Luận văn Từ ngữ hán việt trong ca dao Nam Bộ

Người Nam Bộ chuộng cách nói thẳng, nói thật nên đã mang vào trong ca dao lời ăn tiếng nói hằng ngày của mình. Vì thế, ngôn ngữ ca dao Nam Bộ có cách dùng từ ngữ mộc mạc, gần gũi với cuộc sống thường ngày chứ ít dụng công gọt giũa cho bóng bảy, êm ái. Từ đó có thể khẳng định rằng: sự xuất hiện của lớp từ ngữ Hán Việt đã làm cho ca dao Nam Bộ có thêm sắc thái trang trọng, tao nhã, khái quát – trừu tượng và hàm súc. Ca dao Nam Bộ không chỉ sử dụng từ ngữ Hán Việt mà còn sử dụng nhiều hơn ca dao Nam Trung Bộ và ca dao Việt Nam (như chúng tôi đã khảo sát). Ca dao Nam Bộ cũng dùng từ ngữ Hán Việt nhiều hơn ca dao xứ Bắc, xứ Nghệ (theo khảo sát của Nguyễn Phương Châm), mà những vùng này vốn là những vùng đất cổ, có tuổi đời mấy ngàn năm so với tuổi đời mấy trăm năm của đất Nam Bộ.

pdf240 trang | Chia sẻ: toanphat99 | Ngày: 21/07/2016 | Lượt xem: 1394 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Từ ngữ hán việt trong ca dao Nam Bộ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hải như ba sinh tiền định thiếp mời chàng ghé dây. 326 517. Tiền nhật Hai đứa mình như nước rộng trong chai, Tiền nhật anh nói vậy, không biết hậu lai thế nào? 293 518. Tiền nhựt Hai đứa mình gá nghĩa bữa nay, Tiền nhựt em nói vậy, còn hậu lai thế nào? Anh dứt lời than, em ruột thắt gan bào, Anh đi về bển, em vô phòng đào nước mắt rơi. 292 519. Tiền tài Tiền tài nay đổi mai dời, Ngỡi nhơn gìn giữ trọn đời với nhau. 392 520. Tình ái 1. Lỡ bước giang đông, lỡ vòng tình ái, Trách ai về, gạt gái nữ thanh, Đêm nằm em trách ông trời xanh, Ổng sắp làm chi anh đầu non, em góc núi, Để kẻ đi tắt người về quanh một mình. 2. Lúc em bước chân ra, ở nhà má có dặn, Công sanh thành là nặng, điều tình ái là khinh. Mựa đừng tham sắc mê tình, Lánh xa tửu điếm, trà đình chớ ô. 311 312 521. Tình chung 1. Lòng qua như sắt, nói chắc một lời, Bạc tiền chẳng trọng, chỉ trọng người tình chung. 2. Mặt trăng được mấy cuội ngồi, Một thuyền chở được mấy người tình chung? 3. Rửa tay cho trắng, Ngắt ngọn rau đắng, trong trắng ngoài tươi. Bạc bảy mươi chuộc lấy tiếng em cười, Vàng đôi không tiếc, tiếc người tình chung. 311 317 363 522. Tình nghĩa Cách bấy thu tưởng đà ly biệt Ai hay em còn trực tiết chờ anh. Đem lòng ngơ ngẩn sao đành, Chẳng duyên tơ tóc cũng tình nghĩa xưa. 202 523. Tình thương Mình giữ chữ trung, chữ hiếu, Còn thiếu chữ ân tình, 319 107 Đạo chồng nghĩa vợ sao mình vội vong? Làm thơ giấy trắng cẩn phong, Tình thương nghĩa nhớ ở trong thơ này, Xem thơ nước mắt nhỏ đầy, Thương tôi đừng gởi thơ này làm chi. Nhện giăng trướng án bố vi. Hai đứa mình chồng vợ sợ chi tiếng đồn. 524. Tọa đăng 1. Đèn tọa đăng để trước bàn thờ, Vặn lên nó tỏ, vặn xuống nó lờ, Xuống sông hỏi cá, lên bờ hỏi chim, Trách ai làm cho thố nọ xa tiềm, Em xa người nghĩa, nằm điềm chiêm bao. 2. Đèn tọa đăng đốt để bàn thờ, Chúng mình duyên nợ bao giờ không hay. 3. Đèn tọa đăng đốt để bàn thờ, Hai đứa mình chuyện vãn, tắt bao giờ không hay. 4. Đèn tọa đăng đốt để bàn thờ, Vặn lên cho nó tỏ, vặn nhỏ cho nó lờ, Anh thương em vì bởi cái khờ của em. 5. Ván cẩm lai trải chiếu bìa xanh, Đèn tọa đăng anh thắp sẵn chờ anh hết dầu. 254 254 254 254 413 525. Tố hộ Con công tố hộ trên rừng, Hễ có cô chị thì đừng cô em. 237 526. Tội nghiệp 1. Bậu có chồng chưa, bậu thưa cho thiệt, Kẻo để anh lầm tội nghiệp thân anh. 2. Có chồng chưa xin thưa cho thiệt, Kẻo anh lầm tội nghiệp, em ơi! 183 230 527. Trang điểm 1. Tiếc công trang điểm bấy lâu, Trai tơ không gặp, gặp râu ba chòm. 2. Má ơi con má hư rồi, Má lo trang điểm phấn dồi cũng hư. 391 466 528. Tráng án Tiếc công phu tôi che cây dù tráng án, Che mấy năm trời cũng nắm cán dù không. 500 529. Trần ai Hồi nào vịn vế kề vai, Bây giờ anh bỏ trần ai một mình. Cảm thương lời nói chung tình, Một trăm năm cũng để phòng huỳnh chờ em. 299 108 530. Tri âm 1. Bậu đừng nghĩ ngợi thiệt hơn, Rửa tai nghe lóng tiếng đờn tri âm. 2. Đây anh không giận, đó em cũng chớ hờn, Kiếp tái sanh ta sẽ nối phiếm đờn tri âm. 3. Thôi đây anh không giận thì đó em cũng đừng buồn, Kiếp tái sanh mình nối phím đờn tri âm. 4. Vườn thượng uyển thiếu chi chồi lan huệ, Nội thượng lâm đâu thiếu tược mẫu đơn. Bậu đừng nghĩ ngợi thiệt hơn, Rửa tai nghe lóng tiếng đờn tri âm. Đờn tri âm tiếng đơn, tiếng kép, Rao nhặt khoan tiếng thiếp tiếng chàng. Bậu về qua Cửu Long giang, Tình thương qua nhớ bậu, nỗi dạ càng xót xa. Trách ai làm cách đôi ta, Đêm năm canh thổn thức vào ra thêm sầu. Chia tay gan thắt ruột bào, Đêm ngày than thở dầu bao canh tàn. Cúc đang xanh sao cúc vội tàn, Kiểng đương xanh sao kiểng héo, tôi hỏi nàng tại ai? 5. Văn minh gặp buổi Lang – Sa, Tri âm thì ít, trăng hoa thì nhiều. 183 251 384 418 503 531. Tri kỷ Đây đã chèo lơi, Đặng chờ người tri kỷ, Gặp mặt chuyện trò cho phỉ ước mơ. 251 532. Trí huệ Phụ mẫu đánh em xương tan thịt nát, bỏ xác xuống đường mương, Anh đấng làm trai thông minh trí hụê sao để gái hiền lương bị đòn? 357 533. Trí tài Khen cho anh bạn trí tài, Thương không hổng biết, giãi bày dễ nghe. 302 534. Trí tri Lộ bất hành bất đáo, Chung bất đả bất minh. Lâu nay tôi chẳng biết ý mình, Ngày nay minh bạch nhơn tình trí tri. 311 535. Tróc vi Con cá tróc vi hiềm vì nước chảy, Cần câu gãy vì bụi gốc vướng cong. Bởi vì mai mối không xong, Nên duyên đôi ta trắc trở chứ tấm lòng không quên. 233 536. Trứ danh Ngọt hơn quýt mật, cam sành, Biên Hòa có bưởi trứ danh tiếng đồn. 129 537. Trực thị Mặt trời trực thị chân mây, Có hai con mắt ngủ ngày một con. 494 538. Trực tiết 1. Cách bấy thu tưởng đà ly biệt 202 109 Ai hay em còn trực tiêt chờ anh. Đem lòng ngơ ngẩn sao đành, Chẳng duyên tơ tóc cũng tình nghĩa xưa. 2. Gió đưa nước, nước xao dợn dợn, Gió đưa mây, mây chạy dật dờ, Đó đây duyên nợ sờ sờ, Bậu còn trực tiết mà chờ trông ai? 3. Nhạn còn náo nức hứng sương, Em còn trực tiết náu nương chờ mình. 4. Tại mẹ cha dứt tình tơ nguyệt, Khuyên em đừng trực tiết uổng công. 288 340 372 539. Trượng phu 1. Trượng phu xử nghĩa vuông tròn, Ngàn năm lưu lạc dạ còn thương anh. 2. Làm trai đứng ở trên đời, Sao cho xứng đáng giống nòi nhà ta. Ghé vai gánh đỡ sơn hà, Sao cho tỏ mặt mới là trượng phu. 410 493 540. Tụ ngũ Chim quyên, chim én, chim phụng, chim nhàn, Bốn con tùng tam, tụ ngũ, Đậu mai mai rũ, đậu liễu liễu tàn, Từ ngày anh với em xa cách đôi đàng, Cơm ăn chẳng đặng, bạn vàng biết chăng? 