Luận văn Nhập khẩu linh kiện máy tính tại Công ty cổ phần thương mại và công nghệ Sao Việt

Theo xu hướng đó, cũng như các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu khác, Công ty cổ phần thương mại và công nghệ Sao Việt đã tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hoá, đưa hàng hoá tiên tiến từ nước ngoài vào trong nước nhằm đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước. Đồng thời công ty đã ngày càng hoàn thiện hơn trong quy trình tổ chức thực hiện kinh doanh nhập khẩu, uy tín của công ty ngày càng có vị trí trên thị trường trong nước, và chuẩn bị vươn ra thế giới.

pdf105 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 07/11/2013 | Lượt xem: 2162 | Lượt tải: 15download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Nhập khẩu linh kiện máy tính tại Công ty cổ phần thương mại và công nghệ Sao Việt, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ty cổ phần thương mại và công nghệ Sao Việt Cơ sở hạ tầng ở Việt Nam còn kém, phương tiện vận tải kém phát triển gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Do vậy, ở Việt Nam các doanh nghiệp xuất nhập khẩu còn phải xuất với giá FOB, nhập với giá CIF. Với phương thức xuất nhập như vậy đã làm cho các doanh nghiệp mất đi quyền lợi nhất định như việc chủ động chuẩn bị và giao hàng, chủ động lựa chọn những phương thức vận tải có lợi và một số điều khoản có lợi khác. Cũng do cơ sở hạ tầng, đường xá và phương tiện vận tải trong nước còn quá kém và cũ, dẫn đến hàng hoá của công ty không phân phối được hết các nơi vùng sâu vùng xa. Gần đây, các công ty nhập các thiết bị máy móc, các linh kiện điện tử ngày càng nhiều, do vậy đối thủ cạnh tranh trong nước ngày càng nhiều, gây sức ép về giá, về chất lượng sản phẩm, chiếm lĩnh thị phần thị trường của nhau, khiến công tác bán hàng trong nước ngày càng trở nên khó khăn hơn. Ngoài ra, các yếu tố như tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát, giá cả, nhu cầu thị trường thay đổi thường xuyên nên trong các hợp đồng mua bán hàng hoá đều có thể phải thay đổi một số thông tin. Khi đã phải thay đổi một số thông tin trên các hợp đồng, các chứng từ mua bán thì cần phải có sự theo dõi kiểm tra kỹ càng, điều này sẽ làm mất rất nhiều thời gian, ảnh hưởng tiến độ hợp đồng. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU LINH KIỆN MÁY TÍNH TẠI CÔNG TY SAO VIỆT 3.1. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG LINH KIỆN MÁY TÍNH TRÊN THẾ GIỚI 3.1.1. Xu hướng cung cấp nguồn hàng linh kiện máy tính của các nước Thị trường linh kiện máy tính bắt đầu phát triển mạnh khoảng từ năm 1960 trở lại đây, thời điểm đó nguồn hàng cung cấp chủ yếu là thuộc các nước có nền kinh tế phát triển: Mỹ, các nước Tây Âu, một số nước ở Châu Âu. Cùng với sự phát triển thế giới, thị trường cung cấp linh kiện máy tính cũng theo đó phát triển, nguồn hàng cung cấp đang được chuyển dịch dần sang khối các nước G20: Trung Quốc, Ấn Độ… Xu hướng này có thể giải thích như sau, trong khi các nước Mỹ, Tây Âu, thị trường này đã bắt đầu bão hòa, nhu cầu của khách hàng ở những nước này đã thay đổi, đòi hỏi chất lượng cao, tốc độ nhanh, thì ở trên thế giới còn rất nhiều quốc gia khác sự phát triển của thị trường này còn yếu, sự chuyển dịch này là tất yếu, giá thành sản xuất ở các thị trường Mỹ, Tây Âu.. quá lớn so với ở Trung Quốc, hay Ấn độ…giá thành sản xuất của Trung Quốc và Ấn Độ thấp hơn nhiều, do đó nguồn hàng trong vài năm tới sẽ chủ yếu do các nước thuộc G20 cung cấp. Không phải là thị trường Mỹ, Tây Âu… sẽ không cung cấp nữa, họ sẽ vẫn cung cấp nhưng sản phẩm của họ đạt chất lượng, là những sản phẩm công nghệ cao, bền và đáp ứng những nhu cầu cao: Cung cấp những máy chủ xử ý tốc độ cao…. Còn các nước G20 thì cung cấp các sản phẩm thông thường, họ có thể cung cấp các sản phẩm chất lượng cao, nhưng so với Mỹ, Tây Âu thì còn kém, vì họ không có được hoàn toàn bản quyền sáng chế, hay những bí quyết công nghệ. 3.1.2. Xu hướng tiêu dùng mặt hàng linh kiện máy tính Với sự chuyển dịch nguồn cung cấp hàng hóa, thì thị trường tiêu dùng linh kiện máy tính cũng sẽ thay đổi phù hợp, hàng hóa giá rẻ sẽ được ưa chuộng, mặc dù chất lượng không cao, ví dụ: Hiện nay hàng hóa của Trung Quốc được bán ở rất nhiều quốc gia, trong đó có cả Việt Nam, giá cả rẻ so với các hàng hóa từ Mỹ, Anh, pháp…dù rằng sản phẩm của Trung Quốc không được bền nhưng cũng được từ 4 đến 6 năm, trong thời gian đó thì khoa học công nghệ đã rất phát triển, nhiều sản phẩm mới sẽ được đưa ra thị trường, nhu cầu người tiêu dùng lại luôn thay đổi, họ sẽ không bỏ ra một số tiền lớn để mua hàng hóa chất lượng cao, để một thời gian sau sản phẩm họ mua đã không còn đáp ứng với nhu cầu, do đó với giá rẻ thời gian sử dụng ngắn, các mặt hàng sẽ chiếm ưu thế hơn so với sản phẩm chất lượng cao thời gian sử dụng dài nhưng lại nhanh chóng bị công nghệ mới lấn át. Tuy nhiên cũng có những sản phẩm mà phải mất nhiều thời gian người ta mới có thể nghiên cứu ra sản phẩm mới tốt hơn, trong trường hợp này những sản phẩm chất lượng cao sẽ được lựa chọn: Các máy tính chủ… Do đó sẽ có 2 xu hướng tiêu dùng:  Người tiêu dùng bình thường: cá nhân, hộ gia đình….sẽ lựa chọn những mặt hàng giá rẻ như của Trung Quốc, Ấn Độ để tiêu dùng  Chính phủ, các công ty tài chính, các công ty cung cấp công nghệ thông tin, các trung tâm nghiên cứu… Sẽ tiêu dùng những sản phẩm chất lượng cao Nhìn nhận xu hướng tiêu dùng để công ty có thể lựa chọn cho mình nhà cung cấp phù hợp nhất, phù hợp nhất, đáp ứng nhu cầu khách hàng. 3.2. DỰ BÁO GIÁ TRỊ HÀNG NHẬP CHO CÔNG TY 3.2.1. Mô hình dự báo Qua tìm hiểu về hoạt động nhập khẩu linh kiện máy tính của Công ty Sao Việt tôi thấy, kim ngạch nhập khẩu và tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam có mối liên hệ với nhau, vì thế tôi lựa chọn mô hình dự báo dự trên 2 nhân tố chính đó là tốc độ tăng GDP và xu thế nhập khẩu theo thời gian Bảng 3.1: Kim ngạch nhập khẩu và tốc độ tăng GDP 2007- 2009 Năm Kim ngạch nhập khẩu Tốc độ tăng GDP ( triệu đồng) (%) 2007 2245.9 8.44 2008 3143.2 6.5 2009 3434 5.32 Mô hình: Y = a.X1 +b.X2 Y : Là kim ngạch nhập khẩu X1: Là tốc độ tăng GDP X2 : Biết xu thế thời gian Biểu đồ 3.1: Kim ngạch nhập khẩu qua các năm 2007 - 2009  Căn cứ vào bảng số liệu trên dùng Mfit ta có được hàm như sau:  Y= 175.29*X1 + 877*X2 (xem thêm phụ lục 4)  Dùng hàm correl trong Excel ta tính được hệ số tương