Luận văn Tăng cường quản lý chi thường xuyên Ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Sơn Tây

Quản lý chi NSNN nói chung và quản lý chi thường xuyên ngân sách thị xã nói riêng có vai trò rất quan trọng. Nó bảo đảm cho ngân sách được sử dụng một cách có hiệu quả trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh chính trị. Quản lý chi thường xuyên ngân sách thị xã có hiệu quả sẽ khuyến khích kinh tế phát triển. Luận văn đã hệ thống hoá và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chi thường xuyên ngân sách nhà nước. Luận văn cũng đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách ở thị xã Sơn Tây trên các nội dung của quản lý chi thường xuyên ngân sách đã được phân tích ở phần lý luận. Về đánh giá chung thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách tại thị xã Sơn Tây, luận văn đã khái quát những thành công cơ bản và hạn chế trong lĩnh vực này, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của thực trạng trên. Để khắc phục những hạn chế này, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý chi thường xuyên ngân sách thị xã ngày càng tăng, cũng như để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thị xã Sơn Tây đến năm 2020, luận văn đề xuất năm nhóm giải pháp nhằm tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của thị xã Sơn Tây và đưa ra một số kiến nghị đối với các cơ quan nhà nước. Trong đó, đáng chú ý là giải pháp hoàn thiện quản lý lập, phân bổ, giao và chấp hành dự toán chi thường xuyên ngân sách thị xã. Đây là giải pháp giúp cho ngân sách cấp thị xã được quản lý, kế hoạch hóa ngay từ khâu đầu tiên đến khâu chấp hành dự toán, qua đó ngân sách được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thị xã, tránh lãng phí./.

pdf102 trang | Chia sẻ: builinh123 | Ngày: 31/07/2018 | Lượt xem: 1271 | Lượt tải: 21download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Tăng cường quản lý chi thường xuyên Ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Sơn Tây, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
lý và các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc theo các văn bản về điều hành ngân sách hàng năm. Quản lý chấp hành dự toán chi thường xuyên ngân sách thị xã về cơ bản tuân thủ tốt các quy định của Nhà nước và đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn có một số tồn tại trong quá trình quản 62 lý chấp hành dự toán chi thường xuyên của Ngân sách thị xã Sơn Tây: - Việc chấp hành dự toán chi ngân sách đã được HĐND, UBND thị xã phê chuẩn từ đầu năm chưa tốt. Vẫn còn hiện tượng lãng phí ở một số đơn vị, một số khoản chi. - Việc giao dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách chưa sát với nhiệm vụ chi của đơn vị dự toán nên trong quá trình chấp hành dự toán còn phải bổ sung, điều chỉnh dự toán, thể hiện sự hạn chế trong quản lý chi tiêu ngân sách và cơ chế "xin - cho" vẫn còn tồn tại. Nguyên nhân chủ yếu là do: - Số dự toán giao đầu năm cho các đơn vị so với số thực hiện trong năm thường rất thấp, chủ yếu mới chỉ giao phần kinh phí tự chủ (đối với cơ quan quản lý nhà nước), kinh phí hoạt động thường xuyên (đối với đơn vị sự nghiệp công lập) để đảm bảo chi lương, các khoản có tính chất lương và các khoản chi quản lý hành chính phân bổ theo định mức. - Việc chấp hành cơ chế quản lý tài chính, quản lý chi tiêu NSNN chưa đúng quy định là nguyên nhân gây ra lãng phí ở một số khâu, một số khoản chi. Một số ít lãnh đạo, cán bộ công chức ở các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách chưa nâng cao ý thức tiết kiệm trong chi tiêu ngân sách. Trách nhiệm của các thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong việc quản lý sử dụng ngân sách, chế tài xử lý khi vi phạm còn thiếu dẫn đến khi có vụ việc vi phạm về tài chính xảy ra thường khó quy trách nhiệm cá nhân. Không ít lãnh đạo các cơ quan, đơn vị còn tư tưởng vận dụng tuỳ tiện, thiếu trách nhiệm trong việc quản lý các khoản chi này. Mặt khác, do thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo cơ quan đơn vị dẫn đến tình trạng người thực hiện đúng và sử dụng có hiệu quả các Thang Long University Libraty 63 khoản chi thường xuyên thì không được khen thưởng; người sử dụng tuỳ tiện kém hiệu quả thì không bị xử lý. 2.3.3. Kiểm soát và quyết toán chi thường xuyên NSNN thị xã 2.3.3.1. Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách - Chủ thể kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước thị xã gồm: Phòng Tài chính - Kế hoạch phối hợp với Kho bạc nhà nước thị xã tham mưu giúp UBND Thị xã kiểm soát chi ngân sách. Trong lĩnh vực giáo dục thì ngoài sự phối hợp giữa Kho bạc nhà nước thị xã với Phòng Tài chính - Kế hoạch thì còn có sự phối hợp giữa Phòng Tài chính - Kế hoạch và Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã. - Nguyên tắc kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước thị xã: Các khoản chi thường xuyên ngân sách phải có trong dự toán được duyệt, đúng chế độ, đúng tiêu chuẩn định mức và được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách chuẩn chi thì mới được tiến hành cấp phát, thanh toán. - Nội dung kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước thị xã của Kho bạc nhà nước thị xã: Trong mỗi lần thanh toán cán bộ quản lý sẽ đối chiếu các khoản chi so với dự toán ngân sách nhà nước, bảo đảm các khoản chi phải có trong dự toán ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền giao, số dư tài khoản dự toán của đơn vị còn đủ để chi. - Quản lý kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên ngân sách thị xã: 64 Việc kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên của NSNN được áp dụng riêng cho từng loại hình đơn vị dự toán. Hiện nay, KBNN Sơn Tây thực hiện quản lý kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên theo thông tư số 161/2012/TT-BTC ngày 02/10/2012 của Bộ Tài chính về việc Quy định chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước. Đây được xem là văn bản gốc để thực hiện việc kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN. Kiểm tra, kiểm soát các khoản chi, bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi thường xuyên ngân sách nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Đối với các khoản chi chưa có chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi thường xuyên ngân sách nhà nước, Kho bạc nhà nước thị xã căn cứ vào dự toán ngân sách nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao để kiểm soát. Việc giao quyền tự chủ cho các đơn vị dự toán và cho phép số dư dự toán