Luận văn Phát triển HTX nông nghiệp kiểu mới trên địa bàn Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

Kinh tế hợp tác và HTX, trong đó có HTX nông nghiệp là vấn đề hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, đã được khẳng định trong nhiều Nghị quyết của Đảng, đã có Luật của Quốc hội và các Nghị định của Chính phủ. Phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã nông nghiệp là nhu cầu thực tế khách quan, đáp ứng đòi hỏi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kinh tế hợp tác và HTX là hình thức tổ chức kinh tế mang tính chất xã hội hóa, còn là nhân tố quan trọng để xây dựng công bằng, dân chủ, văn minh, giáo dục ý thức phát triển cộng đồng; HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế quan trọng để người lao động, hộ xã viên tiếp nhận sự hỗ trợ của nhà nước, liên kết với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, thực hiện liên minh công nông. Củng cố, đổi mới và phát triển HTX là phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó kinh tế tập thể cùng với kinh tế Nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

pdf106 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 05/09/2014 | Lượt xem: 1353 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Phát triển HTX nông nghiệp kiểu mới trên địa bàn Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
với hợp tác xã để kịp thời phát hiện, uốn nắn những sai sót, giúp hợp tác xã đi vào ổn định, phát triển. Ban quản trị HTX phải chủ động hoàn toàn trong sản xuất, kinh doanh và tự chịu trách nhiệm trong cơ chế thị trường, liên doanh, liên kết với các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế. Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban quản trị HTX, cần phân biệt rõ chức năng quản lý của Ban quản trị với chức năng điều hành của chủ nhiệm. Chủ nhiệm có thể là xã viên hoặc người ngoài HTX do Ban quản trị thuê. Điều lệ của hợp tác xã cần quy định rõ quyền của chủ nhiệm, của Ban quản trị và quyền của Đại hội xã viên trên cơ sở Luật HTX (2003) và Điều lệ mẫu HTX nông nghiệp để tránh sự bỏ trống hoặc chồng chéo chức năng quản lý, đồng thời đảm bảo nguyên tắc dân chủ của hợp tác xã. Ban kiểm soát HTX tăng cường hơn nữa việc kiểm tra giám sát hoạt động của Ban quản trị, chủ nhiệm HTX và xã viên theo đúng pháp luật và Điều lệ, nội quy hợp tác xã, nghị quyết của Đại hội xã viên. - Mở rộng hoạt động dịch vụ vật tư sản xuất đầu vào; sản phẩm đầu ra; tín dụng và tìm kiếm thị trường tạo thuận lợi cho kinh tế hộ phát triển. Từng HTX căn cứ vào khả năng, điều kiện mà xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh phù hợp. Tiếp tục hoàn thiện ngành nghề dịch vụ hiện có theo hướng cải tiến phương thức kinh doanh, thái độ phục vụ, bảo đảm chất lượng, giá cả hợp lý nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, phục vụ, hổ trợ ngày càng tốt hơn cho kinh tế hộ xã viên, đồng thời bảo đảm hiệu quả tài chính cho HTX. Các HTX cần rà soát lại định mức kinh tế, kỹ thuật cho sát thực tế,có cơ chế tổ chức và quản lý, hạch toán phân phối, thưởng phạt rõ ràng cụ thể và đề án trình đại hội xã viên tham gia ý kiến, quyết định. - Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng các dịch vụ phục vụ. Ngăn chặn và khắc phục tình trạng cuốc chải hệ thống giao thông, thuỷ lợi nội đồng làm ảnh hưởng tới sản xuất. Chú trọng đầu tư, mở rộng nội dung hoạt động của dịch vụ khuyến nông, dịch vụ tín dụng nội bộ, dịch vụ cung ứng giống; phát triển dịch vụ bảo hiểm cây trồng, dịch vụ thu mua và tiêu thụ nông sản phẩm, dịch vụ thu họach, chế biến nông sản, dịch vụ cung ứng hàng hóa, đồ tiêu dùng cho sinh hoạt hằng ngày. Chủ động liên hệ với các trung tâm và đơn vị sản xuất cây giống, con giống trong và ngoài tỉnh để chọn mua và đưa vào thử nghiệm một số giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng và năng suất cao. Tổ chức các mô hình trình diễn về giống mới, cải tạo vườn tạp và kỹ thuật canh tác tiên tiến để giúp xã viên đẩy nhanh việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, khai thác tiềm năng đất đai, lao động sẵn có, sản xuất có hiệu quả hơn. Khuyến khích mở rộng áp dụng sạ hàng, sạ thưa hợp lý. Đẩy mạnh tuyên truyền để xã viên hiểu và tự giác thực hiện chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), tổ chức các cuộc hội thảo để xã viên trao đổi kinh nghiệm sản xuất. Các HTX cần triệt để cải cách phương thức kinh doanh, tiết kiệm chi phí, phấn đấu hạ giá thành để có đủ ưu thế và năng lực cạnh tranh với các thành phần kinh tế. Đánh giá tiềm năng, khảo sát và tìm kiếm thị trường, đối tác mở ra những ngành nghề dịch vụ mới và phát triển các ngành nghề truyền thống của địa phương, tiến tới xây dựng làng nghề nhằm giải quyết việc làm, tìm đầu ra cho sản xuất và tăng thu nhập cho xã viên bằng nhiều hình thức như: liên doanh (kể cả liên doanh, liên kết giữa các HTX với nhau), làm đại lý, nhận ủy thác tiêu thụ vật tư, sản phẩm cho các doanh nghiệp trong gia công, sản xuất các mặt hàng, các sản phẩm mà hợp tác xã có khả năng đảm nhận; môi giới về việc làm và hợp đồng cung cấp lao động cho các đơn vị trong và ngoài tỉnh. Trong đó, đặc biệt quan tâm đến các vấn đề chế biến, tiêu thụ nông sản, hợp đồng cung ứng vật tư và giải quyết việc làm cho xã viên. Các cơ quan, các doanh nghiệp nhà nước phải thực sự hổ trợ thiết thực cho HTX, thông qua định hướng và cung cấp thông tin về thị trường và kỹ thuật; môi giới về hợp tác kinh tế, tạo điều kiện để hợp tác xã làm đại lý, sử dụng hợp tác xã làm vệ tinh cho mình trong các lĩnh vực hợp tác xã có khả năng. Thực hiện các chính sách thích hợp để khuyến khích thương mại tư nhân cùng các HTX trở thành mạng lưới đại lý tiêu thụ sản phẩm, cung ứng vật tư, hổ trợ tiêu dùng cho nông dân. Ưu tiên cho các HTX thi công các công trình xây dựng cơ bản của địa phương nếu HTX có năng lực đảm trách và có đăng ký kinh doanh về việc này; nhất là đối với các công trình xây dựng giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” để các HTX giải quyết được một số lao động nông nhàn và hơn nữa các hộ xã viên nông nghiệp thường khó khăn về mặt tài chính, mà phải huy động đóng góp để xây dựng các công trình này, trong khi đó họ không có việc làm là thật vô lý. Giải quyết được vấn đề này sẽ có tác dụng tốt trên hai mặt là: huy động phần đóng góp của nhân dân nhanh trên có sở giá trị ngày công quy ra tiền và giải quyết được việc làm cho xã viên. Các ngành chức năng của huyện, tỉnh hướng