Luận văn Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước qua hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển

Kể từ khi chính thức đi vào hoạt động, ngày 01-01-2000, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, Ngành, địa phương và cùng với sự nỗ lực, cố gắng của mình, hệ thống Quỹ HTPT đã có những góp đáng kể trong việc hỗ trợ ĐTPT và xuất khẩu của đất nước. Qua đó, Quỹ HTPT đã khẳng định được vai trò là công cụ đắc lực và quan trọng của Chính phủ trong quản lý điều hành vĩ mô và phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

pdf111 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 18/11/2013 | Lượt xem: 1522 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước qua hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giao thông Vận tải... để bố trí bổ sung nguồn trả nợ đủ cho Quỹ theo hợp đồng tín dụng. + Theo dõi chặt chẽ tình hình nợ quá hạn, lãi treo, nên tổ chức các đoàn đốc thu tại các Chi nhánh Quỹ có nợ tồn đọng nhiều hoặc mới phát sinh mà Chi nhánh Quỹ chưa có biện pháp xử lý hiệu quả. + Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để triển khai thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp xử lý nợ vay vốn ĐTPT để đóng mới, cải hoán tàu đánh bắt và tàu dịch vụ đánh bắt hải sản xa bờ. + Cần sớm tiến hành xây dựng quy chế, quy trình về xử lý nợ vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước; xây dựng chế tài xử lý trách nhiệm trả nợ vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước đối với các chủ đầu tư chây ỳ, cố tình chiếm dụng vốn của Nhà nước. + Nghiên cứu áp dụng thí điểm hình thức thu hồi nợ thông qua Công ty mua bán nợ của Bộ Tài chính đối với một số dự án. + Cần xây dựng cơ chế gắn chặt hơn kết quả thu hồi nợ vay với quỹ lương được hưởng của từng Chi nhánh. - Tại Chi nhánh Quỹ HTPT các tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương: + Quán triệt sâu sắc tới từng phòng, từng cán bộ về tầm quan trọng của công tác thu hồi nợ vay, để mỗi phòng, mỗi cán bộ thấy rõ hơn trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong công tác này. + Rà soát lại toàn bộ dự án. Phân tích thực trạng tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của Chủ đầu tư để xác định khả năng trả nợ trong hiện tại và tương lai, từ đó có biện pháp thu nợ cụ thể đối với từng doanh nghiệp. Bám sát các nguồn thu của dự án để kịp thời đôn đốc chủ đầu tư hoàn trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng. + Phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, Tổng công ty và Chính quyền địa phương để được hỗ trợ các biện pháp thu hồi nợ. Đối với các dự án có nguồn trả nợ từ ngân sách địa phương, đề nghị ủy ban nhân dân tỉnh bố trí đủ nguồn trả nợ. Trường hợp chưa được bố trí đủ nguồn trả nợ, Chi nhánh Quỹ nên tạm ngừng giải ngân các dự án đầu tư thuộc kinh tế địa phương. + Việc đề xuất tháo gỡ khó khăn của chủ đầu tư phải đảm bảo mục tiêu nâng cao khả năng trả nợ của chủ đầu tư và khả năng thu nợ của Quỹ trên cơ sở phân tích thấu đáo tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ đầu tư, tránh tình trạng thỏa hiệp với chủ đầu tư, gây thất thoát vốn và tài sản của Nhà nước và của Quỹ HTPT. + Có cơ chế gắn kết quả thu hồi nợ vay với tiền lương của từng cán bộ Chi nhánh Quỹ. Giải pháp 6: Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII của Đảng đã chỉ rõ: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành công của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ và là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng". Có thể khẳng định, chất lượng hoạt động của hệ thống Quỹ HTPT trước hết phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ viên chức Quỹ HTPT. Chính vì vậy, việc hoàn thiện hoạt động của Quỹ HTPT gắn liền với việc nâng cao trình độ chuyên môn, giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ viên chức Quỹ HTPT. Để thực hiện được yêu cầu trên, nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao và mở rộng trong năm 2004 và các năm tiếp theo, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ viên chức của hệ thống Quỹ nên tập trung vào các hướng chủ yếu sau: - Thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, cập nhật kiến thức mới cho đội ngũ cán bộ viên chức theo yêu cầu công việc. Nhằm thực hiện yêu cầu này, Quỹ HTPT trước hết phải xác định chính xác nhu cầu đào tạo để có kế hoạch đào tạo phù hợp, tiết kiệm, hiệu quả. - Trên cơ sở định mức biên chế được giao, để nâng cao chất lượng cán bộ, Quỹ HTPT cần chú trọng việc tuyển dụng cán bộ có trình độ đại học loại khá trở lên thuộc các chuyên ngành tài chính, ngân hàng, ngoại thương,... hệ chính quy các trường Đại học công lập. Có biện pháp khuyến khích cán bộ tự nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ; cử cán bộ trẻ, có trình độ có năng lực thuộc diện quy hoạch phát triển lâu dài đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao. - Định kỳ hàng năm, tổ chức công tác kiểm tra sát hạch đối với cán bộ viên chức trong cơ quan. Giải pháp 7: Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ cần được thực hiện thường xuyên, kịp thời và trở thành một trong những hoạt động cơ bản của hệ thống Quỹ HTPT. Thông qua công tác kiểm tra để đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ theo đúng quy định, có hiệu quả, tránh thất thoát lãng phí và bảo vệ được cán bộ,... Công tác kiểm soát phải được thực hiện ngay từ khâu đầu tiên, tức ngay từ khi văn bản chính sách ra đời (các văn bản của Quỹ ban hành hướng dẫn nghiệp vụ) nhằm có được hiệu quả thực thi cao nhất, tránh trường hợp kiểm tra kiểm soát chỉ giải quyết hậu quả, khi có phát sinh vụ việc, tức đã đến giai đoạn cuối của vấn đề. Cần phải áp dụng nhiều hình thức kiểm tra, kiểm soát nhằm không ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác chuyên môn tại đơn vị bị kiểm tra nhưng vẫn thực hiện nhiệm vụ được giao. Các hình thức có thể áp dụng kiểm tra trước, trong và sau khi thực hiện quá trình công tác, kiểm tra từ xa, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất, thông tin báo cáo định kỳ,... Các Đoàn kiểm tra của Quỹ Trung ương trước khi tiến hành kiểm tra tại các Chi nhánh Quỹ cần xây dựng đề cương kiểm tra cụ thể, quán triệt đến từng cán bộ trong Đoàn. Trong quá trình kiểm tra nếu phát hiện sai phạm cần làm rõ trách nhiệm cá nhân, tập thể; đề xuất hướng xử lý cụ thể đồng thời thông báo rút kinh nghiệm trong toàn hệ thống. Các vấn đề nghiệp vụ vướng mắc phát hiện trong quá trình kiểm tra cần được Quỹ Trung ương