ sở đúng độ tuổi; chuẩn bị đề án phổ cập Trung học. Ban chỉ đạo các kỳ thi (tốt nghiệp, tuyến sinh): Các Ban này hoạt động ch? có tính tạm thời nhưng có vai trò quan trọng trong từng thời điểm, phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ cụ thể đã đề ra. cần chú ý lãnh đạo sâu sát cũng như tạo mọi điều kiện để ban chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Ban chỉ đạo các hoạt động văn hóa, thề dục thế thao, hoạt động hè phục vụ thiết thực nhiệm vụ chính trị của ngành, của địa phương. Các ban này trong thời gian qua huy động được nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều cá nhân quan tâm, đóng góp nhiều cho loại hình hoạt động này. Trong thời gian tới cần tiếp tục duy trì và phát huy hơn nữa vì điều này phù hợp với các qui định tại điều 84 của Luật Giáo dục về " trách nhiệm của xã hội". Ban quản lý dự án của ngành có nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo mảng liên quan đến xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất cho toàn ngành. Trong thời gian từ khi tách thành Quận mới đến nay đã giải quyết khá tốt việc cải tạo cũng như xây dựng mới các phòng học, được dư luận đánh giá cao. Trong thời gian tới nên tiếp tục kiện toàn và củng cố các Ban chỉ đạo theo chuyên đề này, đặc biệt trong việc phát huy vai trò thực thi giám sát chất lượng, hiệu quả các công trình, giảm thiểu tỉ lệ thất thoát trong xây dựng. 3.4.4- Phát huy tác dụng của nhà trường vào đời sống Nhà trường và giáo dục là bộ phận của cấu trúc xã hội, gắn bó hữu cơ về mọi mặt chính trị, kinh tê, văn hóa xã hội....Đó là sự gắn bó chức năng trong quan hệ hệ thông, bảo đảm sự phát triển của toàn bộ hệ thông. Nhà trường phát triển bằng sức mạnh của cộng đồng và vì lợi ích cộng đồng. Nó không tách rời mà gắn bó với cộng đồng trong mọi lĩnh vực, trong mọi chính sách kinh tế- xã hội. Quán triệt những quan điểm cơ bản đó, nhà trường cần phải phát huy tác động của nhà trường vào đời sống. Điều này thể hiện trong từng bậc học, cấp học sau. a) Bậc học mầm non. Giáo dục mầm non là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, mới xuất hiện từ sau cách mạnh Tháng Tám. Nhìn vào hình thức giáo dục mầm non có thể khẳng định đây là bậc học được xã hội hóa cao hơn bất kỳ một bậc học nào. Giáo dục mầm non là sự thể hiện sôi động nguyên tắc Nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm. Cho tới nay, giáo dục mầm non đã tồn tại với đủ các qui mô trường, lớp, nhóm với các loại hình khác nhau. Trong vòng vài năm trở lại đây, giáo dục mầm non đã xuất hiện nhiều mô hình khác nhau với nhiều cách làm sáng tạo, phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội ở từng nơi. Theo thống kê, hiện nay có tới 74% số trẻ em dưới 5 tuổi đang được giáo dục chăm sóc tại gia đình. Chính vì thế cùng với việc tập trung những nỗ lực vào việc khôi phục, duy trì, phát triển qui mô nhà trẻ, mẫu giáo, giáo dục mầm non có một chức năng quan trọng nữa là tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học về chăm sóc, giáo dục trẻ cho các bậc cha mẹ có con từ 0 - 5 tuổi. Việc phổ biên này làm từ nhà trường đến cộng đồng. Các trường mầm non thường xuyên tham mưu cho các cơ quan quản lý, phối hợp với y tế, phụ nữ thực hiện chương trình phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em, chương trình vay vốn, tăng thu nhập, xóa mù cho phụ nữ.... Trong các chương trình đều có có nội dung phổ biến cho phụ nữ nuôi con khỏe, dạy con ngoan, kế hoạch hóa gia đình.... Hiện nay, ngành còn xây dựng các bài dạy trên truyền hình