từ nguồn kinh phí giao thực hiện tự chủ (đối với cơ quan nhà nước), kinh phí đảm bảo hoạt động thường xuyên (đối với đơn vị sự nghiệp công lập) cuối năm không chi hết được chuyển sang năm sau đã tạo chủ động cho đơn vị dự toán trong chi tiêu và sử dụng ngân sách. Hiện tượng chi chạy kinh phí vào những ngày cuối năm đã được hạn chế tối đa. Nhìn chung, trong thời gian qua, KBNN thị xã Sơn Tây đã chấp hành tốt các quy định về quản lý, kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên. Chấp hành đúng quy trình thanh toán, kiểm soát chặt chẽ hồ sơ, chứng từ chi của các đơn vị. KBNN thị xã Sơn Tây đã kiên quyết từ chối các khoản chi sai mục đích, sai chế độ, vượt định mức, tiêu chuẩn Nhà nước quy định hoặc không có trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị. Thang Long University Libraty 65 Việc kiểm soát chi thường xuyên trong thời gian qua cho thấy, về cơ bản các đơn vị dự toán sử dụng kinh phí được giao đúng mục đích, đúng đối tượng, chấp hành đúng chế độ hóa đơn, chứng từ; chấp hành định mức, tiêu chuẩn chi tiêu. Đặc biệt, từ khi thực hiện Thông tư số 68/2012/TT-BTC, ngày 26/4/2012 của Bộ Tài chính Quy định việc đấu thầu đấu thầu mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, việc mua sắm, sửa chữa tài sản của các đơn vị đã được quản lý và kiểm soát chặt chẽ hơn, hạn chế thất thoát, lãng phí NSNN. Thông qua kiểm soát chi thường xuyên, KBNN thị xã Sơn Tây đã kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của các hồ sơ, chứng từ theo quy định đối với từng khoản chi. Tất cả những hồ sơ, chứng từ không hợp lệ đều bị trả lại. Tính từ năm 2011 đến năm 2014 Kho bạc nhà nước thị xã Sơn Tây đã từ chối thanh toán 558 chứng từ chi thường xuyên với số tiền 27.320 triệu đồng. Trong những năm qua Kho bạc nhà nước thị xã đã làm tốt công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc nhà nước thị xã nên số hồ sơ, chứng từ và số tiền bị từ chối thanh toán hàng năm đều giảm dần. Năm 2011 từ chối thanh toán 170 chứng từ chi thường xuyên với số tiền 8.550 triệu đồng đến năm 2014 chỉ còn 108 chứng từ với số tiền 4.825 triệu đồng (bằng 56% so với năm 2014). Số liệu kiểm soát chi NSNN và từ chối thanh toán qua KBNN thị xã Sơn Tây trong thời gian qua được thể hiện qua Bảng 2.6. 66 Bảng 2.6: Kết quả kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN thị xã Sơn Tây NĂM SỐ CHỨNG TỪ KHÔNG ĐỦ ĐIỀU KIỆN THANH TOÁN SỐ TIỀN TỪ CHỐI THANH TOÁN (Tr. đồng) 2011 170 8.550 2012 158 7.035 2013 122 6.910 2014 108 4.825 CỘNG 558 27.320 (Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác năm 2012- 2014 KBNN Sơn Tây) Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý, kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên của ngân sách thị xã qua KBNN Thị xã Sơn Tây còn một số vấn đề cần phải được UBND thị xã Sơn Tây, Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã , KBNN thị xã Sơn Tây và các đơn vị sử dụng ngân sách thị xã cần quan tâm, tháo gỡ. Một là, nguồn kinh phí không thực hiện tự chủ, kinh phí không thường xuyên, kinh phí hoạt động sự nghiệp không được UBND thị xã giao hết cho các đơn vị dự toán ngay từ đầu năm. Điều đó đã làm cho các đơn vị dự toán không chủ động trong việc triển khai các nội dung liên quan đến mua sắm, sửa chữa tài sản cố định và các nội dung chi thuộc các nguồn kinh phí trên. Mặt khác, số dư nguồn kinh phí này cuối năm không chi hết muốn chuyển sang năm sau, đơn vị phải có văn bản đề nghị và phải được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền. Quy định như vậy đã dẫn tới tình trạng đơn vị dự toán tổ chức mua sắm, sửa chữa tài sản bị dồn nhiều vào những ngày cuối năm. Thang Long University Libraty 67 Quy trình mua sắm, sửa chữa thường không đảm bảo quy định. Đặc biệt, đối với những gói thầu mua sắm có giá trị trên 100 triệu đồng phải thực hiện chào hàng cạnh tranh hoặc đấu thầu sẽ không đủ thời gian để tiến hành các bước theo quy định. Tình trạng đơn vị chia nhỏ gói thầu để thực hiện chỉ định thầu hoặc mua sắm trực tiếp còn khá phổ biến. Thời gian trên hồ sơ mua sắm thường không đảm bảo lô gíc và hợp lý như ngày phê duyệt dự toán mua sắm, báo giá đơn vị gửi đến, ngày ra quyết định lựa chọn nhà thầu, ngày ký hợp đồng và bàn giao thanh lý hợp đồng chỉ trong vòng có vài ngày, thậm chí trong cùng một ngày. Hai là, đội ngũ cán bộ làm kế toán tại các đơn vị chưa được đào tạo bồi dưỡng bài bản, trình độ nghiệp vụ còn hạn chế, đặc biệt là cán bộ giữ chức danh kế toán trưởng (hoặc phụ trách kế toán) tại các đơn vị chưa được đào tạo, cấp chứng chỉ theo đúng quy định của luật kế toán, nên chứng từ chi NSNN gửi đến kho bạc thường có nhiều sai sót như sai nội dung chi, sai mục lục ngân sách, thiếu dấu, chữ ký; thiếu hồ sơ kiểm soát chi... Ba là, các cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập của đã được giao quyền tự chủ trong quản lý và sử dụng kinh phí. Theo quy định, đơn vị phải lập Quy chế chi tiêu nội bộ gửi Kho bạc làm căn cứ kiểm soát chi và trích lập các quỹ và chi trả thu nhập tăng thêm. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, nhiều đơn vị chưa ban hành Quy chế chi tiêu nội bộ gửi Kho bạc làm căn cứ kiểm soát. Có đơn vị đã xây dựng Quy chế nhưng quy định về phân phối, sử dụng nguồn kinh phí tiết kiệm chi thường xuyên không đầy đủ, không rõ ràng, quy định về trích lập các quỹ, phân phối thu nhập từ nguồn tăng thu, tiết kiệm chi còn chung chung, gây khó khăn 68 trong việc kiểm soát chi, hạch toán trích lập các quỹ và quyết toán kinh phí của đơn vị. Hiện nay, cơ chế kiểm soát chi NSNN qua KBNN hiện hành quy định: KBNN có quyền từ chối các khoản chi ngân sách không đủ điều kiện chi hoặc tạm dừng thanh toán theo yêu cầu của cơ quan tài chính, thủ trưởng cơ quan Kho bạc Nhà nước chịu trách nhiệm về các quyết định thanh toán, chi ngân sách hoặc từ chối thanh toán chi ngân sách theo quy định của pháp luật. Theo quy định này, việc từ chối được thực hiện bằng việc ra thông báo từ chối, trả hồ sơ cho đơn vị, mà không có quy định đối với các khoản chi sai chế độ đó được phép hạch toán giảm trừ dự toán khi từ chối. Do đó, vô hình chung, các đơn vị, sau khi bị từ chối, sẽ tìm cách hoàn thiện hồ sơ chứng từ theo đúng chế độ hoặc chuyển sang chi vào nội dung khác. Điều này, hạn chế vai trò của KBNN trong kiểm soát chi, đồng thời không làm cho đơn vị sử dụng ngân sách thấy được hết trách nhiệm trong việc chấp hành chế độ chi tiêu theo quy định. 2.3.3.2. Quyết toán chi ngân sách Sau khi năm ngân sách kết thúc, các đơn vị dự toán phối hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch để thực hiện quyết toán chi ngân sách. Phòng Tài chính - Kế hoạch chưa xuất toán được một số khoản chi không đúng nguồn ngân sách trong dự toán được giao. Một số đơn vị dự toán vẫn còn hiện tượng nhiệm vụ chi đã hết nhưng tồn quỹ và chuyển sang năm sau là vi phạm (các đơn vị chưa tự chủ ngân sách). Trong quá trình quyết toán chi thường xuyên ngân sách chủ yếu thực hiện ở Phòng Tài chính – Kế hoạch dựa trên hồ sơ đơn vị lập nên là chủ yếu nên chưa Thang Long University Libraty 69 kiểm soát được đơn vị có thực hiện chi hay lập hồ sơ để rút ngân sách về. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ quản lý chi thường xuyên ngân sách đã được UBND thị xã Sơn Tây quan tâm, chú trọng. Hàng năm, trong Kế hoạch thanh tra của Thanh tra thị xã đều có nội dung thanh tra lĩnh vực quản lý chi ngân sách, qua đó phát hiện, ngăn ngừa và chấn chỉnh kịp thời những sai sót, những vi phạm trong việc sử dụng ngân sách, hạn chế tiêu cực và thất thoát, lãng phí trong sử dụng ngân sách. Tuy nhiên, trong quá trình kiểm tra, khi Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã phát hiện việc lập dự toán, phân bổ dự toán, báo cáo quyết toán của các đơn vị lập dự toán chưa chính xác, đầy đủ hoặc KBNN trong quá trình kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN, kiểm tra phát hiện các đơn vị chi tiêu chưa đúng định mức, tiêu chuẩn, thiếu hồ sơ kiểm soát chi... thì chỉ được quyền ra thông báo số kiểm tra hoặc thông báo từ chối thanh toán và trả lại cho đơn vị để bổ sung, điều chỉnh. Những vi phạm này chưa có chế tài xử phạt, do vậy, chưa tạo nên áp lực buộc thủ trưởng, kế toán trưởng các đơn vị sử dụng ngân sách phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, hạn chế tối đa vi phạm trong quản lý và sử dụng NSNN được giao. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong chi thường xuyên NSNN chưa được tiến hành thường xuyên. Việc kết luận, xử lý sai phạm còn chưa nghiêm minh, nhiều trường hợp còn nể nang, ngại va chạm, chưa xử ký kiên quyết đối với các đơn vị có sai phạm để làm gương cho đơn vị khác. Đây là một nguyên nhân có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý chi thường xuyên NSNN, vì thực tế hiện nay cán bộ có chức có chức vụ, vi phạm trong quản lý chi tiêu ngân sách có dấu hiệu ngày càng tăng, trong khi số người bị phát hiện và xử phạt rất ít. 70 2.4. ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA THỊ XÃ SƠN TÂY 2.4.1. Kết quả đạt được Qua phân tích thực trạng chi thường xuyên và quản lý chi thường xuyên, có thể đánh giá công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách thị xã Sơn Tây đã đạt được một số kết quả như sau: * Tính hiệu lực Công tác lập dự toán chi NSNN của thị xã Sơn Tây cơ bản đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Luật NSNN, bám sát nghị quyết của HĐND thị xã và trên cơ sở tình hình kinh tế - xã hội của địa phương. Dự toán chi thường xuyên NSNN của thị xã Sơn Tây được lập căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thị xã và tình hình thực hiện ngân sách của các năm trước; các chế độ chính sách, tiêu chuẩn, định mức cụ thể về chi ngân sách của Nhà nước, công tác lập, phân bổ, giao dự toán chi ngân sách đã dần có những chuyển biến rõ rệt. Qua bảng số liệu 2.5 nhận thấy tổng chi thường xuyên ngân sách thị xã đều được thực hiện cao hơn kế hoạch đề ra, trong đó có 2 năm việc thực hiện chi thường xuyên sát với dự toán (năm 2011 đạt 103% và năm 2013 đạt 106%). Hầu hết các khoản chi thường xuyên đều được thực hiện đạt và cao hơn kế hoạch đề ra. Các khoản chi thường xuyên cơ bản đều được thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đảm bảo chi đúng mục đích, đúng kế hoạch, chi đủ đáp ứng các nhiệm vụ chi thường xuyên của thị xã đã chứng tỏ công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách thị xã Sơn Tây giai đoạn 2011 – 2014 có tính hiệu lực cao. Thang Long University Libraty 71 * Tính hiệu quả Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước thị xã ngày càng được minh bạch, công khai, được thể hiện cao trong khâu lập dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán ngân sách. Quản lý chi thường xuyên ngân sách thị xã đảm bảo cho việc thực hiện các nhiệm vụ trong điều kiện tiết kiệm, không gây thất thoát, lãng phí. Nhất là các đơn vị được giao quyền tự chủ kinh phí về công tác tài chính và thực hành tiết kiệm và chống lãng phí đã có những chuyển biến rõ rệt, thực hiện tốt quy chế chi tiêu nội bộ, đảm bảo công khai dân chủ. Duy trì hoạt động thường xuyên của các cơ quan nhà nước, tổ chức đảng, đoàn thể, các đơn vị sự nghiệp của. Đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội của, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân. Quản lý kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên ngân sách thị xã qua KBNN đã được quan tâm, chú trọng. Việc KBNN của thị xã Sơn Tây kiên quyết từ chối thanh toán đối với các khoản chi sai mục đích, không đúng tiêu chuẩn, định mức, hồ sơ, chứng từ thanh toán không hợp pháp, hợp lệ đã góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong quản lý và sử dụng ngân sách của các đơn vị dự toán. * Tính phù hợp Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước thị xã phù hợp với đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phù hợp với thực tiễn tình hình đặc thù của thị xã nhằm đáp ứng được nhiệm vụ chính trị phát triển kinh tế xã hội của nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Quy mô chi thường xuyên ngân sách nhà nước thị xã không ngừng tăng lên, cơ cấu phân bổ và sử dụng các khoản chi đã được điều chỉnh và thay đổi 72 dần theo hướng hợp lý hơn. * Tính bền vững Chi thường xuyên NSNN của thị xã ngày càng tăng về quy mô và mở rộng trên tất cả các lĩnh vực, đáp ứng kịp thời các khoản chi thường xuyên và các nhu cầu chi đột xuất như thiên tai, bão lụt cũng như các trường hợp trợ cấp đột xuất khác, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội đã đề ra. Các đơn vị được giao quyền tự chủ tài chính đã nâng cao tinh thần trách nhiệm trong sử dụng ngân sách, chủ động áp dụng các biện pháp nhằm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả kinh phí được giao, hạn chế thất thoát lãng phí trong chi tiêu ngân sách. Tác động tích cực từ quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước thị xã đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng là lâu dài và ổn định. Cân bằng lợi ích giữa các đơn vị dự toán ngân sách. Không ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên, sinh thái, xã hội. 2.