Luận văn Ngữ nghĩa và ngữ pháp của cấu trúc nhân nhượng trong tiếng Việt

Người nói có thể đưa ra một cấu trúc mang tính chất giả định để tạo ra một tình huống “cực đoan cho nhận định theo sau khi nói về một sự tình hiện thực. “Nếu không biết trước sự tình được nêu ra (ở cả P và Q)và những chỉ tố biểu hiện sự tình đó là hiện thực hay giả định thì khó có thể tách bạch được hai kiểu cấu trúc này. Đứng về mặt tu từ (rhetorical), khả năng biểu hiện sự nhân nhượng như vừa nói ở trên tỏ ra thích hợp với “dù” hơn là với “mặc dù”, hay nói rộng hơn, thích hợp với điều kiện-nhượng bộ hơn là nhượng bộ.

pdf33 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 06/12/2013 | Lượt xem: 1380 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Ngữ nghĩa và ngữ pháp của cấu trúc nhân nhượng trong tiếng Việt, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Luận văn thạc sĩ Ngữ nghĩa và ngữ pháp của cấu trúc nhân nhượng trong tiếng Việt MỤC LỤC DẪN NHẬP 1.Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu................................................................... 1 1.1.Lí do chọn đề tài..................................................................................................... 1 1.2.Mục đích nghiên cứu............................................................................................. 2 2.Lịch sử nghiên cứu.......................................................................................................... 3 2.1. Các tác giả và những công trình nghiên cứu ở nước ngoài về cấu trúc nhân nhượng 3 2.2. Các tác giả và những công trình nghiên cứu về cấu trúc nhân nhượng tiếng Việt 6 2.2.1.Quan điểm truyền thống............................................................................... 6 2.2.2. Quan điểm lô gích - ngữ nghĩa................................................................. 10 2.2.3. Quan điểm ngữ nghĩa cú pháp.................................................................. 12 2.2.4.Quan điểm chức năng................................................................................. 14 3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................................... 16 4.Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu.............................................................. 16 5.Ý nghĩa của luận văn.................................................................................................... 18 6.Bố cục luận văn............................................................................................................. 18 CHƯƠNG 1: Tổng quan về quan hệ nhân nhượng và cấu trúc nhân nhượng. 20 1.1. Những tiền đề lý luận liên quan đến đề tài...................................................... 20 1.1.1. Quan hệ nhân nhượng............................................................................... 20 1.1.2. Quan hệ nhân quả............................................................................................ 21 1.1.3. Quan hệ nhân nhượng trong mối quan hệ với quan hệ đối lập và quan hệ nhân quả 25 1.2. Quan hệ nghịch nhân quả trong tiếng Việt...................................................... 35 1.3. Tính giả định và tính hiện thực của cấu trúc nhân nhượng........................... 40 1.4. Mô hình của cấu trúc nhân nhượng................................................................. 42 1.4.1.Dù P thì Q........................................................................................................... 43 1.4.2.Mặc dù P, Q........................................................................................................ 43 CHƯƠNG 2 : Đặc điểm ngữ nghĩa và những phương tiện hình thức biểu hiện cấu trúc nhân nhượng trong tiếng việt................................................................................................................ 45 2.1. Phân loại cấu trúc nhân nhượng trong tiếng Việt........................................... 45 2.1.1. Cách phân loại cấu trúc nhân nhượng trong tiếng Việt của các nhà Việt ngữ 45 2.1.2.Cách phân loại cấu trúc nhân nhượng tiếng Việt của luận văn............ 51 2.2. Ngữ nghĩa và ngữ pháp của cấu trúc nhân nhượng........................................ 