Luận văn Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại - Dịch vụ ở tỉnh Đồng Tháp

- Tăng thêm hỗ trợ đào tạo, củng cố và tạo điều kiện cho các DN tiếp cận nguồn thông tin, mở rộng dịch vụ tư vấn. Nâng cao chất lượng các dịch vụ hỗ trợ do Nhà Nước cung cấp. - Các Bộ, Ban ngành cần đơn giản hóa các quy định, các thủ tục hành chính tạo điều kiện cho các DN tiếp cận với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước. - UBND tỉnh nên thường xuyên tổ chức các cuộc gặp mặt, đối thoại với các doanh nghiệp: Hàng năm tổ chức các cuộc gặp mặt, đối thoại với doanh nghiệp nhằm trao đổi thông tin, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đồng thời tuyên dương, khen thưởng các doanh nghiệp có thành tích xuất sắc trong kinh doanh, có sáng tạo trong thiết kế mẫu mã và truyền dạy nghề.

pdf103 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 23/12/2013 | Lượt xem: 1520 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại - Dịch vụ ở tỉnh Đồng Tháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ở hữu, chiếm tỷ trọng trung bình khoảng 14% trong tổng nguồn vốn của các DN TM và 10% trong tổng nguồn vốn của DN DV. Đây là nguồn hỗ trợ tương đối an toàn vì lãi suất không quá cao do hiện nay có rất nhiều ngân hàng cạnh trạnh. Nếu các DN kinh doanh hiệu quả và đảm bảo thanh toán uy tín, đúng thời hạn thì có thể tận dụng khoản vay này nhằm đem lại lợi nhuận cho DN do đây là một trong những khoản chi phí trước thuế, sẽ tiết kiệm được một phần tiền thuế. Tuy nhiên, do những hạn chế về nhân lực và quản lý nên các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng các dự án đầu tư, phương án sản xuất, báo cáo tài chính, sổ sách kế toán không rõ 63 ràng, minh bạch,…nên chưa tạo được sức thuyết phục đối với ngân hàng và ngân hàng cũng khó có thể đánh giá đúng thực trạng của doanh nghiệp và rất ngại rót vốn. Hơn nữa, các DN nhỏ không có đủ tài sản thế chấp, điều kiện vay vốn phức tạp, nên doanh nghiệp khó có thể tiếp cận với nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng.  Vay cá nhân: Vay từ các cá nhân bên ngoài chiếm tỷ trọng trung bình , khoảng 7% trong cơ cấu nguồn vốn đối với DN TM và 15,7% . Nguồn vốn này thường lãi suất rất cao. Họ chỉ vay trong thời gian ngắn để đáp ứng nhu cầu vốn nhất thời. Nếu vay từ người thân hoặc bạn bè thì đây cũng được xem là một khoản vay mang tính chất an toàn vì lãi suất vừa phải, nhưng nếu là “vay nóng” thì sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của các DN.  Tín dụng thương mại : Đây là nguồn tài trợ từ nhà cung cấp hay từ khách hàng trên cơ sở tín nhiệm của họ đối với các DN. Chẳng hạn như các khoản phải trả người bán hay các khoản khách hàng trả tiền trước. Đây là hình thức nợ ngắn hạn được sử dụng rộng rãi nhất. Năm 2011, tỷ trọng trung bình của nguồn tài trợ này chiếm 2% tổng nguồn vốn của các DN TM và 12,5 % đối với DN DV. Khoản tín dụng thương mại này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong vấn đề đầu vào của sản xuất. Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều DN chưa được hưởng các khoản tài trợ này (khoảng 89,72%). Nguyên nhân có thể do số lượng các DN mới thành lập là cao, chưa tạo được sự tín nhiệm cho khách hàng cũng như nhà cung cấp. Về sau, điều này nên được khuyến khích nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho DN trong việc chủ động nguồn vốn kinh doanh của mình. 4.2.1.3 Tình hình đầu tư vào hoạt động kinh doanh của các DN TM-DV Tình hình đầu tư vào hoạt động kinh doanh của các DN bao gồm tình hình mở rộng mặt bằng sản xuất, xây dựng thêm nhà xưởng, văn phòng mới cũng như mua sắm máy móc, thiết bị công nghệ. Đây là tiền đề để mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. 64 Bảng 4.16: Tình hình đầu tư vào hoạt động của các DN năm 2011, dự kiến 2012 Thực hiện 2011 Dự kiến 2012 Chỉ tiêu Có Không Có Không Chưa nghĩ đến Mở rộng mặt bằng sản xuất mới 42,9 51,7 28,6 46,9 28,6 Xây dựng nhà xưởng, văn phòng mới trên mặt bằng hiện có. 28,6 71,4 14,3 57,1 28,6 (Nguồn: số liệu điều tra năm 2012) a) Mở rộng mặt bằng sản xuất Tình hình mở rộng mặt bằng sản xuất của các DN cũng còn khá thấp, khoảng 42,9% tổng số DN đã thực hiện mở rộng và cũng không thay đổi nhiều trong thời gian sắp tới và chủ yếu việc mở rộng mặt bằng là của các doanh nghiệp nhỏ. Điều này có thể được giải thích là do họ chưa có nhu cầu mở rộng vì tình hình kinh doanh hiện nay với mặt bằng như thế là phù hợp. Cũng có thể do họ có nhu cầu như không có vốn để mở rộng hoặc chưa được b) Xây dựng nhà xưởng, văn phòng mới Trong năm 2012, có khoảng 14,3% DN thực hiện việc xây dựng nhà xưởng, văn phòng mới và có khoảng 85,7% DN sẽ không xây dựng thêm nhà xưởng hay văn phòng mới vào năm 2012. Nguyên nhân có thể do các DN mới thành lập và thị trường tiêu thụ còn ít, chưa hoàn vốn lại được nhiều nên nếu đầu tư quá nhiều vào các loại tài sản cố định này sẽ rất rủi ro cho sự tồn tại của các DN. 4.2.1.5 Công nghệ : Với sự phát triển của công nghệ thông tin và viễn thông đã tạo điều kiện cho việc nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí đầu vào, đẩy nhanh quá trình cung cấp các sản phẩm và dịch vụ với chi phí thấp nhất, tiện lợi nhất, nhanh chóng và kịp thời sẽ thuận lợi hơn trong việc thu hút khách hàng, từ đó làm cho hiệu quả hoạt động được nâng cao 65 Bảng 4.17: Số máy vi tính trong doanh nghiệp Chỉ tiêu Số mẫu Phần trăm Không có 0 0 Từ 1-5 máy 5 71,5 Từ 6-10 máy 2 28,5 Trên 10 máy 0 0 Tổng 7 100 (Nguồn: số liệu điều tra năm 2012) Theo số liệu điều tra thực tế thì số máy vi tính mà doanh nghiệp trang bị phần lớn là từ 1-5 máy chiếm đến 71,5% DN khảo sát còn lại chỉ có 28,5% là trang bị từ 6-10 máy do chủ yếu là DN nhỏ và siêu nhỏ nên cũng không cần quá nhiều máy vi tính và điều đáng nói là không có DN nào khong có máy vi tính chứng tỏ các DN đã biết quan tâm trong việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất Ngoài việc mua sắm máy vi tính đề hỗ trợ việc tính toán lưu trữ sổ sách thì DN cũng cần kết nối internet cho số máy vi tính đó để có thể tìm kiếm thông tin thành lập website cho DN và có thể mua bán với khách hàng qua email Hình 4.8: Tình hình sử dụng internet vào sản xuất kinh doanh 57.2% 42.8% Đã kết nối Chưa kết nối (Nguồn: số liệu điều tra năm 2012) Qua số liệu điều tra thực tế cho thấy chỉ có 3 DN là đã sử dụng internet trong sản xuất kinh doanh chiếm 42,8% trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay thì các DN nên chú trọng hơn trong việc sử dung internet để quảng bá sản phẩm chứ khong phải chỉ dùng máy vi tính để lưu trữ hồ sơ sổ sách. 4.2.1.6 Tiếp cận dịch vụ hỗ trợ Các dịch vụ hỗ trợ là một trong những đầu vào quan trọng của doanh nghiệp, doanh nghiệp sử dụng những dịch vụ này để nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng thị trường và tăng khả năng cạnh tranh. Khác với các doanh nghiệp lớn có 66 85.7% 14.3% Đã tiếp cận DV hỗ trợ mặt bằng Chưa tiếp cận DV hỗ trợ mặt bằng thể tự thực hiện được những dịch vụ cần thiết, các DN nhỏ khó có thể tự thực hiện các dịch vụ hỗ một cách có hiệu quả do hạn chế về trình độ nguồn nhân lực, chi phí thực hiện, cách thức thực hiện,… a) Thực trạng tiếp cận các DVHT của nhà nước Trong 7 DN khảo sát thì chỉ có 1 DN là có tiếp cận với DVHT của nhà nước và đó là hỗ trợ về mặt bằng sản xuất do các DN chủ yếu là các DN nhỏ và siêu nhỏ nên thiếu vốn để mở rộng mặt bằng sản xuất đổi mới trang thiết bị, mở rộng thị trường để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Qua điều tra ta thấy, hiện nay có tới 85,7% DN hoạt động trong lĩnh vực TM-DV chưa từng được hỗ trợ về mặt bằng sản xuất, Hình 4.9: Khả năng tiếp cận DV hỗ trợ mặt bằng của DN (Nguồn: số liệu điều tra năm 2012) Như vậy, Nhà nước và chính quyền địa phương nên tuyên truyền thông tin hỗ trợ của Nhà Nước đến các DN và đồng thời cũng cần có chính sách đơn giản hơn về thủ tục, hạ thấp chi phí, … nhằm tạo điều kiện cho các DN phát triển hơn nữa. Bên cạnh đó, nếu thấy cần thiết các DN nên mở rộng mặt bằng sản xuất cho phù hợp với quy mô DN, tránh tình trạng xây dựng quá nhiều văn phòng, nhà xưởng trên một mặt bằng nhỏ sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và năng suất của người lao động. Trong đó, nguyên nhân chưa tiếp cận được với các chính sách hỗ trợ của nhà nước chủ yếu là do 16,6% DN không biết về thông tin hỗ trợ, 33,3% DN không có nhu cầu hỗ trợ và có 50,1% DN có nhu cầu nhưng chưa đề nghị. Lý do chủ yếu khiến các DN còn ngần ngại chưa đề nghị là do thủ tục phức tạp. 67 Hình 4.10: Lý do chưa tiếp cận DVHT của nhà nước 50.1% 33.3% 16.6% Không biết thông tin Không có nhu cầu Biết nhưng không hiểu rõ (Nguồn: số liệu điều tra năm 2012) b) Thực trạng tiếp cận DVHT tư nhân Nhìn chung, phần lớn DN đều có sử dụng dịch vụ hỗ trợ chiếm trên 50% DN và % đáp ứng nhu cầu của các DN sử dụng dịch vụ cũng khá cao trung bình trên 62% . Tính sẳn có của dịch vụ được các DN đánh giá khá tốt, cao nhất là dịch vụ viễn thông (85,7% DN), thấp nhất là dịch vụ tư vấn và nghiên cứu thị trường la 50% DN. Dịch vụ viễn thông và tin học là dịch vụ có tỷ lệ DN sử dụng nhiều nhất chiếm 100% DN và tính sẳn có của các dịch vụ này có tới 85,7% DN đánh giá do hầu như DN nào cũng sử dụng máy tính và điện thoại cố định để phục vụ kinh doanh. Kế đến là dịch vụ hạch toán kế toán với 78,3% DN đã sử dụng, nhu cầu của dịch vụ chiếm rất cao với 80% DN. Hình 4.11 Khả năng tiếp cận DVHT của các DN 0 20 40 60 80 100 120 Dịch vụ tư vấn Dịch vụ phân phối Nghiên cứu thị trường Hạch toán kế toán Dịch vụ pháp lý Dịch vụ viễn thông Dịch vụ tin học % Đã thực hiện % đáp ứng nhu cầu sẵn có (Nguồn: số liệu điều tra năm 2012) Dịch vụ nghiên cứu thị trường và dịch vụ pháp lý có tỷ lệ DN đánh giá mức độ sẳn có là 50% tuy nhiên tỷ lệ DN sử dụng và nhu cầu đối với dịch vụ này lại 68 tương đối thấp dưới 40% do các doanh nghiệp đều là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ nen hầu hết việc nghiên cứu thị trường chủ yếu là tự làm Tuy nhiên nghiên cứu thị trường là một công việc quan trọng và bắt buộc phải được thực hiện trước khi quyết định một kế hoạch marketing cho một sản phẩm hay thâm nhập một thị trường mới. Nó có thể giúp doanh nghiệp hiểu được những cơ hội và thách thức của thị trường thông qua tìm hiểu khách hàng của họ đang cần gì, xu thế tiêu dùng trong thị trường như thế nào... Từ những thông tin trên, doanh nghiệp có thể điều chỉnh hoạt động sản xuất hoặc sản phẩm, giá bán, kênh phân phối và các chương trình khuyến mãi để tiếp cận, thỏa mãn nhu cầu và xây dựng lòng trung thành của khách hàng một cách hiệu quả nhất, trong giới hạn ngân sách tiếp thị của doanh nghiệp. Nguyên nhân là các DN đa số có quy mô nhỏ, nguồn vốn hạn hẹp khó có thể thực hiện viêc nghiên cứu vì chi phí cho việc nghiên cứu thị trường là khá lớn và điều quan trọng là do nhận thức của các DN nhỏ thường coi khoản tiền chi cho việc nghiên cứu thị trường là 1 khoản chi phí. Doanh nghiệp nên xem nghiên cứu là một khoản đầu tư bởi vì những lợi ích mà công việc này mang về. Để tiến hành thành công một chiến dịch marketing, doanh nghiệp sẽ cần rất nhiều thông tin. Trong thương trường, nếu lạc hậu hoặc chậm trễ trong việc cập nhật thông tin về thị trường doanh nghiệp sẽ chịu nhiều thiệt hại hơn nữa. • Chất lượng DVHT Các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh đòi hỏi các nhà cung cấp dịch vụ phải có kinh nghiệm chuyên môn, tính sáng tạo và sự chuyên nghiệp cao. Đây là lĩnh vực kinh doanh khá mới mẻ trong những năm gần đây nhưng số lượng các doanh nghiệp gia nhập thị trường không phải là ít. Tuy nhiên vì mới thành lập nên các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hỗ trợ vẫn chưa tạo được nét khác biệt, quy mô nhỏ, nhân lực ít nhưng lại cung cấp nhiều loại dịch vụ từ tư vấn, thiết kế, nghiên cứu thị trường, huấn luyện đào tạo cho đến các dịch vụ pháp lý,…Vì hoạt động khá dàn trải nên chất lượng của các doanh nghiệp này vẫn chưa cao, chưa tạo được sự hài lòng từ phía khách hàng. 69 Bảng 4.18: Chất lượng DVHT của khu vực tư nhân và nhà nước (Nguồn: số liệu điều tra năm 2012) Theo số liệu điều tra các DN nhỏ và siêu nhỏ của tỉnh Đồng Tháp thì hầu hết các doanh nghiệp đều đánh giá chất lượng DVHT ở mức trung bình trở lên khoảng 50% DN cho biết chất lượng DVHT của khu vực tư nhân và khu vực nhà nước là chấp nhận được, có 28% DN nhận xét chất lượng DVHT ở khu vực nhà nước là khá và rất ít DN cho rằng DVHT do tư nhân cung cấp là khá tốt (14,3%) và cũng vậy đối với DV do nhà nước cung cấp. Nhìn chung thì chất lượng DVHT của khu vực tư nhân được đánh giá là có chất lượng hơn ở khu vực nhà nước, tuy nhiên chất lượng DVHT ở hai khu vực đều ở mức trung bình khá so với yêu cầu của DN Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết các doanh nghiệp cho rằng chất lượng của các dịch vụ hỗ trợ chỉ ở mức trung bình