xử lý kịp thời. Các sai phạm của tập thể, cá nhân khi bị phát hiện cần được xử lý nghiêm, phải đạt được yêu cầu răn đe, phòng ngừa chung trong toàn hệ thống, tránh trường hợp khi dự kiến kỷ luật thì "đầu voi", khi tiến hành kỷ luật lại là "đuôi chuột". Giải pháp 8: Đẩy mạnh công tác hỗ trợ lãi suất sau đầu tư. Việt Nam đang từng bước thực hiện cam kết AFTA, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, nên các doanh nghiệp, bên cạnh những cơ hội lớn cũng đang phải chịu những sức ép cạnh tranh ngày càng lớn từ hàng hóa nhập khẩu. Để có thể tạo lập được một "thế đứng" vững vàng khi cạnh tranh trở lên gay gắt hơn, trong điều kiện xuất phát điểm hạn chế, các doanh nghiệp Việt Nam rất cần sự hỗ trợ tài chính từ phía Nhà nước. Mặc dù vậy, tiến trình hội nhập đòi hỏi chúng ta phải giảm dần sự hỗ trợ tài chính trực tiếp của Nhà nước cho doanh nghiệp, trong đó chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà nước với vai trò là một bộ phận cũng phải có những thay đổi thích hợp. Trong thời gian tới, một điều không thể tránh được của chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà nước là phải giảm dần ưu đãi về lãi suất, chú trọng ưu đãi về điều kiện vay vốn, thời gian vay vốn,... và cần phải mở rộng hình thức hỗ trợ gián tiếp, trong đó có hình thức hỗ trợ LSSĐT. Để mở rộng hình thức hỗ trợ LSSĐT với mục tiêu chỉ cần bỏ ra một lượng "vốn mồi" nhất định có thể huy động một lượng vốn lớn hơn nhiều lần cho ĐTPT (gấp hàng chục lần) cần thực hiện một số giải pháp để tăng cường tính hấp dẫn của hình thức hỗ trợ LSSĐT. Những giải pháp đó là: - Chủ động nghiên cứu, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh mức hỗ trợ LSSĐT linh hoạt, phù hợp với định hướng phát triển từng thời kỳ: Mức hỗ trợ LSSĐT tác động và ảnh hưởng rất lớn đến việc chủ đầu tư lựa chọn sử dụng nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước hay sử dụng nguồn vốn tín dụng thương mại để đầu tư. Theo phương pháp xác định mức hỗ trợ LSSĐT hiện nay, mức hỗ trợ ảnh hưởng rất nhiều bởi lãi suất tín dụng ĐTPT. Mức hỗ trợ thấp dẫn đến tình trạng chủ đầu tư lựa chọn nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước để thực hiện đầu tư dự án. Do vậy, cần điều chỉnh mức hỗ trợ LSSĐT phù hợp để khuyến khích chủ đầu tư nghiêng về việc lựa chọn nguồn vốn tín dụng thương mại của các tổ chức tín dụng. - Nghiên cứu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền quyết định thay đổi phương thức cấp hỗ trợ LSSĐT để đồng vốn hỗ trợ của Nhà nước đến với doanh nghiệp đúng thời điểm doanh nghiệp cần vốn. Thực tế cho thấy, hầu hết các dự án đều gặp khó khăn trong giai đoạn đầu khi đi vào sản xuất, đặc biệt là khó khăn về tài chính. Sản phẩm mới sản xuất ra đòi hỏi phải có thời gian để thâm nhập thị trường, sản lượng sản xuất chưa đạt dự kiến trong khi vẫn phải trả nợ vay các tổ chức cung ứng vốn. Các lý do này dẫn đến một điều hiển nhiên là trong giai đoạn đầu dự án mới đi vào sản xuất, chủ đầu tư dự án cần được hỗ trợ nhiều hơn để ổn định sản xuất kinh doanh. - Theo quy định hiện nay, số tiền hỗ trợ LSSĐT được cấp, trên cơ sở số nợ gốc trong hạn mà chủ đầu tư trả được cho các tổ chức tín dụng. Như vậy, càng về sau, chủ đầu tư càng được hỗ trợ nhiều hơn khi tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã ổn định hơn, nhu cầu hỗ trợ tài chính đã giảm đi nhiều. Xuất phát từ những lý do đó, Quỹ HTPT cần nghiên cứu, đề xuất áp dụng hình thức hỗ trợ LSSĐT theo dư nợ. Nguyên tắc cơ bản của việc cấp hỗ trợ LSSĐT theo phương thức này là khi xác định mức hỗ trợ LSSĐT Quỹ HTPT chỉ việc thay số nợ gốc trong hạn thực trả trong năm bằng dư nợ trong hạn bình quân trong năm vào công thức để tính toán. Khi so sánh mức hỗ trợ LSSĐT theo dư nợ với mức hỗ trợ LSSĐT theo số nợ gốc thực trả đang áp dụng cho thấy kết quả tổng số vốn hỗ trợ cho một dự án là như nhau, chỉ khác nhau ở mức hỗ trợ trong từng năm. Giải pháp 9: Mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn hỗ trợ xuất khẩu Xét trên khía cạnh kinh tế, toàn cầu hóa là sự hội nhập với nền kinh tế thế giới thông qua mở cửa và áp dụng chiến lược tăng trưởng hướng vào xuất khẩu. Việt Nam có thể tham gia vào thị trường thương mại thế giới trên nguyên tắc có đi có lại, không phân biết đối xử theo quy chế tối huệ quốc (MFN) và đối xử quốc gia (NT). Sự mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu không những tăng kim ngạch xuất khẩu mà còn phân án rủi ro thương mại; tuy nhiên sự lệ thuộc vào xuất khẩu sẽ khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương bởi những biến động của thị trường thế giới. Tỷ trọng xuất khẩu trên GDP của Việt Nam trong những năm gần đây luôn ở mức khá cao, trên 50%. Chúng ta có nhiều mặt hàng có lợi thế so sánh như gạo, cà phê, thủy sản,... đều thuộc diện được Chính phủ cho hưởng tín dụng HTXK và giao cho Quỹ HTPT tổ chức thực hiện. Việc cho vay HTXK là một nhiệm vụ mới đối với Quỹ HTPT, có nhiều tiềm năng những cũng chứa đựng nhiều rủi ro. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm tín dụng xuất khẩu cần đươc quan tâm đúng mức. Việc mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng tín dụng HTXK không những phục vụ cho sự phát triển kinh tế mà còn tạo điều kiện và tiền đề vững chắc để hoàn thiện nhiệm vụ của Quỹ HTPT trong tình hình mới. Giải pháp 10: Hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng vốn ODA Để khắc phục những tồn tại trong quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA cho vay lại, các giải pháp cần thực hiện là: - Việc phân bổ nguồn vốn ODA cho vay lại cần được ưu tiên tập trung đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng kinh tế xã hội có khả năng hoàn vốn theo đúng Nghị định của Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA. Cần cân nhắc khi đầu tư vốn cho các dự án quy mô nhỏ, năng lực Chủ đầu tư hạn chế do thông lệ quốc tế rất phức tạp đòi hỏi mất rất nhiều thời gian để tìm hiểu, triển khai dẫn đến mất tính ưu đãi của khoản vay và cơ hội cạnh tranh của sản phẩm. Đối với những khoản vay với lãi suất không hấp dẫn cộng với yếu tố giá thiết bị cao, chi phí lớn dẫn đến hiệu quả đầu tư không cao cần xem xét, cân nhắc kỹ, thậm chí không vay. - Cùng với việc nâng cao hơn nữa năng lực chuyên môn và trách nhiệm của cơ quan thẩm định dự án để loại trừ các yếu tố rủi ro do đánh giá không chính xác về tính khả thi, khả năng trả nợ của dự án, Quỹ HTPT cần tham gia thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ các dự án sử dụng vốn ODA trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư để ràng buộc trách nhiệm của cơ quan cho vay lại với trách nhiệm thu hồi nợ vay nhằm thống nhất quá trình sử dụng vốn vay với việc trả nợ nước ngoài. - Cần nghiên cứu và áp dụng một cơ chế tài chính cho vay lại thống nhất cho từng loại dự án nhằm đảm bảo tính công bằng, hợp lý, hài hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi ích của chủ đầu tư khi sử dụng nguồn vốn ODA. - Có giải pháp áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay theo hình thức bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay để có căn cứ pháp lý bảo đảm khả năng thu hồi cho Nhà nước khi rủi ro xảy ra. - Bổ sung, sửa đổi quy trình và thủ tục rút vốn ODA theo hướng phù hợp với thực tế, đơn giản về thủ tục, giảm đầu mối, nâng cao vai trò của hệ thống Quỹ HTPT trong quá trình giải ngân. - Cải tiến trình tự và thời gian kiểm soát hồ sơ rút vốn, giảm thủ tục phiền hà nhằm góp phần thúc đẩy tiến độ giải ngân đáp ứng yêu cầu về cải cách hành chính theo chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước. - Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay; tập trung vào việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ODA cho vay lại thông qua hệ thống Quỹ HTPT để đề xuất những giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới. Việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA không những mang lại lợi ích cho đất nước trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế mà còn nâng cao uy tín của đất nước với các nhà tài trợ, Chính phủ các nước đồng thời khẳng định vị trí, vai trò của nước ta trong nền kinh tế toàn cầu. Giải pháp 11: Hoàn thiện công tác thanh toán trong hệ thống. Công tác thanh toán có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các tổ chức tài chính, tín dụng - những tổ chức có thực hiện nghiệp vụ huy động vốn và hoàn trả vốn huy động, trong đó có Quỹ HTPT. Công tác thanh toán nếu không được tổ chức nhanh, gọn, hiệu quả thì hậu quả rất khó lường, nhẹ thì gây lãng phí vốn, giảm hiệu quả sử dụng vốn, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh (đối với Quỹ HTPT là giảm chênh lệch thu chi), nặng thì làm tổ chức đó mất khả năng thanh toán, dẫn đến phá sản. - Để hoàn thiện công tác thanh toán ở Quỹ HTPT, về mặt cơ chế chính sách, Quỹ HTPT phải được tham gia các hệ thống thanh toán và các dịch vụ thanh toán gồm: + Thanh toán điện tử liên ngân hàng. + Tổ chức thanh toán điện tử nội bộ Quỹ HTPT + Tham gia các dịch vụ thanh toán như mở tài khoản tiền gửi và cung ứng các dịch vụ thanh toán cho các khách hàng có quan hệ với hệ thống Quỹ HTPT: - Hệ thống Quỹ mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước: Quỹ Trung ương mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các Chi nhánh Quỹ mở tài khoản tại Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. - Hệ thống Quỹ mở tài khoản tiền gửi tại các ngân hàng thương mại. - Các Chi nhánh Quỹ thực hiện mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng có liên quan đến hoạt động của Quỹ.  Các khách hàng mở tài khoản tại Trung tâm thanh toán bù trừ của Quỹ HTPT: Quỹ HTPT thực hiện mở tài khoản tại trung tâm thanh toán bù trừ trên địa bàn để phục vụ cho việc thanh toán điện tử liên ngân hàng.  Cung cấp các phương tiện thanh toán cho khách hàng như: ủy nhiệm chi, séc,... - Về cơ sở vật chất kỹ thuật: Việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ thanh toán (chủ yếu là các thiết bị tin học, các phần mềm nghiệp vụ, đường truyền) mặc dù rất tốn kém nhưng cần được Ban Lãnh đạo Quỹ xác định rõ là phải gấp rút đầu tư. Việc đầu tư này không chỉ có ý nghĩa tại thời điểm hiện tại mà còn là tiền đề để hệ thống Quỹ có điều kiện thực thi các nhiệm vụ nặng nề hơn trong tương lai. Tuy nhiên để tránh dàn trải, lãng phí vốn, công tác tin học phục vụ nhiệm vụ thanh toán phải xác định được mục tiêu cụ thể, xây dựng được lộ trình đầu tư phù hợp với khả năng (tài chính và cơ chế chính sách) và nhiệm vụ được giao. Do chưa có nhiều kinh nghiệm tổ chức thực hiện nên quá trình lập và triển khai đề án tin học phục vụ thanh toán của Quỹ HTPT cần được các cơ quan chuyên môn, có kinh nghiệm tư vấn, giám sát đầy đủ, chặt chẽ. - Về con người: Quỹ HTPT cần khẩn trương bổ sung cán bộ có năng lực, chuyên môn để thực hiện công tác thanh toán. Tại Quỹ TW, trước mắt thành lập tổ thanh toán. Đây là bước chuẩn bị để thành lập Trung tâm thanh toán. Tại Chi nhánh Quỹ gấp rút bổ sung cán bộ, chuẩn bị các điều kiện để triển khai thực hiện nghiệp vụ. Quỹ HTPT cần mời các chuyên gia giỏi, có kinh nghiệm đã từng công tác trong các tổ chức tài chính tín dụng tư vấn, cộng tác xây dựng quy chế, quy trình nghiệp vụ thanh toán, triển khai thực hiện thanh toán,... Giải pháp 12: Hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy tại Quỹ Trung ương: Tổ chức bộ máy của hệ thống Quỹ nói chung và tại cơ quan Quỹ Trung ương nói riêng đến nay đã vận hành được 4 năm, khoảng thời gian không nhiều nhưng đã đi vào hoạt động ổn định, từng bước được củng cố kiện toàn. Mặc dù vậy, trước yêu cầu và nhiệm vụ mới được Chính phủ giao cho, công tác đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hiện tại nhằm kiện toàn củng cố và hoàn thiện tổ chức bộ máy để đáp ứng yêu cầu hoạt động theo chủ trương của Hội đồng quản lý là nội dung hết sức cấp bách và cần thiết. Chính vì vậy, Ban lãnh đạo Quỹ đặt chương trình xây dựng đề án hoàn thiện tổ chức bộ máy Quỹ, hoạch định những bước đi cần thiết để từ đó kiện toàn tổ chức, bố trí sắp xếp lại đội ngũ cán bộ và đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng cán bộ và coi đây là trọng tâm của chương trình chiến lược phát triển hệ thống Quỹ. Để có thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, tổ chức bộ máy của hệ thống Quỹ HTPT nói chung và cơ quan Quỹ Trung ương nói riêng phải được củng cố kiện toàn; đồng thời, điều chuyển và bổ sung chức năng nhiệm vụ cho từng bộ phận, từng đơn vị trong hệ thống cho phù hợp với yêu cầu đổi mới ngày càng cao hơn cả chiều rộng và chiều sâu của nhiệm vụ chính trị được Chính phủ giao cho Quỹ HTPT. Yêu cầu đặt ra việc sắp xếp tổ chức bộ máy tại cơ quan Quỹ Trung ương nhằm đáp ứng những nội dung cơ bản là: - Cơ quan Quỹ Trung ương tập trung làm công tác chỉ đạo điều hành, xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách, Quy chế, Quy trình nghiệp vụ và tăng cường vai trò kiểm soát khi thực hiện phân cấp cho đơn vị nhằm đảm bảo phát huy năng lực và trách nhiệm của cơ sở nhưng phải đặt dưới sự kiểm soát của