dẫn thủ tục và tạo điều kiện cho các HTX thuộc diện ưu đãi để được cấp chứng nhận ưu đãi đầu tư theo Nghị định số 51/CP, ngày 08/9/1999 của Chính Phủ. - Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi: Căn cứ vào điều kiện tự nhiên của Tuy Hòa, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi cần theo hướng phát triển ổn định lương thực, thực phẩm; đẩy mạnh diện tích cây công nghiệp dài ngày, tạo ra nhiều sản phẩm từ cây công nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản để đáp ứng nhu cầu của địa phương và tăng nhanh giá trị sản lượng hàng hóa phục vụ tiêu dùng và một phần xuất khẩu. Xúc tiến quy hoạch chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp theo vùng là: vùng trọng điểm lúa, vùng nuôi tôm xuất khẩu và vùng trồng cây công nghiệp. Các HTX nằm trong vùng nào thì căn cứ vào đó để tổ chức thực hiện. + Vùng phát triển cây lương thực: quy họach có trọng điểm vùng chuyên canh lúa có năng suất cao, chất lượng tốt, kết hợp trồng cây có chất bột, cây thực phẩm, cây rau màu phục vụ tiêu dùng nội địa và chăn nuôi gia súc, gia cầm, một phần cho xuất khẩu. Những diện tích ổn định, chất đất phù hợp với điều kiện sinh trưởng từng loại cây trồng, vùng này kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm, có chú ý mô hình trồng cỏ nuôi bò lai, bò sữa. Hướng lâu dài không nên mở rộng diện tích trồng lúa, nên chuyển một số diện tích có điều kiện sang trồng cây mía phục vụ nguyên liệu cho nhà máy đường Tuy Hòa. Xây dựng dự án điểm trình diễn mía cao sản ở nơi có đủ điều kiện về nước tưới và giao thông. Tính toán đối chứng giữa trồng lúa và trồng mía, có bảo hiểm đối với nông dân trên diện tích đó, nhằm mục tiêu giữ sự ổn định hoạt động của nhà máy đường và chuyển một số diện tích bấp bênh sang trồng cây khác có giá trị kinh tế cao. Tiếp tục xây dựng một số mô hình sản xuất thử nghiệm đạt giá trị sản xuất 50 triệu đồng/ha/năm, lãi từ 40% trở lên trên một số chân đất khác nhau theo hướng luân canh cây trồng và nhân rộng các mô hình đã nghiệm thu đạt hiệu quả. Chú trọng đến công tác thâm canh, tăng năng suất cây trồng, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới vào quá trình sản xuất, chọn những bộ giống thích hợp với điều kiện sinh thái, thổ nhưỡng của địa phương. Kiên quyết loại bỏ những giống sản xuất lâu nay bị thoái hóa. Khuyến cáo nông dân bố trí mùa vụ hợp lý, sạ thưa, sạ hàng, phòng trừ sâu bệnh, dịch hại… + Vùng nuôi tôm xuất khẩu: quy họach lại diện tích nuôi theo hướng nuôi công nghiệp. Trong vài năm gần đây, diện tích nuôi tôm xuất khẩu được mở rộng nhưng người nuôi không có lãi, nhiều hộ nuôi tôm bị thua lỗ. Có một số nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân hệ thống cấp thoát nước không hợp lý nên không đảm bảo vệ sinh môi trường vùng nuôi. Để khắc phục nguyên nhân này, cần phải lập lại trật tự vùng nuôi tôm. Tỉnh, huyện nên dành kinh phí thích đáng đầu tư quy hoạch lại toàn bộ hệ thống cấp, thoát nước. Trên cơ sở tổng diện tích hồ của các hộ trong vùng nuôi trừ cho diện tích được xây dựng hệ thống cấp thoát nước, diện tích còn lại sẽ tính toán giao lại cho các chủ hồ theo tỷ lệ tương ứng với diện tích đã có trừ cho diện tích bình quân một chủ hồ phải chịu để xây dựng hệ thống cấp thoát nước. Như vậy, mới tránh được sự tranh chấp của các chủ hồ có diện tích bị quy họach hệ thống cấp thoát nước đi qua, tạo sự công bằng đối với các chủ hồ nuôi. + Vùng trồng cây công nghiệp: vùng đất đỏ bazan Sơn Thành quy hoạch định hướng cây tiêu, cây mì cao sản, cây bắp lai, cây dứa, những cây phụ trợ như các loại: cây bông vải, dưa lấy hạt… Vùng đất màu phía Tây và Tây Nam Tuy Hòa: trồng cây mía, cây bông vải… Vùng trọng điểm ở các xã Sơn Thành, Hòa Mỹ Tây, Hòa Mỹ Đông, Hòa Thịnh, Hòa Xuân Tây và một số xã khác, vùng này kết hợp chăn nuôi bò lấy thịt. Vùng xã Hòa Phong trồng cây dâu tằm. Cần quy họach phát triển kinh tế trên đất soi ở các xã ven sông Đà Rằng, chủ yếu trồng cây công nghiệp, trồng rau màu cao cấp, trồng cỏ nuôi bò… 3.2.3. Liên kết với các thành phần kinh tế khác trong khâu thu họach và chế biến nông sản Thu họach, chế biến và tiêu thụ nông sản là khâu yếu nhất của các HTX nông nghiệp ở Tuy Hòa. Cho đến nay, vấn đề thu họach và chế biến nông sản hầu như chưa có HTX nào thực hiện được. Trong điều kiện hiện nay, các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò có tính quyết định đối với hai lĩnh vực này. Trong mối quan hệ đó, hợp tác xã phải đóng vai trò là người đại diện, là cầu nối giữa kinh tế nhà nước và kinh tế hộ. Thực hịên tốt hơn sự liên kết giữa các khâu sản xuất, thu họach, chế biến, tiêu thụ và giữa các thành phần kinh tế, tạo điều kiện để nông dân và HTX nông nghiệp mua cổ phần của doanh nghiệp, tham gia cổ phần ngay từ đầu với các doanh nghiệp. Mặt khác, hợp tác xã giúp doanh nghiệp mở rộng phạm vi hoạt động phục vụ trực tiếp, có hiệu quả đến nông dân, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ký hợp đồng với nông dân để chế biến và tiêu thụ nông sản. HTX phải liên kết với các đơn vị có tiềm lực hoặc tập hợp họ đứng vào thành viên của HTX để làm dịch vụ cho xã viên. Bỡi vì, thu hoạch và chế biến nông sản theo phương pháp tiên tiến sẽ làm tăng giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp cho nông dân. Và nếu nhìn từ gốc độ sử dụng lao động nông thôn thì đây cũng là công việc có ý nghĩa quan trọng. Đối với các HTX có đủ năng lực tài chính, năng lực quản lý, có quy mô sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cao thì khuyến khích HTX bỏ vốn hoặc liên kết với các thành phần kinh tế để mua máy móc thiết bị, tổ chức cơ sở chế biến tập trung hoặc gia công chế biến cho hộ gia đình. Nhà nước nên hỗ trợ,khuyến khích phát triển mạnh các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản và các ngành sử dụng nguyên liệu tại chỗ cần nhiều lao động để thu hút và thực hiện phân công lao động ngay trên địa bàn. 3.2.4. Đổi mới chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới 3.2.4.1. Chính sách xoá nợ đối với hợp tác xã nông nghiệp Thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều Nghị định về chính sách đối với HTX: hỗ trợ tài chính phục vụ công tác chuyển đổi HTX, các chế độ miễn giảm, khoanh nợ, xoá nợ đối vơí HTX Nông nghiệp. Nhưng trong thực tế còn nhiều vướng mắc, nhiều HTX chưa được xem xét xoá các khoản nợ của HTX nợ các doanh nghiệp, tổ chức nhà nước và thực tế HTX không có khả năng trả nợ. Thiết nghĩ, Chính phủ cần chỉ đạo