223 541. Túc đế 1. Phải duyên túc đế, Như cây cỏ đế ngoài Huế anh cũng tìm. Không phải lương duyên, Như cây cúc mọc dựa thềm anh cũng không. 2. Thiếu chi củi quế rừng ta, Kiếm chi củi mục rừng xa đem về. Phải duyên túc đế ngoài Huế tôi cũng tầm, Không phải duyên củi quế dựa thềm tôi cũng nhổ quăng. 355 383 542. Tung hoành Vô phúc lấy phải trẻ ranh, Nó ăn nó bỏ tung hoành nó đi. 456 543. Tùng giả Thấy cô nho nhỏ tôi muốn bỏ nghề đờn, Theo cô làm tùng giả, đánh quờn cho cô coi. 380 544. Tùng tam Chim quyên, chim én, chim phụng, chim nhàn, Bốn con tùng tam, tụ ngũ, Đậu mai mai rũ, đậu liễu liễu tàn, Từ ngày anh với em xa cách đôi đàng, Cơm ăn chẳng đặng, bạn vàng biết chăng? 223 545. Tư niên Chanh chua thì khế cũng chua, Chanh bán có mùa khế bán tư niên. 478 110 546. Tư tình 1. Cầu cao, ván yếu, Ngựa kiệu tứ linh, Em đi đâu tăm tối một mình, Hay là em có tư tình với ai ? 2. Ngày nào mà đặng gần mình, Mới là hết bịnh tư tình cùng em. 206 329 547. Từ đường Biết đặng hay không mà hòng xắn tay áo, Vén bức sào làm lễ từ đường, Mai sau không đặng, ai thường công anh. 190 548. Từ luận Nằm đêm nghe vạc kêu canh, Nghe chim từ luận chuyện anh với nàng. 328 549. Từ mẫu Nên thì lập kiểng trồng hoa, Chẳng nên đá kiểng trồng cà dái dê. Chẳng nên thiếp trở lộn về, Dưỡng nuôi từ mẫu, trọn bề hiếu trung. 328 550. Tử sanh 1. Đêm nằm lưng chưa bén chiếu, Tay níu thành giường, Thương em quá bộ, quên đường tử sanh. 2. Em bước vô mùng con mắt nọ dòm quanh, Nghiêng mình nằm xuống, tử sanh nhờ trời. 3. Lời thề hai mái tóc xanh, Theo nhau cho trọn, tử sanh cũng liều. 4. Nước Cửu Long sóng dồn cuồn cuộn, Cửa Hàm Luông mây cuốn cánh buồm xuôi, Bậu với qua hai mặt một lời, Trên có trời, dưới có đất, Ngãi trăm năm vương vất sợi tơ mành. Tử sanh, sanh tử chung tình, Dầu ai săn đón, tôi với mình cứ thương. 5. Tay bưng chén quế, tay chế nước đường, Tử sanh cũng quyết nghĩa cang thường đặng nên. 6. Tay cắt tay sao nỡ, Ruột cắt ruột sao đành. Lời anh thề nước biếc non sanh, Theo anh cho trọn, tử sanh tại trời. 7. Tôi gá duyên với mình thập tử nhất sanh, Nghiêng mình nằm xuống tử sanh nhờ trời. 8. Em nói mà không sợ tử sanh, Chồng em còn thuốc, theo anh làn gì? 9. Nhạn lạc bầy kêu sương nơi biển bắc, Em tìm anh mọi nẻo tắt đường quanh, Em vái cho chồng gặp vợ, dầu có tử sanh cũng không nề. 10. Trăm năm nhơn ngãi vẹn toàn, Tử sanh tạc dạ đá vàng nào phai. 259 273 312 345 373 373 395 396 445 453 111 551. Tứ bề 1. Ngó lên trời thấy mây bay vần vũ, Ngó xuống âm phủ thấy đá dựng tứ bề. Làm sao cho trọn nghĩa phu thê, Đây chồng đó vợ đi về có đôi. 2. Chừng nào trời nọ bể hai, Bông vông màu trắng, mới sai lời thề. Sông sâu sóng bủa tứ bề, Trách người cựu ngãi chẳng hề vãng lai. 3. Đi ngang nhà nhỏ, Lóng tai nghe rõ, Phụ mẫu đánh nàng, Tứ bề cửa đóng phòng loan, Anh không vô đặng đỡ nàng đôi roi. 4. Mây trên trời, bủa giăng tứ phía, Nước ngoài biển, sóng dợn tứ bề. Biết làm sao cho hiệp nghĩa phu thê, Đó chồng, đây vợ ra về có đôi. 5. Trời vần vũ mây giăng tứ phía, Đất biển Đông sóng gợn tứ bề, Làm sao nên nghĩa phu thê, Đó chồng đây vợ ra về có đôi. 6. Tôi xa mình chưa mấy con trăng, Nhà hư cột gãy nhện giăng tứ bề. 7. Ngó lên trời thấy mây mưa vần vũ, Ngó xuống âm phủ thấy đá dựng tứ bề. Làm sao cho trọn nghĩa phu thê, Đây chồng đó vợ đi về có đôi. 445 230 262 318 408 411 445 552. Tứ chiếng Trai tứ chiếng, gái giang hồ, Gặp nhau ta nổi cơ đồ cũng nên. 152 553. Tứ diện 1. Ngó lên trời sao giăng tứ diện, Ngó ngoài biển chim liệng, cá đua. Em thề với anh trước miễu sau chùa, Ai cho em uống thuốc bùa em mê? 2. Ngó lên trời thấy mây giăng tứ diện, Ngó xuống biển thấy chim liệng cá đua. Anh về lập miễu thờ vua, Lập trang thờ mẹ, lên chùa thờ cha. 333 468 554. Tứ giăng Cha tôi già, mẹ tôi yếu, con tôi còn nhỏ xíu, mắc nợ tứ giăng, Muốn mượn anh vô trả thế, sợ anh nói nợ không ăn, anh phiền. Thương em rồi anh dẹp lấy ưu phiền, Nợ tao khang nặng nhất, đâu phải vì bạc tiền em ơi. 212 555. Tứ hải Chí quân tử cửu châu lập nghiệp, Đại trượng phu tứ hải đi xa, Thương em vì nết hiền hoà, 216 112 Thiếu chi người trong thiên hạ vậy mà anh không thương. 556. Tứ linh Cầu cao, ván yếu, Ngựa kiệu tứ linh, Em đi đâu tăm tối một mình, Hay là em có tư tình với ai? 206 557. Tứ phía 1. Mây trên trời, bủa giăng tứ phía, Nước ngoài biển, sóng dợn tứ bề. Biết làm sao cho hiệp nghĩa phu thê, Đó chồng, đây vợ ra về có đôi. 2. Trời vần vũ mây giăng tứ phía, Đất biển Đông sóng gợn tứ bề, Làm sao nên nghĩa phu thê, Đó chồng đây vợ ra về có đôi. 318 408 558. Tứ phương Tre dày ngọn ngã tứ phương, Nằm đêm nghĩ lại mà thương tre dày. 404 559. Tứ quí Lựu lê, bình bát, mãng cầu, Bốn cây tứ quý anh sầu một cây. 313 560. Tứ sắc 1. Em đi mần một ngày có hai cắc, Về thấy anh ngồi trong sòng tứ sắc, kể chắc anh thua rồi. Anh ơi ! anh không dòm lại con thơ vợ yếu, gạo chạy từng nồi anh thấy chưa? 2. Tôi ở Trà Vinh tôi nghèo quá, Tôi chèo ghe vô Cà Mau, Rạch Giá, Tôi mua ít tạ khoai lang, Tôi đi thẳng Trà Bang, Tôi bán một tạ chỉ lời mấy cắc. Tôi trở về nhà thấy anh ngồi ở sòng tứ sắc, Tôi kể chắc anh đã thua rồi, Trời đất ơi ! Con năm bảy đứa, gạo tôi kiếm từng nồi anh thấy không. 438 452 561. Tứ túc Con cá lia thia nằm trong chậu cúc, Quạt đuôi tứ túc bốn chữ hồ văn, Anh chê em duyên nợ không bằng, Kiếm nơi nào khác cho bằng lòng anh. 232 562. Tự ải 1. Chiều nay em ra sông cái, Em tự ải cho rồi, Sống làm chi biệt ly quân tử, Thác cho rồi đặng chữ hiếu trung. 