55 2.2.1. Cấu trúc nhượng bộ “Mặc dù P nhưng Q”.............................................. 55 2.2.2. Cấu trúc điều kiện - nhượng bộ “Dù P thì Q” ....................................... 59 2.3. Phương tiện hình thức biểu hiện cấu trúc nhân nhượng tiếng Việt.............. 63 2.3.1. Trật tự (P, Q) ............................................................................................................................ 63 2.3.2. Trật tự (Q, P) ............................................................................................. 64 2.4. Các liên từ tiêu biểu cấu trúc nhân nhượng tiếng Việt.................................. 66 CHƯƠNG 3: Cấu trúc nhân nhượng trong sử dụng............................................ 72 3.1. Cấu trúc nhân nhượng qua một số phong cách.............................................. 72 3.2. Biểu hiện của cấu trúc nhân nhượng................................................................ 75 3.2.1. Biểu hiện cấu trúc nhượng bộ ................................................................. 75 3.2.2. Biểu hiện của cấu trúc điều kiện - nhượng bộ ...................................... 78 3.3. Một số trường hợp đặc biệt................................................................................ 79 3.4. Nhận thức của học sinh trung học phổ thông về cấu trúc nhân nhượng..... 81 3.4.1. Chỉ tố “dù”, “tuy”, “mặc dù”................................................................... 81 3.4.2. Chỉ tố “nhưng”........................................................................................... 84 3.4.3. Chỉ tố “cũng”, “vẫn”................................................................................. 86 3.4.4. Lí do nhầm lẫn............................................................................................ 88 3.4.5. Giải pháp khắc phục.................................................................................. 94 KẾT LUẬN........................................................................................................... 96 THƯ MỤC THAM KHẢO PHỤ LỤC v\:* {behavior:url(#default#VML);} o\:* {behavior:url(#default#VML);} w\:* {behavior:url(#default#VML);} .shape {behavior:url(#default#VML);} 1024x768 Normal 0 false false false EN-US X-NONE X-NONE /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style- noshow:yes; mso-style-priority:99; mso-style-qformat:yes; mso-style- parent:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin:0in; mso- para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font- size:10.0pt; font-family:"Calibri","sans-serif"; mso-bidi-font-family:"Times New Roman";} 2.1. Phân loại cấu trúc nhân nhượng trong tiếng Việt 2.1.1. Cách phân loại cấu trúc nhân nhượng trong tiếng Việt của các nhà Việt ngữ Cấu trúc nhân nhượng trong tiếng Việt dường như ít được giới Việt ngữ quan tâm. Các nhà ngữ pháp học khi đề cập đến cấu trúc nhân nhượng chỉ điểm qua một vài dạng thức tiêu biểu về hình thức ít người phân loại cấu trúc nhân nhượng. Điển hình như các tác giả sau: 1. Hoàng Tuệ Trong Giáo trình về Việt ngữ, Hoàng Tuệ không phân loại cấu trúc nhân nhượng. Ông chỉ nêu ra những đặc điểm về mặt hình thức và mô hình cơ bản của cấu trúc nhân nhượng và cho rằng kết cấu “dầu P thì Q” là kiểu kết cấu của những câu phức hợp có quan hệ phụ thuộc nhượng bộ. Trong đó P là mệnh đề phụ bắt đầu bằng “dầu”, “mặc dầu”, “dẫu”; trong Q thường dùng “cũng”. P và Q là hai mệnh đề với hai kết cấu Đề - thuyết. Ông khái quát bằng mô hình sau: 1. Hoàng Trọng Phiến và Nguyễn Kim Thản Hoàng Trọng Phiến cũng không phân loại cấu trúc một cách rõ ràng cụ thể nhưng qua cách thể hiện quan điểm về ngữ nghĩa của các liên từ “tuy” và “mặc dù”. Ông viết “mặc dù DẦU (Đ1 – T1) THÌ (Đ2 – CŨNG – T2). ...” chỉ là giả thiết, điều kiện về một tình hình nào đó, “..tuy ...” không phải là giả thiết mà là sự thực” [78, tr. 226]. Hoàng Trọng Phiến đã nhầm giữa “dù” với “mặc dù”. “Mặc dù” xuất hiện trong câu khi sự tình nói đến đã diễn ra. Nguyễn Kim Thản chỉ liệt kê các liên từ có trong cấu trúc nhân nhượng như “Tuy”, “dù”, “ mặc dù” v.v. Ngoài ra ông chú ý thêm những vị từ tình thái đi kèm với các liên từ chỉ sự nhượng bộ như “vẫn”, “cũng”. Mặc dù chỉ nhắc đến những chỉ tố nhân nhượng nhưng ông cũng đã chú ý đến hai yếu tố quan trọng trong cấu trúc nhân nhượng “vẫn”, “cũng”. 1. Hồ Lê Khi bàn về câu điều kiện – hệ quả trong công trình “Cú pháp tiếng Việt”, Hồ Lê căn cứ vào tiêu chí nội dung của điều kiện và tính chất của mối quan hệ điều kiện – hệ quả để phân loại. Theo đó, có bốn kiểu nhưng trong đó có ba kiểu là cấu trúc nhân nhượng như bảng sau: Tiêu chí Phân loại Dạng thức của cấu trúc Nội dung của điều kiện Điều kiện giả định Dù (cho) … thì Điều kiện hiện thực Tuy … nhưng… Tính chất của mối quan Điều kiện thuận hệ quả Vì … nên… hệ điều kiện – hệ quả (*) Điều kiện nghịch hệ quả Tuy … nhưng… Bảng 2.1: Bảng phân loại câu điều kiện của Hồ Lê Chú thích: (*) không phải cấu trúc nhân nhượng. Căn cứ vào bảng trên ta thấy cấu trúc nhân nhượng có điều kiện giả định và điều kiện hiện thực đều thuộc cấu trúc nhân nhượng có điều kiện nghịch hệ quả. Kết hợp hai tiêu chí nội dung của điều kiện và tính chất của mối quan hệ điều kiện nghịch hệ quả ta thấy theo quan điểm của Hồ Lê thì cấu trúc nhân nhượng chỉ có hai loại: 1. Cấu trúc nhân nhượng có điều kiện giả định nghịch với hệ quả: dù cho…, cho dù…, dù…, dầu…, ví dù…, ví dầu… 2. Cấu trúc nhân nhượng có điều kiện hiện thực nghịch với hệ quả: mặc dù… nhưng…, tuy… nhưng… Điều cần lưu ý ở đây là khi Hồ Lê đưa ra loại cấu trúc nhân nhượng có điều kiện hiện thực nghịch với hệ quả ông cho rằng quan hệ giữa hai tiểu cú phải liên kết bằng hai liên từ đứng đầu mỗi tiểu cú, còn với loại cấu trúc nhân nhượng có điều kiện giả định nghịch với hệ quả thì ông chỉ đưa ra một liên từ ở tiểu cú mang ý nghĩa nhân nhượng. Vậy phải chăng như thế không có tính cân đối giữa hai tiểu cú? Thực ra ở đây yếu tố cần nhất là liên từ chỉ ý nhân nhượng, còn liên từ thứ hai kia có thể có hoặc không. Nếu không có liên từ thứ 2 thì ranh giới giữa hai tiểu cú được ngăn cách bằng dấu phẩy (,). Tuy nhiên phải thừa nhận rằng, hình thức đầy đủ với cấu trúc nhân nhượng cần có hai liên từ đứng trước hai tiểu cú trong cấu trúc nhân nhượng. 4. Nguyễn Đức Dân Nguyễn Đức Dân gọi cấu trúc nhân nhượng là cấu trúc nghịch nhân quả. Xuất phát từ tiêu chí trạng thái của các đối tượng xảy ra theo thứ tự thời gian được đề cập đến trong cấu trúc nhân nhượng, ông phân cấu trúc nghịch nhân quả làm hai loại: cấu trúc nghịch nhân quả sớm và cấu trúc nghịch nhân quả muộn. Cụ thể như bảng dưới đây: Loại Kiểu Dạng thức của cấu trúc Giải thích Cấu trúc nghịch nhân quả sớm 1 Tuy X còn A nhưng (mà) Y đã D song Đối tượng X còn ở trạng thái A nhưng đối tượng Y đã chuyển sang trạng thái D. Sở dĩ có ý nghĩa này là do sự kết hợp của liên từ chỉ nhân nhượng và kết cấu “còn … đã”, “mới … đã”. 2 Tuy X mới A nhưng (mà) Y đã D song 3 Tuy X chưa A nhưng (mà) Y đã D song Đối tượng X chưa sang trạng thái A nhưng đối tượng Y đã chuyển sang trạng thái D nhờ sự liên kết giữa cấu trúc nhân nhượng với kết cấu “chưa… đã” 4 Tuy X đã A nhưng (mà) Y vẫn (còn) D song Đối tượng X đã chuyển sang trạng thái A nhưng đối tượng Y vẫn còn ở trạng thái D nhờ sự liên kết giữa cấu trúc nhân nhượng với kết cấu “đã … vẫn”. 