Quỹ Trung ương. - Bộ máy của Quỹ quản lý, theo dõi chặt chẽ hoạt động của toàn hệ thống theo ngành, lãnh thổ và dự án. - Tổng hợp đầy đủ, chính xác, kịp thời tình hình hoạt động nghiệp vụ của hệ thống, nâng cao chất lượng các báo cáo, đề xuất tham mưu cho lãnh đạo Quỹ trong quá trình chỉ đạo, điều hành. - Quan tâm tới tính ổn định, tính kế thừa và tổ chức phù hợp với số lượng và chất lương đội ngũ cán bộ hiện có từ Quỹ HTPT để bộ máy mới hoạt động được hiệu quả ngay từ đầu, đáp ứng kịp thời chỉ đạo điều hành của Lãnh đạo Quỹ; mặt khác, đầu mối quản lý cũng không để xáo trộn lớn, đây cũng là dịp để thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong khâu nghiệp vụ. Qua nghiên cứu các mô hình tổ chức bộ máy hoạt động tín dụng chính sách cho ĐTPT của các nước trong khu vực và mô hình tổ chức bộ máy của các tổ chức tín dụng trong nước, hiện nay tại cơ quan Quỹ Trung ương có 12 Ban, Văn phòng giúp việc Tổng Giám đốc (Ban Kế hoạch nguồn vốn; Ban Kinh tế kĩ thuật và thẩm định, Ban Tài chính kế toán, Ban Tín dụng đầu tư Trung ương, Ban Tín dụng đầu tư địa phương, Ban quản lý vốn vay nước ngoài và Quan hệ quốc tế, Ban Bảo lãnh - Hỗ trợ lãi suất, Ban Tổ chức cán bộ, đào tạo và lao động tiền lương, Ban Kiểm tra giám sát và pháp chế, Ban Thông tin tin học, Văn phòng, Ban Kho quỹ). Theo chúng tôi trong thời gian tới cần thiết phải chuẩn hóa và xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo và gắn với chủ trương cải cách hành chính của Chính phủ; Vì vậy, mô hình tổ chức bộ máy, một mặt phải có sự kế thừa của mô hình tổ chức bộ máy cũ để không làm ảnh hưởng đến việc triển khai công việc chuyên môn, đồng thời phải có điều chỉnh chức năng nhiệm vụ của một số Ban cho phù hợp như: - Chuyển nghiệp vụ Bảo lãnh về các Ban Tín dụng vì hoạt động tác nghiệp bảo lãnh giống và gắn với nghiệp vụ tín dụng. Chuyển chức năng quản lý theo dõi cấp phát vốn đầu tư và cho vay ủy thác, các Quỹ ĐTPT địa phương từ Ban Kế hoạch nguồn vốn sang Ban Hỗ trợ LSSĐT. - Hiện nay tại Quỹ Trung ương có 02 Ban Tín dụng (Ban Tín dụng Trung ương và Ban Tín dụng địa phương), thực hiện chủ trương cải cách hành chính, theo quan điểm của chúng tôi là nên tập trung vào 01 Ban Tín dụng khi đã tin học hóa được nghiệp vụ quản lý tín dụng. - Không thành lập tổ chức khi khối lượng công việc chưa có hoặc chưa nhiều như: Ban Kho quỹ. - Do nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao thêm, do vậy, cần thành lập thêm Ban Tín dụng HTXK và cho vay theo hiệp định của Chính phủ (vốn ODA Việt nam) nhằm tổ chức thực hiện công tác quan trọng là cho vay HTXK (khối lượng công việc như một ngân hàng EXIMBANK); - Cần thiết phải thành lập mới Phòng Pháp chế trực thuộc Tổng Giám đốc trên cơ sở tách chức năng, nhiệm vụ này từ Ban Kiểm tra giám sát và pháp chế. - Các Trung tâm mới sẽ được thành lập như: Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, Trung tâm Xử lý nợ và phòng ngừa rủi ro, Trung tâm Tin học... sẽ tăng thêm tính chuyên trách giúp việc cho Tổng giám đốc về những mảng công việc lớn như đào tạo, xử lý nợ và công nghệ thông tin. 3.3. Kiến nghị Qua hơn 4 năm triển khai chính sách HTPT của Nhà nước, thực tế đã xuất hiện nhiều vướng mắc ảnh hưởng trực tiếp đến việc triển khai chính sách cũng như đến các dự án, chủ đầu tư, các ngành. Yêu cầu thực tiễn đòi hỏi các chính sách hiện hành về tín dụng ĐTPT của Nhà nước cần được điều chỉnh kịp thời và thích hợp để phát huy được các mặt tích cực và khắc phục những tồn tại, vướng mắc hiện nay để chính sách ưu đãi của Nhà nước phù hợp với tình hình thực tiễn phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế. Việc hoàn thiện chính sách HTPT của Nhà nước đề nghị cần nghiên cứu theo các nội dung sau đây: 3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ * Hoàn thiện chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà nước Thứ nhất: Cần đa dạng hóa hình thức tín dụng ĐTPT của Nhà nước Với xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, các doanh nghiệp thường có quy mô vốn nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường, trình độ quản ở mức độ thấp nên muốn cạnh tranh được, các doanh nghiệp trong nước rất cần sự hỗ trợ tài chính của Nhà nước. Trong điều kiện thời gian còn lại để nước ta thực hiện các cam kết về hội nhập kinh tế quốc tế không nhiều, Nhà nước cần gia tăng việc thực hiện chính sách HTXK, tập trung vốn có lựa chọn cho các ngành, các doanh nghiệp, các mặt hàng có lợi thế, có cơ hội cạnh tranh, có thời gian thu hồi vốn nhanh và tạo tỷ suất lợi nhuận cao hơn nhằm tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, chiếm lĩnh thị trường và tạo đà cho các doanh nghiệp đón đầu trước cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt. Vì vậy, bên cạnh các hình thức HTXK như hiện nay, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ mở rộng thêm các hình thức hỗ trợ sau: - Tín dụng xuất khẩu cho nhà nhập khẩu: Hình thức hỗ trợ này nhằm mục đích hỗ trợ và thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa. Đây là hình thức nhằm giúp nhà nhập khẩu có thể thanh toán tiền ngay cho nhà xuất khẩu. - Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu: Hình thức hỗ trợ này nhằm bảo vệ các doanh nghiệp xuất khẩu trước những rủi ro phát sinh từ những rủi ro thương mại và chính trị trong quá trình thực hiện các giao dịch quốc tế. Thông thường, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu bảo vệ doanh nghiệp xuất khẩu khỏi bị thiệt hại do không được trả tiền sau khi giao hàng. Trong các trường hợp khác, bảo hiểm cũng trang trải cho những mất mát mà doanh nghiệp xuất khẩu gặp phải trước khi giao hàng do doanh nghiệp nhập khẩu không muốn nhận hàng. Thứ hai: Về đối tượng cho vay tín dụng ĐTPT của Nhà nước Với những phân tích nói ở chương một ta thấy, đối tượng cho vay tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước không giống với đối tượng vay vốn tín dụng thương mại. Lựa chọn đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cần đảm bảo mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội. Một mặt, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước phải là vốn "mồi" khuyến khích các thành phần kinh tế khác nhau phát huy tiềm năng, vật lực để đưa vào sản xuất tạo ra của cải vật chất mới cho xã hội, mặt khác nhằm thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, từng bước rút ngắn khoảng cách giàu nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội. Theo chúng tôi, đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước phải được mở rộng bao gồm cả những chương trình phát triển của Chính phủ, những vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn. Ngay trong việc lựa chọn đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cũng còn có sự mâu thuẫn. Một mặt, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước phải đảm bảo tính hiệu quả, phải đảm bảo sự hoàn trả vốn như bất kỳ vốn tín dụng nào khác, mặt khác lại phải đảm bảo tính xã hội, chú trọng đầu tư vào những dự án mà phần lớn có hiệu quả trực tiếp không cao. Để đồng thời đáp ứng nguyên tắc tín dụng (hoàn trả) và mục đích điều tiết kinh tế của Chính phủ, theo chúng tôi việc lựa chọn đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước phải đảm bảo các nguyên tắc sau: + Đối tượng cho vay phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nói chung và chiến lược đầu tư phát triển của Nhà nước trong từng thời kỳ cụ thể nói riêng. + Đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước chủ yếu phải thuộc các lĩnh vực, các ngành, các chương trình Nhà nước cần được khuyến khích đầu tư và những vùng kinh tế - xã hội khó khăn nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước thì không phát triển được. +Đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước phải có vị trí xung yếu trong nền kinh tế, trong từng ngành, từng vùng và lĩnh vực. + Đối tượng vay vốn phải có tác dụng tạo đà, lôi kéo các ngành, các vùng, các lĩnh vực phát triển. Sau khi hoàn thành sứ mạng của mình, đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước sẽ được thay đổi phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳ cụ thể. + Đối tượng vay vốn phải đảm bảo sự an toàn vốn vay (nguyên tắc chung đối với tín dụng), đảm bảo cho việc quản lý và sử dụng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đúng mục đích và hiệu quả. An toàn và hiệu quả trở thành một nguyên tắc quan trọng trong việc lựa chọn đối tượng cho vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. Như vậy, việc lựa chọn đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc quản lý, sử dụng loại vốn tín dụng này, nó thực sự là một công cụ tài chính - tín dụng nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nền kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cần được ổn định trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước và trong giai đoạn 2001 - 2010 cần tập trung vào những ngành, lĩnh vực nhằm thực hiện chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng và Nhà nước. Như vậy không nên qui định chỉ những dự án đầu tư thuộc vùng kinh tế khó khăn mới được vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước. Thứ ba: Tăng tính chủ động cho Quỹ HTPT trong việc quyết định lãi suất huy động vốn Hiện nay, lãi suất huy động vốn của Quỹ HTPT do Thủ tướng Chính phủ quyết định hàng năm (vay Bảo hiểm xã hội), một số nguồn do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định hàng tháng, hàng quý (trái phiếu Chính phủ, tiết kiệm bưu điện, huy động vốn của các tổ chức khác...). Để chủ động và linh hoạt cho Quỹ HTPT, kiến nghị Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ: - Đối với vốn vay các Quỹ: Tiết kiệm bưu điện, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, các nguồn vốn và các quỹ khác của Nhà nước: Lãi suất tối đa bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ cùng kỳ hạn. - Đối với các nguồn vốn huy động khác: Không cao hơn lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại nhà nước. - Lãi suất huy động vốn trong từng thời kỳ do Tổng Giám đốc Quỹ HTPT quyết định theo nguyên tắc nêu trên. Cơ sở của kiến nghị là thực hiện theo cơ chế này sẽ giúp tăng tính chủ động của Quỹ HTPT trong huy động vốn, cân đối vốn cho vay đầu tư các dự án, thực hiện được cơ chế kế hoạch hóa theo hướng đổi mới. Đồng thời với lãi suất huy động không cao hơn lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại Nhà nước không gây ảnh hưởng đến thị trường vốn, vẫn đảm bảo sự lành mạnh của thị trường. Thứ tư: Mở rộng các hình thức huy động vốn của Quỹ HTPT Theo quy định hiện nay, Quỹ HTPT không được huy động vốn ngắn hạn từ dân cư và không được huy động vốn bằng ngoại tệ. Để Quỹ HTPT có nguồn cho vay ngắn hạn HTXK với chi phí thấp, thay vì phải huy động vốn dài hạn với lãi suất cao để cho vay như hiện nay, kiến nghị Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ cho phép Quỹ HTPT được huy động vốn ngắn hạn từ dân cư và các tổ chức kinh tế để cho vay ngắn hạn HTXK. Cơ chế huy động vốn cũng nên cho Quỹ HTPT được quyền chủ động trên cơ sở khống chế mức cấp bù chênh lệch hàng năm. Quỹ HTPT cần được huy động vốn bằng ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án có nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị bằng ngoại tệ. Thứ năm: Hoàn thiện cơ chế kế hoạch hóa Theo quy định hiện nay, Thủ tướng Chính phủ giao cho Quỹ HTPT tổng mức vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước chia theo các hình thức: Cho vay đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư và hỗ trợ LSSĐT phân theo cơ cấu ngành, lĩnh vực và vùng. Căn cứ kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao, Quỹ HTPT thông báo tổng mức cho các Bộ, ngành, địa phương. Căn cứ kế hoạch được Quỹ HTPT thông báo, các Bộ ngành, địa phương phân khai kế hoạch cho từng dự án. Cơ chế này dẫn đến đầu tư tràn lan, không dứt điểm, giảm hiệu quả đầu tư của các dự án. Để khắc phục tình trạng trên, kiến nghị Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ hoàn thiện cơ chế kế hoạch hóa theo hướng: - Kế hoạch tín dụng HTPT của Nhà nước chỉ mang tính định hướng, hàng năm Thủ tướng Chính phủ giao một số chỉ tiêu quan trọng, bao gồm: + Vốn NSNN cấp bù chênh lệch lãi suất đối với việc cho vay đầu tư trung dài hạn, bảo lãnh tín dụng đầu tư. Vốn NSNN cấp hỗ trợ LSSĐT. + Vốn ODA cho vay lại. + Vốn NSNN cho vay đầu tư ra nước ngoài theo Hiệp định của Chính phủ, + Vốn NSNN dành cho cho vay theo các chương trình mục tiêu của Chính phủ. + Danh mục và mức vốn cho vay của các dự án Nhóm A và một số dự án quan trọng khác của Chính phủ. - Chủ đầu tư các dự án thuộc đối tượng theo quy định đăng ký trực tiếp với Quỹ HTPT về nhu cầu vay vốn và các hình thức hỗ trợ đầu tư. - Quỹ HTPT có trách nhiệm tổng hợp và thông báo cho các Bộ, ngành và UBND Tỉnh, thành phố về tình hình tín dụng HTPT của Bộ, ngành và trên địa bàn. Trong trường hợp vượt kế hoạch được giao thì Quỹ HTPT cân đối khả năng, nhu cầu đầu tư báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ. Lý do: Thực