2. Rút gươm linh tự ải bờ thánh, Chẳng thà lìa tử, bao đành lìa sanh. 220 363 113 563. Tự nhiên 1. Đất láng nguyên tự nhiên cây cỏ mọc, Anh mảng lo nghèo, bạn ngọc có đôi. Đó có đôi thời thôi bớ bậu, Lui tới làm gì cho lậu tiếng ra. 2. Miếng đất láng nguyên tự nhiên cỏ mọc, Anh mảng lo nghèo, bạn ngọc có đôi. 250 320 564. Tương hội Không trước thì sau lý đào tương hội, Khuyên em dằn lòng chờ đợi ít lâu. 304 565. Tương trợ 1. Khó giúp nhau mới thảo, Giàu tương trợ ai màng, Kiếm người giữ đạo chớ điếm đàng thiếu chi. 2. Khó giúp nhau mới thảo, Giàu tương trợ ai màng, Kiếm người giữ tạo chớ điếm đàng thiếu chi. 3. Khó giúp nhau mới thảo, Giàu tương trợ ai màng, Cây kiểng đang xanh sao anh tưới, cây kiểng tàn anh bỏ khô. 302 302 302 566. Tương tư 1. Anh đừng sầu não tương tư, Để em thưa lại mẫu từ họa may. 2. Bậu có chồng như cá vô lờ, Tương tư nhớ bậu dật dờ năm canh. 3. Buồn trông ngọn cỏ vờn mây, Tương tư ai giải cho khuây nỗi buồn? 4. Cá rô ăn móng, Dợn sóng dưới đìa, Tại ba với má, Vặn khóa bẻ chìa, Chìa hư khóa liệt, Đôi ta cách biệt, Năm bảy tháng trường, Cơm ăn chẳng đặng, Ăn ròng tương tư. 5. Chỉ ngũ sắc xanh đỏ trắng vàng, Bùa yêu vướng phaỉ, dạ càng tương tư. 6. Đau tương tư đầu tóc rối nùi, Đặt lược lên, lấy lược xuống, nước mắt chùi không khô. 7. Em đau tương tư nằm tại phòng huỳnh, Kẻ thăm người viếng sao không thấy anh chung tình vãng lai. 8. Lụy chan chan đưa chàng xuống vịnh, Trở lộn về thọ bịnh tương tư. 9. Non cao vòi vọi, biển lớn mênh mông, Thương thay cho phận quần hồng, Vì duyên vì nợ nặng lòng tương tư. 10. Sông sâu sóng bổ láng cò, 163 183 195 201 216 248 275 312 344 368 114 Thương anh vì bởi câu hò có duyên. Làm thơ chẳng biết ai đem, Cậy con chim nhạn nó đem cho mình. Mình đau tương tư, tôi vái cho mình, Vái cho mình mạnh vô đình cúng heo. Mình vái rồi, tôi lại vái theo, Vái cho mình mạnh mấy heo chẳng cần. Phải gần năm ngoái thì gần, Năm nay vái miễu cúng thần cũng xa. 11. Sông Tương ai gọi là sâu, Chẳng bằng phân nửa mạch sầu của ta. Sông tuy sâu hãy còn có đáy, Bệnh tương tư không bãi không bờ. Đầu sông chẳng đợi chẳng chờ, Nào hay thiếp đợi hững hờ cuối sông. 12. Tương tư đầu tóc rối nùi, Đặt lược lên, lấy lược xuống nước mắt chùi không khô. 369 412 567. Tửu điếm Lúc em bước chân ra, ở nhà má có dặn, Công sanh thành là nặng, điều tình ái là khinh. Mựa đừng tham sắc mê tình, Lánh sa tửu điếm, trà đình chớ vô. 312 568. Ưu phiền 1. Cha tôi già, mẹ tôi yếu, con tôi còn nhỏ xíu, mắc nợ tứ giăng, Muốn mượn anh vô trả thế, sợ anh nói nợ không ăn, anh phiền. Thương em rồi anh dẹp lấy ưu phiền, Nợ tao khang nặng nhất, đâu phải vì bạc tiền em ơi. 2. Thôi thôi đừng có ưu phiền, Kiếp này không gặp để nguyền kiếp sau. 212 384 569. Vạn lý lân Bên tay tả có con thiên lý mã, Bên tay hữu có con vạn lý lân, Nhìn xem hai con cũng ngang phân, Anh đây muốn cưỡi một lần hai con. 188 570. Vãng lai 1. Chuồn chuồn đậu ngọn mía lung, Em đà có chốn anh đừng vãng lai. 2. Chừng nào trời nọ bể hai, Bông vông màu trắng, mới sai lời thề. Sông sâu sóng bủa tứ bề, Trách người cựu ngãi chẳng hề vãng lai. 3. Đêm khuya em ngồi dựa mé hiên đình, Sương sa, gió lạnh, không thấy mình vãng lai. 4. Đồng Nai, Gia Định còn về, Cách ba tấc đất không hề vãng lai. Đường dài ngựa chạy cát bay, Ngỡi nhân thăm thẳm mỗi ngày một xa. 227 230 256 266 115 5. Em đau tương tư nằm tại phòng huỳnh, Kẻ thăm người viếng sao không thấy anh chung tình vãng lai. 6. Như vầy mới gọi là trai, Ngày đi làm mướn, tối vãng lai thăm nàng. 275 343 571. Văn chương Mặt trời đỏ tợ lửa đốt, Mặt trăng tươi tốt tợ bóng hường, Lấy chồng lựa người chữ nghĩa văn chương, Quang minh trí tuệ cao cường hơn em. 317 572. Văn minh 1. Đời phải đời thịnh trị, Cuộc phải cuộc văn minh, Kìa là gió mát trăng thanh, Biết đâu nhơn đạo bày tình cho vui. 2. Văn minh gặp buổi Lang – Sa, Tri âm thì ít, trăng hoa thì nhiều. 267 503 573. Vận hạn Bậu không biết nghĩ, bậu tỷ như vầy: Chim oanh ương còn biết kết bầy, Cá bỉ mục còn vầy đôi bạn, Chẳng qua vận hạn, Anh mới xa nàng, Chớ ai có muốn bạn vàng lẻ loi. 184 574. Vinh hiển Anh thương em, thương quấn, thương quýt, Bồng ra gốc mít, bồng xích gốc chanh, Bồng quanh đám sậy, bồng bậy vô mui, Bồng lủi sau lái, bồng ngoái trước mũi, Để em nằm xuống đây, Kể từ ngày em đau ban cua lưỡi trắng, Miệng đắng cơm hôi, Tiếc công anh đỡ đứng, bồng ngồi, Bây giờ em vinh hiển, em bắt anh bán nồi làm chi. 170 575. Vinh huê Bấy lâu cách trở sơn khê, Tưởng anh đã đặng vinh huê với đời. 186 576. Vinh quy Bây giờ anh đặng chữ vinh quy, Ham nơi quyền quý, nghĩ gì đến em. 186 577. Võ môn Anh như cái võ môn cao không xiết kể, Ngăn ngoài cửa bể, Đợi cá lý ngư về, Kiếp tu em còn vụng, khôn bề thoát qua. 167 578. Vô cớ Em thương anh hết sức thương, nhớ hết sức nhớ, Gặp anh vô cớ em chẳng dám nhìn, Sợ chị lớn ở nhà chỉ sanh tâm biến tánh, hốt hoả lôi đình, Chỉ rình ngã ba, chỉ đón ngã bảy, không biết chết mình hay hại em. 278 116 579. Vô duyên 1. Vô duyên lấy phải vợ già, Ăn cơm phải đút : “Bẩm bà nuốt đi”. 2. Bí lên ba lá, Trách ba với má, Không ngắt ngọn làm giàn, Để bí bò lan. Trách hường nhan, Vô duyên bạc phận, Duyên nợ gần không đặng xứng đôi. 3. Làm người có vợ có chồng, Mấy ai mà chịu phòng không đến già Hữu duyên chẳng quản đường xa, Vô duyên dầu ở một nhà chẳng nên. Trăm năm giữ tấm lòng bền, Trọn đời tôi quyết chẳng quên mặt nàng. 4. Ra sông xách nước bằng chình, Xẩy tay rớt xuống, gẫm mình vô duyên. 456 189 307 498 580. Vô đệ Em rầu nỗi mẫu thân mất sớm, Chữ nhớ thương đau ốm một mình, Phận em vô đệ, vô huynh, Không nơi nương dựa, cui cút một mình, bớ anh. 277 581. Vô giá Chữ thương vô giá quá chừng, Trèo cao quên mệt, băng rừng quên gai. 229 582. Vô hồi 1. Em thương anh bất tận vô hồi, Ngủ quên còn nhớ, thức dậy ngồi còn thương. 2. Thương anh đáo để vô hồi, Tướng đi, tướng đứng, tướng ngồi cũng thương. 278 387 583. Vô huynh Em rầu nỗi mẫu thân mất sớm, Chữ nhớ thương đau ốm một mình, Phận em vô đệ, vô huynh, Không nơi nương dựa, cui cút một mình, bớ anh. 277 584. Vô nghì Nước trong thấy đá, cá lội thấy kỳ, Anh thương em lỗi đạo vô nghì, Vợ còn, con sẵn, nghĩa lý gì mà thương. 350 585. Vô phúc Vô phúc lấy phải trẻ ranh, Nó ăn nó bỏ tung hoành nó đi. 456 586. Vô phước 1. Con quạ đen lông kêu bằng ô thước, Thấy em lấy chồng vô phước anh thương. 