quan R giữa X1 và Y là R= 0.989, giữa X2 và Y là 0.959 Theo ý nghĩa của hệ số tương quan thì mối liên hệ giữa Y và X1 ,X2 là rất chặt chẽ, cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng lớn đến kim ngạch nhập khẩu, điều này hoàn toàn đúng với nền kinh tế Việt Nam. 3.2.2. Kết quả dự báo Với dự báo tốc độ tăng trưởng nền kinh tế năm 2010 là 6.5% thì kim ngạch nhập khẩu khẩu năm 2010 sẽ là 4216.38 triệu đồng. Con số 4216.38 triệu đồng là phù hợp với tình hình của công ty, so với năm 2009 là 3301 triệu đồng, tuy có cao hơn so với mức tăng bình quân qua các năm. Song nó lại phản ánh đúng khi nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh trở lại. Biểu đồ 3.2: Dự báo kim ngạch nhập khẩu 2010 Dự báo tới năm 2015, vì số liệu dùng để ước lượng là quá ít do đó dự báo này có thể không chính xác hoàn toàn, nhưng có thể dùng để tham khảo Biểu đồ 3.3: Dự báo kim ngạch nhập khẩu đên năm 2015 3.3. MỤC TIÊU CỦA CÔNG TY ĐẾN NĂM 2015 3.3.1. Mục tiêu chung Mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu trước mắt, lâu dài và thường xuyên của công ty. Muốn có lợi nhuận thì doanh thu bán hàng và dịch vụ phải lớn hơn chi phí kinh doanh. Muốn có doanh thu bán hàng và dịch vụ lớn thì phải có thị trường, phải chiếm được khách hàng, phải bán được nhiều và nhanh hàng hoá và dịch vụ, và phải giảm được các khoản chi phí kinh doanh có thể và không cần thiết. Ngoài ra, mức độ đạt được về lợi nhuận và kỳ vọng về lợi nhuận còn phụ thuộc vào chất lượng của loại hàng hoá, khối lượng và giá cả hàng hoá bán được. Do vậy, Công Ty Sao Việt luôn chú trọng đến việc mở rộng thị trường bán hàng trong cả nước, nâng cao chất lượng dịch vụ, và đang ngày càng hoàn thiện quá trình nhập khẩu để có được những mặt hàng tốt nhất cả về số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng tốt nhu cầu trong nước. Mục tiêu vị thế, khẳng định chỗ đứng của mình trong kinh doanh. Tỷ trọng thị phần của công ty trên thị trường càng cao gắn với quy mô và phạm vi kinh doanh của công ty xác định vị thế của công ty trên thị trường. Do vậy, công ty đang tích cực đẩy mạnh mở rộng thị trường trong nước. Công ty đang mở rộng phạm vi hoạt động của mình lên những vùng miền chưa tiếp cân như vùng sâu vùng xa, vùng biên giới, miền núi…Dự kiến đến năm 2015 công ty sẽ mở một trụ sở ở miền Nam. Bên cạnh đó các chỉ tiêu doanh thu bán hàng, chi phí cũng được điều chỉnh cho phù hợp:  Giảm chi phí chi phí quản lý, bán hàng..: 7 – 9%  Tăng lợi nhuận ròng: 13 – 15%  Tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: 17 – 19% 3.3.2. Mục tiêu năm 2010 Mục tiêu của công ty trong năm 2010 được thể hiện qua bảng sau Bảng 3.2: Mục tiêu chung của công ty năm 2010 Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2010 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Triệu đồng 7886 Chi phí Triệu đồng 6256 Chi phí mua, bán hàng 4321.7 Chi phí nhân sự 1934.3 Lơị nhuận ròng Triệu đồng 1304 (Nguồn: Phòng kế hoạch tổng hợp Công ty Sao Việt) 3.4. PHƯƠNG HƯỚNG Năm 2010, khi cuộc khủng hoảng đã dần qua đi, đây là lúc khôi phục lại các chiến lược phát triển, mở rộng quy mô,cạnh tranh của công ty. Tiếp tục củng cố và hoàn thiện bộ máy quản lý công ty và các cơ sở, đại lý về tổ chức nhân sự, tạo khả năng làm việc đoàn kết giữa các bộ phận phòng ban, giữa các nhân viên trong công ty. Nghiên cứu mở rộng thêm lĩnh vực hoạt động kinh doanh : bán các mặt hàng gia dụng: bình nóng lạnh, điều hòa… Tăng cường công tác nghiên cứu phát triển thị trường trong nước đối với lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu và nghiên cứu thị trường nước ngoài, để chuẩn bị mở rộng hoạt động xuất khẩu. Triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh, kinh doanh đúng pháp luật. Tiếp tục củng cố hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của công ty, tạo sự gắn kết giữa các bộ phận phòng ban, các nhân viên trong công ty. Nghiên cứu mở rộng thêm lĩnh vực hoạt động kinh doanh: bán vé máy bay. Tăng cường công tác nghiên cứu phát triển thị trường trong và ngoài nước. Triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh, kinh doanh đúng pháp luật. 3.5. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ NHẬP KHẨU LINH KIỆN MÁY TÍNH TẠI CÔNG TY SAO VIỆT Xuất phát từ tình hình hoạt động nhập khẩu linh kiện máy tính của công ty cổ phần thương mại và công nghệ Sao Việt, đã cho thấy những tồn tại, hạn chế, và những bất cập trong chính sách của nhà nước. Do đó tôi mạnh dạn nêu một số đề xuất giải pháp đối với công ty, và với cả nhà nước, mong rằng có thể góp một phần nào đó cho hoạt động nhập khẩu nói riêng của công ty và hoạt động chung của nền kinh tế Việt Nam 3.5.1. Đối với công ty 3.5.1.1. Nhóm giải pháp tìm kiếm đối tác và đàm phán ký kết Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu là một tác nhân trên thị trường nên phải nghiên cứu thị trường để phát triển kinh doanh thích ứng với thị trường. Nghiên cứu thị trường là xuất phát điểm để định ra các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, từ chiến lược đã xác định doanh nghiệp tiến hành lập và thực hiện các kế hoạch kinh doanh, chính sách thị trường. Vì thị trường không phải là bất biến mà là thị trường mà thị trường luôn biến động, đầy bí ẩn và thay đổi không ngừng. Mục đích nghiên cứu là giúp công ty nắm bắt được thị trường nước ngoài ra sao để có thể lựa chọn được các nhà cung ứng tốt nhất và thị trường trong nước như thế nào, nhu cầu của khách hàng trong từng giai đoạn từng thời điểm để có thể biết được số lượng nhập hàng từ thị trường nước ngoài về để kinh doanh. Công ty hiện chưa có phòng Marketing, mà để nghiên cứu thị trường có hiệu quả nhanh thì công ty nên thành lập phòng Marketing riêng để chuyên môn nghiên cứu thị trường và tiếp thị khách hàng. Cơ chế hoạt động của phòng Marketing là chủ động xây dựng các kế hoạch, các chương trình nghiên cứu, tổ chức thực hiện bảng thiết kế câu hỏi để thu thập thông tin, chọn mẫu để nghiên cứu, tiến hành thu thập dữ liệu, xử lý dữ liệu, rút ra kết luận và lập báo cáo về tình hình nhu cầu thị trường trong nước. Đối với thị trường nước ngoài, cơ chế hoạt động của phòng là tìm kiếm thông tin chủ yếu qua mạng Internet, liên hệ và giao dịch đàm phán, thiết lập mối quan hệ lâu dài với các nhà cung ứng nước ngoài. Để thiết lập và bảo đảm cho phòng hoạt động có hiệu quả, công ty phải đảm bảo đủ nguồn kinh phí và hỗ trợ về nguồn nhân