tốt, chỉ có DV tin học là có khoảng 14,3 % DN đánh giá là rất tốt trong khi đó thì DV pháp lý và DV ghiên cứu thị trường còn có hơn 20% đánh giá là kém Hình 4.12 : Chất lượng của các loại DVHT tư nhân 0% 20% 40% 60% 80% 100% Dịch vụ tư vấn Dịch vụ phân phối Nghiên cứu thị trường Hạch toán kế toán Dịch vụ pháp lý Dịch vụ viễn thông Dịch vụ tin học Kém TB Tốt Rất tốt (Nguồn: số liệu điều tra năm 2012) c) Mức độ ảnh hưởng của dịch vụ hỗ trợ đến hiệu quả hoạt động kinh doanh: Chất lượng DVHT Khu vực cung cấp Trung bình Khá Rất khá Tư nhân 42,9 42,9 14,3 Nhà nước 57,1 28,6 14,3 70 Dịch vụ hỗ trợ giúp các doanh nghiệp chuyên môn hóa trong hoạt động kinh doanh, tiết kiệm chi phí hơn so với tự cung cấp nội bộ. Qua kết quả điều tra, đa số các doanh nghiệp cho rằng các dịch vụ hỗ trợ có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có 3 dịch vụ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là: dịch vụ viễn thông ,dịch vụ tin học ,hạch toán kế toán. Ở mức độ rất ảnh hưởng, theo kết quả khảo sát thì dịch vụ thiết kế chiếm tỷ lệ cao nhất với 28,6% doanh nghiệp lựa chọn Hình 4.13: Mức độ ảnh hưởng của DVHT tới hoạt động kinh doanh 0% 20% 40% 60% 80% 100% Dịch vụ tư vấn Dịch vụ phân phối Nghiên cứu thị trường Hạch toán kế toán Dịch vụ pháp lý Dịch vụ viễn thông Dịch vụ tin học Không ảnh hưởng TB Ảnh hưởng Rất ảnh hưởng (Nguồn: số liệu điều tra năm 2012) Kế đến là là hạch toán kế toán (chiếm 71,5% doanh nghiệp đánh giá từ trung bình đến có ảnh hưởng), đây là dịch vụ mà hầu hết các doanh nghiệp có quy mô nhỏ đều thuê ngoài bởi lẽ nó giúp doanh nghiệp tiết kiệm 2/3 chi phí so với việc sử dụng nội bộ. Hạch toán kế toán giúp doanh nghiệp biết rõ tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (lãi, lỗ), nhờ đó có thể điều hành các hoạt động sản xuất một cách trôi chảy, là cơ sở cho doanh nghiệp hoạch định chương trình hành động cho từng giai đoạn, thời kỳ, đồng thời là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp, khiếu nại. Dịch vụ quan trọng hàng đầu dịch vụ viễn thông với 100% , trong giai đoạn hiện nay các doanh nghiệp đều sử dụng các dịch vụ viễn thông, tin học như là một công cụ không thể thiếu, nó giúp doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí và rút ngắn thời gian đi lại với đối tác, tăng tốc độ xử lý thông tin kịp thời, nhanh chóng, xóa đi mọi trở ngại về địa lý và tạo ra nhiều cơ hội làm ăn hơn. Đặc biệt là internet sẽ tạo động lực làm bùng nổ thương mại điện tử 71 Một dịch vụ nữa cũng không kém phần quan trọng là dịch vụ nghiên cứu thị trường, 42,9% doanh nghiệp cho rằng nó có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Hiện nay, khi các DN nhỏ ngày càng phát triển mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu kéo theo nhu cầu về nghiên cứu thị trường cũng tăng lên. Nghiên cứu thị trường nhằm thu thập thông tin cần thiết về khách hàng, nhu cầu của khách hàng về sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra, về đối thủ cạnh tranh,…từ đó giúp doanh nghiệp có những chiến lược phát triển sản phẩm. Để đảm bảo tính khách quan các doanh nghiệp thường tìm đến các công ty nghiên cứu thị trường, từ những thông tin điều tra, doanh nghiệp có thể điều chỉnh hoạt động sản xuất hoặc sản phẩm, giá bán, kênh phân phối và các chương trình khuyến mãi, thỏa mãn nhu cầu và xây dựng lòng trung thành với khách hàng 4.2.2 MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI 4.2.2.1 Môi trường chính trị, pháp luật: Trong quá trình hình thành và phát triển, các DN nhỏ gặp không ít những khó khăn, thách thức ngoài tầm kiểm soát của mình trong đó yếu tố chính trị và pháp luật chi phối đến hoạt động của các doanh nghiệp rất mạnh mẽ. a) Môi trường chính trị: Môi trường chính trị ở Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng ổn định hơn các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Chính trị ổn định có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động, làm tăng nhu cầu tiêu dùng cho xã hội, giảm bớt rủi ro kinh doanh cho các doanh nghiệp, đồng thời sẽ tạo được lòng tin và thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. b) Môi trường pháp luật - Các văn bản pháp luật về đăng ký kinh doanh và đầu tư được ban hành tương đối đầy đủ, đồng bộ, quy định cụ thể về hồ sơ, thủ tục, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đăng ký kinh doanh, của doanh nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan đăng ký kinh doanh trong việc thực thi nhiệm vụ. Việc thống nhất sử dụng mã số thuế làm mã số doanh nghiệp trong thủ tục đăng ký doanh nghiệp và thực hiện thành công thủ tục đăng ký doanh nghiệp trên Hệ thống đăng ký kinh doanh quốc gia trên phạm vi toàn quốc theo Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 và Thông tư số 14/2010/TT-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã rút 72 ngắn thời gian và chi phí gia nhập thị trường cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế có được số liệu thống nhất về số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, cũng như tình hình thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp. Với chủ trương trên đã góp phần quan trọng vào cải thiện môi trường kinh doanh của tỉnh. - Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp của Nhà nước trong năm 2010, đặc biệt là ngành thuế tỉnh đã triển khai thực hiện như: gia hạn thời gian nộp thuế TNDN theo quy định Thông tư số 39/2010/TT-BTC ngày 22/03/2010 của Bộ Tài chính, hoàn thuế GTGT đối với hàng hoá xuất khẩu theo Thông tư số 94/2010/TT-BTC ngày 30/6/2010 của Bộ Tài chính đã tác động tích cực đến sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương và đã tháo gỡ phần nào những khó khăn về vốn cho các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nuôi trồng, chế biến mặt hàng nông, thuỷ sản để ổn định phát triển sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập: • Về nhân thân người thành lập doanh nghiệp: Do thông thoáng của Luật Doanh nghiệp, chưa có công cụ hiệu quả để kiểm tra nhân thân của người đăng ký thành lập doanh nghiệp, do đó chưa ngăn chặn được những tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp. • Về địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp: Luật quy định doanh nghiệp tự kê khai và cam kết chịu trách nhiệm nên cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ ghi nhận theo đăng ký của doanh nghiệp (vì không bắt buộc ai xác nhận hoặc phải có hợp