2. Quạ đen lông kêu bằng ô thước, Thấy em có chồng vô phước anh thương. 3. Số anh vô phước mất phần, Khiến đi ải bắc non Tần xa em. 238 359 366 587. Vô tình Xa xôi chịu chữ vô tình, Tới lui chẳng đặng nên mình có đôi. 419 588. Vô tội Đờn cầm ai nỡ dứt dây, Gẫm mình vô tội ai gây oán thù. 267 589. Vô ý Cây kiểng trồng rào rắp xung quanh, 209 117 Tại vì anh vô ý cây kiểng đương xanh nó vội tàn. Anh gặp em đây đứng lại giữa đàng, Muốn phân nhơn ngãi, e ngỡ ngàng khó phân. 590. Vu quy Trai trưởng thành định đôi can lệ, Gái khôn rồi đặng chữ vu quy. Trăm năm có một lần đi, Trai thì trọn hiếu, gái thì thủy chung. 453 591. Xạ hương Khoai lang gọt vỏ chặt bỏ hai đầu, Lấy chồng thầy thuốc hói đầu xạ hương. 440 592. Xuất giá Công sanh dưỡng bằng công tạo hóa, Có mẹ cha sau mới có chồng. Nhớ khi dìu dắt ẵm bồng, Nay đi xuất giá não lòng lắm thay. 463 593. Xung khắc Xê ra đừng đứng một bên, Thủy hỏa xung khắc chẳng nên đứng gần. Tuổi anh mười chín, tuổi dần, Tuổi em tuổi tuất đứng gần can chi. 420 594. Yến anh Ngày nay loan phụng lẻ bầy, Nam vang kia xa xứ, khó gầy yến anh. 329 595. Y Yểu điệu Sông sâu sóng bủa láng cò, Thương em vì bởi câu hò có duyên. Chưa chồng ở vậy cho nguyên, Đặng anh chọn chiếc thuyền quyên rước về. Thấy em da trắng muốn kề, Hường nhan cũng đẹp sợ bề có đôi. Anh đừng nói vậy anh ơi, Hình dung yểu điệu có đôi bao giờ. 369 NGỮ HÁN VIỆT 596. Ân cha nghĩa mẹ Ân cha nghĩa mẹ chưa đền, Bậu mong ôm gối cuốn mền theo ai. 177 597. Ba sinh tiền định Này bạn ơi, Con cò trắng lượn quanh đám cấy, Bước đến đây thấy dạ bồi hồi, Chẳng duyên chẳng nợ thì thôi, Phải duyên phải nợ em đáp lời cùng anh. Này anh ơi, duyên đâu run rủi giữa đàng, Nếu phải như ba sinh tiền định thiếp mời chàng ghé dây. 326 598. Bạc phước vô môn Chữ rằng bạc phước vô môn, Giàu sang dễ kiếm, người khôn khó tìm. 228 599. Bách niên giai ngẫu Ngọc trầm thủy thượng anh ơi, Bách niên giai ngẫu ở đời với em. 336 600. Bần cư náo thị vô nhơn vấn, Phú tại thâm sơn hữu viễn thân Bần cư náo thị vô nhơn vấn, Phú tại thâm sơn hữu viễn thân. Anh với em chút nữa thì gần, Tại ba với má bẻ cần tháo dây. 182 118 601. Báo bổ sanh thành Anh về báo bổ sanh thành, Chừng nào bóng xế rũ mành sẽ hay. 172 602. Bất khả viễn vông Bần gie bần ngã, bất khả viễn vông, Anh với em như sợi chỉ lộn vòng, Kiếm sao đặng mối bá tòng mới vui. 182 603. Bất khả viển vông Cây gie cây bần ngã, Bất khả viển vông, Tới đây em nói cho anh vừa lòng, Em đây có chốn loan phòng đã lâu. 209 604. Bất tận vô hồi Em thương anh bất tận vô hồi, Ngủ quên còn nhớ, thức dậy ngồi còn thương. 278 605. Bất tôn giáo hóa Ba bốn nơi sang cả, phụ mẫu em đành gả, Em chắp tay: khoan đã, chưa tới căn phần, Phụ mẫu em nói em bất tôn giáo hóa, đem treo cây bần cho kiến bu. 177 606. Bình tích thủy Bình tích thủy đựng bông hoa lý, Chén chung vàng đựng nhụy bông ngâu. Trách ai làm trai hữu nhãn vô châu, Chim oanh không bắn, bắn con chim sâu đậu nhành tùng. 191 607. Cải tử hườn sinh Phải chi cải tử hườn sinh, Mổ gan trao lại kẻo mình nhớ em. 355 608. Căn duyên tiền định Bâng khuâng bát ngát câu hát hữu tình, Căn duyên tiền định, hai đứa mình gặp nhau. 182 609. Căn nợ keo sơn Anh lên Bảy Núi, Anh chạy thẳng Tà Lơn, Căn nợ keo sơn thấu đến ông trời, Trời cao đất thấp, Anh đến tam cấp lập cửu trùng đài, Thời hư khiến vậy, ráng lập hoài cũng nên. 128 610. Chi tử vu quy Chữ rằng chi tử vu quy, Làm thân con gái phải đi theo chồng. 432 611. Chí quân tử cửu châu lập nghiệp, Đại trượng phu tứ hải đi xa Chí quân tử cửu châu lập nghiệp, Đại trượng phu tứ hải đi xa, Thương em vì nết hiền hòa, Thiếu chi người trong thiên hạ vậy mà anh không thương. 216 119 612. Công nghệ nông tang 1. Chẳng thà lấy chồng khờ chồng dại, Lo kinh thương mãi mại, Tính công nghệ nông tang, Không ham nhiều bạc lắm vàng, Mai sau sanh chuỵên điếm đàng bỏ em. Qua đây muốn kiếm một nàng, Thạo thông đường buôn bán, Rao cùng thôn xóm mà chưa đáng chỗ nào, Thiếu chi những chị má đào, Họ mê bài phé, bài cào, anh thất kinh. 2. Thà em lấy chồng khờ chồng dại, Lo kinh thương phản mại, công nghệ nông tang, Em không ham nơi nhiều bạc lắm vàng, Mai sau sanh chuyện điếm đàng cực em. 213 375 613. Cốt rã xương mòn Thương anh cốt rã xương mòn, Thương anh đến thác cũng còn thương anh. 387 614. Duyên kim cải 1. Ai xui rã chút duyên kim cải, Ai khiến rời chút ngãi tao khang, Đã đành trâm gãy gương tan, Kẻ ở Phiên bang, người về Hớn địa, Tình không tròn trịa nên nước rã rời, Nằm đêm anh những vái trời, Cho em gặp nơi quyền quới nối lời nước non. 2. Dầu cho quá lứa, Em cũng chẳng hứa càn. Phải duyên em đổi lòng vàng, Không phải duyên kim cải, để hoa tàn nhụy phai. 157 245 615. Duyên kỳ ngộ Vừa đi là gặp em đây, Một là duyên kỳ ngộ hai là trời xoay đất vần. 418 616. Duyên mãn tình hồi Trời mưa dầm làm lụt, Đất hay lở ít bồi. Bậu với qua duyên mãn tình hồi, Uổng công lên xuống, đứng ngồi bấy lâu. 407 617. Duyên tiền định Bãi cỏ lau khô sầu ai rã rượi, Thỏ núp lùm chờ đợi bóng trăng. Bãi dài cát nhỏ tăm tăm, Phải duyên tiền định ngàn năm cũng chờ. 179 618. Đài khán võ Chợ Thốt Nốt có lập đài khán võ, Chợ cờ Đỏ tuy nhỏ mà đông, Thấy em buôn bán, anh chẳng vừa lòng, Để anh làm mướn kiếm từng đồng nuôi em. 227 619. Đại mộc lưu giang bất đắc hồi cố dã Đại mộc lưu giang bất đắc hồi cố dã, Ruộng đất mãi rồi chuộc lại ai cho. 487 620. Đại trượng phu Chí quân tử cửu châu lập nghiệp, Đại trượng phu tứ hải đi xa, 216 120 Thương em vì nết hiền hoà, Thiếu chi người trong thiên hạ vậy mà anh không thương. 621. Đăng sơn tróc hổ Miễn bậu chịu ừ, qua chẳng từ lao khổ, Dẫu đăng sơn tróc hổ hay quá hải đồ long, Trước sau giữ trọn một lòng, Gian lao chi sá, anh quyết cùng theo em. 320 622. Đấng anh hùng Đấng trượng phu đừng thù mới đáng, Đấng anh hùng đừng oán mới nên. 487 623. Đấng trượng phu Đấng trượng phu đừng thù mới đáng, Đấng anh hùng đừng oán mới nên. 487 624. Điếu công hầu Con cá nọ nó đã có cặp, Anh dẫu câu hoài chẳng gặp được đâu. Khuyên anh về sửa lại lưỡi câu, Bắt chước Lã Vọng điếu công hầu khá hơn. 233 625. Điệu cang thường Có đôi sao chưa nói lại tôi tường, Để tôi phá điệu cang thường không nên. Hồi nào nhắn xuống, nhắn lên, Bây giờ tôi đứng một bên không nhìn, Ngó lên tấm kiếng hai hình, Khen ai khéo họa hai đứa mình đứng chung. 