5 Tuy X đã A nhưng (mà) Y vẫn (còn) chưa D song Đối tượng X đã chuyển sang trạng thái A nhưng đối tượng Y vẫn còn chưa sang trạng thái D nhờ sự liên kết giữa cấu trúc nhân nhượng với kết cấu “đã … vẫn chưa” theo quy luật thông thường. Cấu trúc nghịch 6 Dù Sự kiện B tất yếu sẽ xảy ra cho dù sự kiện A là yếu nhân quả muộn Dẫu A nhưng (mà) vẫn D Dầu song tố cản trở. 7 Mặc dầu A nhưng (mà) vẫn B Mặc dù song Sự kiện D tất yếu sẽ xảy ra cho dù sự kiện A là yếu tố cản trở, Sự kiện A và B đều đã xảy ra Bảng 2.2: Bảng tổng hợp các dạng cấu trúc nghịch nhân quả của Nguyễn Đức Dân Trong đó X và Y có thể là cùng một đối tượng hoặc cũng có thể là hai đối tượng khác nhau. Cách phân loại của Nguyễn Đức Dân tương đối cụ thể nhưng trong các kiểu mà ông đưa ra chúng tôi không thấy cấu trúc dạng “dù …thì…”. Theo chúng tôi ông có sự nhầm lẫn trong kiểu số 6. Có lẽ ông muốn nói đến cấu trúc này chăng? Vì khi diễn giải kiểu số 6 ông có nói: Sự kiện A chưa xảy ra, nó chỉ có tính chất giả định về A. Các từ dầu (dù), dẫu đã tạo ra tính chất giả định này dùng để biểu thị ý chí của chủ thể: B tất yếu sẽ xảy ra, dù có xuất hiện A là yếu tố cản trở nó xuất hiện. [20; tr.214] 5. Nguyễn Vân Phổ Kế thừa các thành tựu nghiên cứu về cấu trúc nhân nhượng của các nhà Việt ngữ và ngữ học nước ngoài (Iten, Konig, Sweetzer v.v.) một cách có chọn lọc, Nguyễn Vân Phổ đã có cách phân loại cấu trúc nhân nhượng rành mạch với hai dạng: - Cấu trúc nhượng bộ “Mặc dù P, Q” - Cấu trúc điều kiện – nhượng bộ “Dù P thì Q”. Luận văn lấy quan điểm này để triển khai. 2.1.2. Cách phân loại cấu trúc nhân nhượng tiếng Việt của luận văn Nhìn chung, các cách phân loại trên chưa mang tính phổ quát cho tất cả các cấu trúc nhân nhượng trong tiếng Việt (trừ quan điểm của Nguyễn Vân Phổ). Tiếp thu thành tựu của các tác giả nước ngoài và các nhà Việt ngữ đi trước đồng thời căn cứ vào đặc điểm của tiếng Việt, chúng tôi đã tiến hành phân loại cấu trúc nhân nhượng . Cụ thể vấn đề sẽ được trình bày dưới đây: 2.1.2.1. Tiêu chí phân loại Ngôn ngữ có cách biểu đạt rất phong phú. Cùng một hình thức nhưng có thể biểu thị nhiều ý nghĩa khác nhau và ngược lại, để biểu thị một sự việc thì có nhiều cách thể hiện. Chính vì thế nếu chỉ căn cứ vào hình thức để phân loại thì sẽ không chính xác vì rơi vào chủ nghĩa hình thức, bỏ qua những yếu tố ngữ nghĩa. Chúng tôi dựa trên sự kết hợp giữa hai yếu tố hình thức với ngữ nghĩa của cấu trúc nhân nhượng để phân loại, cụ thể là tiêu chí quan hệ nhân quả và tiêu chí tính hiện thực. a. Tiêu chí quan hệ nhân quả Qua chương 1 của luận văn, chúng ta đã thấy quan hệ nhân quả được rất nhiều tác giả căn cứ để xem xét phân loại cấu trúc nhân nhượng như Konig, Iten, Sweetzer … Khảo sát của chúng tôi cũng cho thấy quan hệ nhân quả là cơ sở nhận biết cấu trúc nhân nhượng mà cụ thể là quan hệ nhân quả nghịch. Chính vì vậy mà khi tiến hành phân loại cấu trúc nhân nhượng chúng ta cần xem xét quan hệ giữa P và Q có phải là quan hệ nhân quả nghịch hay không. Kết quả thu thập được tiến hành phân nhóm để chọn lọc các câu chứa mối quan hệ nhân quả nghịch và câu chứa mối quan hệ nhân quả thuận. b. Tiêu chí tính hiện thực Khi tiến hành khảo sát và phân loại câu điều kiện tiếng Nhật, Naoko đã vận dụng cách phân loại của các nhà triết học cổ điển là dựa trên phạm trù giả định và hiện thực. Kế thừa thành tựu này, Lê Thị Minh Hằng [42] đã phân loại câu điều kiện tiếng Việt và đi đến kết luận tiếng Việt có 9 tiểu loại điều kiện. Xét thấy tính khả dụng của tính hiện thực giúp phân biệt ý nghĩa của các trường hợp biểu hiện ý nghĩa nhân nhượng nên chúng tôi đã vận dụng quan điểm này để tiến hành công việc phân loại. Cũng phải nói thêm, tính hiện thực ở đây còn được hiểu là thái độ của người nói đối với hiện thực (Tính giả định và tính hiện thực của cấu trúc nhân nhượng, xem 1.3). 