hiện như vậy giúp tăng tính chủ động của Quỹ HTPT trong huy động vốn trong phạm vi số vốn NSNN cấp bù chênh lệch lãi suất, tạo tiền đề căn bản và thuận lợi cho huy động vốn theo lãi suất thị trường; đồng thời Quỹ HTPT hoàn toàn chủ động trong việc điều hành kế hoạch, quyết định cho vay và phân bổ vốn trực tiếp tới từng dự án. Đồng thời giảm bớt các khâu trung gian trong việc lập và thông báo kế hoạch, tiết kiệm thời gian, tạo điều kiện cho chủ đầu tư chớp thời cơ ĐTPT sản xuất. Thứ sáu: Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ LSSĐT Kiến nghị Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ: Thay đổi phương thức cấp hỗ trợ LSSĐT để đồng vốn hỗ trợ của Nhà nước đến với doanh nghiệp đúng thời điểm doanh nghiệp cần vốn, đề xuất áp dụng hình thức hỗ trợ LSSĐT theo dư nợ. Nguyên tắc cơ bản của việc cấp hỗ trợ LSSĐT theo phương thức này là khi xác định mức hỗ trợ LSSĐT Quỹ HTPT chỉ việc thay số nợ gốc trong hạn thực trả trong năm bằng dư nợ trong hạn bình quân trong năm vào công thức để tính toán. Khi so sánh mức hỗ trợ LSSĐT theo dư nợ với mức hỗ trợ LSSĐT theo số nợ gốc thực trả đang áp dụng cho thấy kết quả tổng số vốn hỗ trợ cho 1 dự án là như nhau, chỉ khác nhau ở mức hỗ trợ trong từng năm. Thứ bảy: Nên thực hiện cho vay bằng ngoại tệ. Hiện nay nhiều dự án thuộc đối tượng phục vụ có nhu cầu vay ngoại tệ, việc cho vay các dự án cần ngoại tệ để nhập khẩu thiết bị và công nghệ từ nước ngoài là con đường ngắn nhất và tích cực nhất hỗ trợ cho dự án thay vì chỉ cho dự án vay nội tệ như hiện nay, để dự án phải vay ngoại tệ từ thị trường hoặc phải dùng nội tệ để mua ngoại tệ đáp ứng yêu cầu đầu tư. Cho vay bằng ngoại tệ sẽ giảm rủi ro tỷ giá trong thanh toán của các dự án khi dùng nội tệ mua ngoại tệ để thanh toán các khoản cần thiết. * Về giải ngân cho các dự án nhóm A và các dự án sử dụng vốn ODA Để đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án, đặc biệt là các dự án nhóm A, kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ giúp đỡ các chủ đầu tư rà soát lại từng dự án, sớm lập lại và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án tài chính, phương án trả nợ của dự án trong trường hợp phương án tài chính có thay đổi so với dự kiến ban đầu. Trường hợp dự án đã được bố trí vốn phải khẩn trương giải phóng mặt bằng, phê duyệt thiết kế dự toán, tổ chức đấu thầu,... để đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, tiến độ giải ngân. Đối với các dự án sử dụng vốn ODA cho vay lại: Kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ kiểm tra lại hiệu quả các dự án để có biện pháp dừng cho vay đối với một số dự án ODA hoạt động kém hiệu quả, không có khả năng trả vốn vay, tránh gây thiệt hại lớn cho NSNN. Những dự án vay vốn ODA chắc chắn không có thể hoàn trả, các dự án cấp nước ở các tỉnh miền núi, xử lý rác thải, đề nghị cho thực hiện từ nguồn vốn cấp phát. * Chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền xử lý dứt điểm nợ xấu cho Quỹ HTPT Như đã trình bày ở chương 2, nợ quá hạn và lãi đến hạn chưa trả của quỹ HTPT có xu hướng ngày càng tăng do các dự án thuộc diện xử lý nợ chưa được xử lý dứt điểm. Các dự án đầu tư Quỹ HTPT nhận bàn giao từ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, các dự án thuộc chương trình đánh bắt hải sản xa bờ và chương trình mía đường không có khả năng hoặc khả năng trả nợ thấp. Kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền xử lý nợ xấu dứt điểm cho Quỹ. Việc xử lý nợ gắn chặt với tiến trình cổ phần hóa, bán khoán cho thuê doanh nghiệp nhà nước. Do đó cần có sự quan tâm chỉ đạo kịp thời đối với các khoản nợ tín dụng nhà nước tại các doanh nghiệp theo một cơ chế thật rõ ràng, tránh tình trạng xử lý nợ tín dụng nhà nước đang phải vận dụng các văn bản quy định xử lý nợ tín dụng ngân hàng. * Nâng vốn điều lệ cho Quỹ HTPT Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo về việc nâng vốn điều lệ cho Quỹ HTPT lên 10.000 tỷ đồng. Trong điều kiện hiện nay, việc tăng cường tiềm lực tài chính cho Quỹ HTPT là rất cần thiết để góp phần đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nền kinh tế, phục vụ cho các mục tiêu chiến lược của Chính phủ. Vì vậy, kiến nghị Chính Phủ, Thủ tướng chính phủ xem xét dành một phần vốn hàng năm từ phát hành trái phiếu Chính phủ cấp bổ sung vốn điều lệ cho Quỹ HTPT. * Hoàn thiện về mô hình tổ chức bộ máy của hệ thống Quỹ HTPT Để chính sách tín dụng HTPT của của Nhà nước phát huy hiệu quả mong muốn, trên cơ sở đánh giá tổng kết chính sách HTPT của Nhà nước trong thời gian qua, thông qua việc đánh giá hoạt động của Quỹ HTPT, phân tích điều kiện hiện tại của Việt Nam, kiến nghị Chính phủ, căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ, thành lập Ngân hàng Chính sách Phát triển Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại Quỹ HTPT. Cùng với việc thành lập Ngân hàng Chính sách Xã hội hoạt động trong lĩnh vực xã hội, việc thành lập Ngân hàng Chính sách Phát triển hoạt động trong lĩnh vực HTPT kinh tế, trên cơ sở tổ chức lại Quỹ HTPT có những ưu thế sau: - Tập trung được tiềm lực tài chính của Nhà nước để tài trợ một cách toàn diện cho cả quá trình sản xuất và xuất khẩu hàng hóa. Quỹ HTPT hiện là tổ chức tài chính Nhà nước được cấp vốn điều lệ lớn nhất, hiện nay là 5.000 tỷ đồng và được Chính phủ chấp thuận về nguyên tắc tăng lên 10.000 tỷ đồng. Cùng với cơ chế huy động vốn chủ yếu qua phát hành trái phiếu Chính phủ, Quỹ có điều kiện sử dụng linh hoạt các nguồn vốn để HTPT. - Quỹ HTPT đang thực hiện chính sách hỗ trợ của Chính phủ đối với các dự án đầu tư trung dài hạn thuộc lĩnh vực ưu đãi; hỗ trợ vốn tín dụng ngắn hạn để thực hiện các hợp đồng xuất khẩu của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước, do đó, đây là tổ chức tài chính Nhà nước hoạt động gần nhất với mô hình của một Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam. - Quỹ HTPT có bộ máy ở Trung ương và có Chi nhánh ở 61 tỉnh, thành phố, có đội ngũ cán bộ viên chức có trình độ và kinh nghiệm trong việc thực hiện các hình thức hỗ trợ tài chính của Nhà nước cho ĐTPT và xuất khẩu. Với hệ thống tổ chức bộ máy và con người hiện có, Quỹ HTPT khi chuyển thành Ngân hàng Chính sách Phát triển sẽ có đủ điều kiện và triển khai tốt các nhiệm vụ hỗ trợ ĐTPT và HTXK của Nhà nước. - Việc thành lập Ngân hàng Chính sách Phát triển trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại hệ thống Quỹ HTPT hoàn toàn phù hợp với chủ trương cải cách hành chính Nhà nước, tinh giảm đầu mối, sẽ tiết kiệm được chi