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân * Những hạn chế Bên cạnh những kết quả đạt được, quản lý chi thường xuyên ngân sách của thị xã Sơn Tây còn bộc lộ những hạn chế, cần phải khắc phục. Thứ nhất, Chất lượng dự toán do các đơn vị được lập chưa cao, ít tính thuyết phục. Công tác lập dự toán chi thường xuyên từ ngân sách thị xã chưa đánh giá hết được các yếu tố tác động đến quá trình chi thường xuyên ngân sách thị xã làm cho giá trị thực hiện có những năm lớn hơn nhiều so với kế hoạch đề ra, gây khó khăn trong việc quản lý và điều hành ngân sách hàng năm (xem trang 54). Thang Long University Libraty 73 Thứ hai, Đối với chi quản lý hành chính việc phân bổ dự toán của thị xã Sơn Tây thời gian qua còn mang tính bình quân, chủ yếu dựa vào định mức phân bổ cố định theo số lượng biên chế, lao động thực tế có tại đơn vị, hiệu quả việc khoán biên chế còn hạn chế. Chính vì vậy, quản lý chi NSNN chưa gắn với mục tiêu, chưa khuyến khích đơn vị sử dụng tiết kiệm NSNN (xem trang 60). Thứ ba, Việc chấp hành dự toán chi ngân sách đã được HĐND, UBND thị xã phê chuẩn từ đầu năm chưa tốt. Việc giao dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách chưa sát với nhiệm vụ chi của đơn vị dự toán nên trong quá trình chấp hành dự toán còn phải bổ sung, điều chỉnh dự toán, thể hiện sự hạn chế trong quản lý chi tiêu ngân sách và cơ chế "xin - cho" vẫn còn tồn tại (xem trang 62). Thứ tư, công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành dự toán của cơ quan quản lý cấp trên, của Phòng Tài chính - Kế hoạch và các cơ quan được UBND thị xã giao nhiệm vụ, đối với đơn vị sử dụng ngân sách chưa được coi trọng đúng mức, chưa được thực hiện thường xuyên, còn mang nặng tính hình thức. Các trường hợp vi phạm trong quản lý chi ngân sách như lập và nộp báo cáo không đúng quy định, chi sai mục đích, vượt tiêu chuẩn định mức... chưa có chế tài xử phạt cụ thể, chủ yếu xử lý bằng các biện pháp hành chính. Điều này dẫn tới việc vi phạm trong quản lý và sử dụng lãng phí ngân sách vẫn xảy ra và chưa được giải quyết dứt điểm (xem trang 69). * Nguyên nhân của những hạn chế Qua những phân tích, đánh giá ở trên những hạn chế trong công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của thị xã Sơn Tây trong thời gian qua là do những nguyên nhân sau: 74 Một là, nhóm nguyên nhân từ các cơ quan quản lý - Trong thực tế công tác lập và thảo luận dự toán còn mang nặng tính hình thức, thiếu dân chủ, áp đặt một chiều từ trên xuống, do vậy một số cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách còn có tư tưởng đề phòng dự toán sẽ bị cơ quan tài chính cắt giảm bớt nên đã lập dự toán cao hơn so với định mức và nhu cầu chi thực tế. - Đối với các nhiệm vụ chi hoạt động sự nghiệp, nguồn kinh phí không thực hiện tự chủ, nguồn kinh phí chi không thường xuyên của các đơn vị dự toán thường không được UBND thị xã và đơn vị dự toán cấp I thực hiện giao từ đầu năm. Trường hợp được giao thì kinh phí cũng chỉ được giao một phần. Phần còn lại dự toán chi cho các nội dung trên được phân bổ và giao khi đơn vị đã triển khai thực hiện nhiệm vụ, hoặc phân bổ dần vào hàng quý. Điều này đã dẫn tới tình trạng, dự toán phải bổ sung nhiều lần trong năm và đơn vị sử dụng ngân sách không được chủ động về nguồn kinh phí nên triển khai nhiệm vụ không kịp thời, thường dồn về cuối năm. - Việc giao dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách chưa sát với nhiệm vụ chi của đơn vị dự toán nên trong quá trình chấp hành dự toán còn phải bổ sung, điều chỉnh dự toán nhiều lần. Việc UBND thị xã hay đơn vị dự toán cấp trên bổ sung dự toán nhiều trong năm cho đơn vị sử dụng ngân sách không những thể hiện sự hạn chế trong quản lý chi tiêu ngân sách mà còn thể hiện cơ chế "xin - cho" vẫn còn tồn tại. Việc chấp hành dự toán chi ngân sách đã được HĐND, UBND thị xã phê chuẩn từ đầu năm chưa tốt. - Sự phối hợp giữa các đơn vị có liên quan trong lập dự toán chưa tốt trong khi đó thời gian chuẩn bị cho công tác lập dự toán rất ngắn, thông thường là 1 Thang Long University Libraty 75 tháng chính vì vậy mà hiệu quả công tác lập dự toán chưa đạt được yêu cầu đề ra. Hai là, nhóm nguyên nhân do cán bộ - Trình độ xây dựng dự toán của các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách còn yếu vì nhiều cán bộ làm công tác kế toán tại các cơ quan, đơn vị không được đào tạo bài bản. Trong quá trình lập dự toán, một số đơn vị thường lấy số dự toán giao năm trước nhân với một tỷ lệ nhất định để lập dự toán năm sau mà chưa căn cứ vào định mức phân bổ ngân sách ổn định trong từng thời kỳ; chưa căn cứ vào việc điều chỉnh giảm hay bổ sung nhiệm vụ chi; vào việc thay đổi chính sách về tiền lương, định mức chi tiêu của Nhà nước. Số liệu dự toán được các đơn vị xây dựng không chính xác, thường cao hơn so với định mức phân bổ ngân sách theo quy định mà không giải trình được nguyên nhân. - Việc chấp hành cơ chế quản lý tài chính, quản lý chi tiêu NSNN chưa đúng quy định là nguyên nhân gây ra lãng phí ở một số khâu, một số khoản chi. Một số ít lãnh đạo, cán bộ công chức ở các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách chưa nâng cao ý thức tiết kiệm trong chi tiêu ngân sách. Trách nhiệm của các thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong việc quản lý sử dụng ngân sách, chế tài xử lý khi vi phạm còn thiếu dẫn đến khi có vụ việc vi phạm về tài chính xảy ra thường khó quy trách nhiệm cá nhân. Không ít lãnh đạo các cơ quan, đơn vị còn tư tưởng vận dụng tuỳ tiện, thiếu trách nhiệm trong việc quản lý các khoản chi này. Mặt khác, do thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo cơ quan đơn vị dẫn đến tình trạng người thực hiện đúng và sử dụng có hiệu quả các khoản chi thường xuyên thì không được khen thưởng; người sử dụng tuỳ tiện kém hiệu quả thì không bị xử lý. - Đội ngũ cán bộ làm kế toán tại các đơn vị chưa được đào tạo bồi 76 dưỡng bài bản, trình độ nghiệp vụ còn hạn chế, đặc biệt là cán bộ giữ chức danh kế toán trưởng (hoặc phụ trách kế toán) tại các đơn vị chưa được đào tạo, cấp chứng chỉ theo đúng quy định của luật kế toán, nên chứng từ chi NSNN gửi đến kho bạc thường có nhiều sai sót như sai nội dung chi, sai mục lục ngân sách, thiếu dấu, chữ ký; thiếu hồ sơ kiểm soát chi... Ba là, nhóm nguyên nhân do cơ chế chính sách của Nhà nước - Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến công tác quản lý chi ngân sách, trong thời gian qua, liên tục được bổ sung, sửa đổi. Điều đó đã gây khó khăn trong công