về những kiến thức cơ bản nuôi dạy con dưới 6 tuổi như chăm sóc sức khỏe thai nhi khi mang thai, chăm sóc trẻ sơ sinh, tập vận động cho trẻ, giáo dục lòng nhân ái cho trẻ và những điều chuẩn bị cho trẻ đi học lớp 1. Những bài dạy đó đã cung cấp những hiểu biết cần thiết cho người mẹ để tự nuôi dưỡng, giáo dục con mình. Trong bước đường phát triển của mình, bằng lý luận và thực tiễn, giáo dục mầm non đã phát huy được tác dụng của nhà trường vào đời sống thông qua các chương trình cấp quốc gia vì trẻ em, vì việc nâng cao chất lượng cuộc sống như : chương trình chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi, chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình nước sạch nồng thôn, chương trình cho vay vốn, tăng thu nhập, xóa mù chữ cho phụ nữ. Bằng những việc làm thiết thực nêu trên, giáo dục mầm non đã thu hút được sự quan tâm của xã hội, tạo được sự tín nhiệm của các bậc phụ huynh. Giáo dục mầm non đã góp phần giải phóng phụ nữ, giúp cha mẹ các em yên tâm sản xuất và làm tăng nhu cầu văn hóa, nâng cao dân trí. b)Bậc tiểu học. Trong "Luật phổ cập giáo dục tiểu học" có ghi: giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân , có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ thẩm mỹ và thể chất của trẻ nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam. Bậc tiểu học là nền tảng vì nó là bậc học đầu tiên có nhiệm vụ phải xây dựng toàn bộ nền móng cho cho hệ thống giáo dục phổ thông để " đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển toàn diện của con ngươi Việt nam xã hội chủ nghĩa". Nếu đứa trẻ không đạt kết quả tốt ở bậc tiểu học thì chắc nó cũng khó tiến bộ được ở những năm học tiếp theo. Đó là kết luận của Hội nghị quốc tế về giáo dục phổ thông ở Maxcơva năm 1968. Vì thế dạy học và giáo dục ở bậc tiểu học sẽ không chỉ là đặt nền móng cho giáo dục phổ thông mà còn đặt nền móng cho toàn bộ sự hình thành nhân cách con người. Giáo dục tiểu học đã đem đến cho trẻ những cái mới chưa hề có trong kinh nghiệm của trẻ, những thành tựu của nền văn minh đương thời. Giáo dục tiểu học đã giáo dục trẻ em bằng phươngt pháp nhà trường: dạy các em những khái niệm khoa học, dạy các em cách làm việc trí óc. Những điều này không chỉ giúp các em có vòn để sông một cuộc sông bình thường mà còn thỏa mãn nhu cầu học lên và học mãi của chúng. Nhà trường tiểu học phải luôn đảm bảo là điểm sáng của văn hóa. Nhà trường phải có môi trường xanh, sạch, đẹp. Trong nhà trường, các em được dạy các kỹ năng thì những kỹ năng đó phải được phát huy tác dụng ra ngoài xã hội. Như vậy, với những đặc thù riêng, giáo dục tiểu học đã dạy cho các em những kỹ năng cơ bản nhất, từ đó đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển hình thành nhân cách, giúp các em tự tin khi bước vào giao tiếp, hòa nhập trong xã hội. Đó chính là phát huy tác dụng của nhà trường vào đời sống xã hội. c) Với bậc trung học cơ sở Giáo dục trung học cơ sở được xem là một" giấy thông hành vào đời". Hiện nay sau trung học cơ sở, trên 80% số học sinh ở thành phố học lên trung học phổ thông ở các loại hình trường khác nhau: công lập, bán công, dân lập, tư thục. ơ nông thôn và những vùng khó khăn, con số này cũng lên khoảng 40%. Giáo dục trung học cơ sở, với tư cách hiện nay là giáo dục phổ cập là sự hòa nhập của người học vào môi trường, đóng góp vào sự cải thiện môi trường bằng những hành động có hiệu quả. Đây là một vấn đề gai góc nhưng cũng chính tại đây, mà nhà trường phát huy được nhiều tác dụng cụ thể vào đời sống xã hội, xóa đi khoảng cách lớn