phí rất lớn do không phải thành lập mới nhiều tổ chức thực hiện các chính sách của Nhà nước, tận dụng được mạng lưới tổ chức sẵn có và có thể triển khai hoạt động HTPT ngay trong năm 2004 vừa tiết kiệm chi phí, không gây xáo trộn về mặt tổ chức, vừa không phải mất thời gian cho việc hình thành tổ chức mới. đây là bước đi phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam. Ngân hàng Chính sách Phát triển là một tổ chức tài chính nhà nước hoạt động không vi mục đích lợi nhuận. Có vốn điều lệ là 10.000 tỷ đồng do NSNN cấp, với các nhiệm vụ chủ yếu: - Huy động và tiếp nhận vốn của các tổ chức, cá nhân và các nguồn vốn hỗ trợ trong và ngoài nước để thực hiện chính sách HTPT của Nhà nước. - Cho vay HTPT (cho vay đầu tư, cho vay HTXK, quản lý nguồn vốn ODA cho vay lại), thực hiện nhiệm vụ cấp ODA ra nước ngoài của Chính phủ Việt Nam, hỗ trợ LSSĐT, bảo lãnh tín dụng đầu tư. - Nhận ủy thác quản lý các quỹ của Chính phủ, các địa phương cho mục tiêu hỗ trợ ĐTPT và hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu. - Thực hiện dịch vụ thanh toán và tham gia hệ thống thanh toán. Ngân hàng Chính sách Phát triển có Hội đồng quản lý và bộ máy điều hành. Để kiểm soát hoạt động của bộ máy điều hành có Ban kiểm soát trực thuộc Hội đồng quản lý. Bộ máy điều hành của Ngân hàng Chính sách Phát triển được tổ chức thống nhất trong phạm vi cả nước. Ngân hàng Chính sách Phát triển có Chi nhánh tại các tỉnh, thành trong cả nước. 3.3.2. Kiến nghị với các Bộ, Ngành, Địa phương - Kiến nghị Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư + Trình Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội bố trí kế hoạch cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý cho phù hợp với việc thực hiện kế hoạch tín dụng ĐTPT, thực hiện chuyển tiền cấp bù chênh lệch lãi suất, phí quản lý cho Quỹ HTPT đúng tiến độ. + Bố trí kế hoạch ngân sách đề cấp bổ sung vốn điều lệ cho Quỹ HTPT (lên 10.000 tỷ đồng) đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. - Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam + Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ, quản lý ngoại hối và thanh toán của Quỹ HTPT. + Hướng dẫn Quỹ HTPT tham gia hệ thống thanh toán và cung cấp dịch vụ thanh toán cho khách hàng theo đúng quy định. Chỉ đạo Ngân hàng Chính sách xã hội, các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng phối hợp với Quỹ HTPT thực hiện các nghiệp vụ ủy thác cho vay, bảo lãnh và hỗ trợ LSSĐT theo quy định của Quỹ HTPT và quy chế hoạt động của Ngân hàng và các tổ chức tín dụng. - Kiến nghị với Bộ Thương mại Hàng năm sớm ban hành danh mục mặt hàng khuyến khích xuất khẩu, tránh việc áp dụng lẻ tẻ, thỉnh thoảng mới đưa ra bổ sung 1-2 mặt hàng như hiện nay, gây khó khăn cho hoạt động của cả Quỹ HTPT lẫn các chủ đầu tư, các chủ đầu tư rất khó nắm bắt. - Kiến nghị với Bộ Công nghiệp + Đề nghị Bộ Công nghiệp phối hợp với các Bộ, Ngành sớm trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt quy hoạch chương trình cơ khí trọng điểm và hướng dẫn việc triển khai thực hiện chương trình theo đúng Quyết định của Thđ tướng Chính phủ để Quỹ HTPT có cơ sở cho vay đầu tư và hỗ trợ tín dụng ngắn hạn HTXK. Quỹ HTPT đề nghị việc tổ chức triển khai thực hiện chương trình trên cơ sở quy hoạch chi tiết, rà soát lại các cơ sở cơ khí hiện có để có sự phân công, hợp tác rõ ràng từ đó có kế hoạch đầu tư hợp lý, chủ yếu là tận dụng cơ sở hiện có, đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị, thực hiện chuyên môn hóa, hiệp tác hóa trong sản xuất, tránh mở ra quá nhiều dự án mới hoặc đầu tư khép kín trong từng nhà máy, từng Tổng công ty sẽ gây lãng phí lớn về vốn đầu tư, kém hiệu quả kinh tế. + Cần phải tập trung rà soát lại quy hoạch; rà soát lại lại các cơ sở sản xuất hiện có, trên cơ sở đó mới có kế hoạch đầu tư hợp lý, tránh lãng phí vốn và nâng cao hiệu quả kinh tế, cũng như đánh giá khả năng phát huy hiệu quả, khả năng hoàn vốn đầu tư của các dự án. - Kiến nghị với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn + Đối với các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực nông nghiệp đang gặp khó khăn, kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chỉ đạo các đơn vị trong ngành nông nghiệp tập trung rà soát, đánh giá một cách đầy đủ các vấn đề có liên quan đến việc xây dựng và triển khai thực hiện dự án; tổ chức sản xuất kinh doanh; đánh giá lại hiệu quả đầu tư các dự án; đề xuất phương án kinh doanh có hiệu quả đảm bảo sự bền vững lâu dài cho dự án. + Chỉ đạo giúp đỡ các đơn vị xử lý khó khăn, tồn tại của các dự án thuộc chương trình mía đường, các dự án đầu tư sản xuất ván nhân tạo của Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam và một số dự án chế biến nông sản khác. Phối hợp với Quỹ HTPT và các bộ, ngành có liên quan tìm biện pháp đề xuất với Chính phủ xử lý các vấn đề khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình đầu tư, sản xuất kinh doanh của các dự án trong việc sát nhập, giải thể, chuyển đổi chủ đầu tư đối với một số đơn vị vay vốn Quỹ. Chỉ đạo các chủ đầu tư hoặc đơn vị bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trả nợ vốn vay Nhà nước, tránh tình trạng chiếm dụng vốn của Nhà nước để sử dụng cho mục đích khác cũng như tránh tình trạng bảo lãnh vay vốn một cách hình thức lấy lệ. - Kiến nghị với các Bộ, Cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương + Công bố rộng rãi quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển và các quy trình, quy phạm tiêu chuẩn, định mức kinh tế, kỹ thuật của ngành, lĩnh vực sản phẩm, vùng lãnh thổ và các thông tin cần thiết khác trong từng thời kỳ làm cơ sở thẩm định các dự án được Nhà nước hỗ trợ đầu tư. + Chỉ đạo kiểm tra các chủ đầu tư triển khai thực hiện đầu tư theo đúng quy định của Nhà nước về đầu tư, đảm bảo tiến độ và hoàn trả vốn vay theo đúng cam kết của hợp đồng tín dụng. + Phối hợp với Quỹ HTPT giải quyết hậu quả đối với các dự án bị đình chỉ hoặc không trả được nợ vay thuộc phạm vi trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Kết Luận Kể từ khi chính thức đi vào hoạt động, ngày 01-01-2000, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, Ngành, địa phương và cùng với sự nỗ lực, cố gắng của mình, hệ thống Quỹ HTPT đã có những góp đáng kể trong việc hỗ trợ ĐTPT và xuất khẩu của đất nước. Qua đó, Quỹ HTPT đã khẳng định được vai trò là công cụ đắc lực và quan trọng của Chính phủ trong quản lý điều hành vĩ mô và phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Tuy vậy, trong quá