đồng thuê trụ sở) nên khi cần thiết liên hệ địa chỉ trụ sở chính của đơn vị không đúng, không có thật như đăng ký. • Về vốn đăng ký: Về vốn đầu tư ban đầu cũng như vốn điều lệ (trừ vốn pháp định): do doanh nghiệp tự kê khai và chịu trách nhiệm, cơ quan đăng ký kinh doanh không có chức năng kiểm tra chính xác về vốn đăng ký nên đôi khi xảy ra tình trạng kê khai vốn khống, không có vốn khi đăng ký kinh doanh. • Về xử phạt vi phạm về đăng ký doanh nghiệp và thu hồi Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp: 73 Hầu hết các doanh nghiệp vi phạm về đăng ký kinh doanh đều thuộc trường hợp bỏ trốn khỏi địa chỉ kinh doanh, kinh doanh thua lỗ, mua bán hóa đơn tài chính,….Do đó, việc yêu cầu doanh nghiệp làm các thủ tục và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đa số đều không thu hồi được vì không thể liên hệ được với doanh nghiệp, đồng thời chưa có quy định nào để có hình thức chế tài nhằm hạn chế các trường hợp này. Ngoài ra, có những khó khăn khách quan như các văn bản pháp luật còn nhiều điểm chồng chéo, thiếu rõ ràng và hiệu lực chưa cao. Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa được triển khai thành lập, phần nào cũng ảnh hưởng đến nhu cầu vốn của doanh nghiệp khi triển khai mở rộng sản xuất kinh doanh, cũng như giúp doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp 4.2.2.2 Môi trường kinh tế: Năm 2011 tình hình kinh tế nước ta phát triển trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức. Đầu năm, giá các hàng hóa và vật tư chủ yếu trên thị trường thế giới biến động theo chiều hướng tăng. Một số nền kinh tế lớn mặc dù vừa phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng vẫn đang tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro và bất ổn. Tình trạng vỡ nợ công ở Hy Lạp và một số nước khu vực đồng Euro, bất ổn ở Bắc Phi, Trung Đông đã tác động trực tiếp đến tình hình kinh tế- xã hội Việt Nam ở các mức độ khác nhau. Ở trong nước, lạm phát tăng cao, thời tiết diễn biến phức tạp, một số vấn đề xã hội còn nhiều bất cập... - Tuy tình hình kinh tế trong nước và thế giới biến động mạnh nhưng tốc độ tăng trưởng của tỉnh năm 2011 vẫn đạt 13% và luôn giữ ở mức khá cao. Với kết quả trên ta thấy được sự phát triển mạnh mẻ của tỉnh. Bên cạnh đó cũng góp phần vào việc khuyến khích các DN hoạt động kinh doanh, tạo môi trường tốt cho các doanh nghiệp. - Bên cạnh các chính sách ưu đãi của Nhà nước thì Các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh luôn tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp hoạt động phát triển như đào tạo lao động có tay nghề, hỗ trợ lãi suất, phát triển cơ sở hạ tầng... qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các DN hoạt động kinh doanh, góp phần làm cho lợi thế của các DN của tỉnh ngày một tăng cao. 74 Tuy nhiên do lạm phát, giá cả nguyên liệu đầu vào tăng cao, chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất cho vay thỏa thuận, tình trạng thiếu điện, giá cả nguyên liệu đầu vào cho sản xuất tăng cao,… trong khi đó đa số các doanh nghiệp của tỉnh với quy mô nhỏ, vốn ít, công nghệ sản xuất lạc hậu, việc tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng và tín dụng ưu đãi để đầu tư gặp nhiều khó khăn. Một số doanh nghiệp chế biến thủy sản phải giảm 30 - 50% công suất và các dự án đã đầu tư nhưng chậm đưa vào hoạt động vì thiếu nguyên liệu, nhất là vào những tháng cuối năm (người dân bỏ hầm, treo ao); thiếu lao động có tay nghề; thiếu điện, phải cắt giảm luân phiên. Từ đó, làm ảnh hưởng khá mạnh đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và ảnh hưởng đến công ăn việc làm của người lao động. - Cty TNHH một thành viên Thương mại Dầu khí Đồng Tháp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xăng, dầu có sự quản lý của nhà nước về giá bán nên đơn vị gặp rất nhiều khó khăn về vốn hoạt động. Số lỗ năm 2010 là 195 tỷ đồng, ngoài ra số lỗ năm 2007 và 2008 là 235 tỷ đồng, đến thời điểm hiện nay vẫn chưa được Bộ Tài chính xem xét xử lý. 4.2.2.3 Môi trường văn hóa- xã hội Về mặt lâu dài đây là nhân tố ảnh hưởng rộng lớn và sâu sắc nhất đến môi trường kinh doanh. . Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng có một nguồn lao động dồi dào cung cấp nguồn lao động cho doanh nghiệp. Tuy nhiên hiện nay thì lao động của Tỉnh có trình độ tương đối chưa cao và chưa đáp ứng được nhu cầu của DN đưa ra. Đội ngũ nhân lực kém chất lượng cũng góp phần làm giảm năng lực cạnh tranh của Tỉnh Vì vậy nhằm góp phần nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác lao động - việc làm, hàng năm Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các ngành, địa phương tổ chức các lớp tập huấn, triển khai các văn bản mới, hướng dẫn ghi chép, cập nhật hồ sơ, sổ sách số liệu cho cán bộ làm công tác quản lý lao động, giải quyết việc làm từ tỉnh đến cơ sở (xã, phường, thị trấn) các hội đoàn thể tại địa phương. Bình quân mỗi năm mở từ 2 - 3 lớp với tổng số lượt cán bộ được dự tập huấn, triển khai bình quân trên 300 người; số cán bộ này sau khi được tập huấn đã thực hiện khá tốt công tác tham mưu, đề xuất, tổ chức triển 75 khai, thực hiện tại các ngành, địa phương cơ sở; góp phần thực hiện tốt các mục tiêu, chỉ tiêu, dự án hoạt động của Chương trình việc làm. 4.2.2.4 Môi trường công nghệ: Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật diễn ra nhanh chóng trong thời gian gần đây đã làm cho chu kỳ sống của công nghệ ngày càng bị rút ngắn. Những năm qua hoạt động khoa học công nghệ ở Đồng Tháp đã không ngừng đổi mới và phát huy hiệu quả thông qua đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao các tiến bộ khoa học công nghệ và góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh hàng hóa trong quá trình hội nhập, nhất là hàng thủy sản, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Các doanh nghiệp đặc biệt là các DN nhỏ dần dần đã đổi mới máy móc, thiết bị công nghệ phù hợp, góp phần làm tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, là cơ sở để mở rộng thị trường hàng hóa cả trong và ngoài nước. Nếu nhìn nhận về xu thế đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp thì hai xu hướng chủ yếu đó là ứng dụng tự động hóa vào sản xuất và tăng cường kỹ thuật an toàn Tuy nhiên, theo Cục phát triển doanh nghiệp – Bộ kế hoạch và đầu tư, về trình độ sử dụng công nghệ, chỉ có khoảng 8% số DN nhỏ đạt trình độ công nghệ tiên tiến (phần lớn là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Còn về doanh nghiệp trong nước, hầu hết đang sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu. Đặc biệt, khả năng cạnh tranh về công nghệ của các doanh nghiệp là khá thấp.  Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô một khi xuất hiện phạm vi ảnh hưởng của nó rất rộng lớn và lâu dài. Nó tác động đồng thời đến các tổ chức trong nhiều ngành kinh doanh hoặc lĩnh vực hoạt động. Đây là những yếu tố bên ngoài mà doanh nghiệp khó có thể kiểm soát được. Kết luận về DN nhỏ trong lĩnh vực TM- DV ở tỉnh Đồng Tháp: Qua việc phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến HĐKD của DN nhỏ trong lĩnh vực TM- DV ở tỉnh Đồng Tháp, ta có thể rút ra các kết luận sau: - Đối với môi trường bên ngoài: + Chính trị, pháp luật: các chính sách pháp luật của nhà nước ngày càng được cải thiện mạnh mẽ, thông thoáng tạo điều kiện cho các DN nhỏ dễ dàng hơn trong việc đăng kinh doanh, phát triển sản xuất, tuy nhiên vẫn còn một số điểm 76 bất cập trong luật tạo kẽ hở cho các doanh nghiệp lách luật. Về phía các doanh nghiệp thì ý thức chấp hành luật của một số bộ phân doanh nghiệp chưa cao. + Kinh tế: tình trạng lạm phát, lãi suất, tỷ giá,…leo thang đã kéo theo hàng loạt DN nhỏ phải tăng chi phí đầu vào làm giảm khả năng cạnh tranh về giá. + Văn hóa, xã hội: người tiêu dùng ngày càng khó tính trong việc lựa chọn sản phẩm nên các DN cần có những chiêu PR khuyến mãi hơn nên sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng ngày càng gay gắt hơn. + Công nghệ: Sự bùng nổ của khoa học công nghệ ngày càng làm cho chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng ngắn lại, nếu các doanh nghiệp không kịp thời cập nhật các công nghệ mới thì khó có thể nâng cao khả năng cạnh tranh. - Đối với môi trường bên trong doanh nghiệp: + Nguồn lực tài chính của các DN nhỏ còn hạn hẹp, vì thế doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn khi muốn mở rộng quy mô sản xuất, mua sắm máy móc, thiết bị, đào tạo nhân lực,…trong khi khả năng tiếp cận nguồn vốn từ các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, quỹ bảo lãnh tín dụng của các doanh nghiệp còn gặp nhiều bất cập. + Nguồn nhân lực: đa số lao động ở các DN nhỏ có trình độ tay nghề chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp. Vì thế các doanh nghiệp phải tốn thời gian và chi phí để đào tạo lại cho lực lượng lao động này. Năng lực quản lý của các chủ doanh nghiệp chủ yếu dựa vào kinh nghiệm để điều hành công việc, chưa có khả năng hoạch định những chiến lược dài hạn cho doanh nghiệp. + Thị trường tiêu thụ: thị trường tiêu thụ của DN nhỏ chủ yếu vẫn là thị trường trong nước, mở rộng thị trường xuất khẩu cũng chưa được nhiều doanh nghiệp chú ý. Vì DN nhỏ yếu thế về vốn, trình độ lao động, công nghệ, các hoạt động marketing, xúc tiến bán hàng,… nên khó có thể vươn mình ra biển lớn. + Hoạt động marketing, xúc tiến bán hàng, quảng bá thương hiệu: chưa nhiều DN nhỏ thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại và bán hàng nguyên nhân là do DN nhỏ chưa có đủ khả năng về tài chính và kinh nghiệm để thực hiện các hoạt động xúc tiến mang tính tầm cỡ và dài hạn. - Đối với tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ: ngoại trừ các dịch vụ viễn thông, tin học còn lại những dịch vụ khác như: tư vấn, thiết kế, nghiên cứu thị trường, pháp lý,…chưa nhiều các DN nhỏ tiếp cận vì họ chưa có nhiều thông tin về các loại 77 hình dịch vụ này, kết hợp với chi phí của các dịch vụ chưa có tính cạnh tranh trong khi chất lượng chưa cao nên nhiều doanh nghiệp còn e ngại khi tiếp cận. 4.3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHO CÁC DN TRONG LĨNH VỰC TM- DV Ở TỈNH ĐỒNG THÁP: Từ những phân tích trên, ta có thể rút ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của DN nhỏ TM- DV ở tỉnh Đồng Tháp như sau: 4.3.1 Cơ sở đề ra giải pháp: 4.3.1.1 Điểm mạnh: - Các DN nhỏ rất linh hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thị trường. - Phần lớn sản phẩm của DN nhỏ nhằm phục vụ tại chỗ, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng tại những phân khúc thị trường hẹp và khó vào. - Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là đã có thể bắt đầu hoạt động. - Bộ máy tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định. 4.3.1.2 Điểm yếu: - Quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các DN nhỏ thường lâm vào tình trạng thiếu vốn khi muốn mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường hay tiến hành đổi mới nâng cấp công nghệ, thiết bị. - Khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường. Doanh nghiệp thiếu những thông tin về cơ chế chính sách, đến các thông tin về giá cả thị trường, marketing… - Trình độ lao động cũng như năng lực quản lý của chủ doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. - Các doanh nghiệp chỉ mới chú trọng vào sản phẩm mà chưa chú ý nhiều đến các khâu tạo nên giá trị gia tăng như nghiên cứu và phát triển sản phẩm, xúc tiến tiếp thị. - Mặt bằng sản xuất của các DN nhỏ gặp rất nhiều khó khăn do không tìm được mặt bằng phù hợp với nhu cầu và chi phí khá cao. - Khó khăn trong việc thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp khác. 78 - Việc xây dựng thương hiệu của nhiều DN nhỏ ở Tỉnh Đồng Tháp còn bỏ ngõ, chưa nhiều doanh nghiệp chú trọng đến xây dựng và bảo vệ thương hiệu. 4.3.1.3 Cơ hội: - Chính phủ và các ban, ngành chức năng đã có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển cho các DN nhỏ như: chính sách đăng ký kinh doanh, chính sách thuế, chính sách hỗ trợ mặt bằng,.. - Quan hệ đầu tư của nước ta ngày càng mở rộng, vị thế của Việt Nam ngày càng nâng cao, tạo thêm nhiều cơ hội cho các DN nhỏ mở rộng xuất khẩu, cũng như thu hút vốn đầu tư, công nghệ từ các quốc gia đang phát triển trên thế giới. - Các dịch vụ hỗ trợ tư nhân như: dịch vụ thiết kế, phân phối, nghiên cứu thị trường, viễn thông, tin học,…đang ngày càng phát triển và trở nên phổ biến, giúp các doanh nghiệp tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tiết kiệm chi phí hơn so với tự cung cấp nội bộ vì các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hỗ trợ có nhiều kinh nghiệm, có nhiều thiết bị, thông tin chuyên sâu. 4.3.1.4 Thách thức: - Thách thức lớn nhất đối với các DN nhỏ ở Tỉnh Đồng Tháp chính là cơ sở hạ tầng, sự phát triển của cơ sở hạ tầng giao thông chưa theo kịp sự phát triển của nền kinh tế, vẫn còn