của nhà trường hiện nay với những thực tiễn và nhu cầu của xã hội. Theo định hướng hòa nhập nói trên, trung học cơ sở có mục tiêu "kép" chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên và một bộ phận học sinh ra đời tham gia vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Hòa nhập với môi trường là có vị trí trong cộng đồng, phát huy khả năng của mình, học được một nghề, có được việc làm, cải thiện đời sống, học tập thường xuyên và đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng. Nhà trường trung học cơ sở đã trang bị cho các em kiến thức tối thiểu và cơ bản, kỹ năntg thái độ, giá trị cần thiết nhất trên những lĩnh vực then chốt nhất để các em hòa nhập với xã hội. Hiện nay ở Quận 2, ngoài các buổi lên lớp chính khóa, các em còn học những buổi ngoại khóa hướng nghiệp, dạy nghề. Để đạt được mục tiêu phân luồng trong những năm học sau, nhà trường cần phải làm tốt công tác hướng nghiệp và dạy nghề. Giúp các em có cái nhìn đúng về bước đường đi sắp tới của mình. Nhiều trường trong Quận đã cử giáo viên của trường đến các lớp học tình thương tham gia dạy dỗ. Đây là những đối tượng cần sự giáo dục đặc biệt nên chỉ những giáo viên thật sự yêu người, yêu nghề mới làm được công việc khó khăn này. Ngoài ra, nhiều trường cũng đã cử các em học sinh đến thăm hỏi, động viên những gia đình nghèo khó, neo đơn. Những việc làm nghĩa tình trên đã làm nhà trường ngày càng gắn bó và phát huy được tác dụng vào đời sống. Như vậy, cho dù ở cấp học nào, nhà trường cũng đều phát huy đước vai trò của mình vào đời sống xã hội. Với việc phát huy trên, nhà trường không những phát huy được nội lực của bản thân nhà trường mà qua đó còn phát huy được sức mạnh của cả cộng đồng vào công tác giáo dục. 3.4.5- Cải thiện các điều kiện cho việc tổ chức điều hành xã hội hóa công tác giáo dục trong các cơ sở giáo dục Để tiếp tục tăng cường xã hội hóa công tác giáo dục trên địa bàn Quận 2 cần phải có các điều kiện về vật chất tài chính, về phương tiện hoạt động cho bộ máy điều hành. Từ khi hình thành chủ trương đến khi cho ra kế hoạch hành động cần phải tính đến các điều kiện đảm bảo cho việc thực thi các chương trình kế hoạch đó. Ví như việc xây dựng các đề án, dự án cho dù với qui mô và nội dung khác nhau hay việc biên soạn phát hành các tài liệu tuyên truyền trong cộng đồng cần phải được điều tra, thu thập số liệu tỉ mỉ kỹ càng. Trong khâu tuyên truyền, để tiếp tục làm chuyển biến nhận thức xã hội về giáo dục, về xã hội hóa công tác giáo dục cần phải có sự hoạt động đồng bộ, phối hợp với các phương tiện tuyên truyền, lực lượng báo cáo viên thì mới có hiệu quả. Để làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, cần tổ chức các hội nghị sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, đánh giá kết quả phong trào chung hay từng chuyên đề cụ thể, kèm theo là các khen thưởng cá nhân hay tập thể xuất sắc đạt thành tích cao trong hoạt động. Tất cả những hoạt động này đều đòi hỏi phải có kê hoạch tổ chức và kinh phí chi dùng. Hội đồng giáo dục các cấp cũng như các ban chỉ đạo hình thành đi vào hoạt động cần phải có kinh phí mới đảm bảo cho việc sinh hoạt, hội họp định kỳ, kiểm tra, kiểm soát, thị sát phong trào nắm tình hình cơ sở; như vậy, cần có phương tiện đi lại, phương tiện làm việc của các thành viên. Tất cả những điều nêu trên cần có nguồn kinh phí chủ động từ ngân sách các cấp và nguồn lực huy động tại chỗ. Để đảm bảo tính ổn định cho những hoạt động này, cần qui định một tỉ lệ nhất định trong nguồn kinh phí của ngân sách các cấp, các