trình triển khai thực hiện, về mặt cơ chế, chính sách và quá trình tổ chức triển khai thực hiện đã xuất hiện nhiều vướng mắc ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của Quỹ HTPT. Bên cạnh đó những tồn tại của bản thân hệ thống Quỹ HTPT về con người, tổ chức bộ máy, quy chế, quy trình nghiệp vụ là những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến việc phát huy vai trò và hiệu quả hoạt động của Quỹ HTPT trong nền kinh tế. Với mong muốn hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ HTPT ở Việt Nam, trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động, đánh giá những mặt được, những điểm còn hạn chế đồng thời đưa ra nguyên nhân của các hạn chế, luận văn đã trình bày một hệ thống các giải pháp phù hợp tình hình thực tiễn đất nước, xu hướng phát triển kinh tế thế giới. Các kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền nếu được thực hiện sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như vai trò của Quỹ HTPT trong nền kinh tế. danh mục Tài liệu tham khảo 1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1996), Đầu tư phát triển và nguồn tài trợ chính thức (ODA) trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Hà Nội. 2. Chính phủ (1998), Nghị định số 90/1998/NĐ-CP, ngày 07-11, về việc ban hành Quy chế quản và sử dụng vốn ODA 3. Chính phủ (1999), Nghị định 43/1999/NĐ-CP ngày 29-6, về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. 4. Chính phủ (1999), Nghị định 50/1999/NĐ-CP ngày 08-7, về việc thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển. 5. Chính phủ (1999), Quyết định số 231/1999/QĐ-TTg ngày 17-12 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển. 6. Chính phủ (2001), Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg, ngày 10-9 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế tín dụng hỗ trợ xuất khẩu. 7. Chính phủ, Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08-7-1999, 12/2000/NĐ-CP ngày 05-5- 2000, 07/2003/NĐ-CP ngày 30-01-2003 của về việc ban hành Quy chế Quản lý Đầu tư và Xây dựng; sửa đổi một số điều của Quy chế. 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 9. PTS. Vũ Duy Hào - Đàm Văn Nhuệ - ThS. Nguyễn Quang Ninh (1998), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nxb Thống kê, Hà Nội. 10. Luật các Tổ chức tín dụng. 11. Luật Khuyến khích đầu tư trong nước sửa đổi. 12. Luật Ngân hàng Nhà nước. 13. Luật Ngân sách nhà nước. 14. TS. Nguyễn Bạch Nguyệt (1998), Lập và quản lý dự án đầu tư, Nxb Thống kê, Hà Nội. 15. Quỹ Hỗ trợ phát triển, Các Quy chế, quy trình nghiệp vụ, Hà Nội. 16. Quỹ Hỗ trợ phát triển (2002), Báo cáo kết quả hoạt động năm 2001, Hà Nội. 17. Quỹ Hỗ trợ phát triển (2003), Báo cáo kết quả hoạt động năm 2002, Hà Nội. 18. Quỹ Hỗ trợ phát triển (2004), Báo cáo kết quả hoạt động năm 2003, Hà Nội. 19. Quỹ Hỗ trợ phát triển (2004), Báo cáo kết quả hoạt động 6 tháng đầu năm 2004, Hà Nội. 20. Tạp chí Quỹ Hỗ trợ phát triển, số 1, 2, 3/2003. 21. Tạp chí Quỹ Hỗ trợ phát triển, số 1, 2, 3, 4/2004. 22. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (1999), Chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội, Hà Nội. Mục lục Trang mở đầu 1 Chương 1: tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và hiệu quả của nó 4 1.1. Chức năng và vai trò của tín dụng 4 1.1.1. Khái niệm về tín dụng 4 1.1.2. Bản chất tín dụng 5 1.1.3. Chức năng của tín dụng 6 1.1.4. Vai trò của tín dụng 7 1.1.5. Các hình thức tín dụng 8 1.2. Tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước 10 1.2.1. Khái niệm 10 1.2.2. Sự cần thiết của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước 11 1.2.3. Vai trò của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước 12 1.2.4. Đặc điểm của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước 16 1.2.5. Phân biệt tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước với các hình thức tín dụng khác 16 1.2.6. Các nội dung chính trong quản lý tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước 17 1.2.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước 21 1.3. Hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ Hỗ trợ phát triển 24 1.3.1. Tổ chức bộ máy và các hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển 24 1.3.2. Quan điểm về hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ Hỗ trợ phát triển 24 1.3.3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ Hỗ trợ phát triển 25 1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ Hỗ trợ phát triển 27 1.3.5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Quỹ Hỗ trợ phát triển 29 1.4. Kinh nghiệm hoạt động tín dụng đầu tư phát triển ở một số nước trong khu vực và trên thế giới 33 1.4.1. Hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ở Hàn Quốc 33 1.4.2. Hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ở Trung Quốc 34 1.4.3. Hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ở Đài Loan 34 Chương 2: thực trạng và hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Quỹ hỗ trợ phát triển từ năm 2001 đến nay 37 2.1. Thực trạng hoạt động tín dụng tại Quỹ Hỗ trợ phát triển 37 2.1.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy và nhiệm vụ chủ yếu của Quỹ Hỗ trợ phát triển 37 2.1.2. Thực trạng hoạt động tín dụng của Quỹ Hỗ trợ phát triển trong thời gian qua 38 2.2. Đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước qua hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển 50 2.2.1. Những kết quả đạt được 50 2.2.2. Các hạn chế của hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và nguyên nhân 60 Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước qua hệ thống Quỹ hỗ trợ phát triển 75 3.1. Quan điểm và mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển qua Quỹ Hỗ trợ phát triển 75 3.1.1. Quan điểm về nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển qua Quỹ Hỗ trợ phát triển 75 3.1.2. Các mục tiêu hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước 76 3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển qua Quỹ Hỗ trợ phát triển 77 3.2.1. Các cơ sở khoa học của giải pháp 77 3.2.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển qua hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển 80 3.3. Kiến nghị 97 3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ 97 3.3.2. Kiến nghị với các Bộ, ngành, địa phương 105 Kết luận 108 Danh mục tài liệu tham khảo 109

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước qua hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển (2).pdf
Luận văn liên quan