lực, về các phương tiện thiết bị văn phòng như máy tính có kết nối mạng internet, phương tiện ôtô để có thể đưa sản phẩm đi tiếp thị trực tiếp với khách hàng và một số thiết bị cần thiết có liên quan. Ban lãnh đạo của công ty cũng cần chỉ đạo cho bộ phận này làm việc sao cho có sự “ăn ý” với phòng kinh doanh và phòng xuất nhập khẩu, tránh sự chồng chéo trong công việc 3.5.1.2. Nhóm giải pháp thực hiện hợp đồng nhập khẩu Các nhân viên phòng xuất nhập khẩu cần nắm bắt được sự thay đổi liên tục các quy định, chính sách Hải quan, Nhà nước. Tăng cường nhân viên có chuyên môn trong công tác nhận hàng, để tránh chậm trễ trong việc mở tờ khai và nhận hàng về công ty. Mặt khác cần tăng cường mối quan hệ tốt với nhân viên hải quan để được thuận lợi hơn nữa trong việc làm thủ tục hải quan, nhưng đồng thời cũng phải chuẩn bị tốt các giấy tờ lien quan. Hiểu rõ luật cũng như tập quán liên quan đến hoạt động xuất nhập Khẩu trong nước và quốc tế, chặt chẽ trong việc ký kết hợp đồng,… để có thể giải quyết các trường hợp khiếu nại đòi bồi thường. 3.5.1.3. Nhóm giải pháp tiêu thụ hàng nhập khẩu Đa dạng hoá mặt hàng kinh doanh nhập khẩu, thêm mặt hàng trong lĩnh vực y tế, giáo dục, xây dựng: Hàng gia dùng, thiết bị nội thất… Hiện nay, danh mục mặt hàng kinh doanh nhập khẩu của công ty còn hạn chế, vẫn chủ yếu là linh kiện máy tính điện tử. Trong khi đó, nhu cầu tiêu dùng trong nước ngày càng cao và nền sản xuất trong nước vẫn chưa thể đáp ứng được đầy đủ nhu cầu đó, đặc biệt về các vật tư thiết bị phục vụ cho ngành xây dựng, giáo dục, y tế như hệ thống thiết bị phòng cháy chữa cháy cho các toà nhà cao tầng, những thiết bị nội thất,…Do vậy, trong thời gian tới, công ty nên nghiên cứu mở rộng thêm các mặt hàng kinh doanh. Ngoài đa dạng hóa các mặt hàng nhập khẩu, công ty cũng phải mở rộng kênh phân phối: mở thêm văn phòng đại diện tại Thanh Hóa, Điện Biên…các tỉnh miền núi. Bên cạnh đó cũng cần chú ý đến các giải pháp sau:  Đẩy mạnh xúc tiến thương mại: quảng cáo,trưng bày giới thiệu sản phẩm, khuyến mại sản phẩm trực tiếp  Có chính sách khác nhau cho từng sản phẩm, ứng với từng giai đoạn 3.5.1.4. Nhóm giải pháp khác  Nâng cao trình độ nguồn nhân lực Trong các yếu tố cơ bản của mọi quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thì con người và các hoạt động của họ (lao động) là yếu tố quan trọng nhất. Nếu không có con người với những trình độ chuyên môn, kỹ thuật nghiệp vụ nhất định thì bộ máy doanh nghiệp không thể vận hành được; hiệu quả trong hoạt động kinh doanh chịu ảnh hưởng giới hạn bởi các yếu tố về thời gian làm việc, thể lực, trí lực và các yếu tố tâm sinh lý. Do vậy, với hoạt động kinh doanh, nhập khẩu của công ty, đội ngũ cán bộ là nhân tố quyết định chủ đạo hiệu quả kinh doanh nhập khẩu, thường xuyên giao dịch và đàm phán với các đối tác nước ngoài nên cần phải có sự đào tạo, bồi dưỡng, không ngừng nâng cao, phát triển trình độ các cán bộ công nhân viên về mọi mặt như yếu tố văn hoá, chính trị, xã hội, của các quốc gia, các vùng miền trên thế giới cũng như trong nước. Đặc biệt cần phải đào tạo các cán bộ công nhân viên thành thạo ngoại ngữ để giao tiếp, đàm phán với các đối tác nước ngoài, cũng như việc soạn thảo các hợp đồng. Ngoài ra cần nâng cao trình độ nghiệp vụ đối với phòng kĩ thuật Đối với các nhân viên mới, cần phải thường xuyên hướng dẫn, giải thích chi tiết cụ thể từng công việc, từng thao tác làm việc, truyền đạt cho họ những kiến thức cũng như kinh nghiệm về nghiệp vụ ngoại thương để họ có khả năng làm việc độc lập. Ngoài ra, tạo điều kiện cho họ đi học những khoá học ngắn ngày về nghiệp vụ ngoại thương, các lớp học ngoại ngữ, tin học để họ ngày càng hoàn thiện và xử lý công việc nhanh hơn, đạt hiệu quả kinh doanh cao hơn. Đối với lãnh đạo, cần tạo ra được bầu không khí đoàn kết gắn bó trong doanh nghiệp; không nên dùng quyền lực mà nên “sử dụng” quyền uy của mình để lãnh đạo cấp dưới, không nên độc đoán dùng mệnh lệnh bắt cấp dưới chấp hành mà phải tìm các phương pháp khơi dậy ý thức “tự quyết định” của họ; Coi trọng công tác động viên khuyến khích người lao động trực tiếp phát huy tính năng động sáng tạo của họ để họ có ý kiến đóng góp thẳng thắn, tích cực, mang tính xây dựng doanh nghiệp;… Nhận biết đựơc yếu tố con người, phương châm hoạt động và cách thức tổ chức luôn là yếu tố quan trọng trong việc quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp. Công ty Sao Việt đã đầu tư rất nhiều vào vấn đề nhân sự, tạo ra một đội ngũ nhân viên năng động, nhiệt huyết, giàu kinh nghiệm và có khả năng đảm đương những trọng trách bằng khả năng làm việc và hiệu quả của chính bản thân mỗi cá nhân, một cơ cấu nhân sự hoàn thiện, gọn nhẹ hợp lý phù hợp với một mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cộng với sự tồn tại của Sao Việt là một hướng đi đã được xác định, một phương châm hoạt động luôn được toàn thể các thành viên trong công ty tuân thủ chặt chẽ. Hội tụ tất cả các yếu tố đó giúp cho Công ty Sao Việt từ khi thành lập trở lại đây đã đạt được những thành tựu nhất định. Không dừng lại ở đó, Ban lãnh đạo công ty luôn luôn tìm ra những cách thức mới để phù hợp với từng thời điểm, phát huy các nguồn lực để Sao Việt ngày một phát triển  Nâng cao khả năng tài chính của công ty Có thể thấy, hiện nay, đại đa số các doanh nghiệp đang hoạt động trong tình trạng không đủ vốn cần thiết, đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế. Công ty Sao Việt cũng không phải ngoại lệ. Trong khi, vốn của công ty không nhiều, đặc biệt là vốn lưu động để hoạt động kinh doanh cũng chỉ ở những con số khiêm tốn thì vốn tồn đọng lại còn nhiều trong các nguồn như: Tồn kho, tiền ứng trước,…Điều này dẫn đến hoạt động kinh doanh không được thông suốt, gây kém hiệu quả. Do vậy, để quá trình hoạt động kinh doanh thông suốt và có hiệu quả, công ty cần có những biện pháp để nâng cao khả năng tài chính của mình. Những biện pháp có thể là: - Mở rộng, tạo mối quan hệ tốt đẹp hơn nữa với các ngân hàng để có thể vay được nhiều vốn trong thời hạn kéo dài, từ trước tới nay công ty mở tài khoản tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam, mối quan hệ hợp tác giữa công ty và ngân hàng đã có nhiều chuyển biến tích cực hơn. Trong nhiều trường hợp Ngân hàng đã yêu cầu tỉ lệ kí quỹ không cao, tạo điều kiện cho công ty có vốn kinh doanh nhiều hơn, trong thời gian tới Công ty cần tăng cường mối quan hệ với những ngân hàng khác, tiến tới có thể dùng uy tín của công ty để vay tiền từ ngân hàng. - Cần có sự tích luỹ lợi nhuận tối đa của công ty sau khi đã chi trả hết các khoản chi phí cần thiết. Đồng thời, cố gắng cắt giảm các chi phí không cần thiết trong quá trình hoạt động kinh doanh. - Ngoài ra, Công ty cũng có thể tăng cường năng lực tài chính của mình bằng cách liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp mạnh ở các trung tâm kinh tế lớn trong nước.  