230 626. Điệu chung tình 1. Kinh xáng mới đào, tàu Tây mới chạy, Thương em thương đại, đừng ngại bớ điệu chung tình, Bao nhiêu oán hận để một mình em lo. 2. Kinh xáng mới đào, tàu Tây mới chạy, Thương thì thương đại, đừng ngại bớ điệu chung tình. Con nhạn bay cao khó bắn, Con cá ở ao huỳnh khó câu. 3. Gió thổi hiu hiu, lục bình trôi riu ríu, Anh đừng bận bịu bớ điệu chung tình, Nhạn bay cao khó bắn, cá ở ao quỳnh khó câu. 306 306 290 627. Định đôi can lệ Trai trưởng thành định đôi can lệ, Gái khôn rồi đặng chữ vu quy. Trăm năm có một lần đi, Trai thì trọn hiếu, gái thì thủy chung. 453 121 628. Đạo cang thường 1. Bước lên đầu cầu sắt, mắt ngó lại người thương, Khổ qua xanh em xào lộn với đường, Chừng nào khổ qua kia hết đắng, đạo cang thưòng em mới quên anh. 2. Đạo cang thường khó lắm bạn ơi, Không như ong bướm đậu rồi lại bay. 3. Đạo cang thường chẳng phải như cá tôm, Đang mua mớ nọ lại chồm mớ kia. 4. Vắng mặt nhau một ngày không muốn bước, Hai ngày bước xuống nước không muốn lên, Đạo cang thường nhớ lắm không quên, Em đây muốn vẽ bức hình để treo phên giải buồn. 5. Đạo cang thường khó lắm ai ơi, Chẳng như ong bướm đậu rồi lại bay. Cang thường không dễ đổi thay, May nên võng giá, rủi ăn mày cũng ưng. 6. Nhạn trên trời nhạn lạc kêu sương, Ngàn năm ly biệt đạo cang thường chớ quên. 196 248 248 414 435 446 629. Đạo chồng nghĩa vợ 1. Đêm nằm day mặt trở ra, Ngày nay mới biết cô Ba thương mình, Mình giữ chữ Trung, chữ Hiếu, còn thiếu chữ Tình, Đạo chồng nghĩa vợ sao đành vội vong. Làm thơ giấy trắng cẩn phong, Tình thương ngãi nhớ ở trong thơ này. Đôi ta chẳng đặng sum vầy, Cũng như chim nhạn lạc bầy kêu sương. Tôi xa mình cô bác đều thương, Trên trời vần vũ ngọn dương xoay vần. Dầu cho lạc Tấn qua Tần, Thương ai cũng để dành phần thương em. Phụng hoàng đậu nhánh vông nem, Phải dè năm ngoái cưới em cho rồi. Ngã tư chợ Gạo muốn hồi, Tôi chồng mình vợ còn ngồi thương ai. Phụng hoàng đậu nhánh cẩm lai, Dặn lòng người nghĩa chớ sai lời thề. Ghe lên ghe xuống dầm dề, Sao em không gởi thơ về thăm anh? 2. Mình giữ chữ trung, chữ hiếu, Còn thiếu chữ ân tình, Đạo chồng nghĩa vợ sao mình vội vong? Làm thơ giấy trắng cẩn phong, Tình thương nghĩa nhớ ở trong thơ này, Xem thơ nước mắt nhỏ đầy, 258 319 122 Thương tôi đừng gởi thơ này làm chi. Nhện giăng trướng án bố vi. Hai đứa mình chồng vợ sợ chi tiếng đồn. 3. Cây khô nghe sẫm nứt chồi, Đạo chồng nghĩa vợ giận rồi lại thương. 4. Tàu súp lê một còn trông còn đợi, Tàu súp lê hai hết đợi hết chờ, Tàu súp lê ba, tàu ra biển bắc, Hai tay vịn song sắt nước mắt nhỏ sa, Thò tay vô túi áo bà ba, rút khăn ra chậm, Đạo nghĩa vợ chồng ngàn dặm không quên. 428 449-450 630. Đạo phu thê 1. Đường đi cát nhỏ cỏ mềm, Mấy lời anh nói, em còn ghi xương. Liệu bề thương được thì thương, Nửa chừng để dở, thế thường cười chê. Một ngày cũng đạo phu thê, Trăm năm ghi tạc, lời thề cùng nhau. Đứt tay một chút còn đau, Huống chi nhân ngãi lìa nhau sao đành. 2. Đạo nào bằng đạo phu thê, Tay ấp má kề sanh tử có nhau. 271 435 631. Đạo tao khương 1. Chim có đôi có bạn, Kìa hãy xem cặp nhạn mà làm gương, Đứng làm người trong đạo tao khương, Thủy chung như nhứt, giữ đường ngãi nhơn. 2. Choàng qua cổ bạn khóc ròng, Căn duyên không tính để lầm vòng thương. Vợ chồng là đạo tao khương, Trách bà nguyệt lão vấn vương không thành. 221 431 632. Đạo vợ chồng 1. Mình đưa bâu áo tôi viết tháo đôi dòng, Trước thăm phụ mẫu, sau thăm mình đôi câu. Đạo vợ chồng thăm thẳm giếng sâu, Ngày sau cũng gặp mất đi đâu mà phiền. 2. Đạo vợ chồng anh phải xét cho xa, Anh Vân Tiên mù mắt, chị Nguyệt Nga còn chờ. 3. Mất mẹ cha thật là khó kiếm, Đạo vợ chồng không hiếm khi nơi. 319 435 466 633. Độc bình bát giác Độc bình bát giác, cắm các bông hường, Cha mẹ em chọn nơi rể quý, anh tầm thường biết có đặng không? 265 634. Đồng khí tương cầu Chữ đồng thanh tương ứng, Câu đồng khí tương cầu, Dầu mưa, dầu gió mặc dầu, Kiếm nơi có nghĩa, anh hầu kết duyên. 228 635. Đồng thanh tương ứng Chữ đồng thanh tương ứng, Câu đồng khí tương cầu, Dầu mưa, dầu gió mặc dầu, 228 123 Kiếm nơi có nghĩa, anh hầu kết duyên. 636. Gái nữ thanh Anh có vợ rồi sao anh còn gian còn giấu, Em vạch mây hồng kêu thấu ông trời xanh, Anh đừng lấy vải thưa che mắt thánh, nói gái nữ thanh đui mù 158 637. Ghi xương khắc cốt Thục nữ ơi, nàng hỡi nàng, Ghi xương khắc cốt lời vàng hôm nay. 385 638. Ham chữ phú, phụ bạc chữ bần Anh đừng ham chữ phú, phụ bạc chữ bần, Bạc trăm xài hết, ngãi duyên trần còn đây. 162 639. Ham phú phụ hèn Đừng nên ham phú phụ hèn, Đừng như chấu chấu thấy sáng đèn nhảy vô. 270 640. Hiền thần phải trạch quân nhi sự, Dương cầm còn trạch mộc nhi thê Hiền thần phải trạch quân nhi sự, Dương cầm còn trạch mộc nhi thê. Em tuy phận gái vụng về, Tơ duyên dẫu lỡ chẳng hề âu lo. 295 641. Họa hổ, họa bì, nan họa cốt, Tri nhơn, tri diện, bất tri tâm 1. Họa hổ, họa bì, nan họa cốt, Tri nhơn, tri diện, bất tri tâm. Mình ơi, đứng lại cho gần, Kề tai tôi nói nhỏ, chẳng mấy lần gặp nhau. 2. Họa hổ, họa bì, nan họa cốt, Tri nhơn, tri diện, bất tri tâm. Ở xa không biết nên lầm, Bây giờ rõ đặng, vàng cầm cũng buông. 3. Họa hổ, họa bì, nan họa cốt, Tri nhơn, tri diện, bất tri tâm. May không chút nữa em lầm, Khoai lang khô xắt lát, tưởng nhân sâm bên Tàu. 296 296 296 642. Hoạ phúc vô môn Chữ rằng họa phúc vô môn, Tìm giàu thì dễ, tìm khôn khó tìm. 482 643. Họa phước vô môn Họa phước vô môn, Sang giàu dễ kiếm, người khôn khó tìm. Tàu ra khơi sợ nỗi tàu chìm, Hai đứa mình sợ nỗi không trọn niềm phu thê. 296 644. Hổ tử lưu bì Chữ rằng hổ tử lưu bì, Làm người phải để danh gì hậu lai. 482 645. Hốt hỏa lôi đình Em thương anh hết sức thương, nhớ hết sức nhớ, Gặp anh vô cớ em chẳng dám nhìn, Sợ chị lớn ở nhà chỉ sanh tâm biến tánh, hốt hoả lôi đình, Chỉ rình ngã ba, chỉ đón ngã bảy, không biết chết mình hay hại em. 278 124 646. Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, Vô duyên đối diện bất tương phùng 1. Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, Vô duyên đối diện bất tương phùng, Anh có thương em thì kết duyên cùng, Anh đừng thương vội nửa chừng bỏ em. 2. Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, Vô duyên đối diện bất tương phùng. Thuyền quyên nỡ phụ anh hùng sao nên. 300 300 647. Hữu duyên thiên lý ngộ Dạo chơi quán Sở, lầu Tề, Hữu duyên thiên lý ngộ, ai dè gặp em. 244 648. Hữu nhãn vô châu Bình tích thuỷ đựng bông thiên lý, Chén chung vàng đựng nhụy bông ngâu. Trách ai làm trai hữu nhãn vô châu, Chim oanh không bắn, bắn con chim sâu đậu nhành tùng. 191 649. Khách chương đài Thấy đó nói ra em đà hiểu ý, Muốn cho đào lý hiệp với trúc mai, Quản chi biển rộng sông dài, Ôm duyên em đợi khách chương đài bấy lâu. 380 650. Kiến bất thủ nhi tầm thiên lý Kiến bất thủ nhi tầm thiên lý, Thấy miệng em cười hữu ý anh thương. 304 651. Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng. Nàng còn nghĩ phận chữ tùng, Thì trao dây xích buộc vòng vào đâu? 305 652. Kiếp tái sanh Đây anh không giận, đó em cũng chớ hờn, Kiếp tái sanh ta sẽ nối phiếm đờn tri âm. 251 653. Kiếp tái sinh Thôi đây anh không giận thì đó em cũng đừng buồn, Kiếp tái sinh mình nối phím đờn tri âm. 384 654. Kim tiền cổ hậu Con cá xa sông còn mến nước trên đồng, Em về nhớ kim tiền cổ hậu, khoan lấy chồng đợi anh. 233 655. Kinh thương mãi mại Chẳng thà lấy chồng khờ chồng dại, Lo kinh thương mãi mại, Tính công nghệ nông tang, Không ham nhiều bạc lắm vàng, Mai sau sanh chuyện điếm đàng bỏ em. Qua đây muốn kiếm một nàng, Thạo thông đường buôn bán, Rao cùng thôn quán mà chưa đáng chỗ nào, Thiếu chi những chị má đào, Họ mê bài phé, bài cào, anh thất kinh. 213 656. Kinh thương phản mại Thà em lấy chồng khờ chồng dại, Lo kinh thương phản mại, công nghệ nông 375 125 tang, Em không ham nơi nhiều bạc lắm vàng, Mai sau sinh chuyện điếm đàng cực em. 657. Lộ bất hành bất đáo Lộ bất hành bất đáo, Tôi thương anh thương thiệt, Không thương láo, anh ôi! Tôi thương anh để trong dạ, Không để ngoài môi đâu mà anh phiền. 311 658. Lộ bất hành bất đáo, Chung bất đả bất minh 1. Lộ bất hành bất đáo, Chung bất đả bất minh. Bây giờ anh mới rõ tình, Tại bà mai ở độc, hai đứa mình mới xa. 2. Lộ bất hành bất đáo, Chung bất đả bất minh. Lâu nay tôi chẳng biết ý mình, Ngày nay minh bạch nhơn tình trí tri. 311 311 659. Lục bình bát giác Lục bình bát giác cắm các thứ bông hường, Cha mẹ em chọn dâu kén rể, biết anh tầm thường đặng không? 312 660. Minh quân, tương tế tao phùng dị, Tài tử, giai nhân tế ngộ nan Minh quân, tương tế tao phùng dị, Tài tử, giai nhân tế ngộ nan. Trời xui anh gặp bạn vàng, Một lời phải nghĩa muôn ngàn khó mua. 319 661. Mục bất kiến, nhĩ tằng văn Mục bất kiến, nhĩ tằng văn, Thấy em có nghĩa mấy trăng anh cũng chờ. 324 662. Nam Kỳ Lục Tỉnh Chim quyên hút mật bông quỳ, Nam Kỳ Lục Tỉnh thiếu gì gái khôn. 135 663. Nam nhi chí khí Anh đấng làm trai nam nhi chí khí, Em phận làm gái nhi nữ quần thoa, Thấp dàn cá nhảy khỏi sa, Ưng không tại bậu, cha mẹ già biết đâu. 159 664. Nam thanh nữ tú 1. Đất Cần Thơ nam thanh nữ tú, Đất Rạch Giá vượn hú chim kêu, Quản chi nắng sớm, mưa chiều, Lên doi, xuống vịnh cũng chèo thăm em. 2. Xứ Cần Thơ nam thanh nữ tú, Xứ Rạch Giá vượn hú chim kêu. 3. Đất Châu Thành nam thanh nữ tú, Trong vườn thú đủ các thứ chim. Em trách ai non dạ kiếm tìm, Những lời huyễn hoặc nỗi niềm tóc tơ. 4. Đất Sài Gòn, nam thanh nữ tú, Cột cờ Thủ Ngữ cao rất là cao. Vì thương anh, em vàng võ má đào, Em đã tìm khắp chốn nhưng nào thấy anh? 137 153 249 250 126 665. Năng thuyết bất năng hành Nhứt ngôn trúng, vạn ngôn dụng, Nhứt ngôn bất trúng thì vạn sự bất thành, Anh đùng có năng thuyết bất năng hành mà hại em. 343 666. Ngãi cang thường Đi ngang lò mía thơm đường, Muốn vô kết ngãi cang thường với em. 262 667. Ngãi duyên trần Anh đừng ham chữ phú, phụ bạc chữ bần, Bạc trăm xài hết, ngãi duyên trần còn đây. 162 668. Ngãi tao khang 1. Ai xui rã chút duyên kim cải, Ai khiến rời chút ngãi tao khang, Đã đành trâm gãy gương tan, Kẻ ở Phiên bang, người về Hớn địa, Tình không tròn trịa nên nước rã rời, Nằm đêm anh những vái trời, Cho em gặp nơi quyền quới nối lời nước non. 2. Chợ Bến Thành dời đổi, Người sao khỏi hiệp tan. Xa gần giữ ngãi tao khang, chớ tham quyền quý phụ phàng nghĩa xưa. 157 226 669. Nghĩa cang thường 1. Màn rồng một bức giăng ngang, Tôi với mình trời định, tam cang ngũ thường. Mình về thưa lại thung đường, Qua đây gá nghĩa cang thường với em. 2. Tay bưng chén quế, tay chế nước đường, Tử sanh cũng quyết nghĩa cang thường đừng quên. 315 373 670. Nghĩa chung tình Vái ông tơ năm ba chầu hát, Vái bà nguyệt năm bảy cuốn kinh, Cho đó với đây có nghĩa chung tình, Dầu ăn cơm quán ngủ đình cũng ưng. 413 671. Nghĩa phu thê 1. Đèn nào cao bằng đèn Sở Thượng, Nghĩa nào trượng bằng nghĩa phu thê. Em với anh vai sánh má kề, Dầu anh lạc Sở qua Tề, Thì anh cũng gởi thơ về em hay. 2. Ngó lên trời thấy mây bay vần vũ, Ngó xuống âm phủ thấy đá dựng tứ bề. Làm sao cho trọn nghĩa phu thê, Đây chồng đó vợ đi về có đôi. 436 445 127 672. Nghĩa tao khang 1. Cái cầu có ba mươi sáu nhịp, Em đi chẳng kịp nhắn vội với chàng, Nghĩa tao khang sao chàng vội dứt, Đêm nằm thao thức tưởng bức thơ anh, Bấy lâu nay em mang tiếng chịu lời, Bây giờ anh ở bạc có ông trời xét soi. 2. Đôi ta là nghĩa tao khang, Xuống khe bắt ốc lên ngàn hái rau. 3. Em đi qua cầu qua trăm cái nhịp, Em đi không kịp kêu bớ anh ơi, Nghĩa tao khang sao anh đành vội dứt, Đêm em nằm ấm ức, ngày lụy ứa tuôn rơi, Bấy lâu nay em mang tiếng chịu lời, Xa nhau bởi tại ông trời biểu xa. 4. Cầu cao ba mươi sáu nhịp, Em qua không kịp, Nhắn lại cùng chàng, Cái nghĩa tao khang sao chàng vội dứt? Đêm nằm thao thức, tưởng đó với đây, Biết khi nào cho phụng gặp bầy, Cho loan gặp bạn, Ruột đau từng đoạn, Gan thắt chín từng, Đôi ta như quế với gừng, Dẫu xa nhau nữa cũng đừng tiếc chi. 5. Chợ Bến Thành dời đổi, Người sao khỏi hợp tan. Xa gần giữ nghĩa tao khang, Chớ tham nơi quyền quý phụ phàng bạn xa. 202 265 275 427 431-432 673. Nghinh tân yểm cựu Đừng có chan chứa nước mắt ớt, Đừng có rớt nước mắt gừng. Em khuyên anh bạn nên đừng, Nghinh tân yểm cựu, em mừng cho nhau. 270 674. Ngọc thuỷ tinh Cục ngọc thuỷ tinh nằm trên hòn đá trắng, Năm bảy bữa ròng sao vắng tiếng em? 242 675. Ngọc trầm thủy thượng Ngọc trầm thủy thượng anh ơi, Bách niên giai ngẫu ở đời với em. 336 676. Nguyện lệ tình thâm Cây đa trốc gốc, thợ mộc đang cưa, Anh vơí em đi cũng xứng, đứng lại cũng vừa, Tại cha với mẹ kén lừa sui gia. Kén sui gia, tại cha với mẹ, Chớ hai đứa mình nguyện lệ tình thâm. 208 677. Nguyệt sơn đài Đầu làng con chó sủa dai, Sủa nguyệt sơn đài, sủa bóng trăng thanh. 