nguồn lực huy động được từ địa bàn, từng cơ sở giáo dục. Hiện nay, việc này chưa được chú ý tới nhưng trong tương lai, để cho các hoạt động nêu trên vận hành đạt kết quả tốt, cần ra những qui định cụ thể. Bên cạnh việc chú ý các điều kiện vật chất, tài chính cho việc điều hành thì cũng cần chú ý yếu tố con người trực tiếp theo dõi, điều hành công việc này ở các cấp. Từ thực tiễn Quận 2, chúng tôi thấy cồng việc này cần có cán bộ chuyên trách. Tuy nhiên tuy theo mức độ công việc, hoạt động cụ thể mà có thể giao kiêm nhiệm. 3.5 Khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp nêu trên Để khảo nghiệm tính cáp thiết và tính khả thi của các biện pháp tăng cường xã hội hóa công tác giáo dục trên địa bàn Quận 2, thành phô Hồ Chí Minh, tác giả đã tiến hành trưng cầu ý kiến của 115 người bao gồm cán bộ lãnh đạo chính quyền, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội, học sinh, phụ huynh học sinh các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở. Kết quả thu được cho thấy mức độ tán thành về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp trên như sau: Các biện pháp trên đây có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chúng vừa tạo tiền đề cho nhau vừa thúc đẩy nhau cùng phát triển, nếu thiếu một trong những biện pháp nêu trên thì các biện pháp đó sẽ không đồng bộ và thiếu tính nhất quán trong quá trình tổ chức thực hiện. Có thể các biện pháp nêu trên không mới song lại là những biện pháp thiết thực đã được triển khai với các mức độ khác nhau trên địa bàn Quận 2 và cần tiếp tục duy trì duy trì với những yêu cầu cao hơn nhằm tăng cường công tác xã hội hóa công tác giáo dục ở Quận 2 ngày một phát triển tốt hơn. Kết quả thăm dò các biện pháp nêu trên đã cho phép tác giả đưa ra một số nhận xét sau: - Việc tiếp tục khẳng định và đề xuất các biện pháp nêu trên là hoàn toàn phù hợp, đúng đắn từ việc tiếp tục làm chuyển biến nhận thức chung, huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong xã hội tham gia xã hội hóa công tác giáo dục đến việc tăng cường hiệu lực cơ chế điều hành, phát huy tác dụng của nhà trường vào đời sống cũng như việc cải thiện các điều kiện cho việc tổ chức điều hành xã hội hóa công tác giáo dục trong các cơ sở giáo dục. - Thực tế chỉ ra rằng các biện pháp tăng cường hiệu lực cơ chế điều hành, đảm bảo sự phối hợp đồng bộ giữa nhà trường và các thiết chế xã hội, giữa các lực lượng tham gia vào hoạt động xã hội hóa và biện pháp cải thiện các điều kiện cho việc tổ chức điều hành xã hội hóa khó thực thi hơn các biện pháp khác. Như vậy, cần quan tâm các biện pháp nêu trên đúng mức trong quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện. PHẦN III- KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Kết luận chung 1.Giáo dục là một bộ phận của đời sống xã hội, không thể tồn tại một nền giáo dục ngoài xã hội. Giáo dục luôn hướng tới sự phát triển của xã hội hay luôn tồn tại một nền giáo dục xã hội. Đó chính là bản chất xã hội của giáo dục do vậy xã hội hóa công tác giáo dục là một tất yếu khách quan, là quá trình tăng cường tính xã hội của công tác giáo dục thông qua việc nâng cao trách nhiệm từ cả hai phía giáo dục và xã hội. 2.Nhận thức được bản chất và ý nghĩa của xã hội hóa công tác giáo dục xuất phát từ những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương, trong thời gian qua các cấp ủy Đảng, chính quyền Quận 2 đã quan tâm, chỉ đạo triển khai công tác xã hội hóa giáo dục và đã thu được một số những kết quả quan trọng sau: - Đã tạo được sự chuyển biên cơ bản trong nhận thức xã hội về vị trí, vai trò của giáo dục. - Đã từng bước đa dạng hóa loại hình trường lớp. - Lôi cuốn các lực lượng xã hội tham gia vào công tác giáo dục. - Đã huy động được một số nguồn tài chính cho công tác giáo dục. - Xây dựng bậc học mầm non hoàn chỉnh về cơ cấu; phát triển nhanh về qui mô. - Từng bước hoàn thiện cơ chê thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục và thể chế hóa sự quản lý của Nhà nước, tạo thêm hành lang pháp lý cho việc xã hội hóa công tác giáo dục. Mặc dù đã đạt được một kết quả nêu trên nhưng trong quá trình triển khai vẫn còn một số khó khăn tồn tại sau: - Có một số nơi nhận thức về xã hội hóa công tác giáo dục còn mơ hồ. - Chưa đa dạng hóa loại hình trường lớp ở bậc tiểu học và trung học cơ sở. - Nhiều lúc, nhiều nơi chưa phát huy tốt tác dụng của nhà trường vào đời sống xã hội. - Chưa có sự phối hợp đồng bộ nhịp nhàng giữa các lực lượng trong xã hội và các ngành, các cấp. - Việc huy động các nguồn lực còn nhiều khó khăn. Các điều kiện cho việc tổ chức điều hành xã hội hóa công tác giáo dục trong các cơ sở giáo dục còn nhiều tắc trách. 3. Nhằm tiếp tục tăng cường xã hội hóa công tác giáo dục tại Quận 2, luận văn đã nêu ra một số biện pháp sau: - Nâng cao nhận thức. - Huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong xã hội tham gia xã hội hóa công tác giáo dục. - Tăng cường hiệu lực cơ chế điều hành, đảm bảo sự phối hợp đồng bộ giữa nhà trường và các thiết chế xã hội, giữa các lực lượng tham gia vào hoạt động xã hội hóa. - Phát huy tác dụng của nhà trường vào đời sống xã hội - Cải thiện các điều kiện cho việc tổ chức điều hành xã hội hóa công tác giáo dục trong các cơ sở giáo dục. Các biện pháp nêu trên có môi quan hệ chặt chẽ, vừa tạo tiền đề vừa hỗ trợ thúc đẩy nhau và cần phải được triển khai một cách đồng bộ. Các biện pháp trên đã được kiểm chứng trên địa bàn Quận 2. vấn đề quan trọng trong chỉ đạo là phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tế từng lúc, từng nơi, từng bậc học, cấp học, sao cho việc chỉ đạo cả 5 biện pháp nêu trên có chú trọng ưu tiên để đạt được hiệu quả cao nhất. Chúng tôi xin đề xuất một số kiến nghị sau: Đối với các cơ quan Trung ương Tiếp tục hoàn chỉnh lý luận về xã hội hóa công tác giáo dục trong giai đoạn mới. Ban hành qui định về phân cấp quản lý giáo dục thống nhất trong cả nước. Cần có sự đầu tư có tính chát đột phá cho giáo dục. Cần có qui định về chế độ vay tiền cho các trường ngoài công lập theo lãi xuất ưu đãi để xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường hoặc ngân sách Nhà nước đầu tư xây dựng để các cơ sỏ ngoài công lập thuê dài hạn. Nhanh chóng ban hành qui chế cho các trường ngoài công lập. Đối với địa phương: Thành phố Hồ Chí Minh và Quận 2 Cần có chính sách khuyến khích các tổ chức kinh tế - xã hội, các cá nhân đầu tư mở trường ngoài công lập ở các bậc học, cấp học. Có đề án xây dựng mạng lưới các trường công lập, trường bán công, trường dân lập để chúng có tác dụng bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Tổ chức định kỳ việc sơ kết, tổng kết, đánh giá, khen thưởng việc thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục trên địa bàn Quận 2. Cần đẩy mạnh hơn nữa việc đầu tư cho giáo dục với ý nghĩa đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Đặc biệt chúng tôi xin có một số kiến nghị với phòng và ngành giáo dục-đào tạo Quận 2: Thường xuyên chủ động làm tốt công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của giáo dục, về xã hội hóa công tác giáo dục, về các