2.1.2.2.Các bước phân loại cấu trúc nhân nhượng tiếng Việt BƯỚC 1 Dựa vào quan hệ nghịch nhân quả để xác định cấu trúc nhân nhượng điển hình và cấu trúc nhân nhượng không điển hình. Xét ví dụ sau: (49) Tuy trời mưa nhưng nó vẫn đi chơi. A có kế hoạch đi chơi nhưng bất ngờ trời mưa. Rõ ràng đây là một cản trở đối với A. Rất có thể vì nó mà kế hoạch đi chơi bị hủy. Tuy nhiên A vẫn quyết tâm vượt qua điều kiện cản trở ấy. Chúng tôi gọi đây là dạng cấu trúc nhân nhượng điển hình. Cấu trúc nhân nhượng điển hình là giữa P và Q thể hiện mối quan hệ nghịch nhân quả. Cụ thể như sau: thông thường P sẽ dẫn đến Q nhưng trong bối cảnh bị cản trở nào đó nên P dẫn đến ~Q. (50) Tuy Na cao nhưng cô ấy không giỏi bóng rổ. Theo suy luận thông thường cũng là quan hệ nhân quả thì người nào cao sẽ có điều kiện chơi bóng rổ tốt. Nhưng trường hợp của Na lại ngược lại. Khi đó chúng ta nói rằng, quan hệ giữa việc Na cao và Na không giỏi bóng rổ là quan hệ nhân nhượng. Khi nói đến mối liên quan giữa sự tình Na cao và môn thể thao bóng rổ thì người nghe sẽ kì vọng vào khả năng chơi bóng rổ tốt của Na, tuy nhiên kết luận “nhưng” đã phủ nhận sự kì vọng đó. Ở trường hợp này “nhưng” đánh dấu một vai trò quan trọng trong mối quan hệ về nghĩa giữa P với Q. Khi ấy mối quan hệ giữa P và Q là quan hệ nhân quả trực tiếp (chúng tôi kí hiệu là P → Q). Cấu trúc nhân nhượng không điển hình là giữa P và Q không có mối quan hệ nhân quả trực tiếp mà cần đến một yếu tố thứ ba R làm trung gian. Ở đây sẽ xuất hiện hai mối quan hệ: P với R và Q với R. Ví dụ: (51) Cái ghế này đẹp nhưng đắt. Rõ ràng người nghe thấy tính chất đẹp (P) của cái ghế thì rất vừa ý và muốn mua (R) nhưng khi nghe giá ghế đắt (Q) thì lại băn khoăn và nghĩ là không nên mua (~R). Sức mạnh của “nhưng” đứng trước “đắt” giúp người nghe nhận ra được thái độ của người nói sẽ không mua cái ghế này. Lúc này ta thấy lực tác động của Q mạnh hơn P. Với dạng thức cấu trúc nhân nhượng không điển hình, ngữ nghĩa của phát ngôn chỉ được hiểu đúng khi có sự hỗ trợ của ngữ cảnh giao tiếp. Quan hệ giữa P và Q là quan hệ nhân quả gián tiếp qua R (P-/→ Q). BƯỚC 2 Trong cấu trúc nhân nhượng chúng tôi dựa trên tiêu chí tính hiện thực phân ra làm hai loại cấu trúc nhân nhượng là cấu trúc nhượng bộ và cấu trúc điều kiện nhượng bộ. Sự khác nhau để nhận diện hai dạng này là cấu trúc nhượng bộ diễn tả sự tình đã xảy ra trong thực tế (+ hiện thực) còn cấu trúc điều kiện - nhượng bộ diễn tả sự tình chưa xảy ra (- hiện thực). Ví dụ: (52) Cô ấy không đẹp nhưng có duyên. (cấu trúc nhượng bộ) (53) Dù chiều nay trời mưa thì tôi vẫn đi. (cấu trúc điều kiện - nhượng bộ) 2.1.2.3. Kết quả phân loại cấu trúc nhân nhượng tiếng Việt Sau khi tiến hành các bước phân loại trên, kết hợp hai tiêu chí quan hệ nhân quả và tính hiện thực, chúng tôi thu thập được các loại cấu trúc nhân nhượng trong tiếng Việt như sau: Loại cấu trúc nhân nhượng Ví dụ Kiểu quan hệ Cấu trúc nhân nhượng điển hình +Hiện thực (54) Tuy rằng các “chú” và các anh chưa hề có biểu hiện thiếu nghiêm túc nhưng cô cũng cảm thấy chán cuộc sống ở nhà. (Thời xa vắng – Lê Lựu) Nhượng bộ - Hiện thực (55) Dù chiều nay trời mưa thì tôi vẫn đi. Điều kiện – nhượng bộ Cấu trúc nhân nhượng không điển hình (56) Cái ghế này đẹp nhưng đắt. Nhượng bộ Bảng 2.3: Bảng phân loại cấu trúc nhân nhượng Gồm 3 loại: - Cấu trúc nhượng bộ điển hình: + hiện thực và P → Q - Cấu trúc nhượng bộ không điển hình: + hiện thực và P -/→ Q - Cấu trúc điều kiện nhượng bộ: - hiện thực và P → Q Trong quan hệ P -/→ Q cần thêm yếu tố tiền giả định R làm trung gian. Nếu theo quan điểm của Sweetzer cho rằng đó là tri thức nền giữa hai đối tượng giao tiếp thì 3 tiểu loại cấu trúc nhân nhượng trên có thể gộp thành 2 tiểu loại: - Cấu trúc nhượng bộ: “Mặc dù P nhưng Q”, “Tuy P nhưng Q” - Cấu trúc điều kiện nhượng bộ: “Dù P thì Q” Chúng tôi chỉ phân loại dạng đầy đủ các chỉ tố cấu trúc nhân nhượng. Ngoài các hình thức này, cấu trúc nhân nhượng còn có các dạng tỉnh lược khác, có thể là tỉnh lược một liên từ trước P hoặc Q, cũng có thể tỉnh lược cả hai liên từ trước P và Q đồng thời có sự xuất hiện của vị từ tình thái “cũng”, “vẫn”. Khi đi vào từng loại cụ thể chúng tôi sẽ phân tích kĩ hơn các dạng này. 2.2. Ngữ nghĩa và ngữ pháp của cấu trúc nhân nhượng 2.2.1. Cấu trúc nhượng bộ “Mặc dù P nhưng Q” Trong cấu trúc “Mặc dù P nhưng Q” (dạng đầy đủ) (tương đương với cấu trúc “Tuy P nhưng Q”) ta có một kết cấu đề - thuyết P - Q. Cũng có