tác quản lý NSNN nói chung và lĩnh vực quản lý chi thường xuyên NSNN nói riêng. - Phương án phân bổ ngân sách phụ thuộc vào tỷ lệ điều tiết giữa các cấp ngân sách, định mức phân bổ nên thường cứng nhắc, bị động, một số lĩnh vực còn mang tính chất bình quân, nên đang còn xảy ra tình trạng phân bổ ngân sách chưa hợp lý giữa các đơn vị và các lĩnh vực. Thị xã Sơn Tây đã tiến hành khoán biên chế và khoán chi hành chính cho các cơ quan Nhà nước theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP, nhưng mới thực hiện khoán chi hành chính trên số biên chế, lao động thực tế của các cơ quan hành chính, chưa tổ chức khoán trên số lượng, hiệu quả công việc. Vì vậy, hiệu quả việc khoán biên chế còn hạn chế. - Đối với Thị xã việc xây dựng ngân sách trung và dài hạn rất khó thực hiện được vì nó phụ thuộc vào phân cấp ngân sách trong từng thời kỳ ổn định ngân sách và định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Hậu quả là hạn chế trong việc xác định thứ tự ưu tiên, cơ cấu, chiến lược. - Hệ thống tiêu chuẩn, định mức phân bổ dự toán chi ngân sách cũng Thang Long University Libraty 77 như định mức, tiêu chuẩn chi thường xuyên đã được Chính p hủ, Bộ Tài chính, UBND thành phố Hà Nội quan tâm sửa đổi, bổ sung. Tuy nhiên, vẫn còn một số tiêu chuẩn định mức chưa phù hợp với thực tế như định mức chi tiền ăn hội nghị, chi công tác phí, chi tiếp khách, định mức trang bị xe ô tô,... gây khó khăn trong công tác quản lý tài chính ngân sách. Hiện nay, trên thực tế một số khoản chi phải linh động vượt định mức, tiêu chuẩn hoặc phải lái sang nội dung khác, thì mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chi phục vụ tốt nhiệm vụ được giao. Sự gian dối không mong muốn này làm cho việc quản lý chi thường xuyên ngân sách thị xã không phản ánh đúng diễn biến tình hình thực tế. - Trong quá trình kiểm tra, khi Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã phát hiện việc lập dự toán, phân bổ dự toán, báo cáo quyết toán của các đơn vị lập dự toán chưa chính xác, đầy đủ hoặc KBNN trong quá trình kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN, kiểm tra phát hiện các đơn vị chi tiêu chưa đúng định mức, tiêu chuẩn, thiếu hồ sơ kiểm soát chi... thì chỉ được quyền ra thông báo số kiểm tra hoặc thông báo từ chối thanh toán và trả lại cho đơn vị để bổ sung, điều chỉnh. Những vi phạm này chưa có chế tài xử phạt, do vậy, chưa tạo nên áp lực buộc thủ trưởng, kế toán trưởng các đơn vị sử dụng ngân sách phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, hạn chế tối đa vi phạm trong quản lý và sử dụng NSNN được giao. Kết luận chương 2 Trên cơ sở những lý luận chung về ngân sách nhà nước và công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của Chương 1, Chương 2 của luận văn đã tập trung đánh giá thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của thị xã Sơn Tây từ năm 2011 đến 2014. Qua phân tích, đánh 78 giá luận văn đã nêu bật được những kết quả trong công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của thị xã trong thời gian qua, đồng thời đã chỉ ra được 4 tồn tại, hạn chế và 3 nhóm nguyên nhân chính của những tồn tại, hạn chế đó nhằm đề xuất những giải pháp khắc phục trong thời gian tới. Thang Long University Libraty 79 Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SƠN TÂY 3.1. QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SƠN TÂY Với những mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới của thị xã Sơn Tây, trong điều kiện là th ị xã có số thu ngân sách nhà nước không nhiều, ngân sách thị xã chủ yếu là hỗ trợ của cấp trên, trong khi đó ngân sách hàng năm dành cho chi thường xuyên là lớn, vì vậy yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý chi thường xuyên NSNN của thị xã Sơn Tây nhằm sử dụng tối ưu nguồn lực được phân bổ phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Thị xã. Quản lý chi thường xuyên ngân sách thị xã phải góp phần tạo ra sự ổn định về kinh tế - xã hội của. Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của thị xã Sơn Tây trong thời gian tới cần được thực hiện theo các quan điểm và định hướng cơ bản sau: Thứ nhất, Chi thường xuyên NSNN trước hết phải ưu tiên đầu tư thực hiện chiến lược phát triển con người (giáo dục, y tế, xã hội,...), thực hiện các chính sách xã hội. Thực hiện nguyên tắc thắt chặt trong chi tiêu thường xuyên đặc biệt là chi quản lý hành chính, dành ngân sách cho đầu tư phát triển, chi thường xuyên tập trung cho các chương trình quốc gia về y tế, giáo dục, xã hội và phải quản lý chặt chẽ, đảm bảo sử dụng tiết kiệm, có 80 hiệu quả các khoản chi này, cắt giảm các khoản chi chưa thật cấp bách, kém hiệu quả. Thực hiện cải cách hành chính gắn liền với giảm biên chế để giảm chi ngân sách cho lĩnh vực này. Thứ hai, nâng cao quyền chủ động và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý ngân sách, chính quyền địa phương và thủ trưởng các đơn vị sử dụng ngân sách. Thứ ba, chuẩn hóa các bước trong quy trình chi thường xuyên NSNN bảo đảm tính hiệu quả, công bằng, công khai và minh bạch. Đổi mới quy trình nghiệp vụ trong công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN theo hướng đơn giản, hiện đại, công khai, minh bạch nhằm kiểm soát chặt chẽ các khoản chi của ngân sách thị xã, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của. Thứ tư, hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách phải đi liền với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các phòng, ban ngành, các cơ quan có liên quan đến quản lý chi NSNN thị xã; nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý chi ngân sách. Thứ năm, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trước, trong và sau quá trình sử dụng NSNN. 3.2. CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SƠN TÂY 3.2.1. Giải pháp hoàn thiện quản lý việc lập, phân bổ, giao và chấp hành dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước thị xã Quản lý chặt chẽ và tuyệt đối tuân thủ quy trình phân bổ, giao và chấp hành dự toán chi thường xuyên ngân sách. Để đảm bảo giao dự toán cho các Thang Long University Libraty 81 đơn vị theo đúng thời gian quy định, UBND thị xã cần đổi mới việc tính toán và lên phương án phân bổ ngân sách theo hướng bám sát vào từng nhiệm vụ chi ngân sách được giao. Đối với năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách, việc tính toán, xây dựng phương án phân bổ ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách cần phải tính toán chặt chẽ, căn cứ vào định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên, tổng