chủ trương, chính sách phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước cho các cán bộ, giáo viên, cán bộ công nhân viên trong ngành. Giáo dục ý thức tôn vinh nghề dạy học và đề cao giá trị học tập chân chính; nâng cao tinh thần trách nhiệm và thường xuyên trau dồi chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công nhân viên, giáo viên nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của từng đơn vị, của ngành. Tham mưu kịp thời với các cấp lãnh đạo và quản lý các vấn đề liên quan đến ngành, đến nhà trường theo hướng không chỉ nhằm giải quyết các điều kiện để làm giáo dục mà cốt lõi là huy động các lực lượng xã hội tham gia vào công tác giáo dục. Nhanh chóng và chủ động triển khai các chủ trương, chính sách đã được ban hành. Phát huy hơn nữa vai trò của công đoàn bộ phận bởi vì với chức năng tham gia quản lý và là thành viên của Mặt trận các cấp nên tổ chức công đoàn có thế mạnh trong việc vận động, thu hút sự tham gia của các lực lượng xã hội vào các hoạt động giáo dục. Thông qua chức năng tuyên truyền giáo dục, chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp cho đoàn viên, công đoàn bộ phận sẽ góp phần quan trọng trong việc xây dựng và phát huy nội lực của nhà trường nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị - đó cũng chính là ý nghĩa đích thực của xã hội hóa công tác giáo dục. Đối với các trường trên địa bàn Quận 2, chúng tôi cũng xin có một số kiến nghị như sau: Các trường mầm non: Tích cực, khẩn trương qui hoạch, xây dựng đội ngũ giáo viên đồng thời không ngừng nâng chuẩn trình độ. Nâng cao hơn nữa chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ phù hợp với đòi hỏi của sự phát triển kinh tế, xã hội trong điều kiện hiện nay. Các trường tiểu học: Tăng cường chất lượng dạy cả nội khóa và ngoại khóa. Tranh thủ sự giúp đỡ về mọi mặt của cộng đồng để phát triển cơ sở vật chất. Tiếp tục nâng chuẩn cho đội ngũ giáo viên, đáp ứng nhiệm vụ đối mới trong giáo dục. Các trường trung học cơ sở: Đổi mới việc kiểm tra và đánh giá thi cử. Tranh thủ sự đầu tư từ mọi nguồn lực trong xã hội để nâng cao điều kiện dạy học. Cần quan tâm hơn nữa đến việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO A/ VĂN KIỆN VÀ CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN 1. Quốc hội: Hiến pháp nước CHXHCNViệt Nam. 2.Quốc hội: Luật Giáo dục - NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội 2001. 3.Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành TW khóa VII 4.Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII - NXB chính trị quốc gia - Hà Nội 1996. 5.Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW khóa VIII NXB Chính trị quốc gia - Tháng 4/1997. 6.Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX - NXB chính trị quốc gia - Hà nội 2001. 7.Hồ Chí Minh toàn tập- NXB Chính trị quốc gia- Hà Nội 1996. 8.Hồ Chí Minh - Bàn về giáo dục- NXBGD 9.Hội đồng Chính phủ: Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 124/QĐ ngày 19/3/1981 về việc thành lập Hội đồng giáo dục các cấp. 10.Hội đồng Chính phủ: Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 1765/QĐ ngày 9/12/1981 về việc ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của Hội đồng giáo dục ở các cáp chính quyền địa phương. 11.Chính phủ: Nghị quyết của Chính phủ số90/CP ngày 21/8/1997 về phương hướng và chủ trương xã hội hỏa hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa. 12.Chính phủ: Nghị định Chính phủ Số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao. 13.Bộ Giáo dục và Đào tạo: Đề án xã hội hóa giáo dục và đào tạo - Bộ GD - ĐT- Hà Nội 1998. B/CÁC SÁCH BÁO, TÀI LIỆU KHOA HỌC 14.