dạng thức tỉnh lược liên từ đứng trước Q biểu hiện dưới biểu thức “Mặc dù P, Q” thì lúc này P là thành phần trạng ngữ đứng trước. Kết cấu đề - thuyết của P hoàn toàn có thể thay bằng một danh ngữ tương ứng, chẳng hạn như từ ví dụ: (54)“Trời mưa, nó vẫn đi chơi” có thể diễn đạt theo kiểu “Trong tình hình trời mưa, nó vẫn đi chơi”, “Khi trời mưa, nó vẫn đi chơi”, hay như “Ngay cả trong tình hình trời mưa nó vẫn đi chơi”, “Ngay cả khi trời mưa nó vẫn đi chơi”. Và “mặc dù” có thể được thay bằng một số chỉ tố nhượng bộ khác (mà màu sắc vị từ còn rõ rệt – nghĩa là mức độ hư hóa ít hơn “mặc dù”). Chẳng hạn: (55) a. Mặc bệnh tật, chị vẫn đi làm. b. Bất kể bệnh tật, chị vẫn đi làm. c. Kể cả khi bệnh tật, chị vẫn đi làm. d. Chẳng kể bệnh tật, chị vẫn đi làm. (Dẫn theo Nguyễn Vân Phổ [80; tr.49]) Theo quan điểm ngữ pháp chức năng, Cao Xuân Hạo cho rằng “mặc dù P” là một tiểu cú giữ vai trò trạng ngữ trong câu, bổ sung “ý nhượng bộ” cho vị ngữ. Trong tiếng Anh cấu trúc “Although P, Q” không xuất hiện “nhưng”; còn tiếng Việt lại khác, “mặc dù” và “nhưng” như một cặp liên từ liên ứng để diễn đạt ý nghĩa ngược nhau của hai tiểu cú. Khi “mặc dù P” đứng đầu câu, có một đòi hỏi thiết yếu đối với Q đó là Q phải được tình thái hóa đủ tường minh và có quan hệ hô ứng với P. Ví dụ: (56) a. Mặc dù đã ngũ tuần, bà ấy vẫn đẹp. b. Mặc dù chỉ đóng một bộ phim, ông cũng nổi tiếng. Ở (a) và (b) sự xuất hiện của từ tình thái là bắt buộc. Nếu thay đổi vị trí của P và Q cho nhau thì ta có một cấu trúc Đề - thuyết có trạng ngữ bình thường (“Q, mặc dù P”). Khi đó, sự hiện diện của tác tố tình thái không còn bắt buộc nữa. Ví dụ: (60) a. Bà ấy đẹp, mặc dù đã ngũ tuần. b. Ông nổi tiếng, mặc dù chỉ đóng một bộ phim. Về ngữ nghĩa, trạng ngữ P biểu thị một sự tình không phải là nguyên nhân mà là điều kiện bất lợi hoặc trở ngại của Q. Nhưng người nói nhận định rằng trong tình hình đó sự tình Q (vẫn/ cũng) diễn ra (cần căn cứ vào ngữ cảnh của câu nói). Ta có thể diễn giải ngữ nghĩa của câu như sau: thông thường P không gây ra Q, (nhưng trong trường hợp này) P vẫn/ cũng Q. Vai trò của vị từ tình thái “cũng/ vẫn” trong cấu trúc nhân nhượng là rất quan trọng xét về mặt ý nghĩa. Trong nhiều trường hợp, cấu trúc “tuy… nhưng” có thể tỉnh lược. Xét ví dụ sau: (61) Mặc dù chẳng ai mời nhưng nó vẫn tới. Vẫn có thể nói: Mặc dù chẳng ai mời, nó vẫn tới. Hay: Chẳng ai mời, nó vẫn tới. Chúng ta có thể thấy rằng, “nhưng” có thể được thay thế bằng dấu phẩy (,), liên từ “mặc dù” xuất hiện hay không thì vẫn đảm bảo nội dung. Ngoài những yếu tố nòng cốt của câu, ta thấy phó từ “vẫn” xuất hiện trong tất cả các trường hợp. Nếu tỉnh lược “vẫn” câu sẽ trở thành “Chẳng ai mời, nó tới”. Rõ ràng nếu tỉnh lược và giữ nguyên hình thức, hai vế của câu không hề có sự liên kết gì về nghĩa, nếu bỏ đi dấu phẩy giữa hai vế thì ngữ nghĩa của câu hoàn toàn thay đổi: chẳng có ai mời nó tới cả (vì thế mà nó không đến), trong khi đó, nghĩa gốc là “nó có đến”. Vậy phải chăng vai trò của “vẫn” mang tính chủ đạo trong cấu trúc nhân nhượng dạng này? Khi hai tiểu cú diễn đạt hai sự tình liên kết với nhau bằng chỉ tố đối lập “nhưng” thì sự có mặt của “mặc dù” (và cả yếu tố tình thái ở tiểu cú Q) trở thành không quan yếu. Trong tiếng Việt, cấu trúc nhượng bộ đánh dấu bằng mặc dù bao giờ cũng có thể được thay thế bằng “nhưng” (“P nhưng Q”) hoặc đi kèm với “nhưng” (“Mặc dù P nhưng Q”). Chẳng hạn, ta có P “tôi khuyên”, và Q “Nó không nghe”. Gắn P với Q bằng “nhưng” ta sẽ có một cấu trúc chuẩn tắc “P nhưng Q”. So sánh: (59) a. *Mặc dù tôi khuyên, nó không nghe. b. (Mặc dù) tôi khuyên nhưng nó không nghe. Hoặc với P “trời nhiều mây”, ta có: (60) a. * Mặc dù trời nhiều mây, không mưa. b. (Mặc dù) trời nhiều mây nhưng không mưa. Có thể thấy, “nhưng” là một tác tố liên kết đủ mạnh để bảo đảm cho sự hoàn chỉnh của cả phát ngôn về hai sự tình có quan hệ đối lập; về hình thức, cái quan hệ được đánh dấu tự nhiên bằng “nhưng” ấy không cần kèm