định mức biên chế và nhiệm vụ được giao. Trong các năm tiếp theo, UBND thị xã chỉ cần rà soát các yếu tố làm tăng, giảm dự toán như những thay đổi về chế độ, định mức chi tiêu của Nhà nước, do trượt giá hoặc bổ sung thêm nhiệm vụ. Từ đó, thực hiện điều chỉnh phương án phân bổ và tổng số dự toán giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách chính xác, kịp thời. Trong quá trình xây dựng phương án phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách thị xã, các nhiệm vụ chi của các đơn vị dự toán phải được Phòng Tài chính – Kế hoạch và các đơn vị dự toán cấp I tính toán đầy đủ, chính xác. Các nhiệm vụ chi chưa xác định rõ đơn vị thực hiện, nhiệm vụ chi có tính chất đặc thù hoặc theo mùa, vụ có thể để lại phân bổ sau. Phần dự toán còn lại phải được giao và phân bổ hết ngay từ đầu năm, hạn chế tối đa việc bổ sung, điều chỉnh dự toán nhiều lần trong năm. Việc giao dự toán chi thường xuyên phải được lập đúng mẫu biểu quy định. Đơn vị dự toán cấp I lập phương án phân bổ và giao dự toán chi thường xuyên cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc phải được chi tiết đến Loại, Khoản và mã số Chương trình mục tiêu theo quy định tại Quyết định số33/2008/QĐ-BTC ngày 02/6/2008 và của Bộ Tài chính. Phòng Tài chính – Kế hoạch cần tham mưu cho UBND thị xã xây dựng 82 và ban hành hệ thống các chỉ tiêu, phương pháp xác định và đánh giá kết quả chấp hành dự toán. Gắn trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền và đơn vị sử dụng ngân sách với kết quả trong quản lý, sử dụng ngân sách khi triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao. Tăng cường trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và sự giám sát của các cơ quan quản lý trong chấp hành dự toán chi thường xuyên ngân sách của. 3.2.2. Giải pháp hoàn thiện chế độ quản lý kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên ngân sách thị xã Thứ nhất, tăng cường quản lý chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định để hạn chế lãng phí, tiêu cực trong sử dụng ngân sách. Để thực hiện giải pháp này, UBND thị xã, các cơ quan chuyên môn, đơn vị dự toán cấp I cần nghiên cứu áp dụng phương thức tổ chức mua sắm tập trung theo quy định tại Thông tư số 22/2008/TT-BTC, ngày 10/3/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Quy chế tổ chức mua sắm tài sản, hàng hoá từ ngân sách nhà nước theo phương thức tập trung ban hành kèm theo Quyết định số 179/2007/QĐ-TTg, ngày 6/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Hàng năm, căn cứ vào dự toán mua sắm tài sản, trang thiết bị cho các đơn vị thuộc khối giáo dục, y tế và các phòng, ban, ngành của thị xã, UBND thị xã quyết định việc áp dụng phương thức mua sắm chung đối với những gói thầu mua sắm tài sản theo lô có giá trị lớn. Theo đó, giao nhiệm vụ cho các phòng, ban, ngành chuyên môn là những đơn vị được giao tổ chức mua sắm tài sản, hàng hóa theo phương thức tập trung chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị sử dụng tài sản xây dựng phương án tổ chức mua sắm Thang Long University Libraty 83 cụ thể trình Chủ tịch UBND thị xã phê duyệt và tổ chức mua sắm tập trung được theo đúng quy định hiện hành. Thứ hai, từng bước triển khai phương thức kiểm soát chi theo kết quả đầu ra và thực hiện cam kết chi trong chi thường xuyên ngân sách thị xã. Để tránh việc các đơn vị sử dụng ngân sách chi tiêu không có kế hoạch, tuỳ tiện, không đúng với nội dung, nhiệm vụ chi được giao trong dự toán chi ngân sách hàng năm, KBNN thị xã cần tăng cường kiểm soát chi thường xuyên ngân sách thị xã theo dự toán kết hợp với kiểm soát chi theo kết quả đầu ra và thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý và kiểm soát cam kết chi qua KBNN theo quy định của Bộ Tài chính tại Thông tư số 113/TT-BTC, ngày 27/11/2008 và công văn số 17927/BTC-KBNN ngày 26/12/2013 của Bộ Tài chính về triển khai quản lý và kiểm soát cam kết chi NSNN qua KBNN. Triển khai giải pháp này sẽ tránh được việc các đơn vị chi tiêu quá giới hạn cho phép, việc sử dụng kinh phí được gắn với hiệu quả và chất lượng công việc, hạn chế tình trạng nợ công. Đồng thời, đây cũng là cơ sở cho việc lập kế hoạch chi tiêu trung hạn của cơ quan tài chính và các đơn vị sử dụng ngân sách của thị xã trong thời gian tới. 3.2.3. Giải pháp liên quan đến tăng cường kiểm soát về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Thứ nhất, để nâng cao hiệu quả trong quản lý, sử dụng kinh phí, đảm bảo công khai, minh bạch trong việc quản lý và sử dụng kinh phí, UBND thị xã, cơ quan tài chính cần chấn chỉnh và yêu cầu các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc thực hiện tốt việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ 84 theo hướng dẫn, để làm căn cứ triển khai thực hiện và kiểm soát quá trình sử dụng kinh phí được giao tại đơn vị, đồng thời, gửi đến Kho bạc nhà nước làm căn cứ kiểm soát chi theo quy định. Thứ hai, việc giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị thực hiện chế độ tự chủ về tài chính phải chi tiết theo hai phần. Phần kinh phí thực hiện tự chủ và kinh phí không thực hiện tự chủ được áp dụng đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, để làm căn cứ cho KBNN trong việc kiểm soát, thanh toán các khoản chi, làm căn cứ cho đơn vị xác định chính xác phần kinh phí tiết kiệm được chi bổ sung thu nhập và trích lập các quỹ theo đúng quy định đối với từng nguồn kinh phí, đảm bảo cho việc xử lý kinh phí cuối năm đúng chế độ. Thứ ba, việc xây dựng dự toán, giao dự toán cho các đơn vị sự nghiệp có thu phải tính toán đến phần thu phát sinh từ hoạt động sự nghiệp như thu học phí, thu phí, lệ phí... để cân đối vào dự toán thu chi hàng năm. Phần thu này phải được quản lý qua kho bạc và chấp hành chế độ kiểm soát chi theo quy định. Phòng Tài chính – Kế hoạch cần hướng dẫn các đơn vị xây dựng dự toán thu hàng năm để có căn cứ giao dự toán, các khoản thu được phép để lại chi tại đơn vị cuối năm phải được hạch toán ghi thu, ghi chi vào NSNN theo đúng quy định. 3.2.4. Giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước * Đối với các đơn vị sử dụng ngân sách Thứ nhất, UBND thị xã cần rà soát, sắp xếp lại bộ máy và biên chế của các phòng, ban, ngành, các đơn vị dự toán, bố trí biên chế cán bộ kế Thang Long University Libraty 85 toán hoặc phân công cán bộ có trình độ về quản lý tài chính kiêm nhiệm công tác kế toán để đảm bảo việc chấp hành đúng các quy định về quản lý và sử dụng ngân sách được giao hàng năm. Thứ hai, hàng năm, UBND thị xã cần giao