Đặng Quốc Bảo: Tổ chức và quản lý - NXB Hà nội 1999. 15.Nguyễn Tiến Đạt: Kinh nghiệm và thành tựu giáo dục và đào tạo trên thế giới - Tập bài giảng. 16.Phạm Minh Hạc: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ 21 - NXB Giáo dục - Hà Nội 1997. 17.Phạm Minh Hạc (tổng chủ biên): Xã hội hỏa công tác giáo dục - NXB Giáo dục - Hà Nội 1997. 18.Nguyễn Sinh Huy - Nguyễn Văn Lê: Giáo dục học đại cương. 19.Đặng Bá Lãm - Phạm Thành Nghị: Chính sách và kế hoạch trong quản lý giáo dục. Hà Nội 1999. 20.Đỗ Thiết Thạch: Quản lý giáo dục trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội (tài liệu dùng cho lớp CBQLvà cho chỉ đạo Phòng GD) - Trường Cán bộ QLGD & ĐT2 năm 1997. 21.Vũ Đình Chiến: Đường lối và chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, văn hóa (Đề cương bài giảng) - Trường Cán bộ QLGD & ĐT2 năm 2002. 22.Vũ Văn Tảo: Một số vấn đề về giáo dục đầu thê kỷ 21.- Hà Nội 2001. 23.Trần Hồng Quân : Một số vấn đề đổi mới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. -NXB Giáo dục, Hà Nội 1995. 24.Viện nghiên cứu phát triển giáo dục: Những vấn đề về phát triển chiến lược giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hỏa - Bối cảnh, xu hướng và động lực phát triển. 25.Viện nghiên cứu phát triển giáo dục: Những vấn đề về phát triển chiến lược giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa- Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo. 26.Viện nghiên cứu phát triển giáo dục - vụ trung học phổ thông: Những vân đề về phát triển chiến lược giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa-Giáo dục trung học phổ thông - NXB Giáo dục - Hà Nội 1998. 27.Viện nghiên cứu phát triển giáo dục - vụ tiểu học: Những vấn đề về phát triển chiến lược giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Giáo dục tiểu học. - NXB Giáo dục - Hà Nội 1998. 28.Viện nghiên cứu phát triển giáo dục - vụ giáo dục mần non : Những vấn đề về phát triển chiến lược giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa -Giáo dục mầm non. - NXB Giáo dục - Hà Nội 1998. 29.Viện khoa học giáo dục: xã hội hóa công tác giáo dục - nhận thức và hành động. Hà Nội 1999. 30.Ủy ban nhân dân Quận 2: tóm tắt qui hoạch phát triển kinh tế- xã hội Quận 2 đến năm 2010. 31 .Chương trình hoạt động thực hiện Nghị quyết TW khóa 3 về giáo dục & đào tạo của quận ủy Quận 2. 32.Qui hoạch phát triển mạng lưới ngành Giáo dục- Đào tạo Quận 2 đến năm 2010. 33.Phòng GD-ĐT Quận 2: Hội nghị tổng kết các năm học . PHẦN PHỤ LỤC PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN *********************************************** Kính gởi: Kính thưa đồng chí; Để có những đánh giá đúng đắn, khách quan về chủ trương đã ban hành liên quan đến xã hội hóa giáo dục, từ đó đề xuất một số biện pháp tiếp tục tăng cường công tác này, mong đồng chí bỏ chút thời gian cho biết ý kiến của mình về các vấn đề dưới đây: (xin đánh dấu nhân vào ô thích hợp). Xin trân trọng cám ơn các ý kiến đóng góp qui báu của đồng chí. I/ Xin chia xẻ ý kiến về xã hội hóa công tác giáo dục(XHHCTGD): Theo đồng chí, cần hiểu XHHCTGD trong giai đoạn hiện nay như thế nào? II/ Đồng chí đồng ý với các đánh giá nào trong các đánh giá dưới đây về việc thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục ở Quận 2.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfmot_so_bien_phap_nham_tang_cuong_xa_hoi_hoa_cong_tac_giao_duc_o_quan_2_tp_ho_chi_minh_6937.pdf
Luận văn liên quan