các ngành Trung ương có liên quan phối hợp với UBND cấp tỉnh xem xét kĩ từng trường hợp để xoá nợ từ năm 1996 về trước cho các HTX nông nghiệp và có phương án giảm vốn hoặc cấp bù cho các chủ nợ của HTX. Các khoản nợ HTX đề nghị xoá phải được thuyết minh rõ và có ý kiến đề nghị của Đại hội xã viên và UBND huyện thẩm định. Sau khi được Nhà nước xoá nợ, HTX cần xem xét xoá nợ cho xã viên đối với những khoản nợ mà Nhà nước đã xoá cho HTX. Những khoản nợ khác mà xã viên nợ HTX sau khi phân loại nguồn gốc nợ, đối tượng nợ, HTX nên tổ chức lấy ý kiến của khu dân cư theo đúng Qui chế dân chủ ở cơ sở, trình ra Đại hội xã viên xem xét xoá nợ đối với các trường hợp người nợ đã chết và không có người thừa kế, những trường hợp người nợ thuộc diện quá nghèo không có khả năng trả nợ. 3.2.4.2 Chính sách đầu tư tài chính đối với kinh tế hợp tác xã nông nghiệp Vốn đầu tư cho HTX là vấn đề bức xúc nhất hiện nay. Hầu hết các HTX không vay được vốn của ngân hàng; vốn các chương trình dự án thì đi thẳng đến nông hộ. Ngân sách các cấp đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn chưa tương xứng và ngày càng giảm, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý; đầu tư cho HTX nông nghiệp rất hạn chế. Trước đây, ở khu vực nông thôn đang có hai loại lãi suất cho vay là cho vay ưu đãi và cho vay thương mại theo quy định của lãi suất của nhà nước. Cho vay theo lãi suất thương mại thông qua các Ngân hàng thương mại do Nhà nước quy định mức lãi trần. Đây là nguồn cho vay chính ở địa bàn nông thôn. Do chí phí cho vay khác nhau và sự cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng nên lãi suất cho vay thực tế ở địa bàn đô thị thường thấp hơn trần tối đa quy định. Trong khi mức lãi suất này lại không đủ bù đắp chi phí và mức lợi nhuận hợp lý khi cho vay trên địa bàn nông thôn. Vì vậy các tổ chức tín dụng chưa tích cực huy động vốn để cho vay ở địa bàn nông thôn làm cho nhu cầu vốn phát triển nông nghiệp chưa đáp ứng đủ, nhất là vốn cho vay trung hạn, dài hạn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nhiều hộ nông dân phải đi vay bằng nhiều cách, kể cả bán “sản phẩm non” vay nặng lãi để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Do đó, đồng thời với việc tiếp tục cho vay ưu đãi, Đảng và Nhà nước đã cho phép các tổ chức tín dụng hoạt động với nhiều hình thức đa dạng ở nông thôn với mức lãi suất thoả thuận và tạo thuận lợi về thủ tục cho vay đối với người sản xuất và các tổ chức ở nông thôn. Song trong thực tế còn nhiều bất cập, thủ tục vay vốn rườm rà, thiết nghĩ, Chính phủ nên có cơ chế bảo đảm tiền cho vay đối với các HTX nông nghiệp thông thoáng hơn. UBND các cấp cần ưu tiên trong chính sách hổ trợ đầu vào và đảm bảo đầu ra trong sản xuất nông nghiệp. Khuyến khích và có cơ chế bảo đảm tiền vay đối với các HTX và các doanh nghiệp liên kết trong việc tiêu thụ sản phẩm cho người dân. Cải cách thủ tục và có chính sách thích hợp khuyến khích các HTX vay vốn qua ngân hàng thương mại. Ngoài hình thức vay vốn tín chấp cho các hộ xã viên nông nghiệp của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngân hàng chính sách xã hội, các ngân hàng thương mại khác cần phải xây dựng các chính sách phù hợp để tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tạp thể, nhất là các HTX nông nghiệp trong việc mở rộng quy mô dịch vụ kinh doanh, đổi mới công nghệ, tìm kiếm, mở rộng thị trường…và nhất là các hoạt động đầu tư vào các dịch vụ công cộng phục vụ xã viên hợp tác xã và dân cư trong vùng. Khuyến khích các xã viên HTX tiếp tục góp vốn đề mở rộng sản xuất kinh doanh. Các HTX nộp ngân sách cho Cục thuế tỉnh, do vậy UBND tỉnh nên trích tỷ lệ phần trăm từ ngân sách Nhà nước tương ứng với 10% mức đóng góp vào GDP của khu vực kinh tế tập thể để hổ trợ phát triển kinh tế tập thể. Tích cực vận động và tìm các nguồn tài trợ từ các chương trình, dự án của Quốc gia, của các tổ chức phi Chính phủ để hổ trợ phát triển các HTX nông nghiệp. 3.2.4.3. Chính sách thuế Việc miễn, giảm thuế sẽ góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống và có điều kiện để hộ xã viên, nông dân tích luỹ mở rộng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển ngành nghề dịch vụ. Trong thời gian quan, Đảng và Nhà nước đã thực hiện miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp cho các xã nghèo, miễn giảm theo Luật đối với các trường hợp bị thiên tai và đã giảm 50% thuế sử dụng đất nông nghiệp trong trường hợp giá nông sản xuống thấp hơn giá thành như lúa, cà phê. Mấy năm gần đây, Nhà nước đã thực hiện miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong hạn điền đến năm 2010 cho hộ nông dân, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong một thời gian nhất định đối với các HTX nông nghiệp thành lập mới. Mặc dù Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 15/CP về chính sách khuyến khích phát triển HTX song thuế thu nhập doanh nghiệp đối với HTX với mức thuế suất 28% là quá cao (trước năm 2004 là 32%), không khuyến khích và không tạo điều kiện cho hợp tác xã phát triển. Hơn nữa, hoạt động dịch vụ của HTX không phải hoàn toàn vì mục tiêu lợi nhuận, mà chủ yếu nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế hộ xã viên, hợp tác xã chỉ thu phí để trang trải các khoản chi dịch vụ và một phần để lập quỹ chuyên dùng. Chính vì thế, Chính phủ nên miễn thuế cho các hoạt động dịch vụ của hợp tác xã nông nghiệp. 3.2.4.4. Chính sách ruộng đất Khuyến khích và tạo điều kiện cho hộ nông dân “dồn điền, đổi thửa” trên nguyên tắc tự nguyện, tự thoả thuận, các bên cùng có lợi; kết quả tổ chức quy hoạch lại đồng ruộng, tập trung ruộng đất để sản xuất nông nghiệp hàng hóa, mở mang ngành nghề theo chủ trương của chính Phủ. Nhà nước thực hiện giao đất không thu tiền và đẩy mạnh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các HTX nông nghiệp. Các HTX phi nông nghiệp được tạo điều kiện thuận lợi nhất khi thuê đất để tạo lập mặt bằng sản xuất kinh doanh. Thời gian thuê đất, miễn giảm tiền thuê đất được áp dụng theo khung dài nhất theo khung quy định của Chính Phủ với điều kiện ràng buộc thấp nhất.Tỉnh cần xem xét miễn tiền thuê đất trong suốt thời gian thực hiện dự án đối với các HTX phi nông nghiệp sản xuất kinh doanh trong các ngành nghề mà tỉnh khuyến khích đầu tư. Ưu tiên cho các HTX, hộ xã viên thuê đất trong các cụm điểm công nghiệp do huyện quản lý để làm mặt bằng sản xuất kinh doanh. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo quy họach và chuyển nhượng sử dụng đất theo quy định của pháp luật. 3.2.4.5. Chính sách khuyến nông, khoa học và công nghệ Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp đối với địa bàn có diện tích đất sản xuất nông nghiệp khá lớn như Tuy Hòa rất quan trọng; là chìa khóa để mở mang, phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Hàng năm; UBND huyện, xã trên địa bàn cần bố trí kinh phí thích đáng trong chương trình khuyến nông nói riêng và trong nguồn vốn sự nghiệp kinh tế dành cho nông nghiệp. Hội đồng khoa học và công nghệ huyện, Phòng Kinh tế cần thông báo rộng rãi cho các tổ chức, cá nhân trong huyện đăng ký đề tài, dự án ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp theo định hướng của Hội đồng khoa học và công nghệ huyện để Hội đồng khoa học và công nghệ xem xét, tuyển chọn cho thực hiện. Trong điều kiện nguồn kinh phí có hạn, UBND huyện nên vận động huy động nguồn lực tổng hợp từ các xã, HTX, các tổ chức, cá nhân cùng tham gia. Hiện nay, trong cơ cấu chi ngân sách cấp huyện tại tỉnh Phú Yên, nguồn chi cho sự nghiệp khoa học và công nghệ không được bố trí, mà do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh trực tiếp quản lý; chỉ trong vài năm gần đây, hàng năm Sở khoa học và công nghệ tỉnh mới “rót” cho mỗi huyện từ 50- 60 triệu đồng/năm để chi cho sự nghiệp khoa học và công nghệ, điều này rất khó khăn cho cấp huyện trong việc thực hiện công tác này. Vấn đề này, UBND tỉnh nên chỉ đạo Sở Khoa học và Công nghệ có sự phân bổ cho cấp huyện hợp lý hơn và chỉ đạo Sở Tài chính- Vật giá kiểm tra việc thực hiện của Sở Khoa học và Công nghệ. Hoặc chỉ đạo Sở Tài chính- Vật giá, Sở Kế họach và Đầu tư hàng năm khi cùng với huyện thảo luận về dự toán chi ngân sách cấp huyện phải bố trí nguồn chi sự nghiệp khoa học và công nghệ cho cấp huyện theo đúng tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII); cho sự nghiệp khoa học và công nghệ 2% trong tổng chi thường xuyên của ngân sách; đảm bảo cho cấp huyện được chủ động và phát huy được sự sáng tạo ở cơ sở. Khuyến khích phát triển câu lạc bộ khuyến nông của các HTX nông nghiệp đồng thời với việc củng cố lại các câu lạc bộ khuyến nông đã có để làm nòng cốt trong việc cung cấp thông tin, tư vấn cho xã viên trong việc lựa chọn áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ, lựa chọn áp dụng các mô hình sản xuất thử nghiệm đạt hiệu quả trên địa bàn vào quá trình sản xuất nông nghiệp của hộ xã viên. Tăng cường hoạt động của các Trạm khuyến nông trong việc hướng dẫn, phổ biến sử dụng phương pháp canh tác tiên tiến đến các hộ xã viên thông qua HTX nông nghiệp. UBND Tỉnh cùng Sở Nội vụ Tỉnh cần xem xét bố trí biên chế cán bộ khoa học và công nghệ ở cấp huyện trong phòng kinh tế huyện ít nhất từ 1- 2 biên chế. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Phú Yên hầu như không có huyện nào có cán bộ chuyên trách về khoa học và công nghệ. Đồng thời, UBND tỉnh nên chỉ đạo, khuyến khích và tạo điều kiện cho các cơ quan nghiên cứu khoa học của tỉnh liên kết với các HTX nông nghiệp trong việc ứng dụng chuyển giao công nghệ, triển khai các công trình nghiên cứu tiên tiến hay nghiên cứu theo đơn đặt hàng của các hợp tác xã. 3.2.4.6. Chính sách thị trường Tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn thông tin từ các cơ quan chức năng của Trung ương, Tỉnh; thông tin kịp thời đến các chủ thể sản xuất nông nghiệp để họ có điều kiện tính toán kỹ hiệu quả trước khi quyết định phương án đầu tư tổ chức sản xuất. Đặc biệt, trong cơ chế thị trường, vấn đề thị trường “đầu ra” đối với các sản phẩm nông nghiệp là hết sức quan trọng; vì HTX nông nghiệp và nông dân là những chủ thể rất khó khăn về tài chính, một khi họ không nắm chắc và không nhanh chạy với sự biến động của giá cả thị trường thì thất bại là điều khó tránh khỏi. Hằng năm, Tỉnh nên ưu tiên xét duyệt bố trí kinh phí cho hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, xây dụng thương hiệu từ quỹ xúc tiến thương mại của Tỉnh. Khuyến khích các HTX liên kết trong việc xây dựng thương hiệu, tìm kiếm và mở rộng thị trường. Mở rộng các hình thức liên kết với các loại hình doanh nghiệp khác trong việc cung ứng nguyên liệu, vật tư đầu vào, tiêu thụ sản phẩm đầu ra, tham gia vào một công đoạn trong quy trình sản xuất của doanh nghiệp… thông qua các hình thức như ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm, các hợp đồng gia công và đặc biệt là góp vốn mua cổ phần của doanh nghiệp. Phát triển mạng lưới chợ nông thôn đồng thời với việc quy họach sắp xếp lại các chợ hiện có trên địa bàn. Nhanh chóng hoàn thành thủ tục để xây dựng chợ nông sản tại xã Hòa Bình 2 để thu hút sự liên kết, trao đổi, mua bán từ các huyện trong tỉnh và các tỉnh Tây nguyên đến, tạo điều kiện thuận lợi cho các HTX nông nghiệp trên địa bàn trong giải quyết thị trường “đầu ra”, từ đó mới khuyến khích các HTX nhân rộng được các mô hình sản xuất đạt hiệu quả cao. 3.2.4.7. Chính sách đào tạo, sử dụng cán bộ hợp tác xã và đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp Cán bộ là gốc của mọi công việc, không có cán bộ tốt thì không có phong trào tốt. Phong trào kinh tế hợp tác, hợp tác xã cũng vậy, nhất là trong cơ chế thị trường đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực quản lý, có bản lĩnh chính trị. Trình độ của cán bộ Hợp tác xã nông nghiệp còn thấp so với yêu cầu, số chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ khá lớn. Hầu hết không có kiến thức ngoại ngữ và tin học. Trong một thời gian dài, Nhà nước chưa quan tâm chú trọng đúng mức đến việc đào tạo cán bộ cho Hợp tác xã nông nghiệp. Vì vậy, hiện nay Nhà nước cần có cơ chế chính sách tạo điều kiện cho việc đào tạo cán bộ như: đầu tư mở trường dạy nghề, trường quản lý chuyên môn cho các HTX, tiến đến là tiêu chuẩn hóa một số cán bộ chủ chốt của HTX nông nghiệp;cần đưa một số cán bộ có chuyên môn kỹ thuật nông nghiệp (đã tốt nghiệp ở các Trường Trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học) về cơ sở, hợp tác xã trực tiếp sản xuất, quản lý và hướng dẫn cho nông dân. Kinh nghiệm của một số nơi cho thấy, các HTX nông nghiệp chỉ thành công khi nào có đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu bức xúc của xã viên, đồng thời có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp trong công việc xây dựng chương trình đào tạo cán bộ quán lý đáp ứng nhu cầu chuyển đổi, củng cố và phát triển mới HTX. Thực tế trên địa bàn Tuy Hòa trong thời gian qua cho phép khẳng định: những HTX làm ăn có hiệu quả đều có đội ngũ cán bộ được đào tạo, có trình độ chuyên môn, kỹ thuật; nhiệt tình năng động, nhạy bén và thích ứng với cơ chế thị trường, làm nhiều việc hổ trợ kinh tế hộ xã viên phát triển, được xã viên tín nhiệm. Ở HTX yếu kém phần lớn cán bộ không có năng lực, có nơi cán bộ thiếu nhiệt tình. Vì vậy cán bộ là nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của HTX. Cán bộ HTX phải được bồi dưỡng, đào tạo lại và đào tạo có hệ thống, bảo đảm đủ phẩm chất và năng lực để xây dựng HTX. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của Tuy Hòa trong điều kiện hiện nay, việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý HTX nông nghiệp là một đòi hỏi bức xúc, là động lực thúc đẩy sự đổi mới tổ chức quản lý hợp tác xã, là một nhân tố đảm bảo sự thành công của HTX khi đi vào hoạt động. Tuy Hòa cần khắc phục ngay tình trạng yếu kém về năng lực của cán bộ HTX nông nghiệp trên địa bàn. Các HTX cần dành kinh phí và bố trí thời gian để cán bộ HTX theo học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ quản lý, kỹ thuật tại các trường chuyên nghiệp và các lớp tập huấn, bồi dưỡng ngắn ngày do các cấp mở. Về lâu dài, các cấp ủy Đảng phải có quy họach đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX, tạo nguồn cán bộ dự bị. Các HTX nông nghiệp nên xem xét và thực hiện chế độ đào tạo nhân lực thay thế trong số con em của xã viên, bằng cách dùng một phần quỹ phát triển sản xuất để phụ cấp hoặc cho vay không tính lãi để giúp người đi học trang trải chi phí học tập với cam kết sau khi tốt nghiệp về làm việc cho HTX. Trong một năm tới, vì chưa đáp ứng được các yêu cầu về đào tạo cơ bản, do vậy Tuy Hòa cần “tự lực cánh sinh” bằng cách mở lớp tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ kiểm soát của các HTX nông nghiệp đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ giám sát hoạt động của Ban quản trị và Chủ nhiệm HTX. Bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán cho kế toán một số HTX còn hạn chế về năng lực. Tỉnh, huyện cần quan tâm có chính sách thu hút cán bộ quản lý và khoa học-kỹ thuật về công tác tại HTX nông nghiệp. Thực hiện tốt chính sách cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX): “cán bộ quản lý, khoa học- kỹ thuật được tăng cường về công tác ở HTX trong một thời gian nhất định được giữ nguyên lương và chế độ bảo hiểm xã hội, lương và 15% bảo hiểm xã hội nói trên do ngân sách Nhà nước cấp, được hưởng phụ cấp gắn với hiệu quả sản xuất- kinh doanh của hợp tác xã” [12, tr. 33, 34]. Đối với các cơ sở đào tạo cán bộ HTX; Chính Phủ, Tỉnh nên tiếp tục chỉ đạo các cơ sở này thực hiện đầy đủ việc giảm 50% học phí cho cán bộ HTX được cử đi đào tạo thuộc hệ thống đào tạo của nhà nước,của Liên minh HTX Việt Nam. Tại tỉnh Phú Yên, các lớp bồi dưỡng ngắn ngày do tỉnh mở cũng mới chỉ thực hiện việc giảm 50% học phí đối với một số HTX có nhiều khó khăn. Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước nên miễn toàn bộ học phí đào tạo cho cán bộ chủ chốt của HTX nông nghiệp gồm 3 chức danh: Chủ nhiệm, Trưởng Ban kiểm soát và Kế toán trưởng. Công tác đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp đối với Tuy Hoà lâu nay coi như “bỏ ngõ”. Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo rất cao. Thời gian đến cần coi trọng đúng mức công tác đào tạo nghề cho lao động, phấn đấu đến năm 2010 có 40% số lao động được qua đào tạo. Trong đó, đặc biệt chú ý đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp. UBND từng huyện của địa bàn Tuy Hoà cần xúc tiến nhanh việc thành lập Trung tâm dạy nghề của huyện để đào tạo, bồi dưỡng nghề cho người lao động, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. UBND tỉnh nên xem xét bổ sung biên chế cho cấp huyện để hình thành bộ phận quản lý HTX trong phòng kinh tế huyện ít nhất 02 biên chế. Số biên chế này là cán bộ chuyên trách để theo dõi, tham mưu UBND huyện quản lý nhà nước đối với tất cả các loại hình HTX, tham mưu công tác đổi mới phát triền kinh tế tập thể trên địa bàn. Việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp đòi hỏi các HTX phải chủ động thiết lập, tăng cường mối liên kết giữa HTX nông nghiệp với các HTX khác và các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước. Mặc khác rất cần sự hỗ trợ từ phía Nhà nước thông qua các cơ chế, chính sách thúc đẩy hình thành các mối liên kết đó. 3.2.5. Tăng cường hệ thống tổ chức quản lý nhà nước đối với kinh tế hợp tác xã nông nghiệp Trên thực tế, đến nay vẫn chưa hình thành bộ máy quản lý, chỉ đạo đổi mới HTX nông nghiệp từ Trung ương đến huyện đã ảnh hưởng không tốt đến việc củng cố, đổi mới HTX nông nghiệp. Những vấn đề mới này sinh trong hoạt động của HTX chưa được giải quyết kịp thời. Ở cấp huyện, trước đây nhiệm vụ theo dõi quản lý các HTX nông nghiệp, HTX khai thác đánh bắt thuỷ sản được giao cho phòng nông nghịêp và phát triển nông thôn; các HTX tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải được giao cho phòng công thương. Ngày 29/9/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số: 172/NĐ- CP về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh trong đó: Phòng kinh tế là cơ quan chuyên môn giúp UBND huyện quản lý nhà nước về các lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ sản, công nghiệp- TTCN, thương mại, du lịch, khoa học và công nghệ, thì phòng kinh tế thực hiện nhiệm vụ theo dõi, quản lý các loại hình HTX, nhưng không có cán bộ chuyên trách. Do đó; cần phải tập trung kiện toàn bộ máy quản lý chuyên trách thực hiện nhiệm vụ, quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tập thể tại các cấp theo Chỉ thị số 22/2003/CT-TTg ngày 03/10/2003 của Thủ tướng Chính phủ và các quy định liên quan. Thực hiện đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế tập thế. Trung ương, tỉnh cần xem xét khi giao chỉ tiêu biên chế hành chính của cấp huyện ít nhất phải giao từ 2- 3 biên chế mới đủ sức thực hiện nhiệm vụ tổ chức quản lý kinh tế hợp tác, HTX. Trong từng bộ, sở, ngành có liên quan, tuỳ theo yêu cầu nhiệm vụ nên có bộ phận hoặc cán bộ chuyên trách giúp lãnh đạo quản lý, chỉ đạo đổi mới HTX. Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, cần tăng cường nhân lực cho phòng chính sách của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn để đủ năng lực giúp HTX nông nghiệp về thông tin, định hướng sản xuất, thị trường tiêu thụ,kinh nghiệm làm ăn… 3.2.6. Xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa tổ chức Đảng, chính quyền và hợp tác xã trên từng địa bàn HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế tự nguyện của nông dân, quyền quyết định cao nhất của HTX là Đại hội xã viên. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo định hướng XHXN trong nền kinh tế thị trường ở nước ta là: “Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chỉ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân” [13, tr.77]. Cho nên việc phát triển kinh tế hợp tác, đổi mới HTX cũng phải được quán triệt theo đúng định hướng trên. Chính vì vậy, các tổ chức kinh tế hợp tác, HTX phải chịu sự lãnh đạo của Đảng và quản lý giúp đỡ của chính quyền. Đảng lãnh đạo HTX thông qua đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng và vai trò gương mẫu của đảng viên. Chính quyền các cấp phổ biến và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về HTX; xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển HTX, tổ chức đăng ký kinh doanh, hướng dẫn việc đăng ký kinh doanh đối với HTX, liên hiệp HTX; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý và các kiến thức cần thiết cho xã viên HTX; thực hiện thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật của HTX theo quy định của Luật HTX. Đối với HTX, xác định mục tiêu kinh tế là hàng đầu; nhưng không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế mà còn vì các mục tiêu xã hội, dựa vào tập thể mà tạo được sức mạnh trong sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm, giúp nhau làm giàu chính đáng, đi đôi với việc xóa đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy các tiến bộ xã hội và thực hiện các chính sách xã hội trên địa bàn. Tuy nhiên, không thể biến HTX nông nghiệp thành tổ chức xã hội làm thay nhiệm vụ của hệ thống chính trị ở địa phương. Tuỳ thuộc vào đặc điểm và tình hình của từng xã, từng huyện mà lựa chọn phương pháp tiến hành cho phù hợp nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa tổ chức đảng, chính quyền và HTX, tạo điều kiện thuận lợi cho HTX phát triển. 3.2.7.Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và các tổ chức đoàn thể quần chúng đối với HTX nông nghiệp Các cấp ủy, và tổ chức đảng cần nâng cao trách nhiệm trong việc quán triệt, tổ chức triển khai đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế hợp tác, HTX cho đảng viên và quần chúng; xây dựng chương trình hành động tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế HTX nông nghiệp nhằm đưa Nghị quyết về HTX nông nghiệp vào cuộc sống. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho toàn đảng bộ và nhân dân nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của kinh tế hợp tác, HTX trong nền kinh tế thị trường. Thường xuyên kiểm tra, sơ tổng kết, nhân rộng mô hình kinh tế tập thể làm ăn có hiệu quả. Sớm có hướng dẫn để hình thành được tổ chức Đảng và các đoàn thể nhân dân trong các HTX nông nghiệp theo đúng Luật HTX mới và Qui định số 164 QĐ/TW, ngày 15/4/2006 của Ban chấp hành Trung ương Đảng qui định về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong HTX, liên hiệp HTX. Phát triển mạnh các tổ chức công đoàn ngoài quốc doanh, đặc biệt là trong HTX nông nghiệp. Mặt trận và các tổ chức thành viên của mặt trận các cấp trong phạm vi chức năng của mình, đẩy mạnh việc tham gia giúp đỡ HTX, góp ý xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, nội dung hoạt động. Tuyên truyền phổ biến về Luật và Điều lệ HTX bằng các hình thức như thông qua hệ thống phát thanh, truyền thanh hoặc tổ chức lồng ghép vào các chương trình khác; vận động giáo dục nhân dân tham gia xây dựng, phát triển HTX và phát huy vai trò làm chủ trong HTX; tham gia với các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng chính sách và giám sát thi hành pháp luật về HTX; động viên thành viên của mình gương mẫu đi đầu trong xây dựng HTX nông nghiệp kiểu mới. Kết luận chương 3 Phát triển HTX nông nghiệp kiểu mới là xu hướng có tính quy luật trong nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Phát triển HTX nông nghiệp kiểu mới không đơn giản là tăng số lượng mà phải là chất lượng, hiệu quả hoạt động của các HTX. Do vậy, phương hướng phát triển HTX nông nghiệp kiểu mới ở Tuy Hòa phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ. HTX nông nghiệp kiểu mới phải theo hướng kinh doanh tổng hợp, kết hợp với chuyên môn hóa theo vùng, ngành; hoạt động ngày càng gắn kết với các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế nhà nước. Tiến trình thực hiện củng cố và phát triển HTX nông nghiệp, một mặt phải chú ý thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển ngành nghề phi nông nghiệp trong HTX nông nghiệp và trong nông thôn. Mặt khác, phải thực hiện tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp, các chủ thể kinh tế về vị trí, vai trò, tính tất yếu khách quan phải phát triển HTX nông nghiệp kiểu mới trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, phát triển đa dạng mô hình tổ chức và hoạt động của HTX nông nghiệp phù hợp với tình hình thực tế; từng bước mở rộng liên kết với các thành phần kinh tế trong dịch vụ tổng hợp phục vụ cho sản xuất kinh doanh nông nghiệp; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng kịp thời nhu cầu mở rộng kinh doanh của HTX nông nghiệp; đồng thời phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự phối hợp của mặt trận và các đoàn thể nhân dân nhằm tạo môi trường pháp lý, kinh tế, cơ chế chính sách, tâm lý- xã hội cho HTX; kịp thời tổng kết thực tiễn quá trình phát triển HTX nông nghiệp kiểu mới để nêu gương, nhân điển hình và phát triển các mô hình phù hợp để giúp đỡ và tạo điều kiện cho HTX nông nghiệp trên địa bàn phát triển. KẾT LUẬN Kinh tế hợp tác và HTX, trong đó có HTX nông nghiệp là vấn đề hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, đã được khẳng định trong nhiều Nghị quyết của Đảng, đã có Luật của Quốc hội và các Nghị định của Chính phủ. Phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã nông nghiệp là nhu cầu thực tế khách quan, đáp ứng đòi hỏi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kinh tế hợp tác và HTX là hình thức tổ chức kinh tế mang tính chất xã hội hóa, còn là nhân tố quan trọng để xây dựng công bằng, dân chủ, văn minh, giáo dục ý thức phát triển cộng đồng; HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế quan trọng để người lao động, hộ xã viên tiếp nhận sự hỗ trợ của nhà nước, liên kết