nhiệm vụ cho Phòng Nội vụ phối hợp với Phòng Tài chính – Kế hoạch và các đơn vị có liên quan xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ quản lý tài chính cho chủ tài khoản, kế toán trưởng các đơn vị dự toán từ đó giúp đơn vị nâng cao trình độ nghiệp vụ về quản lý tài chính, cập nhật kịp thời những thay đổi về cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu... phục vụ cho công tác quản lý tài chính tại đơn vị. Thứ ba, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, trong thời gian qua UBND thị xã đã triển khai và đưa vào áp dụng nhiều chương trình ứng dụng tin học trong công tác quản lý tài chính tại các đơn vị thuộc khối tài chính và các đơn vị sử dụng ngân sách. Có những chương trình ứng dụng hiện đại được triển khai và kết nối dữ liệu tới nhiều cơ quan và cả các đơn vị sử dụng ngân sách. Vì vậy, bên cạnh trang bị và đào tạo các kiến thức về mặt nghiệp vụ, UBND thị xã cần tăng cường đào tạo về tin học, ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ kế toán các đơn vị, cán bộ KBNN, cán bộ Phòng Tài chính – Kế hoạch nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các chương trình ứng dụng, đáp ứng với yêu cầu quản lý chi tiêu và sử dụng ngân sách trong thời gian tới. * Đối với cơ quan chuyên môn Thứ nhất, Phòng Nội vụ cần rà soát lại số lượng, chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn trong lĩnh vực tài chính hiện có, xây 86 dựng kế hoạch tuyển dụng, sắp xếp, phân công lại công việc phù hợp với trình độ, năng lực của từng cán bộ. Tăng cường đào tạo và đào tạo lại để nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ được giao. Thứ hai, đối với cán bộ làm quản lý ngân sách của Phòng Tài chính – Kế hoạch và công tác kiểm soát chi ngân sách của KBNN, ngoài yếu tố về năng lực chuyên môn, cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng về phẩm chất đạo đức, văn minh, văn hoá trong giao tiếp. Từ đó, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn cao, am hiểu và nắm vững tình hình kinh tế - xã hội cũng như các cơ chế chính sách của Nhà nước, có tư cách phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm và tâm huyết với công việc, yêu ngành, yêu nghề, có đức tính liêm khiết, trung thực, công minh, khách quan, phong cách giao tiếp văn minh lịch sự. 3.2.5. Một số giải pháp khác * Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tình hình sử dụng ngân sách tại các đơn vị sử dụng ngân sách thị xã Hàng năm, UBND thị xã giao cho Thanh tra thị xã chủ trì, tham mưu cho Chủ tịch UBND thị xã thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành gồm cán bộ thuộc Thanh tra thị xã, Phòng Tài chính – Kế hoạch, KBNN tiến hành kiểm tra tình hình sử dụng ngân sách tại và việc chấp hành chế độ, định mức chi tiêu tại các đơn vị sử dụng ngân sách thị xã. Qua công tác kiểm tra, những vi phạm, tồn tại trong công tác quản lý tài chính tại các đơn vị sẽ được phát hiện và xử lý kịp thời. Bên cạnh đó, Phòng Tài chính – Kế hoạch cũng cần tăng cường công tác thẩm tra số liệu quyết toán của các đơn vị dự Thang Long University Libraty 87 toán trực thuộc UBND thị xã, trước khi lập báo cáo chính thức để đảm bảo số liệu trên báo cáo quyết toán của ngân sách thị xã đầy đủ và chính xác. * Thực hiện tốt quy chế dân chủ các nội dung quy định về công khai, minh bạch trong công tác quản lý chi thường xuyên NSNN Đây là giải pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức Nhà nước, tập thể người lao động và nhân dân trong việc thực hiện quyền kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm chế độ quản lý tài chính; bảo đảm sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Để thực hiện tốt giải pháp này, UBND thị xã cũng như các đơn vị sử dụng ngân sách thị xã cần tuyệt đối chấp hành các quy định về công khai tài chính, công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định tại Quyết định số 192/2004/QĐ-TTg ngày 16/11/2004, Quyết định số 115/2008/QĐ-TTg ngày 27/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 21/2005/TT-BTC ngày 22/3/2005 của Bộ Tài chính. Đối với UBND thị xã, thực hiện công khai chi tiết số liệu dự toán, quyết toán ngân sách thị xã hàng năm. Đối với các đơn vị sử dụng ngân sách, thực hiện công khai việc phân bổ và sử dụng kinh phí ngân sách giao hàng năm. Nội dung công khai được thực hiện dưới các hình thức như công bố trong các kỳ họp cơ quan, niêm yết công khai tại trụ Sở, thông báo bằng văn bản cho các đơn vị cấp dưới trực thuộc... * Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan tài chính, Kho bạc nhà nước và các cơ quan liên quan trong công tác quản lý chi ngân sách và áp dụng thành công hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc 88 Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho là phần quan trọng nhất trong Dự án cải cách quản lý tài chính công được Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ Tài chính chủ trì và triển khai theo Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 21/4/2003 về việc phê duyệt báo cáo khả thi Dự án Cải cách quản lý tài chính công nhằm hiện đại hoá công tác quản lý ngân sách nhà nước từ khâu lập kế hoạch, thực hiện ngân sách, báo cáo ngân sách và tăng cường trách nhiệm ngân sách của Bộ Tài chính; nâng cao tính minh bạch trong quản lý tài chính công, hạn chế tiêu cực trong việc sử dụng ngân sách, đảm bảo an ninh tài chính trong quá trình phát triển và hội nhập của quốc gia. 3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ - Do Luật Ngân sách chưa quy định giới hạn thời gian được phép điều chỉnh, bổ sung dự toán nên tình trạng dự toán điều chỉnh, bổ sung nhiều lần trong năm. Việc bổ sung, điều chỉnh thường thực hiện vào tháng 12 hàng năm làm ảnh hưởng đến tính chủ động trong sử dụng ngân sách của các đơn vị dự toán. Mặt khác, do điều chỉnh, bổ sung ngân sách dồn vào cuối năm nên nhiều trường hợp, đơn vị không đủ thời gian để tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ đó, dẫn tới số chi chuyển nguồn sang năm sau rất lớn. Do đó, cần có quy định giới hạn về thời gian được phép điều chỉnh dự toán, tránh điều chỉnh vào cuối năm và trong thời gian chỉnh lý quyết toán, gây khó khăn trong quản lý, điều hành và sử dụng ngân sách. Mặt khác, cần hoàn thiện các quy định về phân định nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các cấp chính quyền theo phân cấp quản lý kinh tế - xã hội. - Thông tư số 108/2008,TT-BTC ngày 28/11/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý ngân sách cuối năm và lập, báo cáo quyết toán ngân sách Thang Long