251 678. Nhạc cầu hoàng Trớ trêu khúc nhạc cầu hoàng, Lòng em bền chặt, không như nàng Văn Quân 244 128 679. Nhập hải tróc long Thông kinh sử ấy phần nam tử, Giữ nết na là phận nữ nhi, Xử sao vẹn chữ xướng tùy, Tiếng ừ thì dễ, em lo nghì về sau. Miễn bậu đành ừ, Qua chẳng từ lao khổ, Dẫu đăng sơn tìm hổ, Dẫu nhập hải tróc long, Trước sau giữ trọn một lòng, Vào lòn ra cúi anh đành lòng theo em. 385 680. Nhập sơn tầm hổ dị, Khai khẩu cốc nhơn nan Nhập sơn tầm hổ dị, Khai khẩu cốc nhơn nan, Đến đây anh mở miệng ngỡ ngàng, Lạ người, lạ mặt, lạ làng khó phân. 341-342 681. Nhất gia trọn nghì Miễn sao giữ dạ thật thà, Trăm năm em quyết nhất gia trọn nghì. 443 682. Nhất mã lưỡng cương Thấy nàng anh cũng muốn thương, Sợ e nhất mã lưỡng cương khó cầm. 382 683. Nhị nhân đối khẩu giao hòa Nhị nhân đối khẩu giao hòa, Hò chơi là chồng vợ, tối về nhà là người dưng. 342 684. Nhơn tình trí tri Lộ bất hành bất đáo, Chung bất đả bất minh. Lâu nay tôi chẳng biết ý mình, Ngày nay minh bạch nhơn tình trí tri. 311 685. Nhứt ngôn trúng, vạn ngôn dụng, Nhứt ngôn bất trúng thì vạn sự bất thành Nhứt ngôn trúng, vạn ngôn dụng, Nhứt ngôn bất trúng thì vạn sự bất thành, Anh đừng có năng thuyết bất năng hành mà hại em. 343 686. Nhứt nhựt bất kiến như tam nguyệt hề Nhứt nhựt bất kiến như tam nguyệt hề, Thăm em chút xíu anh về, Kẻo mà trăng lặn tứ bề khó trông. 343 687. Nhứt nhựt vãng lai Nhứt nhựt vãng lai hằng ngày đối diện, Muốn phân đôi lời sợ miệng thế gian. 344 688. Nhứt phu lưỡng phụ Vợ lớn đánh vợ nhỏ, Chạy ra cửa ngõ, Cắn cỏ kêu trời, Nhứt phu lưỡng phụ ở đời đặng đâu. 457 689. Nội thượng lâm Vườn thượng uyển thiếu chi chồi lan huệ, Nội thượng lâm đâu thiếu tược mẫu đơn. Bậu đừng nghĩ ngợi thiệt hơn, Rửa tai nghe lóng tiếng đờn tri âm. Đờn tri âm tiếng đơn, tiếng kép, Rao nhặt khoan tiếng thiếp tiếng chàng. Bậu về qua Cửu Long giang, Tình thương qua nhớ bậu, nỗi dạ càng xót xa. 418 129 Trách ai làm cách đôi ta, Đêm năm canh thổn thức vào ra thêm sầu. Chia tay gan thắt ruột bào, Đêm ngày than thở dầu bao canh tàn. Cúc đang xanh sao cúc vội tàn, Kiểng đương xanh sao kiểng héo, tôi hỏi nàng tại ai? 690. Quá hải đồ long Miễn bậu chịu ừ, qua chẳng từ lao khổ, Dẫu đăng sơn tróc hổ hay quá hải đồ long, Trước sau giữ trọn một lòng, Gian lao chi sá, anh quyết cùng theo em. 320 691. Quang minh trí huệ Mặt trời đỏ tợ lửa đốt, Mặt trăng tươi tốt tợ bóng hường, Lấy chồng lựa người chữ nghĩa văn chương, Quang minh trí huệ cao cường hơn em. 317 692. Quân tử nhứt ngôn Thuyền dời bến cũ không dời, Khăng khăng một lời quân tử nhứt ngôn. 387 693. Sơn băng thủy kiệt 1. Con thỏ giỡn trăng sơn băng thủy kiệt, Ai ở hai lòng nhật nguyệt xét soi. 2. Thỏ giỡn trăng sơn băng thủy kiệt, Anh có bỏ nàng nhựt nguyệt xét soi. 239 384 694. Tam cang ngũ thường Màn rồng một bức giăng ngang, Tôi với mình trời định, tam cang ngũ thường. Mình về thưa lại thung đường, Qua đây gá nghĩa cang thường với em. 315 695. Tam niên nhũ bộ Thương thay chín chữ cù lao, Tam niên nhũ bộ biết bao nhiêu tình. 470 696. Tam tứ lục 1. Bảy với ba tính ra một chục, Tam tứ lục coi lại cửu chương, Liệu bề đát được thì đươn, Đừng gây rồi bỏ thế thường cười chê. 2. Bảy với ba tính ra một chục, Tam tứ lục coi lại cửu chương, Liệu bề thương được thì thương, Đừng trao gánh nặng giữa đường cho em. 181 181 697. Tam tứ nhị Cá ở ao môn, sầu tam tứ nhị, Được chữ sang giàu, chẳng nghĩ tới nhau 200 698. Tang chế mãn nguyền Ba năm tang chế mãn nguyền, Đầu dơ em gội, chuỗi chuyền em đeo. 475 699. Tấn thối lưỡng nan Tấn thối lưỡng nan, cực khổ trăm bề, Ở đây khó ở, ra về khó ra. 375 700. Tham phú phụ bần 1. Anh với tôi làm đôi sao xứng, Bạc với vàng sao đứng đồng cân. Trách ai tham phú phụ bần, Tham xa mà bỏ ngãi gần thuở xưa. 2. Em đừng tham phú phụ bần, 174-175 276 130 Bạc ngàn còn hết, nợ dương trần chưa xong. 701. Tham sắc mê tình Lúc em bước chân ra, ở nhà má có dặn, Công sanh thành là nặng, điều tình ái là khinh, Mựa đừng tham sắc mê tình, Lánh sa tửu điếm, trà đình chớ vô. 312 702. Thập tử nhất sanh Tôi gá duyên với mình thập tử nhất sanh, Nghiêng mình nằm xuống tử sanh nhờ trời. 395 703. Thiên lý mã Bên tay tả có con thiên lý mã, Bên tay hữu có con vạn lý lân, Nhìn xem hai con cũng ngang phân, Anh đây muốn cưỡi một lần hai con. 188 704. Thiếp tợ như thiên biên nguyệt, Quân như lãnh thượng vân Thiếp tợ thiên biên nguyệt, Quân như lãnh thượng vân. Tuy gần mà chẳng được gần, Cũng như biển Sở non Tần cách xa. 383 705. Thối dị tấn nan Cất mái chèo loan em nhìn chàng rơi lụy, Thổn thức gan vàng, thối dị tấn nan. 206 706. Thủy chung như nhứt 1. Chim có đôi có bạn, Kìa hãy xem cặp nhạn mà làm gương, Đứng làm người trong đạo tao khương, Thủy chung như nhứt, giữ đường ngãi nhơn. 2. Tay bưng dĩa muối, tay bợ tràn rau, Thủy chung như nhứt, sang giàu mặc ai. 3. Tay em bưng dĩa muối, tay em bợ sàng rau, Thủy chung như nhứt, bỏ mẹ sao cho đành. 4. Nước còn quyện cát làm doi, Huống chi ta chẳng tài bồi lấy nhau. Tay cầm dĩa muối sàng rau, Thủy chung như nhứt sang giàu mặc ai. 221 373 374 446 707. Thủy để ngư, thiên biên nhạn, Cao khả xạ hề, để khả điếu, Chỉ xích nhơn tâm bất khả phòng Thủy để