với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, thực hiện liên minh công nông. Củng cố, đổi mới và phát triển HTX là phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó kinh tế tập thể cùng với kinh tế Nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Thực tế ở nước ta, nhất là ở lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nông thôn, với quá trình phát triển kinh tế hàng hoá, nông dân ngày càng có nhu cầu phát triển kinh tế hợp tác từ thấp đến cao, từ các tổ hợp tác đến hợp tác xã làm dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình và trang trại. Đặc biệt ở nơi xí nghiệp chế biến nông sản, nông dân ngày càng có nhu cầu tổ chức HTX để tạo thuận lợi cho việc hợp đồng cung ứng nông sản cho doanh nghiệp và tiếp nhận sự hỗ trợ, giúp đỡ của doanh nghiệp về vốn và kỷ thuật. Đến nay đã có hàng nghìn HTX ra đời tự nguyện. Điều đó cho thấy nhu cầu phát triển các hình thức kinh tế hợp tác đã thực sự phố biến và bức xúc; trong đó nhu cầu và điều kiện phát triển HTX ngày càng chín muồi ở nhiều nơi. Có cơ sở dự báo rằng cùng với đà phát triển kinh tế hàng hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, mức độ cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường sẽ gay gắt hơn, nhu cầu phát triển kinh tế hợp tác và HTX ngày càng trở nên bức xúc, cấp thiết đối với những hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do đó, chúng ta cần nhận rõ nhu cầu tất yếu khách quan đó để chủ động tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ cho kinh tế hợp tác và HTX nói chung, đặc biệt là HTX nông nghiệp tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động trong nền kinh tế quốc dân. Nếu thoả mãn với những thành tựu, không thấy hết những khó khăn mới, những mâu thuẫn mới, hạn chế của kinh tế trong bước đường đi lên, không kịp tạo điều kiện và giúp đỡ kinh tế hợp tác và cho HTX phát triển, chúng ta sẽ không đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Kinh tế nông nghiệp và nông thôn thôn ở Tuy Hoà đang tiếp tục phát triển, trong đó có sự phát triển kinh tế hộ, trang trại và HTX nông nghiệp ngày càng giữ vai trò quan trọng, đã và đang trở thành chỗ dựa cho các xã viên; tạo động lực lớn để huy động, khai thác các nguồn lực đất đai, lao động, hình thành quan hệ sản xuất mới trong kinh tế nông nghiệp hiện nay. Đến nay, ngoài số HTX cũ chuyển đổi có hiệu quả, đã có hàng trăm tổ hợp tác với nhiều tên gọi khác nhau và hàng chục HTX ra đời một cách tự nguyện. Tuy nhiên các HTX nông nghiệp của Tuy Hoà vẫn còn nhiều yếu kém. Đáng chú ý là quyền lợi của xã viên chưa cao; năng lực, trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt của HTX còn yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; số HTX trung bình và yếu kém còn nhiều, qui mô sản xuất nhỏ bé; mô hình và phương thức hoạt động sau khi chuyển đổi còn lúng túng; vị thế của kinh tế hợp tác và HTX nông nghiệp chưa đủ sức cùng kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng trong “nền” kinh tế của Tuy Hoà. Từ đó; nhiệm vụ đặt ra cho Tuy Hoà là phải tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể đến năm 2010, trước hết yêu cầu cấp bách là cần tiếp tục củng cố, đổi mới phương thức hoạt động của HTX nông nghiệp nhằm tạo ra các nguồn lực mới để HTX phát triển, làm cho các HTX nông nghiệp thực sự có sức sống mới; khắc phục được những hạn chế hiện nay. Đồng thời khuyến khích phát triển HTX nông nghiệp kiểu mới theo hướng kinh doanh tổng hợp, kết hợp với chuyên môn hoá theo vùng, ngành. Để thúc đẩy qúa trình phát triển đó cần phải thực hiện đồng bộ nhiều vấn đề có liên quan, trong đó Nhà nước đóng vai trò “bà đỡ” cho các HTX. Đây là công việc khó khăn, phức tạp đòi hỏi thời gian dài- đủ để tổng kết rút kinh nghiệm. Tuy nhiên, phương hướng và giải pháp phát triển HTX nông nghiệp kiểu mới ở Tuy Hoà được nêu trên mới chỉ là sự tự hoàn thiện chính mình, là sự khắc phục các nhược điểm chủ quan của HTX. Để tạo ra những điều kiện, môi trường khách quan thuận lợi giúp các HTX nông nghiệp phát triển, đề nghị Trung ương, tỉnh quan tâm giải quyết một số vấn đề sau: - Chính phủ tiếp tục thể chế hoá các quan điểm chủ trương, chính sách của Đảng về kinh tế tập thể. Đôn đốc việc thực hiện các chính sách đã ban hành; kịp thời bổ sung, sửa đổi một số chính sách chưa phù hợp trong qua trình triển khai đối với kinh tế hợp với HTX. - Chính phủ cần sớm ban hành chính sách cán bộ và đào tạo nguồn nhân lực. Đây là chính sách rất quan trọng, quyết định sự thành công của quả trình phát triển kinh tế tập thể. Trước mắt Trung ương, tỉnh, huyện cần triển khai xây dựng và thực hiện đề án tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý HTX giai đoạn 2006-2010 và tiến tới tiêu chuẩn hoá trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý HTX, đặc biệt là các chúc danh chủ chốt: chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, trưởng ban kiểm soát và kế toán trưởng HTX theo hướng phải có trình độ đào tạo ít nhất là trung học chuyên nghiệp và thực hiện miễn toàn bộ phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX đối với 3 chức danh chủ chốt của HTX nông nghiệp: chủ nhiệm, trưởng ban kiểm soát, kế toán trưởng. - Sớm đưa nội dung phát triển kinh tế tập thể vào giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. - Chính phủ, Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan ban hành qui định, cơ chế tài chính và Điều lệ mẫu Quĩ hỗ trợ phát triển HTX và hỗ trợ ngân sách Trung ương để tỉnh lập quỹ này. Kiến nghị UBND tỉnh sớm hình thành quỹ này. -Trung ương xem xét giảm thuế suất thu nhập doanh nghiệp cho HTX và ban hành cơ chế bảo đảm tiền vay đối với các HTX, tạo điểu kiện thuận lợi để HTX được vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. -Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu hướng dẫn bổ sung Thông tư liên tịch số 48 về qui định chế độ quản lý tài chính đối với HTX nông nghiệp về việc phân phối theo công sức đóng góp và mức độ sử dụng dịch vụ phù hợp Luật HTX hiện hành. Đối với cán bộ quản lý HTX cần quy định tỷ lệ mức thù lao phù hợp theo trình độ được đào tạo tham gia vào quản lý HTX. - Bổ sung vào Luật HTX và Điều lệ mẫu HTX nông nghiệp biện pháp chế tài có tính khả thi đối với trường hợp xã viên cố tình chiếm dụng vốn của HTX. Tiếp tục xem xét xoá nợ cho các HTX nông nghiệp nợ các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước từ năm 1996 về trước. -Trung ương, tỉnh tăng cường thông tin, hướng dẫn, tổ chức học tập các mô hình hoạt động có hiệu quả của cả nước để huyện, xã học tập có điều kiện phát triển theo mô hình mới. Giới thiệu và giúp đỡ hợp tác phát triển khu vực kinh tế tập thể với các địa phương khác trong nước và quốc tế. Các doanh nghiệp, các cơ quan của Trung ương, của tỉnh đóng trên địa bàn Tuy Hoà, tạo điều kiện hỗ trợ để HTX nhận gia công, làm vệ tinh hoặc đại lý cho doanh nghiệp trong các lĩnh vực mà HTX có khả năng, giúp đỡ HTX trong việc thong tin về thị trường, hướng dẫn về kỷ thuật và đào tạo nghề cho lao động. Chính phủ có cơ chế điều hành hữu hiệu chính sách bình ổn gía nông sản để xã viên HTX nông nghiệp và nông dân bớt thua lỗ do tình trạng nông sản bi rớt giá. - UBND cấp huyện chỉ đạo HTX xây dựng kế hoạch và có biện pháp để giải quyết dứt điểm nợ tồn đọng trong HTX, nhất là khoản nợ phải thu khó đòi và nợ phải trả chưa xử lý từ năm 1996 về trước. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (24/5/1996), Chỉ thị số 68-CT/TW, về việc phát triển kinh tế hợp tác trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế. 2. Ban chấp hành Trung ương Đảng (15/4/2006), Qui định số 164-QĐ/TW, qui định chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, (gọi chung là hợp tác xã). 3. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật bản –JICA. (2000), Giới thiệu kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp Nhật bản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 4. Phạm Thị Cần, Vũ Văn Phúc, Nguyễn Văn Kỷ (2003), Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở nước ta hiện nay, sách tham khảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 5. Lê Thị Minh Châu (2003), “Nghị về định hướng và giải pháp phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã trong lĩnh vực thương mại đến năm 2010”, Thương mại, (số 13) tr. 2- 3. 6. Chính phủ (02/01/1997) Nghị định số 02, về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước của các Bộ, cơ quan, ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. 7. Chính phủ (21/02/1997) Nghị định số 15, về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã. 8. Chính phủ (21/02/1997) Nghị định số 16, về chuyển đổi, đăng ký hợp tác xã và tổ chức hoạt động của liên hiệp hợp tác xã. 9. Chính phủ (08/7/1999) Nghị định số 51, qui định chi tiết thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) và Nghị định số 35 ngày 29/3/2002, sửa đổi bổ sung danh mục, A,B,C ban hành tại phụ lục kèm theo Nghị định số 51/CP. 10. Trần Ngọc Dũng (2003), “Vai trò của pháp luật với sự phát triển của hợp tác xã” Tạp chí luật học (số 01), tr. 9- 12. 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ương khoá IX (lưu hành nội bộ), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 14. Đảng cộng sản Việt Nam với phòng trào hợp tác xã (2004), tập 1, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội. 15. Đảng cộng sản Việt Nam với phòng trào hợp tác xã (2005) tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Nguyễn Đạt (2002), Nâng cao chất lượng, hiệu quả đổi mới các hợp tác xã nông nghiệp ở Quảng Ninh, Tư tưởng văn hoá (số 5), tr. 43- 46. 17. Hà Đăng (2004), Đi lên từ sản xuất nhỏ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 18. Nguyễn Thanh Hà (2000), Kinh tế hợp tác trong nên kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 19. Mai Công Hoà (29/01/2002), “Thực trạng và xu hướng phát triển các mô hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã ở nước ta hiện nay”, Báo nhân dân, tr. 2. 20. Huyện uỷ Đông Hoà và Huyện uỷ Tây Hoà (2005), Báo cáo chính trị trình đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ IX (nhiệm kỳ 2006- 2010). 21. Huyện uỷ Tuy Hoà (2001): Báo cáo tổng kết 5 năm kinh tế hợp tác hợp tác xã (1996- 2001); Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2000- 2005). 22. Luật hợp tác xã (năm 2003) Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (2004). 23. Vũ Văn Phúc (2002), “Quá trình phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghịêp ở nước ta”, Kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương, số 5 (40), tr. 3- 11. 24. Vũ Văn Phúc (2002), “Về chế độ kinh tế hợp tác ở nước ta”, Lý luận chính trị (số 1), tr. 26- 29. 25. Lương Xuân Quỳ, Nguyễn Thế Nhã (1999), Đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã trong nông nghiệp nông thôn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 26. Sở Khoa học, công nghệ và môi trường tỉnh Lâm Đồng (2001), Báo cáo kết quả đề tài: Đổi mới phương thức hoạt động các hợp tác xã nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng. 27. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Phú Yên (2005), Báo cáo kết quả tổng điều tra HTX nông nghiệp. 28. Tỉnh uỷ Bình Thuận (2004), Nghị quyết số 12 của Tỉnh uỷ về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể đến năm 2010; Báo cáo tổng kết 5 năm tình hình kinh tế hợp tác và hợp tác xã của Ban Kinh tế Tỉnh uỷ. 29. Tỉnh uỷ Đồng Nai (2002), Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH TW Đảng (khoá IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. 30. Lê Trọng (2001), Kinh tế hợp tác của nông dân trong nền kinh tế thị trường, Nxb Văn hoá- dân tộc, Hà Nội. 31. Nguyễn Văn Tuất (2002), “Hợp tác xã nông nghiệp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long- Nhìn từ thực tiễn”, Khoa học chính trị (số 3), tr. 48- 52. 32. Đỗ Thị Tuyết, Mai Văn Nam, Phước Minh Hiệp, Bùi Văn Trịnh (2002), “Phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã ở tỉnh Cần Thơ”, Nghiên cứu kinh tế (số 7), tr. 25- 35. 33. UBND huyện Đông Hoà và UBND huyện Tây Hoà (2006), Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể năm 2006, huyện Đông Hoà, huyện Tây Hoà. 34. UBND tỉnh Phú Yên (2006), kế hoạch phát triển khu vực kinh tế tập thể 5 năm giải đoạn 2006- 2010. 35. Khánh Vân (2003), “Chính sách phát triển kinh tế hợp tác xã”, Nghiên cứu lập pháp (số 10), tr. 3- 6. 36. Viện Quản lý kinh tế Trung ương (1997), Tài liệu tập huấn hợp tác xã. 37. Viện Quản lý kinh tế Trung ương (2003), “Kinh nghiệm hoạt động của một số hợp tác xã sau sáu năm thực hiện Luật hợp tác xã ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 38. Hoàng Việt (2002), “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác xã trong nông nghiệp”, Tạp chí Cộng sản (số 19), tr. 30- 34. 35. Hồ Văn Vĩnh, Nguyễn Quốc Thái (2005), Mô hình phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf46_4686.pdf
Luận văn liên quan