thiếu sót và nhiều chậm trễ trong việc phát triển cơ sở hạ tầng trọng yếu như các tuyến đường giao thông liên tỉnh, cầu, phà, kho bãi, phương tiện chuyên chở,…những yếu kém này đã làm tăng chi phí lưu thông, giảm vòng quay vốn lưu động của doanh nghiệp và làm giảm đáng kể cơ hội lợi nhuận. - Những thể chế, chính sách pháp luật ở Việt Nam cũng là một thách thức lớn cho các doanh nghiệp. Nhìn chung cho đến thời điểm này, chính sách pháp luật của ta có nhiều cải thiện đáng kể, song vẫn còn một số nhược điểm về tính minh bạch, tính nhất quán, sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các luật đã làm cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn đồng thời cũng tạo kẽ hở cho các doanh nghiệp khác lách luật. Chẳng hạn như vấn đề sở hữu trí tuệ vẫn còn nhiều bất cập và nan giải, nạn hàng giả, hàng nhái, hàng buôn lậu trốn thuế,…làm cho môi trường cạnh tranh kém lành mạnh, gây thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính. 79 - Khi Việt Nam đã gia nhập WTO, mở cửa hội nhập với các nước khác trên thế giới, các DN nhỏ ở Tỉnh Đồng Tháp không chỉ chịu sự cạnh tranh của các DN nhỏ và doanh nghiệp lớn trong tỉnh mà còn phải chịu sự cạnh tranh của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, các công ty đa quốc gia, thế mạnh của họ là sản phẩm chất lượng cao, máy móc công nghệ hiện đại, có nhiều kinh nghiệm quản lý và xúc tiến thương mại. 4.3.1.5 Phân tích SWOT: SWOT CƠ HỘI (O) 1. Chính phủ, ban, ngành có nhiều chính sách hỗ trợ DN nhỏ. 2. Quan hệ đối ngoại mở rộng, có nhiều cơ hội xuất khẩu, thu hút đầu tư, vốn, công nghệ. 3. Các dịch vụ hỗ trợ của tư nhân đang phát triển. 4. Vị trí địa lý thuận lợi để đẩy mạnh kênh phân phối. ĐE DỌA (T) 1. Cơ sở hạ tầng yếu kém. 2. Chính sách pháp luật chưa chặt chẽ. 3. Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. ĐIỂM MẠNH (S) 1. Linh hoạt, nhanh chóng thích nghi với thay đổi của thị trường. 2. Quy mô DN nhỏ, gọn. 3. Bộ máy gọn, nhẹ, dễ quản lý. 4. Hoạt động tại những phân khúc thị trường hẹp, khó vào. Các chiến lược SO S1,2,3,4 + O1,2,4: Tận dụng thế mạnh về tính linh hoạt, bộ máy gọn, nhẹ, dễ quản lý và chính sách hỗ trợ của Nhà nước để mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước. S1,2,3,4 + O3: Tập trung chuyên môn hóa vào hoạt động SXKD. Các chiến lược ST S1,2,3,4 + T1,2: Tận dụng sự linh hoạt, nhanh chóng thích nghi với môi trường để vượt qua những trở ngại về pháp luật, cơ sở hạ tầng. S1,2,3,4 + T3: Liên kết với các doanh nghiệp khác nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. ĐIỂM YẾU (W) Các chiến lược WO Các chiến lược WT 80 1. Thiếu vốn khi mở rộng quy mô sản xuất. 2. Thiếu thông tin về thị trường. 3. Lao động có trình độ tay nghề chưa cao. 4. Năng lực quản lý còn hạn chế. 5. Mặt bằng sản xuất còn hạn hẹp. 6. Khó khăn trong thiết lập quan hệ với các DN. 7. Chưa chú trọng xây dựng uy tín, thương hiệu. W1,5 + O1: Hỗ trợ nguồn vốn cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, mở rộng mặt bằng. W2,6 +O1: Trợ giúp xúc tiến mở rộng thị trường. W3,4 + O1: Trợ giúp phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản lý. W7 + O1,2: Xây dựng thương hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh. W1,2,3,4,5,6,7,8 +T1,3: Quảng bá thương hiệu, nâng cao uy tín, liên kết giữa các doanh nghiệp. W1,2,3,4,5,6,7,8 + T2: Cải thiện môi trường kinh doanh. 4.3.2 Một số giải pháp: Các giải pháp được đưa ra thường xuất phát từ những yếu kém tổng thể của DN nhỏ ở tỉnh Đồng Tháp. Những giải pháp này nhằm cải thiện tính hấp dẫn của môi trường kinh doanh, khắc phục những yếu kém, nâng cao năng lực cạnh tranh của DN nhỏ TM- DV ở tỉnh Đồng Tháp theo hướng phát triển bền vững. Trong phạm vi của đề tài, tôi xin đưa ra một số giải pháp như sau: 4.3.2.1 Mở rộng khả năng tiếp cận vốn: Theo các chuyên gia, để trụ vững trong dài hạn, DN nhỏ cần nhận thức được yêu cầu của ngân hàng và các tổ chức cung ứng vốn để chủ động công bố, minh bạch thông tin sản xuất, kinh doanh của đơn vị. Đây là một nhân tố quan trọng để tạo được niềm tin đối với nhà đầu tư, tổ chức có khả năng cung ứng vốn cho doanh nghiệp. Mặt khác, doanh nghiệp cần tích cực tham gia vào hoạt động của các hiệp hội, nhằm cải thiện mối liên kết với các doanh nghiệp và tranh thủ nguồn vốn với ngân hàng thông qua tổ chức hiệp hội. Các doanh nghiệp cần chủ động đa dạng hóa cơ cấu vốn để không phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay ngân hàng. Mặt khác, rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc tăng cường nguồn lực cho các ngân hàng và cải thiện khả năng tiếp 81 cận tín dụng cho doanh nghiệp thông qua việc hỗ trợ doanh nghiệp về lãi suất, bảo lãnh tín dụng và năng lực xây dựng phương án kinh doanh.... Ngoài ra, các doanh nghiệp cần tạo mối quan hệ và niềm tin với khách hàng và các đối tác để tạo được sự tín nhiệm lẫn nhau, có thể tiến hành các nghiệp vụ mua bán chịu bằng cách phát hành cho nhau các giấy nhận nợ hoặc quyền đòi trả nợ trong phạm vi thời gian thỏa thuận (thương phiếu) để hữu dụng hóa nguồn vốn bằng giá trị hàng hóa gối đầu nhàn rỗi của từng bên nhằm duy trì sản xuất. Các DN nhỏ cần gia tăng sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, qua đó ngân hàng sẽ có thêm thông tin về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở đó sẽ thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong việc vay vốn ngân hàng. 4.3.2.2 Nâng cao trình độ nguồn nhân lực: Tăng cường đầu tư xây dựng, mở rộng, sắp xếp lại hệ thống các trường dạy nghề, thu hút lao động học nghề, nâng cao tay nghề cho người lao động, gắn chương trình giảng dạy với lao động thực tiễn tại doanh nghiệp. Thường xuyên đào tạo, đào tạo lại lực lượng lao động và lực lượng quản lý trong ngành; nâng cao những kiến thức và kỹ năng tiếp cận và mở rộng thị trường trong và ngoài nước. Tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức trong và ngoài nước để đào tạo nguồn nhân lực; tạo điều kiện cho các cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật trao đổi, học hỏi với nước ngoài. Tiếp tục thực hiện chương trình đào tạo nghề, dạy nghề cho lao động nông thôn. Có thực trạng là những cơ sở đào tạo sẵn sàng tổ chức lớp học, nhưng nhà lãnh đạo doanh nghiệp ít dự học, cũng như ít cử người dự học. Có thể do họ ít người nên chủ yếu dành thời gian cho công việc hàng ngày, có thể do họ tiếc tiền học phí, có thể do họ chưa thấy được tầm quan trọng