University Libraty 89 nhà nước hàng năm quy định chi chuyển nguồn sang ngân sách năm sau quy định rất nhiều nội dung được phép chuyển nguồn sang năm sau và còn chung chung, chưa cụ thể. Đặc biệt, quy định việc cho phép chuyển nguồn đối với số dư tạm ứng chi thường xuyên sẽ dẫn tới việc các đơn vị không tích cực tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao, số chuyển nguồn sang năm sau hàng năm khá lớn và có xu hướng ngày càng tăng đặc biệt là đối với các khoản chi cho các hoạt động sự nghiệp. Để tránh tình trạng trên, Bộ Tài chính cần có quy định cụ thể, chi tiết và rõ ràng những nội dung được phép chuyển nguồn sang năm sau và thời hạn hoàn thành việc triển khai các nhiệm vụ để thúc đẩy các đơn vị tổ chức thực hiện nhiệm vụ hạn chế tối đa việc chuyển nguồn sang năm sau. - Bộ Tài chính cần ban hành đủ các định mức có tính khoa học, linh hoạt và khả thi cần thiết cho công tác quản lý chi ngân sách, tránh tình trạng nhiều địa phương do bức xúc của tình hình định mức lạc hậu đã tự quy định một số chế độ riêng, ngoài quy định của Trung ương. Đề nghị thực hiện phân cấp, phân quyền cho địa phương được phép ban hành một số chế độ tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách với những yêu cầu và điều kiện nhất định theo định mức trong khung do Bộ Tài chính quy định. - Do định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên cho ngân sách thị xã thường giao ổn định trong 5 năm, theo từng thời kỳ ổn định ngân sách địa phương. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế hiện nay có nhiều biến động, giá cả tăng nhanh gây khó khăn trong chi tiêu của đơn vị sử dụng ngân sách. Do vậy, UBND thành phố nên quy định bổ sung tiêu chí về hệ số trượt giá trong công thức tính toán phân bổ dự toán hàng năm để đảm bảo 90 công bằng và chủ động trong điều hành ngân sách của địa phương. Kết luận chương 3 Trên cơ sở phân tích kỹ thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại chương 2, chương 3 đã đưa ra 5 nhóm giải pháp nhằm tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước, đồng thời đưa ra một số kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hoàn thiện hơn trong công tác quản lý ngân sách. Thang Long University Libraty 91 KẾT LUẬN Quản lý chi NSNN nói chung và quản lý chi thường xuyên ngân sách thị xã nói riêng có vai trò rất quan trọng. Nó bảo đảm cho ngân sách được sử dụng một cách có hiệu quả trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh chính trị. Quản lý chi thường xuyên ngân sách thị xã có hiệu quả sẽ khuyến khích kinh tế phát triển. Luận văn đã hệ thống hoá và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chi thường xuyên ngân sách nhà nước. Luận văn cũng đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách ở thị xã Sơn Tây trên các nội dung của quản lý chi thường xuyên ngân sách đã được phân tích ở phần lý luận. Về đánh giá chung thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách tại thị xã Sơn Tây, luận văn đã khái quát những thành công cơ bản và hạn chế trong lĩnh vực này, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của thực trạng trên. Để khắc phục những hạn chế này, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý chi thường xuyên ngân sách thị xã ngày càng tăng, cũng như để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thị xã Sơn Tây đến năm 2020, luận văn đề xuất năm nhóm giải pháp nhằm tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của thị xã Sơn Tây và đưa ra một số kiến nghị đối với các cơ quan nhà nước. Trong đó, đáng chú ý là giải pháp hoàn thiện quản lý lập, phân bổ, giao và chấp hành dự toán chi thường xuyên ngân sách thị xã. Đây là giải pháp giúp cho ngân sách cấp thị xã được quản lý, kế hoạch hóa ngay từ khâu đầu tiên đến khâu chấp hành dự toán, qua đó ngân sách được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thị xã, tránh lãng phí./. 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phạm Ngọc Ánh (2012), Những vấn đề lý luận và chính sách tài chính ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2. Vũ Cương (2012), Kinh tế và tài chính công, Nxb Thống kê, Hà Nội. 3. Vũ Thu Giang (1996), Những vấn đề cơ bản về kinh tế học vĩ mô, Nxb Thống kê, Hà Nội. 4. Bộ Tài chính (2003), Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 hướng dẫn thực hiện Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN. 5. Bộ Tài chính (2003), Thông tư 79/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003 hướng dẫn chế độ quản lý cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN . 6. Bộ Tài chính (2006), Thông tư 18/2006/TT-BTC ngày 13/6/2006 hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các cơ quan nhà nước thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính. 7. Bộ Tài chính (2006), Thông tư 71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. 8. Bộ Tài chính (2007), Thông tư số 01/2007/TT- BTC ngày 02/01/2007 hướng dẫn xét duyệt, thẩm định và thông báo quyết toán năm đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ và ngân sách các cấp. 9. Bộ Tài chính (2008), Thông tư 107/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 hướng dẫn bổ sung một số điểm về quản lý, điều hành ngân sách nhà nước. 10. Bộ Tài chính (2008), Thông tư 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 hướng dẫn xử lý ngân sách cuối năm và lập báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm. 11. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 161/2012/TT-BTC ngày 02/10/2012 Thang Long University Libraty 93 Quy định chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước. 12. Chính phủ 2003, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 Quy định chi tiết và hướng thi hành Luật Ngân sách nhà nước. 13. Chính phủ 2003, Nghị định số 73/2003/NĐ-CP ngày 23/6/2003 ban hành Quy chế xem xét, quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương. 14. Quốc hội 2002, Luật số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 về ngân sách nhà nước. 15. UBND thị xã Sơn Tây (2012), Báo cáo tổng quyết toán thu chi ngân sách nhà nước năm 2011, Sơn Tây. 16. UBND thị xã Sơn Tây (2013), Báo cáo tổng quyết toán thu chi ngân sách nhà nước năm 2012, Sơn Tây. 17. UBND thị xã Sơn Tây (2014), Báo cáo tổng quyết toán thu chi ngân sách nhà nước năm 2013, Sơn Tây. 18. UBND thị xã Sơn Tây (2015), Báo cáo tổng quyết toán thu chi ngân sách nhà nước năm 2014, Sơn Tây. 94 Thang Long University Libraty

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf20_5714_8503.pdf
Luận văn liên quan