ngư, thiên biên nhạn, Cao khả xạ hề, để khả điếu, Chỉ xích nhơn tâm bất khả phòng. E sao lòng lại đổi lòng, Nhiều người tham bưởi chê bòng lắm anh. 386 708. Tiền đồng tịch, kim bằng đồng lạc, Hậu lâm nguy, bất kiến đệ huynh Tiền đồng tịch, kim bằng đồng lạc, Hậu lâm nguy, bất kiến đệ huynh. Từ ngày làm ruộng trong kinh, Nước sâu chết lúa, đôi đứa mình xa nhau. 392 709. Tiền tài như phấn thổ, Nghĩa trọng tợ Tiền tài như phấn thổ, Nghĩa trọng tợ thiên kim, Con le le mấy thuở chết chìm, 392 131 thiên kim Người tình bạc nghĩa kiếm tìm làm chi. 710. Tiền tài phấn thổ, nhân ngỡi đời thiên kim Hai đứa mình như thể cây cau, Anh bẹ, em bẹ nương nhau ở đời. Anh đừng thấy khó đổi dời, Tiền tài phấn thổ, nhân ngỡi đời thiên kim. 293 711. Tình mặn nghĩa nồng Bậu với qua tình mặn nghĩa nồng, Siêu nước sôi chớ quạt, ngọn gió lồng phải che. 186 712. Tình thâm ngỡi trượng Dế kêu ngâm, tình thâm ngỡi trượng, Anh liệt chiếu liệt giường cũng vì bởi thương em. 434 713. Tình thương ngãi nhớ Đêm nằm day mặt trở ra, Ngày nay mới biết cô Ba thương mình, Mình giữ chữ Trung, chữ Hiếu, còn thiếu chữ Tình, Đạo chồng nghĩa vợ sao đành vội vong. Làm thơ giấy trắng cẩn phong, Tình thương ngãi nhớ ở trong thơ này. Đôi ta chẳng đặng sum vầy, Cũng như chim nhạn lạc bầy kêu sương. Tôi xa mình cô bác đều thương, Trên trời vần vũ ngọn dương xoay vần. Dầu cho lạc Tấn qua Tần, Thương ai cũng để dành phần thương em. Phụng hoàng đậu nhánh vông nem, Phải dè năm ngoái cưới em cho rồi. Ngã tư chợ Gạo muốn hồi, Tôi chồng mình vợ còn ngồi thương ai. Phụng hoàng đậu nhánh cẩm lai, Dặn lòng người nghĩa chớ sai lời thề. Ghe lên ghe xuống dầm dề, Sao em không gởi thơ về thăm anh? 258-259 714. Tình thương nghĩa nhớ Mình giữ chữ trung, chữ hiếu, Còn thiếu chữ ân tình, Đạo chồng nghĩa vợ sao mình vội vong? Làm thơ giấy trắng cẩn phong, Tình thương nghĩa nhớ ở trong thơ này, Xem thơ nước mắt nhỏ đầy, Thương tôi đừng gởi thơ này làm chi. Nhện giăng trướng án bố vi. Hai đứa mình chồng vợ sợ chi tiếng đồn. 319 715. Tình xưa nghĩa cũ Bấy lâu cần mẫn vườn đào, Tình xưa nghĩa cũ, nhớ chút nào hay không? 186 716. Trọn nghì sắt son Bậu đừng nghe tiếng thị phi, Thủy chung anh giữ vẹn, trọn nghì sắt son. 183 717. Trung trinh liệt nữ, quân tử anh hùng Khuyên em xét kỹ, em nghĩ cho cùng, Trung trinh liệt nữ, quân tử anh hùng, Làm sao cho vẹn tam tùng, 441 132 Gái ngoan chẳng lấy hai chồng bỏ anh. 718. Trướng án bố vi Mình giữ chữ trung, chữ hiếu, Còn thiếu chữ ân tình, Đạo chồng nghĩa vợ sao mình vội vong? Làm thơ giấy trắng cẩn phong, Tình thương nghĩa nhớ ở trong thơ này, Xem thơ nước mắt nhỏ đầy, Thương tôi đừng gởi thơ này làm chi. Nhện giăng trướng án bố vi, Hai đứa mình chồng vợ sợ chi tiếng đồn. 319 719. Tự cổ chí kim Đá cheo leo trâu trèo trâu tuột, Ngựa trèo ngựa đổ, Tiếc công anh lao khổ tự cổ chí kim, Bao giờ đá nổi vông chìm, Muối chua chanh mặn mới tìm được em. 247 720. Từ cổ chí kim Hòn đá cheo leo, trâu trèo trâu trợt, Ngựa trèo ngựa đổ, Công anh lao khổ từ cổ chí kim, Mất em khó kiếm khó tìm, Bởi anh ở bạc, em phải tìm nơi xa. 298 721. Tửu năng hồng nhơn diện, Tài năng động nhơn tâm Tửu năng hồng nhơn diện, Tài năng động nhơn tâm Thế gian họ nói không lầm, Lụa tuy vóc trắng, vụng cầm cũng đen. 502 722. U u minh minh thực phỉ chí tình U u minh minh thực phỉ chí tình, Em ham chi tô nước lạnh bỏ bình trà thơm. 412 723. Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình, Mặt chưa thấy mặt mà tình đã thương. 414 724. Vu oan giá họa Trách ai làm khóa rẽ chìa, Vu oan giá họa mình lìa tôi ra. 399 725. Xuất giá tòng phu Trước lạy cha sau ra lạy má, Con đã có chồng xuất giá tòng phu. 472 726. Xứ đế thành đô Anh về xứ đế thành đô, Như cá biển hồ bao thuở gặp em. 174 727. Xương rụi cốt tàn Ba năm xương rụi cốt tàn, Dầu ai ve bậu, bậu làm bậu ăn. 178 133 BẢNG 2. TỪ NGỮ HÁN VIỆT PHƯƠNG NGỮ HÓA TRONG CA DAO NAM BỘ STT Yếu tố Hán Việt Ngữ âm toàn dân Ngữ âm phương ngữ Nam Bộ Từ đơn tiết HV phương ngữ hóa Từ song tiết HV có yếu tố phương ngữ hóa Thành ngữ HV có yếu tố phương ngữ hóa 1 Chính [cǐŋ 5] [cɛ̌ŋ 5] x Chánh tà x 2 Sinh [ʂǐŋ 1] [ʂɛ̌ŋ 1] Sanh Sanh tử Sanh thành Sanh dưỡng Thập tử nhất sanh 3 Thịnh [tʰǐŋ6] [tʰɛ̌ŋ6] Thạnh suy Thạnh thời x 4 Nhân [ɲɤ̌n1] [ɲɤn1] Nhơn Nhơn hậu Nhơn đạo Nhơn tình Tri nhơn tri diện bất tri tâm 5 Nhất [ɲɤ̌t5] [ɲɯt5] Nhứt x Quân tử nhứt ngôn Thủy chung như nhứt 6 Nhật [ɲɤ̌t6] [ɲɯt6] Nhựt nguyệt Tiền nhựt Nhứt nhựt vãng lai 7 Nho [ɲɔ1] [ɲu1] Nhu x x 8 Hồng [hǒŋm2] [hɯ͜ɤŋ2] Hường nhan x 9 Phong [fɔ̌ŋm1] [fu͜oŋ1] Tiên phuông x 10 Trọng [ʈɔ̌ŋm6] [ʈɯ͜ɤŋ6] Trượng Tình thâm ngỡi trượng 11 Nghĩa [ŋi͜e3] [ŋai̯3]/ Ngãi Ngỡi Ngãi nhơn Ngỡi nhơn Tình thâm ngỡi trượng 134 [ŋɤi3̯] 12 Quý [kwi5] [kwɤi̯5] Quyền quới x BẢNG 3. TỪ NGỮ HÁN VIỆT CÓ HAI CÁCH ĐỌC HÁN VIỆT TRONG CA DAO NAM BỘ STT Yếu tố HV có hai âm đọc Cách đọc 1 Cách đọc 2 Từ đơn tiết HV có hai âm đọc Từ song tiết HV có yếu tố có hai âm đọc Thành ngữ HV có yếu tố có hai âm đọc 1 Cang/cương [kaŋ1] [kɯ͜ɤŋ1] x Cang thường Cương thường Kỷ cang Gia cang Tam cang ngũ thường Tam cương ngũ thường 2 Đàng/đường [daŋ2] [dɯ͜ɤŋ2] Đàng Đường Gia đàng Gia đường x 3 Dũng/dõng [zǔŋm3] [zɔ̌ŋm3] x x Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng 4 Tùng/tòng [tǔŋm2] [tɔ̌ŋm2] Tùng Tòng Tam tùng Tam tòng Tùng giả Tòng giả Xuất giá tòng phu 5 Thụ/thọ [tʰu6] [tʰɔ6] x Thọ lãnh x 6 Phúc/phước [fǔkp5] [fɯ͜ɤk5] Phúc Phước Vô phúc Vô phước Họa phúc vô môn Bạc phước vô môn 7 Phụng/phượng [fǔŋᵐ6] [fɯ͜ɤŋ6] Phụng Phụng hoàng Phượng hoàng x 8 Sơn/san [ʂɤn1] [ʂan1] x Giang sơn Giang san x 9 Thoái/thối [tʰwai̯5] [tʰoi5̯] x Thoái hồi Thoái dị tấn nan 135 Thối nan Thối lui Thối dị tấn nan 10 Hoa/huê [hwa1] [hwe1] Hoa Vinh huê Huê tình x 11 Oanh/uyên [ʔwaɲ1] [ʔwi͜en1] x Oanh ương x 12 Tiến/tấn [ti͜en5] [tɤ̌n5] x x Tiến thoái lưỡng nan Tấn thối lưỡng nan 13 Vũ/võ [vu3] [vɔ3] x Vũ môn x 14 Hoàng/huỳnh [hwaŋ2] [hwiɲ2] x Huỳnh tuyền x

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftvefile_2013_01_17_7727519263_6111.pdf
Luận văn liên quan