theo bất cứ một ràng buộc nào: thành phần Q sau “nhưng” không cần phải thay đổi để thích ứng với P. “P nhưng Q” là một biểu thức liên kết hai tiểu cú có liên hệ về nghĩa, nhưng tương đối độc lập về cấu trúc; mỗi tiểu cú là một cấu trúc hoàn chỉnh – do đó, dễ dàng trình bày thành “P. Nhưng Q” – (59’) Tôi khuyên. Nhưng nó không nghe. Xét về cấu trúc, “Mặc dù P nhưng Q” có hai ràng buộc: hoặc Q phải được tình thái hóa thích hợp bằng các tác tố “cũng”, “vẫn”, hoặc phải có “nhưng” liên kết P với Q. “Mặc dù” có thể loại bỏ mà cấu trúc và ngữ nghĩa không bị tổn hại. Xét tình huống: một giáo sư giới thiệu với sinh viên một bài viết mới của tác giả X nào đó: (61) a. Bài này ngắn gọn nhưng có nhiều thông tin. b. Bài này dài dòng nhưng có nhiều thông tin. Trong bối cảnh giao tiếp “bình thường”, hai phát ngôn trên trình bày hai nhận định của vị giáo sư với định hướng nghĩa và trật tự khác nhau (tùy ý định giao tiếp). Sự có mặt “mặc dù” trong hai câu trên là khó hiểu, thậm chí khó chấp nhận – đặc biệt là khi phát ngôn mở đầu một đoạn thoại. Nói cách khác, trong tình huống như trên, cấu trúc “nhưng” không dung nạp và cũng không thể thay bằng “mặc dù”, tuy về mặt hình thức khả năng đó không phải là không thể xảy ra. Trong một tình huống khác, chẳng hạn khi nghe một phóng viên chất vấn tại sao bài viết của anh ta có nhiều thông tin mới mà bị loại, ông tổng biên tập có thể sẽ giải thích: (62) Mặc dù bài có nhiều thông tin, (nhưng) tôi không cho đăng, vì nó không hợp. (63) Tôi không cho đăng, mặc dù bài có nhiều thông tin, vì nó không hợp. Ở (62), “không cho đăng” là sự thật đã diễn ra và nguyên nhân là “nó không hợp”; người nói chấp nhận “bài có nhiều thông tin” như một sự nhân nhượng (nhằm làm dịu anh phóng viên) để bảo lưu quyết định của mình – Nguyễn Vân Phổ [80] gọi sự nhân nhượng này là một biện pháp tu từ (figure of speech) thuần túy vì điều cần nói đã được nói ra mà không cần đến “mặc dù...”. Yếu tố “mặc dù…” lúc này như thành phần bổ trợ chen thêm vào cấu trúc nhân quả trên. Cấu trúc nhượng bộ có thể chuyển hóa thành điều kiện-nhượng bộ một cách hết sức tự nhiên, thậm chí có cơ sở để nói rằng đây là một biểu hiện của sự xâm nhập hoặc là ranh giới mơ hồ giữa hai cấu trúc. So sánh (63) với (64): (64) Cho dù bài có nhiều thông tin (thì) tôi cũng không thể cho đăng, vì... Người nói có thể đưa ra một cấu trúc mang tính chất giả định để tạo ra một tình huống “cực đoan cho nhận định theo sau khi nói về một sự tình hiện thực. “Nếu không biết trước sự tình được nêu ra (ở cả P và Q)và những chỉ tố biểu hiện sự tình đó là hiện thực hay giả định thì khó có thể tách bạch được hai kiểu cấu trúc này. Đứng về mặt tu từ (rhetorical), khả năng biểu hiện sự nhân nhượng như vừa nói ở trên tỏ ra thích hợp với “dù” hơn là với “mặc dù”, hay nói rộng hơn, thích hợp với điều kiện-nhượng bộ hơn là nhượng bộ. Rõ ràng, “mặc dù” có thể là một dấu hiệu nhân nhượng tu từ nhưng khả năng này phụ thuộc cụ thể tình huống giao tiếp, và nó cũng chỉ là một khả năng chọn lựa bên cạnh “dù”. (Để thể hiện thái độ nhân nhượng, người nói có thể chọn dùng “dù” (phổ biến hơn) hoặc “mặc dù”). Trong cấu trúc “Mặc dù P nhưng Q”, thành phần được đánh dấu bằng “mặc dù” thực sự là một sự nhân nhượng của người nói: người nói chấp nhận cái sự tình vốn có thể chống lại nội dung mệnh đề mà anh ta đưa ra để khẳng định rằng điều nêu ra ngay sau đó là không thể khác được. 2.2.2. Cấu trúc điều kiện - nhượng bộ “Dù P thì Q” Cấu trúc “Dù P thì Q” (dạng đầy đủ) về ngữ pháp là một kết cấu đề - thuyết P – Q với tác tử phân giới Đề - thuyết là “thì. Ví dụ: (65) Dù có len vào đấy thì cũng không ai có quyền kiểm soát cái khoảng tự do cuối cùng của tình cảm và quyền làm người của Sài. (Thời xa vắng - Lê Lựu) Cấu trúc điều kiện – nhân nhượng miêu tả một sự tình Q vẫn xảy ra trong điều kiện P cản trở. Người nói đặt ra điều kiện chưa có thật ở hiện tại và giả định nó xảy ra trong tương lai. Trong câu chứa cấu trúc điều