cuả quản trị doanh nghiệp. Do đó, hình thức để việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản trị doanh nghiệp cho các doanh nghiệp là các hội thảo về quản trị doanh nghiệp, vừa có tính lý luận vừa mang tính thực tiễn để thu hút các doanh nghiệp tham gia, về kinh phí có thể đề nghị các cấp có thẩm quyền hỗ trợ hoặc đề nghị tài trợ, tại diễn đàn nên gợi ý cho các đơn vị là các cơ sở đào tạo hoặc các cơ quan quản lý doanh nghiệp tổ chức các hội thảo này cho địa phương cuả mình, thiết nghĩ các doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội để tăng cường năng lực quản trị doanh nghiệp cuả mình. 82 Phát triển hệ thống nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ và phát triển kinh doanh, đặc biệt là dịch vụ tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giúp cho DN tăng trưởng và phát triển bền vững. Bên cạnh, cũng nên thành lập “vườn ươm” DN nhỏ nói chung và DN nhỏ nói riêng để hướng dẫn, đào tạo DN trong bước đầu thành lập. 4.3.2.3 Giải pháp về mặt bằng sản xuất: Với tình trạng mặt bằng sản xuất ngày càng khan hiếm, do sự xuất hiện của nhiều doanh nghiệp mới, chưa kể đến sự gia tăng nhanh chóng dân số ở tỉnh thì nhu cầu có mặt bằng để sản xuất của DN nhỏ là nhu cầu hết sức cấp bách. Thiết nghĩ các ban ngành chức năng của Tỉnh nên tạo điều kiện hỗ trợ cho các doanh nghiệp này bằng cách hỗ trợ thuế và tài chính để giúp họ có thể tìm kiếm mặt bằng phù hợp với nhu cầu sản xuất. Đồng thời hỗ trợ các DN nhỏ có cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm di dời ra khỏi thành phố, khu dân cư thông qua việc cho phép chuyển quyền sử dụng đất từ đất sản xuất sang đất ở và đất thương mại nhằm mục đích bán và trang trải chi phí di chuyển. Tỉnh phải thống kê và thu hồi đất hoang hóa, sử dụng không đúng mục đích để tạo quỹ đất cho các doanh nghiệp thuê. 4.3.2.4 Tăng cường khả năng liên kết: Trong khi năng lực cạnh tranh còn yếu kém, tự thân các DN nhỏ phải tự biết tạo các mối liên kết với nhau hoặc liên kết với các doanh nghiệp lớn nhằm đi tắt đón đầu công nghệ mới, cùng hỗ trợ nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh, phát triển mạng lưới phân phối, đẩy mạnh tiếp thị để cùng nhau phát triển. Các DN nhỏ có thể liên kết với các doanh nghiệp lớn trong việc cung ứng đầu vào, thực hiện thầu phụ, hình thành mạng lưới bổ trợ và tạo ra mạng lưới vệ tinh phân phối sản phẩm. Ngược lại, các doanh nghiệp lớn có thể giúp đỡ các DN nhỏ về kinh nghiệm quản lý, công nghệ và thậm chí là vốn để phát triển sản xuất. Đây là mối quan hệ cộng sinh chứ không phải thôn tính, tiêu diệt lẫn nhau. Vừa cạnh tranh vừa hợp tác, hợp tác để tăng cường khả năng cạnh tranh. Khả năng liên kết và hợp tác cũng thể hiện sự linh hoạt của doanh nghiệp trong việc chủ động nắm bắt các cơ hội kinh doanh. Tuy không thể một sớm một chiều là có thể tìm được đối tác ưng ý “đồng hội đồng thuyền” nhưng có thể nói đây là biện pháp hữu hiệu trong thời kỳ suy thoái. 83 4.3.2.5 Xây dựng thương hiệu: Như đã phân tích ở trên, xây dựng thương hiệu có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh sản phẩm của DN nhỏ. Làm sao khi nhắc đến hình ảnh của sản phẩm là người tiêu dùng liên tưởng đến doanh nghiệp? Thương hiệu là tài sản vô hình nhưng vô giá, cấu thành nên văn hóa doanh nghiệp và tạo nên sự thành công cho doanh nghiệp đó. Để có thể cạnh tranh hiệu quả tạo được chỗ đứng trên thị trường, việc đầu tiên các doanh nghiệp cần làm là thay đổi, nâng cao nhận thức của chính mình về thương hiệu sản phẩm. Mặt khác, một thương hiệu chỉ có thể tạo được ấn tượng lâu dài trong tâm trí khách hàng nếu như thương hiệu đó đi đôi với một sản phẩm có chất lượng. Chính chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo uy tín của thương hiệu. Thương hiệu tốt tượng trưng cho một doanh nghiệp hạng nhất, một sản phẩm thượng hạng. Sau đó, sản phẩm phải có bao bì đẹp, ấn tượng. Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh khá quyết liệt, sản phẩm không chỉ cần “tốt gỗ” mà “nước sơn” cũng phải xịn mới mong chinh phục được người mua. Hơn nữa, sản phẩm có mẫu mã, bao bì đẹp, ấn tượng sẽ là thông điệp tốt cho thương hiệu của sản phẩm. Có được thương hiệu là cả một quá trình xây dựng gian nan, nhưng việc bảo vệ và giữ gìn nó còn khó hơn gấp nhiều lần. Việc tiếp theo là doanh nghiệp phải đăng ký bảo hộ độc quyền thương hiệu. Đã có nhiều doanh nghiệp bị mất thương hiệu, dẫn đến những hậu quả đáng tiếc, gây phiền phức tốn kém , mặc dù ở Tỉnh Đồng Tháp chưa xảy ra những trường hợp như vậy nhưng đó là bài học không bao giờ cũ cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng và đăng ký thương hiệu. Một sản phẩm có thương hiệu trên thị trường sẽ được người tiêu dùng nhận biết và nghĩ ngay khi có nhu cầu, tạo cho khách hàng tâm lý mong muốn được sở hữu sản phẩm của doanh nghiệp hơn bất kỳ sản phẩm của doanh nghiệp khác. Hơn nữa, sản phẩm có thương hiệu sẽ thuận lợi cho việc bán hàng và gia tăng doanh số cho doanh nghiệp, các nhân viên bán hàng của doanh nghiệp sẽ tự tin trước khách hàng, đồng thời gia tăng niềm tin của khách hàng khi sử dụng sản phẩm. 4.3.2.6 Nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ: 84 Qua phân tích ở trên ta thấy, mặc dù các dịch vụ hỗ trợ không phải là yếu tố nội tại bên trong doanh nghiệp nhưng nó giúp doanh nghiệp tập trung chuyên môn hóa vào các hoạt động kinh doanh, tăng năng lực cạnh tranh. Vì vậy, các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cần cung cấp những dịch vụ thật sự có chất lượng phù hợp với nhu cầu của từng doanh nghiệp. Không ngừng cập nhật thông tin, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng để kịp thời đáp ứng các nhu cầu ngày càng phong phú, đa dạng và khắt khe hơn của họ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ hỗ trợ phải đưa ra mức giá hợp lý, có tính cạnh tranh để có thể thu hút được nhiều khách hàng đồng thời giúp các doanh nghiệp sử dụng các dịch vụ hỗ trợ hạ thấp chi phí, tăng lợi nhuận. Phải bảo mật thông tin của khách hàng. Không những thế, các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cũng cần tự gây dựng thương hiệu cho chính bản thân mình nhằm tạo niềm tin cho các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ ngày càng nhiều hơn. 85 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 5.1 KẾT LUẬN: Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, các DN nhỏ Việt Nam nói chung và DN nhỏ ngành