Các giải pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu Hiệu quả nhập khẩu của Công ty được đánh gia qua các chỉ tiêu: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, Doanh lợi doanh thu , Hệ số tổng lợi nhuận, Tỷ suất lợi nhuận trên vốn,Tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu, Mức sinh lời của vốn, các chỉ tiêu này đều có một điểm chung, đó là càng cao càng tốt, do vậy muốn nâng cao hiệu quả nhập khẩu công ty cần nâng cao doanh thu, giảm tối đa các chi phí bán hàng, chi phí phát sinh…bên cạnh đó thực hiện các biện pháp tiết kiệm tối đa với các khoản chi thường ngày. Mục đích cuối cùng của công ty là lợi nhuận, xong lợi nhuận cũng để phục vụ cho hoạt động kinh doanh và chi trả tiền lương cho công nhân, Công ty cần xem xét giữa mức tiền lương và hiệu quả làm việc, để có mức lương hợp lý có thể khuyến khích công nhân làm việc hăng say. Ngoài ra công ty cần hợp lý cơ cấu mặt hàng nhập khẩu, phù hợp với tình hình trong nước, ví dụ thị trường trong nước hiện nay chuộng loại màn hình LCD 17 inch, thì công ty không thể nhập loại 15inch là chu yếu được. Cơ cấu hợp lý sẽ giúp công ty hoạt động hiệu quả tối đa trên số vốn mà mình có  Các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty Thị trường Việt Nam có rất nhiều công ty khác cũng cung cấp sản phẩm linh kiện máy tính, do đó sự cạnh tranh là không thể tránh khỏi, giá cả các sản phẩm chênh lệch nhau không nhiều do đó để có thể cạnh tranh được với các công ty khác, Sao Việt cần nâng cao uy tín của công ty trên thị trường:  Cung cấp các sản phẩm chất lượng cao, giá thành hợp lý  Có chính sách hỗ trợ, chăm sóc sau bán hàng rõ rang, chu đáo  Các chương trình xúc tiến bán hàng, quảng bá thương hiệu 3.5.2. Một số kiến nghị đối với nhà nước 3.5.2.1. Hoàn chỉnh chính sách thương mại Chính sách phát triển thương mại của Việt Nam trong những năm tiếp theo sẽ có nhiều sự thay đổi nhằm hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế thế giới tạo nền tảng để kinh tế Việt Nam phát triển bền vững trong tương lai. Trong 20 năm qua nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng với tốc độ nhanh và ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới. Do đó chính sách phát triển thương mại của Việt Nam cũng có nhiều sự thay đổi nhằm hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế thế giới tạo nền tảng để kinh tế Việt Nam phát triển bền vững trong tương lai. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO chính sách thương mại của Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển lâu dài. Phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường và cam kết quốc tế. Việt Nam cam kết sẽ miễn giảm thuế xuất, nhập khẩu trên cơ sở không phân biệt đối xử và sẽ không gắn việc miễn giảm thuế với yêu cầu về xuất khẩu hay nội địa hóa. Việt Nam cam kết giảm mức thuế nhập khẩu bình quân từ 17,4% xuống còn 13,4 % trong 5 đến 7 năm tới.Trong đó mức thuế nhập khẩu nông sản giảm từ 23,4% xuống còn 20,9%, mức thuế nhập khẩu hàng công nghiệp giảm từ 16,8% xuống còn 12,6%. Bên cạnh đó Việt Nam cũng cam kết tham gia một số hiệp định tự do hóa theo ngành như công nghệ thông tin, dệt may, thiết bị y tế với thời gian giảm thuế là từ 3 đến 5 năm. Tuy nhiên Việt Nam vẫn bảo lưu hạn ngạch thuế quan với đường, trứng, gia cầm, thuốc lá và muối. Đối với 4 mặt hàng này mức thuế hiện hành là ( trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 40%, lá thuốc lá 30%, muối 30%).  Các hàng rào phi thuế quan Theo định hướng của chính sách thương mại của Việt Nam thì các hàng rào phi thuế quan sẽ dần được loại bỏ như quota hạn ngạch, giấy phép. Tuy nhiên Việt Nam vẫn duy trì danh mục một số mặt hàng cấm xuất nhập khẩu và một số mặt hàng hạn chế xuất nhập khẩu. Ví dụ: Việt Nam cấm nhập khẩu thiết bị và phần mềm mã hóa thuộc diện bí mật nhà nước không liên quan tới các sản phẩm thương mại thông thường phục vụ nhu cầu đại chúng.  Các hàng rào kĩ thuật Việt Nam sẽ tiếp tục áp dụng các hàng rào kĩ thuật phù hợp với quy định của WTO nhằm bảo vệ cuộc sống của con người, động thực vật, sức khỏe cộng đồng và môi trường. Trong đó Việt Nam nhấn mạnh vào các quy định về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ sinh thái, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học. Ngoài ra Việt Nam còn tiếp tục áp dụng cac quy định nhằm bảo vệ an ninh quốc gia cũng như chống gian lận thương mại phù hợp với quy định WTO và các Công ước quốc tế. Mặc dù vậy các hàng rào kĩ thuật của Việt Nam không ảnh hưởng hay bóp méo thương mại và được áp dụng phù hợp với phù hợp với các quy định quốc tế về môi trường và Việt Nam tham gia. Các quy định của Việt Nam không nhằm mục đích hạn chế nhập khẩu trái với quy định của WTO  Tiêu chuẩn môi trường Nhìn chung các tiêu chuẩn và quy định về môi trường liên quan đến thương mại của Việt Nam trong Luật bảo vệ môi trường (ban hành năm 1993) với nhiều thông tư, quy định khác không có ảnh hưởng bóp méo thương mại và được áp dụng phù hợp với các quy định của quốc tế và các điều ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam tham gia. Nhìn chung chính sách thương mại của Việt Nam đang ngày được hoàn thiện phù hợp với luật pháp quốc tế, xong trong thời gian tới cần hoàn thiện hơn nữa, các hạn ngạch, mức thuế nhập khẩu cần cắt giảm theo lộ trình. Nhà nước cần phải tăng cường hoạt động ngoại giao, tăng cường hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế : Tập trung tổ chức thực hiện có hiệu quả các cam kết quốc tế về thương mại, đầu tư, dịch vụ và các lĩnh vực khác, trước hết là thực hiện các cam kết trong khuôn khổ WTO, AFTA. Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, các cam kết song phương và đa phương khác. Bãi bỏ các khoản trợ cấp trái với cam kết, trái với nguyên tắc của WTO; đồng thời, nghiên cứu áp dụng biện pháp thích hợp bảo vệ lợi ích chính đáng của người sản xuất trong nước và người tiêu dùng. Nghiên cứu xây dựng trình Quốc hội dự thảo các luật thuế chống bán phá giá; sửa đổi, bổ sung một số quy định phi thuế quan cần thiết. Thực hiện các biện pháp chính sách để thúc đẩy nâng cao năng lực cạnh tranh để vừa duy trì, mở rộng và phát triển kinh doanh ngay tại thị trường trong nước, vừa tận dụng được các cơ hội kinh doanh có được nhờ tiếp cận được đến các thị trường ngoài nước, nâng cao hiệu quả hội nhập. Ngoài ra, nhà nước cũng cần thường xuyên có những hoạt động xúc tiến thương mại trong nước cũng như quốc tê nhằm mở rộng các mối quan hệ giao thương giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau, giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài, tạo điều kiện thúc đẩy mua bán trong nước cũng như hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, ngày càng đẩy mạnh con đường hội nhập kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới. 3.5.2.2. Chính sách quản lý ngoại hối Trong thời gian qua, chính sách quản lý ngoại hối của Việt Nam có những đổi mới quan trọng. Ngân hàng Nhà nước ủy quyền cho các chi nhánh cấp phép mang ngoại tệ ra nước ngoài, thực hịên cơ chế tự do hóa lãi suất ngoại tệ, nới lỏng biên độ giao dịch tỷ giá giữa tổ chức tín dụng với khách hàng. Từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, như tất cả các nước mới gia nhập khác, cam kết tuân thủ các quy định có liên quan của WTO và IMF về chính sách tài chính, tiền tệ, ngoại hối và thanh toán; không áp dụng các biện pháp hạn chế giao dịch vãng lai trai với quy định của WTO và IMF. Mục tiêu chính của chính sách tiền tệ của Việt Nam là ổn định giá trị đồng tiền của Việt Nam, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Nhằm tiếp tục cải thiện tính hiệu quả trong hoạt động của Ngân hàng thương mại nhà nước, Ngân hàng Nhà nước dự kiến đến 2010 sẽ cổ phần hoá hầu hết các Ngân hàng thương mại Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước vẫn sẽ tiếp tục chịu trách nhiệm quản lý nhà nước và các tổ chức tín dụng. Ngân hàng Nhà nước vẫn sẽ tiếp tục chịu trách nhiệm quản lý nhà nước, giám sát và thanh tra hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước và các tổ chức tín dụng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giám sát tình hình cán cân thanh toán và dự trữ ngoại tệ của Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước có thể can thiệp vào thị trường khi cần thiết. Hàng ngày, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá giao dịch bình quân giữa đồng Việt nam với Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá giao dịch bình quân giữa đồng Việt Nam với đông đôla Mỹ trên thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng. Các biện pháp kiểm soát giao dịch vãng lai đã được tự do hoá. Người cư trú và người không cư trú được phép mở và duy trì tài khoản ngoại tệ tại các ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối ở Việt nam. Người cư trú là công dân Việt Nam được phép mua, chuyển và mang ngoại tệ ra nước ngoài nhằm phục vụ các mục đích như như đi du lịch, học tập, chữa bệnh, trả tiền hội viên hoặc các loại phí khác nhằm mục đích trợ cấp hoặc thừa kế cho gia đình người thân ở nước ngoài, trên cơ sở xuất trình giấy tờ có liên quan theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Người cư trú là người nước ngoài có thu nhập hợp pháp bằng ngoại tệ được chuyển đổi hoặc mang tiền ra khỏi Việt Nam và được phép chuyển đổi thu nhập bằng đồng Việt Nam trên cơ sở xuất trình các chứng từ có liên quan và xác nhận đã hoàn thành nghĩa cvụ tài chính theo quy định của Pháp luật. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng được phép chuyển đổi vốn pháp định hoặc vốn tái đầu tư ra nước ngoài khi kết thúc hoạt động hoặc giải thể trước hạn với điều kiện xuất trình cho Ngân hàng được phép kinh doanh ngoại hối các giấy tờ liên quan… Việt Nam tuyên bố rằng Việt Nam sẽ tuân thủ các nghĩa vụ liên quan đến ngoại hối theo đúng các quy định của WTO cũng như các tuyên bố và quy định của WTO có liên quan đến IMF. Tuy nhiên, nhiều chính sách quản lý thị trường ngoại hối của Nhà nước thời gian qua còn nhiều bất cập khiến tỷ giá hiện chưa thực sự phản ánh đúng tình hình cung - cầu tiền tệ trong nền kinh tế. Chính sách quản lý ngoại hối cũng chưa kiểm soát được thị trường ngoại tệ “chợ đen” và việc thực hiện chính sách quản lý ngoại hối chưa thực sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh. Nhiều cơ sở bán hàng không được phép nhưng vẫn còn niêm yết hoặc thu tiền bán hàng hoá, dịch vụ bằng ngoại tệ. Các quy đinh về kinh doanh ngoại tệ chưa tạo sự chủ động cho các ngân hàng thương mại trong việc xây dựng các đại lý dịch vụ chỉ trả kiều hối, điều chỉnh dự trữ bắt buộc. Giá trị VNĐ đã bị đánh giá quá cao so với ngoại tệ , như vậy, trước hết nó sẽ làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế, ảnh hưởng xấu đến hoạt động xuất nhập khẩu, sau đó làm ngân hàng nhà nước khó điều hành chính sách tiền tệ… Vì vậy, trong thời gian tới, Nhà nước cần phải có những chính sách quản lý phù hợp và ổn định hơn góp phần ổn định thị trường, từ đó tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Để hoàn thiện chính sách ngoại hối, tranh thủ các nguồn vốn quốc tế, vừa đảm bảo chủ quyền cho đồng tiền Việt Nam, tôi xin nêu một số kiến nghị: - Ngân hàng nhà nước cần có chính sách điều hành lãi suất, tỷ giá, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ sát thực tế, đồng thời tổ chức tuyên truyền, vận động người dân có thói quen sử dụng đồng tiền Viêt Nam trên lãnh thổ Việt Nam thu hút họ gửi ngoại tệ hay bán ngoại tệ cho ngân hàng. - Bộ tài chính phối hợp chặt chẽ với ngân hàng nhà nước trong việc mua, bán ngoại tệ cho nhau, đáp ứng kịp thời nhu cầu của hai bên cũng như bảo đảm lợi ích quốc gia. Rà soát lại các đơn vị trong nước được phép bán hàng và cung cấp dịch vụ thu bằng ngoại tệ, đồng thời tăng cường kiểm tra và xử phạt nặng tình trạng tuỳ tiện thanh toán mua bán bằng ngoại tệ. - Ngân hàng nhà nước nên giao quyền chủ động hơn cho các ngân hàng thương mại trong kinh doanh ngoại hối, nhất là trong điều kiện phải cạnh tranh với các tập đoàn tài chính quốc tế. Tiến tới các ngân hàng thương mại cho vay ngoại tệ đối với các đối tượng có nhu cầu sử dụng để chi trả với nước ngoài. Phạm vi uỷ quyền cấp phép của ngân hàng nhà nước cần được thực hiện ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước để tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu chính đáng mang ngoại tệ ra nước ngoài. 