kiện - nhượng bộ có đầy đủ hai chỉ tố “dù” và “thì” trước hai tiểu cú P và Q. P luôn đóng vai trò là khung đề - nêu rõ những điều kiện làm thành cái khung về cảnh huống thời gian, không gian, trong đó điều được nói ở phần thuyết có hiệu lực” [35; tr. 82]. Tiểu cú Q đứng sau “thì” là thuyết . Cũng có dạng thức tỉnh lược liên từ đứng trước Q biểu hiện dưới biểu thức “Dù P, Q” thì lúc này P là thành phần trạng ngữ đứng trước. (66) Dù tự tay mình xới lấy, Sài vẫn phải trả lời những đòi hỏi của cô. (Thời xa vắng - Lê Lựu) Cũng có những trường hợp vị trí của P, Q thay đổi dạng “Q dù P” như ví dụ sau: (67) Ai sẽ là người ủng hộ sài dù đó là sự nhen nhóm. (Thời xa vắng - Lê Lựu) Lúc này “dù P” là một tiểu cú giữ vai trò trạng ngữ trong câu, bổ sung “ý nhượng bộ” cho vị ngữ và trước “dù” có thể đặt dấu phẩy (,). (68) Hơn nữa anh chỉ giỏi tự nhiên, dù các môn tự nhiên của anh cùng ba học sinh của trường khác được coi là xuất sắc nhất tỉnh. (Thời xa vắng - Lê Lựu) Và “dù” có thể được thay bằng một số chỉ tố nhượng bộ khác mà màu sắc vị từ còn rõ rệt – nghĩa là mức độ hư hóa ít hơn “dù” như “cũng”, “vẫn”, cũng vẫn”. Sự xuất hiện của vị từ này mang tính chất quan yếu. So sánh các trường hợp của ví dụ (69) sau: a. Dù không thắng thì chúng ta cũng phải chơi hết mình. b. Dù không thắng, chúng ta cũng phải chơi hết mình. c. Không thắng thì chúng ta cũng phải chơi hết mình. d. Không thắng, chúng ta cũng phải chơi hết mình. e. *Dù không thắng, chúng ta phải chơi hết mình. f. *Không thắng thì chúng ta phải chơi hết mình. Những trường hợp có thể chấp nhận vì thỏa tiêu chí của ý nghĩa điều kiện nhân nhượng là (a), (b), (c), (d) còn trường hợp (e) và (f) thì không. Rõ ràng chúng ta thấy vai trò của “dù” và “thì” trong trường hợp này không phải bắt buộc. Gánh nặng ý nghĩa thuộc về “cũng”. Vai trò của “thì” trong cấu trúc điều kiện – nhượng bộ Sự có mặt của “thì” trong cấu trúc điều kiện – nhượng bộ “dù P thì Q” không chỉ có tác dụng phân giới thành phần Đề - thuyết mà nó còn làm cho ý nghĩa của câu dễ hiểu, rõ ràng hơn. Tuy nhiên, như ví dụ trên, chúng ta thấy vai trò của “thì” trong cấu trúc điều kiện – nhượng bộ là không quan yếu. Người ta có thể bỏ “thì” và thay bằng dấu (,) như trường hợp ví dụ (b), (d) ở trên. - Trường hợp bắt buộc dùng “thì” khi “dù” đứng đầu câu và đi theo sau là “sao” tạo nên tổ hợp “dù sao”. “Sao” liên quan đến thành phần ý nghĩa của câu trước liền kề nó. Ví dụ (70) : “Sài cứ phải cố cho vừa lòng vợ. Sự chiều chuộng của anh đã tạo nên thói quen lười biếng trong cô. Cô nhận ra, không có một kẻ đầy tớ nào hầu hạ lý tưởng bằng chồng, khi anh ta còn sức lực và tự nguyện hết lòng, hết sức, hết hơi vì vợ con. Dù sao thì anh ta cũng hiểu mình hơn một thằng ở. Dễ sai bảo, không e ngại bất cứ công việc gì, không cần ý tứ giữ gìn bất cứ một trường hợp nào.” (Thời xa vắng - Lê Lựu) Trong những trường hợp này, ý nghĩa nhân nhượng vượt ra ngoài ý nghĩa phạm vi câu mà mở rộng ra ý nghĩa của phạm vi đoạn, cụ thể là câu kế trước nó. - Qua khảo sát, chúng tôi thấy rất nhiều trường hợp không bao giờ dùng “thì” trong câu xuất hiện tổ hợp “dù vậy”. Đi sau nó luôn là dấu phẩy (,) với biểu thức “P. Dù vậy, Q”. Ví dụ: (71) Nó thấy mệt mỏi. Dù vậy, nó cũng chạy ra ngoài quét thóc. (Thời xa vắng - Lê Lựu) Biểu thức này có thể khôi phục thành biểu thức cấu trúc “dù P, Q” khi sự tình P và Q đã từng xảy ra và sẽ tiếp tục xảy ra như một thói quen và có thể khôi phục thành biểu thức “mặc dù P nhưng Q” khi sự tình P và Q là hiện thực. Ví dụ: (72a) Mặc dù thấy mệt mỏi, nó cũng chạy ra ngoài quét thóc. (thói quen của “nó”) (72b) Mặc dù thấy mệt nhưng nó vẫn chạy ra ngoài quét thóc. Cấu trúc điều kiện – nhân nhượng ít xuất hiện với hình thức nghi vấn. Trong những trường hợp người nói đặt ra tình huống giả định ở P cản trở Q thì lúc này người nói sẽ tạo lập cấu trúc điều kiện “nếu P thì Q chứ.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdflv_ngon_ngu_hoc_20__7826.pdf