TM- DV ở tỉnh Đồng Tháp nói riêng đều phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh hơn nữa. Qua nghiên cứu khảo sát thực tế nhìn chung các DN nhỏ trong lĩnh vực TM-DV ở tỉnh Đồng Tháp những năm qua không ngừng phát triển về số lượng và đóng góp không nhỏ vào GDP của tỉnh, đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu ngành. Bên cạnh đó, các DN này hiện nay cũng đã được sự quan tâm của các Sở, Ban ngành và chính quyền địa phương, tạo điều kiện để ngành TM-DV phát triển. Tuy nhiên do hạn chế về quy mô hoạt động nên các DN nhỏ hoạt động trong lĩnh vực TM-DV ở tỉnh Đồng Tháp thường gặp nhiều khó khăn về vốn, công nghệ, thiết bị kỹ thuật lạc hậu, trình độ quản lý và lao động thấp,… dẫn đến hiệu quả kinh doanh không cao, còn ở mức thấp chưa tương xứng với tiềm năng của vùng. Mặc dù được sự quan tâm hỗ trợ của Chính phủ tuy nhiên thực trạng tiếp cận DVHT của các DN nhỏ trong lĩnh vực TM-DV nói riêng và các DN nhỏ ở tỉnh Đồng Tháp nói chung vẫn còn rất hạn chế. Do thông tin chưa được quán triệt sâu rộng, thủ tục pháp lý phức tạp và còn nhiều tiêu cực trong việc thực thi chính sách nên hiệu quả của DVHT chưa tốt. Bên cạnh đó chất lượng và mức độ sẵn có của DVHT tư nhân trên địa bàn còn thấp, thêm vào đó chi phí sử dụng có khá cao. Các DN nhỏ ở tỉnh Đồng Tháp cần phát huy hơn nữa những ưu thế và vai trò của mình trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Để làm được điều đó, các doanh nghiệp cần tập trung những nguồn lực sẵn có, biến những điểm yếu, thách thức thành động lực vươn lên của mỗi doanh nghiệp. 5.2 KIẾN NGHỊ: 5.2.1. Đối với các Cơ quan, Sở, Ban Ngành trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp - Chính quyền địa phương cần tạo điều kiện thuận lợi cho các DN có mặt bằng sản xuất phù hợp, không phân biệt thuế giữa các thành phần kinh tế mà chỉ nên phân biệt giữa các vùng, các lĩnh vực hoạt động. 86 - Tăng thêm hỗ trợ đào tạo, củng cố và tạo điều kiện cho các DN tiếp cận nguồn thông tin, mở rộng dịch vụ tư vấn. Nâng cao chất lượng các dịch vụ hỗ trợ do Nhà Nước cung cấp. - Các Bộ, Ban ngành cần đơn giản hóa các quy định, các thủ tục hành chính tạo điều kiện cho các DN tiếp cận với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước. - UBND tỉnh nên thường xuyên tổ chức các cuộc gặp mặt, đối thoại với các doanh nghiệp: Hàng năm tổ chức các cuộc gặp mặt, đối thoại với doanh nghiệp nhằm trao đổi thông tin, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đồng thời tuyên dương, khen thưởng các doanh nghiệp có thành tích xuất sắc trong kinh doanh, có sáng tạo trong thiết kế mẫu mã và truyền dạy nghề. - Kết hợp với ngân hàng phát triển quỹ bảo lãnh tính dụng cho các DN không có tài sản thế chấp, cầm cố nhưng có các dự án khả thi, hiệu quả cao. - Xây dựng kế hoạch thực hiện đăng ký, bảo hộ và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm và dịch vụ, xây dựng thương hiệu, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO và các tiêu chuẩn quốc tế khác đối với các doanh nghiệp. - Cùng với các hiệp hội kinh tế, câu lạc bộ DN để tổ chức các buổi tham quan, học hỏi kinh nghiệm như mô hình người kinh doanh giỏi, người buôn bán nhỏ có tiềm năng, … 5.2.2. Đối với các DN nhỏ hoạt động trong lĩnh vực TM- DV -Chủ động liên kết, hợp tác với các DN nhỏ cùng ngành để cùng nhau phát triển, tăng uy tín cho cho sản phẩm của DN trên thị trường, sự thống nhất không cạnh tranh lẫn nhau để không bán hàng với giá quá thấp, liên kết để tạo nên chuỗi cửa hàng, hệ thống phân phối bán hàng quy mô, không cạnh tranh lẫn nhau để tạo uy tín và hình ảnh cho dòng sản phẩm Việt. -Các DN nên minh bạch v ềtình hình tài chính của DN mình cũng như tạo uy tín thông qua việc kinh doanh hiệu quả, có chiến lược kinh doanh hợp lý để tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn từ phía các ngân hàng. -Nâng cao năng lực của đội ngũ nhân viên quản lý cũng như là trình độ tay nghềcho người lao động. 87 -Đồng thời, cần tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại như các chương trình trưng bày, giới thiệu, quảng cáo và tiếp thị sản phẩm của DN. -Thiết kế và vận hành website cho DN của mình tạo quảng bá hình ảnh, thương hiệu của DN trên th ịtrường. -Không ngừng tiếp cận thông tin về sản phẩm, thịtrường tiêu thụ trong và ngoài nước thông qua các buổi triển lãm, hội chợ thương mại, .... -Nhiệt tình tham gia vào các hiệp hội, các câu lạc bộ DN, … 5.2.3 Đối với DN cung cấp dịch vụ hỗ trợ - Tăng cường các kênh thông tin cung cấp thông tin dịch vụ hỗ trợ đến doanh nghiệp sử dụng: phương tiện thông tin đại chúng, các ấn phẩm định kỳ, các hiệp hội tổ chức. - Nâng cao chất lượng dịch vụ, giá cả hợp lý đặc biệt ở các dịch vụ pháp lý, dịch vụ tư vấn, nghiên cứu thị trường, huấn luyện đào tạo và dịch vụ viễn thông. - Đẩy mạnh tốc độ cung cấp các dịch vụ hỗ trợ. - Đẩy mạnh tuyên truyền, giải thích, quảng bá về các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức những khóa đào tạo miễn phí, những buổi hội thảo về sự cần thiết, nội dung và lợi ích của việc sử dụng các dịch vụ hỗ trợ, một số dịch vụ nên được cung cấp miễn phí thời gian đầu của Nhà Nước. TÀI LIỆU THAM KHẢO Cục Thống Kê Tỉnh Đồng Tháp, “Niên giám thống kê 2011” Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB Thống Kê Lê Thị Diệu Hiền (2011), Phân tích thực trạng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ kinh doanh của các DN nhỏ lĩnh vực Thương mại- dịch vụ trên địa bàn Thành phố Cần Thơ Lê Tấn Lộc (2011) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các DN nhỏ trong lĩnh vực TM-DV trên địa bàn thành phố Cần Thơ Mai Văn Nam (2008), Giáo trình Nguyên lý thống kê kinh tế, NXB Văn Hóa Thông Tin Mai Văn Nam (2008), Kinh tế lượng ( Econometrics), NXB Văn Hóa Thông Tin. Nguyễn Văn Công (2009), Giáo trình phân tích kinh doanh, Nhà Xuất Bản Đại học Kinh tế Quốc Dân Nguyễn Quốc Nghi, Mai Văn Nam (2011), Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Cần Thơ Nguyễn Đức Trọng (2009), Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đồng bằng Sông Cửu Long Phạm Thị Kim Anh (2010), Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ thuộc lĩnh vực thương mại - dịch vụ trên địa bàn Thành phố Cần Thơ Võ Tuấn Ngọc (2008) ,Giải pháp phát triển các dịch vụ hỗ trợ các DN nhỏ thành phố Cần Thơ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfngoai_thuong5_nucuoido_blogspot_com__3409.pdf
Luận văn liên quan