3.5.2.3. Công tác hải quan Khâu làm thủ tục hải quan khá phức tạp trong quá trình tổ chức thực hiện hợp đồng. Tổng cục hải quan là đơn vị có trách nhiệm giám sát và kiểm tra hàng hoá nhập khẩu, thu thuế nhập khẩu… Tuy nhiên, do trình độ quản lý và các quy trình thực hiện chưa được hợp lý đã gây mất nhiều thời gian và các phí tổn cho các doanh nghiệp nhập khẩu. Chẳng hạn như tại hải quan Hải Phòng, cảng Hải phòng có khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu rất lớn, đòi hỏi cơ quan hải quan tại đây phải lớn, có đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp,… Thế nhưng, tại cơ quan hải quan Hải Phòng chỉ có vài ba bàn tiếp nhận tờ khai hải quan, cán bộ làm việc chồng chéo, hàng hoá để ở nơi khá xa so với trụ sở làm thủ tục hải quan,… Do đó, dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp không nhận được hàng trong ngày, mà có khi phải để tới hai, ba ngày, gây tổn thất chi phí lưu kho lưu bãi. Nếu muốn nhận hàng nhanh chóng thì các doanh nghiệp lại phải thuê cán bộ hải quan làm thêm giờ ngoài giờ hành chính. Trước tình trạng trên, cần có sự chỉ đạo của nhà nước tới ngành hải quan, để ngành hải quan có những giải pháp cải cách nhất định để tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu. Cụ thể: - Thay đổi hẳn nhận thức của cán bộ công chức hải quan trong toàn ngành về hiện đại hoá hải quan. Cán bộ công chức toàn ngành, đặc biệt ở các sân bay, cảng biển, cửa khẩu đường bộ quốc tế, các khu công nghiệp lớn, cần phải nhận thức được việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng các phương pháp quản lý hải quan hiện đại, đơn giản hoá và hài hoà các thủ tục hải quan, nghiên cứu áp dụng các chuẩn mực hải quan quốc tế để hải quan Việt Nam có thể bắt kịp trình độ của hải quan các nước tiên tiến trong khu vực, đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của đất nước. - Đổi mới phương pháp quản lý hải quan từ tiền kiểm sang hậu kiểm – đẩy mạnh áp dụng kiểm tra sau thông quan, phân định rõ ràng trách nhiệm của từng khâu nghiệp vụ, từng bộ phận, từng công chức thực hiện. - Giá tính thuế và mã số thuế nên quy định rõ ràng hơn để khắc phục tình trạng nhũng nhiễu trong hoạt động hải quan tại cửa khẩu, có thể khai báo sai và áp mã số thuế cho hàng hoá sai. - Tăng cường phổ biến tới các công ty XNK phương pháp hải quan điện tử, doanh nghiệp chỉ cần ngồi tại văn phòng khai báo rồi chuyển cho cơ quan hải quan, vừa khắc phục được những hạn chế của cách khai báo thủ công, vừa rút ngắn được thời gian khai báo, chủ động trong việc quản lý số liệu xuất nhập khẩu của doanh nghiệp mình. 3.5.2.4. Chính sách thuế  Thuế thu nhập doanh nghiệp Sự thay đổi quan trọng và nhìn chung có lợi cho DN trong chính sách thuế TNDN là việc giảm thuế suất thuế TNDN từ 28% xuống 25%. Các DN và NĐT coi việc giảm thuế suất là hết sức tích cực, khuyến khích DN quyết định đầu tư và mở rộng sản xuất - kinh doanh hơn. Thêm vào đó, việc bãi bỏ thuế lũy tiến trên lợi nhuận từ các giao dịch chuyển nhượng bất động sản được coi là một trong những yếu tố góp phần làm "nóng" thị trường này. Mặc dù vậy, một số ngành nghề kinh doanh khác như khai thác mỏ và dầu khí lại có nhiều lý do để lo ngại do thuế suất tối thiểu tăng từ 28% lên 32%. Từ ngày 1/1/2009, đối tượng nộp thuế TNDN được phép giữ lại tối đa 10% thu nhập chịu thuế hàng năm để lập quỹ phát triển và nghiên cứu (Mặc dù chính sách thuế này được coi là một bước tiến mới của Luật Thuế TNDN, nhưng các DN cho rằng, quỹ này sẽ có ích và thực tế cho DN hơn nếu không bị bó hẹp ở các hoạt động nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật ở Việt Nam. Trước đây, các NĐT nhìn nhận chính sách miễn giảm thuế của Việt Nam nhìn chung là phức tạp và khó thực hiện một cách thống nhất. Mặc dù Luật Thuế TNDN kể từ năm 2009 thu hẹp những ưu đãi về thuế TNDN, nhưng lại được xem là tích cực theo hướng đơn giản hóa các ưu đãi thuế nhằm thực hiện dễ dàng hơn. Một điều hết sức thú vị khi thuế được đánh giá là một trong những biện pháp của Chính phủ Việt Nam trong công tác bảo vệ mội trường khi đưa ra chính sách thuế ưu đãi vào tháng 12/2009 cho các dự án đầu tư liên quan đến bảo vệ môi trường. Một trong những lo ngại lớn nhất của các DN là việc khấu trừ chi phí quảng cáo khuyến mại. Việc cho phép tăng mức khống chế chi phí này từ 10% lên 15% trong một số năm đầu cho DN mới thành lập tuy được hoan nghênh, nhưng nhìn chung không đáp ứng được kỳ vọng của cộng đồng DN. Phòng Thương mại châu Âu cho rằng, nếu Việt Nam thiếu những bước tiến quan trọng trong việc xóa bỏ hẳn mức khống chế chi phí quảng cáo khuyến mại, thì sức hấp dẫn của Việt Nam như một điểm đến đối với những thương hiệu quốc tế lớn sẽ sụt giảm. Một thay đổi nữa trong các quy định về Thuế TNDN là việc yêu cầu các cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc của DN hoạt động tại địa bàn tỉnh, thành phố khác đóng thuế TNDN tại địa phương đó theo tỷ lệ chi phí của chi nhánh phụ thuộc trên tổng chi phí của DN. Hiện các DN Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng đối với công cuộc phát triển kinh tế quốc gia, trong đó nhiều DN đã và đang có kế hoạch mở rộng kinh doanh ra thị trường quốc tế và có thu nhập từ cổ tức. Các quy định về thuế TNDN đã hướng dẫn rõ ràng hơn về việc đánh thuế các khoản thu nhập tại nước ngoài và thủ tục khấu trừ số thuế đã nộp tại nước ngoài. Tuy nhiên, chính sách thuế TNDN lại không quy định cụ thể vấn đề miễn thuế TNDN đối với thu nhập là cổ tức của DN trong nước từ việc đầu tư ra nước ngoài. Do đó, nếu không quy định việc miễn thuế đối với khoản thu nhập như vậy sẽ không khuyến khích các DN trong nước đầu tư ra nước ngoài. Bởi lẽ, nếu họ đầu tư trong nước thì các khoản cổ tức nhận được từ các hoạt động đầu tư trong nước sẽ được miễn thuế TNDN.  Thuế giá trị gia tăng Luật Thuế GTGT mới bãi bỏ một số chính sách miễn thuế GTGT đối với máy móc thiết bị nhập khẩu, ngay cả trong trường hợp các loại máy móc thiết bị này hiện chưa sản xuất được trong nước. Việc này gây khó khăn về mặt lưu chuyển tiền tệ cho DN, vì thông thường, giá trị các mặt hàng nhập khẩu này rất lớn. Tuy nhiên, sau này, Thông tư 205/2009/TT-BTC ngày 26/10/2009 đã góp phần giảm bớt gánh nặng này cho các DN nhập khẩu thông qua việc đơn giản hóa thủ tục hoàn thuế GTGT. Một thay đổi tích cực khác trong chính sách thuế GTGT là việc áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% đối với các dịch vụ xuất khẩu, mà không cần thiết là phải có điều kiện tiêu thụ ngoài Việt Nam như trước đây. Mặc dù không phải tất cả dịch vụ cung cấp cho các công ty nước ngoài đều được áp dụng mức thuế suất 0% (như dịch vụ tái bảo hiểm với các công ty bảo hiểm nước ngoài, các dịch vụ tài chính phái sinh), nhưng sự thay đổi này sẽ làm cho các nhà xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam có lợi thế cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế. Liên quan đến kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào, các khoản chi trả trên 20 triệu đồng phải được thanh toán qua ngân hàng. Lý do của sự thay đổi này là nhằm ngăn ngừa gian lận liên quan đến khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào và từng bước đưa Việt Nam thành một xã hội không dùng tiền mặt. Ở Việt Nam hiện nay, đánh thuế nhập khẩu theo giá CIF đã làm cho việc thuê tàu vận tải và mua bảo hiểm thuộc về phía nhà xuất khẩu. Điều này có nghĩa là sẽ mất thêm một lượng ngoại tệ để thanh toán,ví dụ: Hàng hóa nhập từ Hàn Quốc thì phải vận chuyển bằng đường biển, phí vận chuyển công với tiền bảo hiểm rơi vào khoảng 1800 WON tương đương khoảng 27 triệu VND, nếu trả tiền theo USD thì công ty sẽ mất khoảng 1400 USD. Do vậy, để khuyến khích các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá theo giá FOB nhằm tiết kiệm ngoại tệ, tạo điều kiện phát triển cho ngành kinh doanh vận tải và bảo hiểm trong nước, nhà nước nên giảm thuế nhập khẩu cho hợp đồng thực hiện theo điều kiện FOB. Nhà nước cũng cần xác định rõ ngành mũi nhọn trong nước, lĩnh vực được ưu tiên, để từ đó có những kế hoạch cụ thể, xác định các chính sách thuế quan ưu đãi cho những ngành này. Đối với những ngành trong nước chưa có khả năng đáp ứng được, chưa được ưu tiên phát triển trong thời gian tới thì nhà nước không nên hạn chế quá mức trong vấn đề nhập khẩu. Do đó trong thời gian tới cơ quan thẩm quyền nhà nước cần nghiên cứu sâu them về cách chính sách thuế cho phù hợp, đánh giá tác động của chính sách thuế một cách cụ thể để có thể thu hút các NĐT nước ngoài, và kích thích hoạt động kinh doanh của các DN KẾT LUẬN Hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói chung và hoạt động nhập khẩu linh kiện máy tính của Công ty cổ phần thương mại và công nghệ Sao Việt nói riêng trong thực tế rất đa dạng, phức tạp và luôn chuyển biến không ngừng. vì thế nó đòi hỏi phải bổ sung và được hoàn thiện theo thời gian. Bài chuyên đề được trình bày thành 3 chương chính Chương 1: Quá trình phát triển của Công ty Sao Việt và kinh nghiệm nhập khẩu quốc tế về linh kiện máy tính. Phần này chủ yếu giới thiệ những nét khái quát chung nhất về công ty: Lĩnh vực kinh doanh, cơ cấu tổ chức, mặt hàng kinh doanh chính, kết quả kinh doanh chung trong 3 năm gần đây 2007, 2008, 2009, nhằm đem lại cho người đọc một cái nhìn cơ bản toàn diện về công ty Sao Việt. Ngoài ra phần này còn nêu lên các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động NK của công ty, đưa ra kinh nghiệm NK quốc tế về linh kiện máy tính, trên cơ sở đó rút ra bài học đối với Sao Việt Chương 2: Thực trạng nhập khẩu linh kiện máy tính tại Công ty Sao Việt Đây là phần trọng tâm của chuyên đề, đề cập đến thực trạng hoạt đông NK linh kiện máy tính của công ty trên các mặt: Kim ngạch NK qua các năm, thị trường NK chính, sô hợp đồng đã thực hiện, kết quả tiêu thụ hàng NK, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, tổng hợp số liệu đó tiến hành tính toán các chỉ tiêu hiệu quả NK, để đánh giá tình hình hoạt động của công ty, đánh giá những thành công, hạn chế trong quá trình NK, tiêu thụ hàng hóa, nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân thành công, nguyên nhân hạn chế, từ đó làm cơ sở cho phần tiếp theo Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu linh kiện máy tính của Công ty Sao Việt Sau khi đã nghiên cứu, phân tích tổng hợp số liệu ở phần trên, kết hợp với nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân của thành công và hạn chế, phần này gồm 4 ý chính: Xu hướng phát triển của linh kiện máy tính thế giới, thông qua thực tế, nhìn nhận xu hướng của thế giới trên hai mặt: xu hướng cung cấp, và xu hướng tiêu dung. Sau khi đã nghiên cứu xu hướng bài chuyên đề tiến hành dự báo kim ngạch NK đối với công ty, dựa trên các dự báo về tốc độ tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam, và xu hướng NK theo thời gian. Bên cạnh đó đưa ra phương hướng cho công ty, và giải pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu đối với công ty, một số kiến nghị đối với nhà nước về các chính sách thương mại, thuế, công tác hải quan…nhằm giúp công ty hoạt động ổn định và phát triển. Vấn đề kinh doanh nhập khẩu có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó cho phép tận dụng tối đa nguồn lực trong nước và tham gia tích cực vào quá trình phân công hoá lao động quốc tế. Đồng thời, kinh doanh nhập khẩu hàng hoá còn đem lại cho người tiêu dùng trong nước có thể tiếp cận được với những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới và có thể áp dụng nó vào trong quá trình sản xuất trong nước, tạo ra những sản phẩm mới có tính năng ưu việt hơn, có chất lượng cao hơn, tạo năng suất lao động cao, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và lượng dự trữ quốc gia tăng lên. Theo xu hướng đó, cũng như các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu khác, Công ty cổ phần thương mại và công nghệ Sao Việt đã tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hoá, đưa hàng hoá tiên tiến từ nước ngoài vào trong nước nhằm đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước. Đồng thời công ty đã ngày càng hoàn thiện hơn trong quy trình tổ chức thực hiện kinh doanh nhập khẩu, uy tín của công ty ngày càng có vị trí trên thị trường trong nước, và chuẩn bị vươn ra thế giới. Trong quá trình thực tập tại công ty, tôi đã tìm hiểu và nghiên cứu hoạt động nhập khẩu linh kiện máy tính của công ty. Cùng với kiến thức đã được nhà trường đào tạo và với việc tìm hiểu nghiên cứu thực tế từ các cán bộ trong công ty, tôi đã rút ra được kết quả hoạt động kinh doanh, những thành công đã đạt được, những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của nó. Từ đó, tôi đã mạnh dạn đưa ra đề tài “Nhập khẩu linh kiện máy tính tại công ty cổ phần thương mại và công nghệ Sao Việt ”, hy vọng các giải pháp có thể góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu linh kiện máy tính của công ty. Với thời gian kiến thức và thực tiễn có hạn, do vậy, trong bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo và quan tâm đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn đọc bài chuyên đề này được hoàn thiện hơn. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Thừa Lộc, Trần Văn Bão, Giáo trình Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, NXB Lao động – Xã hội 2005 2. Đinh Ngọc Viện, Đinh Xuân Trình, Vũ Trọng Lâm, Nguyễn Như Tiến, Vũ Sĩ Tuấn, Trần Văn Bão, Giáo trình Giao nhận vận tải hàng hoá quốc tế, NXB Giao thông vận tải 2002 3. Trần Thị Hòa Bình, Giáo trình Luật thương mại quốc tế NXB Thống kê 4. Dương Hữu Hạnh, Hướng dẫn thực hành Kinh doanh xuất nhập khẩu, NXB Thống kê 5. Trần Văn Hoè, Giáo trình Thương mại quốc tế, NXB Đại học kinh tế quốc dân 6. Nguyễn Hữu Khải , Quản lý hoạt động nhập khẩu - Cơ chế, chính sách và biện pháp 7. Nguyễn Minh Kiều,Trần Hoàng Ngân, Thanh toán quốc tế, NXB Thống kê 8. Đặng Thị Nhàn, Cẩm nang về nghiệp vụ bao thanh toán factoring và forfaiting trong tài trợ thương mại quốc tế 9. Tô Bình Minh, Giáo trình Nghiệp vụ ngoại thương. 10. Nguyễn Thị Quỳnh, Danh mục thuế suất đối với hàng hóa xuất nhập khẩu 2010 – 2011. 11. Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình Tài chính quốc tế, NXB Thống kê 12. Hoàng Đức Thân, Giáo trình Giao dịch và Đàm phán kinh doanh, NXB Thống kê 13. Đinh Xuân Trình , Cẩm nang sử dụng Thư tín dung (L/C) tuân thủ UCP 600 và ISBP 681 2007 ICC 14. Hướng dẫn sử dụng Incoterm 2000 của ICC 15. Luật Hải Quan 16. trang web cục Hải quan Việt Nam 17. 18. trang web của Tổng cục thống kê 19. Bảo Lộc, “Màn hình LCD xu hướng tiêu dùng mới” 20. Hoàng Quân, Sản xuất linh kiện cần thị trường lớn. doc/San-xuat-linh-kien-may-tinh-can-thi-truong-lon 21. Thanh Trung, Thị trường hàng điện tử tiêu dùng năm 2009: Ba xu hướng tiên phong. 22. Chính sách thương mại và cơ hội kinh doanh tại Việt Nam, Atrade-policy&Itemid=85&lang=vi 23. Chính sách thuế Việt Nam - Một năm nhìn lại 24. Chính sách tiền tệ năm 2009: Những thách thức đặt ra cho năm 2010, 25. Tác động của tỷ giá đến xuất nhập khẩu, PHỤ LỤC Phụ lục 1: Một số hình ảnh sản phẩm cung cấp của công ty Phụ lục 2: Danh sách các hợp đồng cung cấp dịch vụ cho khách hàng trong nước tiêu biểu đã thực hiện STT Ngày thực hiện Số hợp đồng Tên đơn vị sử dụng Thiết bị cung cấp Giá trị hợp đồng (VND) 1. 08/02/2007 62-07/HĐMB/VDC1 Trung tâm điện toán truyền số liệu KV1(VDC1) Cung cấp Modem ADSL2+Router 793.212.000 2. 06/04/2007 070407/HĐKT- 2007/SV-VASC Công ty phần mềm và truyền thông VASC Cung cấp máy chủ IBM 336.291.637 3. 04/09/2007 01092007/HĐKT- 2007/VPQH-SV Văn phòng Quốc Hội Cung cấp phần mềm và các thiết bị nâng cấp năng lực các thiết bị phòng máy chủ cho Trung tâm tin học 1.143.084.000 4. 17/12/2007 2241/HĐKT-2007 Bưu điện tỉnh Bắc Kạn Đầu tư thiết bị quản lý các dịch vụ Bưu chính năm 2007 Bưu điện tỉnh Bắc Kạn 843.192.300 5. 19/12/2007 13/2007/HĐ/TTB/NH No-Sao Việt Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thanh Hóa Cung cấp máy vi tính để bàn (máy trạm PC) đợt II năm 2007 - NHNo & PTNT Thanh Hoá 1.042.318.200 6. 20/12/2007 01122007/HĐXL- 2007/VPQH-SV Văn phòng Quốc Hội Thi công lắp đặt hệ thống mạng máy tính nhà C, Hội trường A - 37 Hùng Vương - Hà Nội 960.025.529 7. 23/01/2008 080117/HĐKT- 2008/SV-NatsteelVina Công ty TNHH NatsteelVina Cung cấp máy tính xách tay, máy tính để bàn, máy in 334.908.000 8. 17/04/2008 07-08/HĐKT Cục kỹ thuật Binh chủng/TCKT/BQP Cung cấp Máy tính, máy in 480.300.000 9. 02/07/2008 02072008-HĐKT/SV –XH Công ty TNHH nhà nước một thành viên Xuân Hòa Thi công lắp đặt hệ thống mạng 530.231.000 10. 23/10/2008 081022/ HĐKT- 2008/VietnamNet-SV Công ty cổ phần truyền thông Vietnamnet Trang bị hệ thống máy chủ cho Công ty Vietnamnet 15,158.00 USD 11. 24/10/2008 1690/HĐKT-2008 Viễn Thông Bắc Kạn Trang bị máy tính kế toán cho các đơn vị trực thuộc Viễn Thông Bắc Kạn năm 2008 415,685,000 12. 10/11/2008 01112008/HĐKT- 2008/VPQH-SV Văn phòng Quốc Hội Cung cấp, lắp đặt thiết bị tin học thuộc dự án ứng dụng CNTT trong hoạt động của Uỷ ban KHCN&MT của Quốc hội 1,285,352,000 13. 22/ 05/ 2009 001-ĐT/TLC- Centech/2009 Công ty Viễn Thông Viettel Cung cấp hệ thống Game Portal ( Liên danh nhà thầu 154,041,00 USD trong đó CENTECH-SAO VIệT) lô TB phần cứng SV cung cấp là 63,620.00 USD 14. 25/ 05/ 2009 45/ 09/ HDKT/ IDJ- AEC Công ty CP Đầu tư Phát triển giáo dục IDJ-AEC Cung cấp máy tính và máy chủ thuộc dự án Trường tiểu học và THCS Hà Nội Academy 55,190.10 USD 15. 04 / 07/ 2009 64/ 09/ HDKT/ IDJ- AEC Công ty CP Đầu tư Phát triển giáo dục IDJ-AEC Cung cấp, cài đặt máy tính Laptop thuộc dự án Trường tiểu học và THCS Hà Nội Academy 78,540.10 USD (Nguồn: Công ty Sao Việt) Phụ lục 3: Tiêu chuẩn bảo hành thiết bị của công ty STT Tên Hãng sản xuất Thời gian bảo hành Máy tính chủ (Server) và máy tính cá nhân (PC) 1 COMPAQ - 36 tháng đối với CPU - 12 tháng đối với Màn hình, Bàn phím, chuột 2 IBM - 36 tháng đối với CPU - 12 tháng đối với Màn hình, Bàn phím, chuột 3 HP - 36 tháng đối với CPU - 12 tháng đối với Màn hình, Bàn phím, chuột Máy tính xách tay (Notebook) 4 COMPAQ -12 tháng hoặc 36 tháng theo quy định của nhà sản suất 5 IBM-LENOVO - 12 tháng hoặc 36 tháng theo quy định của nhà sản suất 6 TOSHIBA - 12 tháng hoặc 36 tháng theo quy định của nhà sản suất Máy tính để bàn (Desktop) 7 HP-COMPAQ - 12 tháng hoặc 36 tháng theo quy định của nhà sản suất 8 IBM-LENOVO - 12 tháng hoặc 36 tháng theo quy định của nhà sản suất 9 TOSHIBA - 12 tháng hoặc 36 tháng theo quy định của nhà sản suất 10 FPT-ELEAD - 12 tháng hoặc 36 tháng theo quy định của nhà sản suất Máy in (Printer) 11 HP - 12 tháng hoặc 36 tháng với máy in LaserJet - 12 tháng đối với các thiết bị khác 12 CANON - 12 tháng hoặc 36 tháng tùy từng chủng loại 13 EPSON - 12 tháng Bộ lưu điện (UPS) 14 UPSELEC - 36 tháng 15 SANTAK - 36 tháng 16 APC - 24 tháng (Nguồn: Công ty Sao Việt) Phụ lục 4: Hợp đồng nhập khẩu mặt hàng mực in của công ty (mặt hàng kinh doanh khác của công ty) 103 104 (Nguồn: Công ty Sao Việt) 105 Phụ lục 4: Bảng kết quả hồi quy

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLuận văn- Nhập khẩu linh kiện máy tính tại Công ty cổ phần thương mại và công nghệ Sao Việt.pdf